Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thiền Định & Cuộc Sống

Thiền Định & Cuộc Sống

Tác giả: Thích Vạn Lợi, Thích Nữ Lệ Trúc, Thích Nữ Hạnh Tín, Thích Nữ Vạn Nghĩa. Dịch giả: Thích Vạn Lợi, Thích Nữ Lệ Trúc, Thích Nữ Hạnh Tín, Thích Nữ Vạn Nghĩa. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 161.

Chương 5: Tĩnh Tâm & Lặng Nghĩ (Trang 98 - 135)

Tĩnh tâm và lặng nghĩ
Đại học sư phạm Chương Hoa, hội thảo về hành chính quản lý.
Thời gian: ngày 16 tháng 8 năm 1995.
Đại cương bài giảng
 
1.Ý nghĩa của thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm
1.1. Tự mình trưởng thành
Làm thế nào để đưa thiền định và thiền quán vào quá trình phát triển trưởng thành của mình, thực hành tốt sẽ có năng lực thích ứng với vai trò của thầy cô giáo trong thực tế giáo dục, xây dựng lý tưởng giáo dục phù hợp với chính mình.
1.2. Dạy người khác trưởng thành: làm thế nào đem “thiền định và thiền quán” vào trong kinh nghiệm dạy học và công việc hành chính giáo dục.
2 Tĩnh tâm và lặng nghĩ (thiền định và thiền quán)
2.1. Ý nghĩa của chữ “thiền định”: thiền định, định (tam muội), chỉ.
 
 
 
(1) Thiền-na (Jhāna, Dhyāna/ tĩnh lặng, trầm tư/meditation, reflection, ontemplation):
It is called Jhāna because of lightening (upanij Jhāna) the object (đối tượng chiếu sáng thiền đinh) burning up (jhāpana) the opposition (đốt sạch năm chướng ngại đối địch với định tâm) đốt sạch năm loại chướng ngại ‘tham dục, sân nhuế, hôn trầm, trạo cử, nghi’ đối nghịch với định tâm
(2) Định (tam-muội, tam-ma-địa, đẳng trì/samādhi/concentration): luôn nhận biết đối tượng mà quán chiếu đến được một cách bình đẳng (evenly), một cách bình đẳng chính xác (rightly).
 (3) chỉ (śamatha, Xa-ma-tha)
2. Thiền quán, thiền tâm (minh tâm kiến tánh)
(1) Có phân biệt (savikalpa) cảnh tượng: Tỳ-bà-xá-na (vipaśyanaā; insight quán)
(2) Không có phân biệt (nirvikalpa) cảnh tượng: Xa-ma-tha (śamatha; serenity; chỉ)
3. Trước tiên tĩnh tâm sau đó lặng nghĩ, trước tiên lặng nghĩ sau đó tĩnh tâm, tĩnh tâm và lặng nghĩ song song cùng lúc.
4. Quán chiếu thân tâm, thân và tâm tự tại (4 niệm trú, 4 giai đoạn và 16 bước)
(1) Thân niệm trú: a. Biết hơi thở dài  b. Biết hơi thở ngắn
           c. Biết toàn bộ hơi thở  d. An tịnh hơi thở
 
 
 
(2) Thọ niệm trú e. Biết được vui    f. Biết được an lạc
           g. Biết được tâm (thọ và tưởng)  h. Biết được an tịnh tâm (thọ và tưởng)
(3) Tâm niệm trú:i. Biết được tâm                   j.  Khiến tâm hỷ lạc
           k. Giữ tâm bình hòa                     l. Khiến tâm giải thoát
(4) Pháp niệm trú: m. Quán vô thường      n. Quán đoạn bỏ
           o. Quán ly dục                             p. Quán diệt trừ

 
Nội dung
 
Xin chào Thầy Hiệu trưởng Trần và quý thầy cô giáo.
Đối với tiêu đề “Tĩnh tâm và lặng nghĩ” do nhà trường chúng ta đưa ra, nay tôi thêm phần phụ đề “Thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm”. Bởi vì theo quan điểm của Phật giáo, thì “thiền” có hai yếu tố tĩnh tâm và lặng nghĩ liên quan với nhau. “Tĩnh tâm” dùng theo thuật ngữ của Phật giáo là “thiền định”, “lắng nghĩ” là “thiền quán”. Thiền định là thuộc học tập định (định học), thiền quán là thuộc học tập trí huệ (huệ học). Ngoài ra, cần thêm một loại học tập cơ bản: học tập giới luật (giới học). Giới học là thảo luận về sự cải thiện của lời nói và hành vi, đây là điều mà quý vị đều thấy
 
 
 
được. Làm thế nào để cải thiện được lời nói và hành vi ở bên ngoài đi đến thay đổi được bên trong?
Trong Phật giáo thì huệ học là mức độ cao nhất. Bởi vì trí huệ sẽ tạo thành nhân sinh quan, giá trị quan và nhân cách của con người, đây mới là vấn đề căn bản cần giải quyết. Phật giáo nói đến vấn đề cần thiết giải quyết là làm thế nào đạt đến “huệ học” hay nói cách khác là “ngộ đạo”. Thứ tự của ba bước này là: giới → định → huệ.
Đối với thứ tự, chúng ta dùng một vòng tròn tuần hoàn để hình dung về điều đó: giới (sự) → định (cảnh) → huệ (lý) → giới (sự)…. Giới là ngoại tại bên ngoài, thuộc các điều mục có tính quy định, đối với từng sự tình sự lý đều có quy định rõ ràng cụ thể. Huệ là chân lý. Từ điểm này cho thấy, mỗi quy định lại bao quát rất nhiều yếu tố, ở giữa khoảng trống đó cần nắm bắt và ứng dụng, nhắc nhở phản tỉnh, thì công năng đây chính là quá trình của “định”. Khi tập trung đến một quan niệm hoặc chân lý, rồi triển khai ra một mô thức hành vi mới. Hay nói cách khác, từ mô hình vòng tròn tuần hoàn đó thấy được quan điểm giáo dục của Phật giáo, từ ngoại tại bên ngoài quy định hình thức có phức tạp, nhưng trải qua giai đoạn quan trọng “định học”, như hiệu trưởng Trần có nói “giáo dục căn bản của phương đông là ở chữ ‘tĩnh’”, học tập bất kỳ điều gì, sự nắm bắt chuyển hóa (định) rất quan trọng. Sau khi chuyển hóa tiêu hóa kiến thức, thì phát triển thành một hành vi mới. Như trường của chúng ta đang thực hiện chủ trương hành vi mẫu mực của sinh viên, điều này rất gần với trên, đó là quá trình đưa các quy định trở
 
 
 
thành quan điểm nội tại bên trong của mình và từ quan niệm bên trong đó phát triển thể hiện ra bằng hành vi chuẩn mực.
Vì vậy trước hết tôi trình bày tại sao phải thêm đề mục “ý nghĩa của thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm”, qua đó mới nói về mối quan hệ “thiền định và thiền quán” với nhau.
 
Còn một phương diện khác bởi vì sau khi tôi xuất gia, đến Đại học Đông Kinh Nhật Bản học tập, luận án tiến sĩ và thạc sĩ là nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận và thực tiễn của thiền định. Ở học viện Nghệ Thuật, tôi dạy các môn thuộc đại cương. Vì sinh viên của học viện chỉ có 800~900, nên các môn dạy đó cũng thay đổi thường xuyên, chỉ dạy 1 học kỳ, vì thế mở dạy nhiều môn để sinh viên thỏa mãn được nhu cầu kiến thức. Tuy thế, từ trước đến nay, chương trình giảng dạy chủ yếu xoay quanh vấn đề “thiền với ngồi thiền”. Do nhân duyên như vậy, nên hai năm trước tôi xin phép hội đồng khoa học quốc gia duyệt kế hoạch đào tạo môn “thiền định và giáo dục đại cương”, nghiên cứu về giáo trình và phương pháp dạy học. Hai năm tiếp theo chuẩn bị thực hiện kế hoạch “các việc của sinh viên và giáo dục đại cương”, con đường nghiên cứu từ trước đến nay đều xuất phát từ góc độ của thiền quán và thiền định mà xem xét vấn đề. Trước đây, tôi chỉ dạy học, thì nghĩ cách để kết hợp với nghiên cứu, hiện tại làm công việc hành chính, lại có lòng ham muốn đem việc dạy học, hành chính và nghiên cứu kết hợp thành một. Bởi vì bối cảnh như vậy, nên tôi rất vui khi được cùng với quý vị thảo luận về phương diện này.   
 
 
 
1. Ý nghĩa của thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm
 
Tự mình trưởng thành và dạy người khác cùng trưởng thành

 
Ngoài ra, tên môn học tôi còn đặc biệt bổ sung thêm bốn chữ “giáo dục sư phạm”, quý vị sẽ rõ hơn tôi, vì ở phần đại cương mở bài có nói đến: “ý nghĩa của thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm”, đầu tiên sẽ phân tích thành hai điểm: 1. Tự mình trưởng thành, 2. Dạy người khác trưởng thành. Có thể một số người thảo luận về thiền định và thiền quán, họ chỉ chú ý đến việc “dạy người khác trưởng thành”, cũng chính là việc thầy cô giáo đem thiền định và thiền quán dạy cho người khác có kinh nghiệm trong giảng dạy và làm việc liên quan đến hành chính giáo dục, sử dụng thiền định thiền quán làm tăng hiệu quả giảng dạy và kinh nghiệm đứng lớp. Đương nhiên đây là một phương diện quan trọng, nhưng điều đó chỉ thuộc về phương diện “dạy người khác trưởng thành”.
Hay nói cách khác, thầy cô giáo tự mình có cách nào làm cho “tự mình trưởng thành” không? Đây là vấn đề quan trọng. Bởi vì nếu bản thân của thầy cô không thể ổn định, thì cuộc sống sinh nhai của việc dạy học không biết cách nào để đối diện với hiện thực khá tàn khốc. Như hiện tại trong xã hội có sự thay đổi lớn như thế này, được biết là nghề giáo cũng bị xếp vào nhóm nghề nghiệp nguy hiểm. Nguyên nhân đó là gì? Tôi nghĩ đây là hiện tượng phổ biến, không chỉ ở
 
 
 
Đài Loan mà các nước khác cũng như thế. Đặc biệt nhất là Nhật Bản, giáo viên sau khi nghỉ hưu có tuổi thọ bình quân sẽ được thêm 3 năm; nếu giáo viên kiêm công tác hành chính thì chỉ có 2 năm; hiệu trưởng thì 1 năm. Ở Nhật Bản, áp lực của giáo viên rất lớn, bởi vì họ chịu áp lực từ việc học sinh học lên lớp, cho đến áp lực từ phụ huynh và xã hội. Vì vậy thầy cô giáo đến trường rất sớm và trở về nhà rất muộn, có thể kết luận đây là một ngành nghề có áp lực tương đối lớn.
Cũng như vậy, ở Đài Loan cũng như thế, tôi có quen một số thầy cô dạy tiểu học và trung học, bởi vì muốn hiểu được về giáo dục sư phạm, nên tôi nếu có điều kiện thì thường hỏi những vấn đề liên quan đến thân và tâm của các thầy cô ấy phải đối diện. Ngoài các vấn đề cô giáo thì bị hư thai tỷ lệ rất cao, còn có bị các bệnh như tiểu đường, cao huyết áp, ung thư chiếm tỷ lệ cũng khá cao. Điều này cho thấy, nghề nghiệp giáo viên, trên thực tế đã khác xa với nhận thức theo truyền thống về nó. Hay nói cách khác, khi một sinh viên sư phạm được học theo hệ thống giáo dục sư phạm, em ấy có nhận biết được là mình có khả năng phù hợp với sự biến đổi theo thực tế của xã hội trong tương lai? Giống như Thầy Hiệu trưởng Trần hôm nay ở hội thảo đã nói đến, một sinh viên học tập trong môi trường giáo dục sư phạm nên có thái độ như thế nào?
Trong đó có tôi, lúc trước tôi nghĩ giáo viên là một ngành nghề rất ổn định (luôn đủ cơm ăn), được mọi người tôn trọng, mà còn có thời gian nghỉ hè nghỉ tết, rồi thời gian dành cho cá nhân sử dụng nhiều hơn so với các ngành nghề khác. Nhưng
 
 
 
thực tế lại không phải vậy. Vì thế trong suốt quá trình học tập, cho đến khi tốt nghiệp ra trường đi dạy sinh viên vẫn không thích nghi được với môi trường hoàn cảnh bên ngoài, họ không thể trưởng thành, không thể khắc phục được vấn đề của hoàn cảnh xung quanh mình.
Giống như ở trong trường học, bạn chọn làm giáo viên chủ nhiệm hay là giáo viên giảng dạy? Nếu như bạn chọn làm giáo viên chủ nhiệm, thì mình phải hy sinh theo cái giá của nó; còn không làm giáo viên chủ nhiệm, thì đơn giản hơn, bạn chỉ dạy thôi, lúc ấy hiệu trưởng cũng không tìm mời bạn làm giáo viên chủ nhiệm, điều này trở thành vấn đề của lương tâm giáo dục. Nếu như bạn chăm chỉ giảng dạy, thì trở thành giáo viên nổi tiếng, vào dạy lớp đặc biệt của trường. Nếu như vậy, thì cá nhân bạn cho đến gia đình bạn không thể chịu nổi áp lực. Nếu như bạn muốn “buông bỏ”, thì buông bỏ đến mức độ như thế nào? Buông bỏ đến mức nhà trường buông bỏ bạn luôn? Bạn làm sao đối diện với sự kỳ vọng của phụ huynh và nhà trường đối với mình? Hiện tại phụ huynh không chỉ lợi dụng quyền lực của hiệu trưởng mà còn lợi dụng quyền lực của hội phụ huynh học sinh, vì thế khi bạn phạt học sinh, thì bạn không chỉ phải đối diện với một vấn đề đơn thuần mà thôi, bạn làm sao đóng được xuất sắc vai diễn này? Hiện tại chúng ta đang tuyên truyền giáo dục yêu thương, có lúc vai trò của chủ nhiệm, vai trò của giám thị như thế nào, đều không rõ ràng. Lúc trước giám thị đóng vai ác, còn bây giờ thì phải đóng vai thiện. Do đó đây là điều mà sinh viên sư phạm cần chú ý khi bước vào hệ thống giáo dục sư phạm.
 
 
 
Vì thế ý nghĩa của thiền định và thiền quán trong giáo dục sư phạm là: “làm thế nào đem thiền định và thiền quán đi vào quá trình phát triển trưởng thành của chúng ta, nếu thực hiện tốt thì có thể thích ứng được vai trò của giáo dục trong hiện tại, xây dựng thích hợp với lý tưởng giáo dục của mình”. Giả như, tôi quyết định làm giáo viên chủ nhiệm, thế thì tôi lấy việc tỷ lệ học sinh lên lớp làm lý tưởng giáo dục của tôi? Hay là tôi có cách điều chỉnh riêng như thế nào? Giống như Đại học Sư phạm Chương Hóa, vốn đã có lý tưởng giáo dục riêng, nếu bạn thích văn hóa giáo dục này, môi trường giáo dục này thì bạn đến! Khi là sinh viên sư phạm đến trường học, có thể làm được tốt như vậy không, xây dựng một văn hóa của khóa học? Như vậy trong việc giảng dạy, các em biết cách điều chỉnh cho mình phù hợp với thực tế.
Đây là điều thứ nhất giới thiệu các bạn cách làm cho tự mình trưởng thành và dạy người khác trưởng thành.  

 
2. Tĩnh tâm và lặng nghĩ (thiền định và thiền quán)

 
Điểm thứ hai là trình bày sơ lược về tĩnh tâm và lặng nghĩ, cũng chính là so sánh giữa thiền định và thiền quán. Liên quan đến nội dung “thiền định”, “thiền quán” và “thiền tông”, vì liên quan đến thuật ngữ chuyên môn, nên tôi giải thích ít, cũng là phù hợp với lý tưởng giáo dục của trường: “nội dung trong giáo trình chuyên môn nên thường thức hóa, nghiên cứu chuyên sâu nhưng trình bày dễ hiểu”. Trước tiên tôi sẽ giới thiệu phần chính, để thời gian còn lại giao lưu cùng quý vị, tôi nghĩ như thế sẽ tốt hơn cho chúng ta.     
 
 
 
Quán chiếu thân tâm, thân tâm tự tại (16 bước của 4 giai đoạn trong 4 niệm trú)
 
Chúng ta xem nội dung trong bài giảng ở trang cuối cùng, “quán chiếu thân tâm, thân tâm tự tại” (16 bước của 4 giai đoạn trong 4 niệm trú), 16 bước này là nói về phần căn bản lý luận và thực tiễn thiền định. Đối với 16 bước này có thể nói đơn giản chính là: thân, thọ, tâm và pháp. Nói về tự mình trưởng thành hoặc dạy người khác cùng tiến bộ đều tốt, nhưng vấn đề căn bản chính là ở “con người”. Mà phân tích con người thì không ngoài thân và tâm, làm thế nào để mình hiểu được thân và tâm này? Hiểu được nó thì sau đó mới có khả năng trưởng thành, đột phá. Vì vậy Phật giáo nói về tĩnh tâm và lặng nghĩ, then chốt là ở chỗ hiểu được thân và tâm.
Phật giáo đối với việc giải quyết vấn đề, thường đưa ra ý tưởng cơ bản nhất là: vấn đề nảy sinh ở đâu, thì giải quyết vấn đề ở nơi đó. Dùng thuật ngữ Phật giáo là “nhân duyên từ nơi nào sinh ra, thì diệt trừ nơi ấy”. Từ ý tưởng cơ bản này mà thảo luận, thì không cần một sức mạnh bên ngoài nào để giải quyết vấn đề giải thoát. Điểm này khác với các tôn giáo khác, không cần liên lụy đến thần thánh hoặc quan điểm nào nữa. Tôi không đem tôn giáo ra so sánh, mà chỉ là bổ sung làm rõ tại sao Phật giáo chỉ thảo luận từ điểm này.

 
Thân→thọ→tâm→pháp
Về lý luận tu hành của Phật giáo trước tiên thảo luận: cái gì điều tiết cho thân (thân hành)? Thân hành chỉ cho cái điều tiết của thân (regulator), điều hòa hạn chế của thân
 
 
 
(conditioner). Hành có ý nghĩa là điều tiết, điều hòa hạn chế. Phật giáo cho rằng đó là hơi thở. Hiện tại chúng ta đang thảo luận về tĩnh tâm và lặng nghĩ cũng nói đến việc dạy sinh viên cách tập trung vào đối tượng vào hơi thở, các lý luận đó được xây dựng ở điều này.
Giống như, trước khi lên bục giảng hoặc ra thi đấu thì rất căng thẳng, lúc này thở sâu để thả lỏng thân tâm. Cũng như lúc tức giận, sắp mắng người khác, hít thở sâu để điều tiết thân tâm. Khi đang họp hành, nếu như tâm bị hồi hộp hấp tấp, thì hơi thở sẽ hấp tấp, lúc đó rất khó trao đổi thảo luận, rất khó nắm bắt được ý tứ của người khác. Vì vậy lý luận cơ bản của hơi thở là như vậy.
Phần quan trọng sẽ giải thích dưới đây: cái điều tiết của tâm (tâm hành) là gì? Điểm này cần hiểu rõ hơn thêm nữa. Cái điều tiết của tâm là “thọ” và “tưởng”. “Thọ”là cảm thọ, cảm giác (sensation), “tưởng” là tri giác (perception). Hay đơn giản là: chúng ta đều nghĩ cách khống chế nội tâm của mình, nhưng chúng ta đều biết, nội tâm rất là tinh vi, thay đổi cũng rất nhanh. Nếu không tin, chúng ta ngồi thiền sẽ biết, khi vừa ngồi xuống, thì bắt đầu suy nghĩ lung tung, vọng niệm linh tinh, mà còn rất trừu tượng, rất khó mà nắm bắt, vì thế phải tìm ra ai là chủ nhân điều tiết nó.

Cái điều tiết của tâm
Cảm thọ thay đổi nhanh, tri giác thay đổi càng nhanh, nhưng vẫn cụ thể hơn tâm (mind). Phần trước có nói đến hơi thở ra vào có thay đổi nhưng không nhanh bằng cảm thọ và cụ thể hơn.
 
 
 
Chỉ mới có tâm mà đã khó nắm bắt rồi, huống gì là đối tượng (hiện tượng, chân lý) nhận thức của tâm nữa. Tâm đã khó nắm bắt như vậy thì làm sao để hiểu được đối tượng mà nó nhận thức? Đây là bộ phận tinh vi hơn nữa. Chúng ta muốn nắm bắt được tâm, thì điều kiện tiên quyết là phải nắm bắt được cảm giác, tri giác. Muốn nắm bắt được cảm thọ, thì phải trước hết nắm bắt hơi thở. Vì thế nếu xếp theo thứ tự từ thô thiển đến vi tế thì: thân → thọ → tâm → pháp. Hay nói cách khác, nếu như không nhìn thấy được thân tâm của mình, thì khó mà biết rõ thực sự cảm thọ, không biết rõ thực sự của cảm thọ thì không biết rõ được nội tâm của chính mình, thì làm sao hiểu được chân lý. Có thể nói đó là tưởng tượng mà thôi, còn tưởng tượng có thể làm chủ được nội tâm, nhưng không có cách nào kiểm chứng đánh giá được cụ thể cả. Hôm nay nói về dạy học, điều quan trọng chính là đánh giá, hôm nay tôi ngồi thiền có tiến triển không? Thân → thọ → tâm → pháp là một loại đánh giá theo thứ tự rất cụ thể.     
Do đó trên lý luận thì như vậy: Tại làm sao chúng ta phải chú ý đến hơi thở? Bởi vì điều đó là cơ bản nhất, có thể nói trong sự thay đổi của thân và tâm thì nó là rõ rang cụ thể nhất. Quý vị nghĩ thử xem, dù mình ngồi thiền ở đâu, thì sự thay đổi cụ thể nhất vẫn là hơi thở đúng không? Quý vị khó có thể lập tức cảm nhận đến sự thay đổi: “hiện tại tôi già đi một chút rồi”. Nhưng quý vị sẽ phát giác đến, sau khi ngồi xuống thì sự thay đổi dễ nhận ra nhất là hơi thở vảo và ra. Nếu theo 16 bước mà nói: trước tiên là biết rất rõ ràng chính xác hơi thở dài và ngắn. Hay nói rõ hơn nữa, trước tiên không nói đến hơi thở dài ngắn, trước tiên nắm rõ hơi thở vào là vào, hơi thở ra là ra. Đây là phương pháp đơn giản nhất.     
 
 
 
Quý vị nói: “tôi rất dễ làm chủ tâm của mình”. Vâng, tôi đưa ra cho quý vị một cơ sở để đánh giá: “quý vị có khả năng biết được khi hít vào, khi thở ra là thở ra không?” Đơn giản như vậy thôi, xem thử lực quan sát của quý vị duy trì được bao lâu? Có thể chỉ được vài hơi thở, thì sự quan sát này chạy đâu mất rồi, sau đó mới đi tìm nó về lại.
 Quan sát hơi thở vào ra, đây là sự thay đổi phương hướng của hơi thở, đếm hơi thở thuộc “số lượng”, từ sự thay đổi của phương hướng và số lượng, chúng ta tiếp tục tìm hiểu “chất lượng” của hơi thở như thế nào? Chất lượng của hơi thở bao gồm dài ngắn, lạnh ấm, thông suốt hay nghẹt kín. Vì vậy từ bộ phận đơn giản đi quan sát, cơ bản nhất cũng biết được hơi thở vào ra như thế nào rồi. Cao hơn nữa, hơi thở dài biết dài, ngắn biết ngắn, nhưng không được cố ý khống chế hơi thở vào ra, dài ngắn, thông suốt hay nghẹt kín, phải khách quan để nhận biết điều đó mà thôi.  
Tại sao như vậy? Tôi tin rằng quý thầy cô đi trước nhất định từng chú ý đến việc dạy dỗ học sinh một cách tốt nhất đó là: làm cho họ biết được vấn đề của bản thân, chớ không phải khống chế vấn đề của họ. Khi mà học sinh biết được vấn đề của bản thân rồi, thì sẽ tìm phương pháp giải quyết. Vì thế khi ngồi thiền, cũng học tập được rất nhiều việc rất thú vị. Ngồi thiền thật ra là học tập cách giao tiếp giữa chính mình, nếu mình không biết cách giao tiếp với chính mình, thì sao có năng lực giao tiếp với người khác được? 
          
 Thân niệm trụ
Vì vậy, điểm thứ nhất là hiểu được yếu tố điều tiết (hơi thở) thân thể và tâm hồn của mình, quý vị sẽ biết rõ, cách
 
 
 
điều tiết thân thể là như thế nào, thì sẽ sử dụng rất chính xác. Quý vị sẽ phát hiện từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên nó là một hợp thể, không phải từ trên khống chế xuống, cũng không phải từ dưới bắt buộc ở trên phản ứng như thế nào. Vì vậy trong 4 bước của quá trình “thân niệm trụ”, từ biết được hơi thở dài hơi thở ngắn, cho đến “biết được toàn bộ hơi thở”, cũng chính là biết rất rõ toàn bộ quá trình của hơi thở, cho đến “thân thể tĩnh lặng”, đến lúc này đã đạt đến trình độ tự mình điều tiết rồi. Đây là giai đoạn thứ nhất – thân niệm trụ. “Niệm” là giác tri quán sát, “trụ” là kiến lập xây dựng, giai đoạn này đã xây dựng được sự giác tri quán sát. Khi mà nóng giận lên, thì lập tức quán chiếu sự thay đổi của hơi thở, bởi vì lúc bình thường họ đã nuôi dưỡng tập quán quán chiếu hơi thở. Khi họ chuẩn bị có hành vi “đánh nhau”, thì họ phát hiện toàn thân căng thẳng, có cảm giác rất lạ. Lúc này rất có tác dụng, đối với lời nói và hành vi đều có khả năng duy trì ở một trình độ nhất định.   
Hôm nay, Thầy Hiệu trưởng Trần đề cập đến tầm quan trọng của “biểu đạt”. Thật ra hiểu đạt cần có sự phối hợp tốt, từ suy nghĩ cho đến lời nói và hành vi, mới có thể biểu đạt được. Chúng ta thường phát giác, có một số sinh viên dùng lời nói biểu đạt ra ngoài, thực chất lại khác với trong lòng họ muốn nói. Họ vốn không có ý gì xấu, nhưng bởi vì ở hoàn cảnh ấy, họ biểu đạt ra điều mà khi xem lại chính họ còn hết sức bất ngờ. Có nhiều sinh viên bình thường thì rất tốt, nhưng khi tham gia thảo luận trong hội nghị, thì không biết chuyện gì mà lời nói phát ra có tính công kích tổn thương người khác. Nếu như vậy mà trải qua một hai lần, thì chính họ cảm thấy áy náy khó chịu, cũng làm tổn thương đến người khác,
 
 
 
cho nên trở thành một sự cực đoan (hoàn toàn lặng thinh trầm mặc). Vì thế sinh viên trong quá trình biểu đạt, thường có hai cực đoan xảy ra, một là hoàn toàn im lặng, phủ định một cách đầy tiêu cực; hai là khi họ phát ngôn nói rất kịch liệt. Họ cứ boăn khoăn mãi ở hai cực đoan này, lưỡng lự nói hay là không nói e rằng người khác chấp nhận không nổi, thì sẽ rất khó giao tiếp công việc với người khác một cách thuận lợi nhất.
 
 Thọ niệm trụ
 
Từ “thân niệm trụ” tiếp tục nói đến “thọ niệm trụ”. Khi tôi ở học viện Nghệ Thuật dạy về 16 bước, thì chỉ nói đến “hơi thở” và “cảm thọ” hai điểm quan trọng. 
Hơi thở và cảm thọ ở giữa thân và tâm, có điểm giống với “vùng màu xám” mà hôm nay chủ nhiệm Quách đã nói đến. Trong “Sử Ký” có nói câu: “nghiên cứu mối quan hệ giữa tự nhiên và con người, thông suốt sự biến đổi của xưa và nay, trở thành lời nhận định của mọi người.” “Nghiên cứu mối quan hệ giữa tự nhiên và con người” là vấn đề rất quan trọng, có rất nhiều việc đó là tự nhiên trời định? Hay là ở con người? Xem xét từ lịch sử, có rất nhiều sự việc hình như là sự sắp đặt của trời đất từ giới tự nhiên, nhưng hình như lại là do con người có thể thay đổi được, vậy cuối cùng là thời thế tạo anh hùng hay là anh hùng tạo thời thế? Đây là vấn đề mà nhà sử học biên soạn cuốn Sử Ký muốn tìm hiểu. Cũng như vậy, điểm quan trọng của tĩnh tâm và lặng nghĩ là muốn biết hoặc quán sát “cái khoảng giữa của thân thể và tâm hồn”. “Cái khoảng giữa của thân thể và tâm hồn” là gì? Nó từ ngoài vào trong? Hay từ trong ra ngoài? Tâm ràng buộc
 
 
 
thân? Hay thân ràng buộc tâm? Nếu nói đến vấn đề triết học thì “vật chất” có trước, hay là “ý thức (tâm)” có trước? Cũng chính là vấn đề duy tâm và duy vật. Vì thế trong lúc ngồi thiền, còn một vấn đề cần có sự đột phá là: quán chiếu hoặc nhận biết được cái khoảng giữa thân và tâm, sự thay đổi của thân và tâm hoặc là xúc cảm do sự giao thoa giữa thân và tâm sinh ra như thế nào?
Tại sao tôi cường điệu ở điều này? Bởi vì nếu làm chủ được hơi thở và cảm thọ, thì có một điều rất tốt, vì nó không quá bên ngoài, cái gì quá bên ngoài thì dễ tán loạn, và nó không phải là đối tượng tốt để tu tập thiền định; còn nếu như nó không quá bên trong, cái gì quá bên trong thì sẽ rất vi tế và thay đổi rất nhanh, khó mà làm chủ được. Có một số người bị tẩu hỏa nhập ma, bởi vì họ quán chiếu quá bên trong, nghe đến âm thanh huyễn hoặc, nhìn đến hình tượng huyễn hoặc, cảm giác đến huyễn giác, họ không thể nắm bắt được chân thật. Vì thế, tôi chỉ mong muốn sinh viên chúng ta chỉ cần chú ý đến hơi thở và cảm thọ, bởi vì hai điều này đang ở trogn giới hạn an toàn, không quá bên ngoài cũng không quá bên trong, không quá vi tế, cũng không quá thô thiển, vì thế sẽ không có xuất hiện các vấn đề. Hơi thở không có gì là thần bí cả, thở ra là thở ra, hít vào là hít vào, thở dài biết dài, thở ngắn biết ngắn, thở nhẹ biết nhẹ, thở nặng biết nặng, điều này không thể nói là thần bí cả. Cũng như vậy, khi chú ý đến cảm thọ, rất rõ ràng biết được thế nào là khổ, vui, hỷ và trung dung không khổ không vui. Những cảm giác đó không có gì là kinh nghiệm bí mật cả, cũng không có gì là quan niệm trừu tượng hết.
 
 
 
Vì vậy ở trong quá trình của “thọ niệm trụ”, bước thứ nhất là “biết được niềm vui”, đây chỉ lấy niềm vui làm đại diện, nên còn bao hàm bộ phận tương phản với nó là “biết được nỗi buồn”. Bước thứ hai là “biết được an lành”, và cũng bao quát bộ phận tương phản với nó là “biết được đau khổ”. Phần “biết được” cũng giống với “thân niệm trú”, biết rất rõ ràng là niềm vui, an lành, đau khổ và nỗi buồn. Điều này có một lợi ích là quý vị biết được nó tại sao đến, tại sao đi, từ đó biết được trước kia mình có một số phản ứng dư thừa mang đầy cảm xúc chưa tốt. Nó đến và đi như thế, chứ không có gì mà như trong tưởng tượng nó dẫn dắt mình một cách cứng nhắc. Bình thường chúng ta rất dễ bị ảnh hưởng của cảm xúc, cũng do chúng ta không hiểu được hoàn toàn về nó, mà nghĩ nó rất là vững chắc, xem niềm vui nỗi buồn như là có thật vững chắc không thể thay đổi vậy.
Khi quý vị hiểu được ngồi thiền, nó cũng như hơi thở, có đến có đi, có ra vào, dài ngắn, nặng nhẹ, không có liên quan gì đến vấn đề đạo đức. Nhưng khi quý vị từ “cảm thọ” sản sinh phản ứng từ ý chí từ cảm tính, thì lại liên quan đến rất nhiều vấn đề đạo đức. Trước khi sự phản ứng của ý chí phát xuất, sẽ ở trong giai đoạn “cảm thọ”, nếu như tiếp nhận xử lý một cách chính xác thích hợp, thì đến lúc phản ứng của ý chí, thì giải quyết vấn đề một cách rõ ràng. Nếu như ở giai đoạn “cảm thọ” không được hoàn toàn tham gia xử lý, đợi đến khi ý chí đã phát ra thì muốn thay đổi cũng khó khăn. Ví dụ, tôi rất tức giận, bởi vì tôi cho rằng “tức giận” là một việc rất chân thực, vì thế tôi quyết tâm công kích, lúc này đã quyết định rồi, muốn thay đổi rất là khó, lúc này cần một lực nhẫn nại rất lớn.
 
 
 
Có một ví dụ, người khác chửi la mình, tát vào mặt mình một cái rất đau! Nếu lúc này “cảm nhận khổ đau” được nhận thức một cách chính xác, hiểu rõ nó sẽ phát hiện nó đến và đi như thế nào, giả như mình chỉ thuần túy xem đó là “một cảm nhận” thôi, nó đơn thuần như thế mà qua đi. Nhưng nếu như mình để nó từ cảm nhận cho đến lúc biết được, và tiếp đến có ý chí đi vào, thì vấn đề không dừng lại nữa, lúc này mình sẽ cho nó rất nhiều cách lý giải: “họ mắng mình, làm nhục mình.” Mỗi lần nghĩ lại một lần đau, nỗi đau này do chính mình cho thêm vào, vì thế giai đoạn sau này rất đáng sợ, giai đoạn trước chỉ chịu đau một lần thôi, nhưng giai đoạn sau sẽ kéo dài liên tục một khoảng thời gian. Trong Kinh Phật có một đoạn nói đến: “bạn không nên tiếp tục tiếp nhận mũi tên thứ hai, thứ ba v.v… cho đến rất nhiều mũi tên.” Người khác chỉ làm đau bạn bởi một mũi tên được bắn ra, điều này khó mà tránh khỏi, nhưng mũi tên thứ hai về sau là do tự mình bắn vào, khi bạn về nhà mỗi lần nghĩ lại “họ mắng tôi” thì chính là bắn tiếp mũi tên vào chính mình. Nhưng vốn điều này chính mình có thể xử lý, mới bắt đầu rất đơn thuần, tiếp nhận một cách khách quan, tiếp nhận cảm giác ấy, thì phản ứng về sau sẽ rất dễ giải quyết.
 
 Tâm niệm trú
 
Vì vậy, nói về tĩnh tâm lặng nghĩ, tốt nhất là lấy “hơi thở” và “cảm nhận” làm đối tượng quán chiếu của thiền định. Làm cho sinh viên hiểu được sự điều tiết của hơi thở có liên quan đến cảm nhận, cuối cùng dạy cho họ hiểu biết được cảm nhận có mối quan hệ mật thiết với quán chiếu tâm. Có khả năng quán chiếu tâm, thì có cách khiến cho tâm của mình vui
 
 
 
vẻ an lành, định tĩnh và giải thoát. Từ “thân niệm trú” cho đến “tâm niệm trú”, đây thực sự là quá trình tĩnh tâm, tổng cộng có 12 bước (3×4=12), đạt đến tâm giải thoát mới là chơn chính của tĩnh tâm. Trong đó điểm quan trọng là “thọ niệm trú”
 
Pháp niệm trú
 
Giai đoạn thứ 4 là “pháp niệm trú” thuộc tĩnh tư thiền quán. Trong kinh nghiệm cụ thể ở 3 giai đoạn trước, mục đích là muốn nhận thức được đạo lý gì? Phật giáo cho rằng đầu tiên nên nhận thức về “vô thường”. Đối với cuộc đời của con người, điều quan trọng nhất là nhận thức thể nghiệm được vô thường. Bởi vì quan niệm này là hiểu được toàn bộ thân tâm, cho đến sự thật cơ bản quan trọng nhất của nhân sinh và vũ trụ. Mọi người không dễ tiếp nhận được quan niệm vô thường, do đó phiền não cũng từ nơi đây mà nảy sinh. Khi đó chúng ta đối diện với hoàn cảnh vô thường thay đổi, thì không có cách nào thích ứng, nhưng sự “thay đổi” đó cũng sẽ bị thay đổi vô thường. Thay đổi chậm thì chúng ta nhận không ra, còn thay đổi nhanh thì chúng ta cảm thấy khổ đau. Sự thay đổi có thể là thay đổi tốt, hoặc ngược lại. Ví dụ, quý vị ngồi nghe ở dưới cảm thấy không dễ chịu, nhưng không thể vĩnh viễn là không dễ chịu; hoặc là ngồi cảm thấy rất dễ chịu, cũng không thể là vĩnh viễn dễ chịu.
Nếu không tin, quý vị có thể nghĩ lại xem, vừa rồi quý vị dạo bộ ở hành lang hơi mệt, đi vào lớp học ngồi xuống, mới bắt đầu cảm thấy rất dễ chịu. Hiện tại thời gian ngồi đã hơn 1h rồi, quý vị bắt đầu ngồi không yên, cảm giác dễ chịu mới đó giờ chạy đi đâu mất rồi? Trải qua một giờ nữa
 
 
 
giả như tôi vẫn tiếp tục giảng, thì quý vị có thể suy nghĩ: “sao lại không cho nghỉ tiết?” Nếu như thầy hiệu trưởng nói: “tiết học hôm nay kéo dài tới 12h.” Mọi người nghe xong chắt ngất xỉu quá mất, thật là khổ sở. Vốn là việc rất vui, dần dần lại trở thành không khổ không vui, rồi tiếp đến lại trở thành khổ. Nếu như thầy hiệu trưởng nói: “Được rồi! Hôm nay học đến đây bây giờ cho quý vị nghỉ, về phòng được rồi đấy.” Thì lại vui vẻ, trở về phòng, nằm nghỉ rất dễ chịu. Nhưng sau đó thầy hiệu trưởng lại ra lệnh quý vị: “nếu nằm nghỉ rất dễ chịu, thì quý vị nằm như thế cả ngày nha!” Kết quả thì cái dễ chịu đó lại chạy đi hướng nào mất rồi? Ăn cơm cũng như thế, khi bụng đói thì rất khó chịu, đến lúc ăn thì miếng cơm đầu tiên rất vui vẻ, sau đó mức độ của niềm vui giảm dần. Giả như thầy hiệu trưởng nói: “Quý vị dùng cơm vui vẻ không? Vâng, sẽ chuẩn bị hai đến ba bàn nữa cho quý vị dùng.” Đến lúc này, chúng ta mới thật là khổ sở.
Quý vị sẽ thấy, khổ đau hay vui sướng vốn không vững chắc, nhưng chúng ta thường có một loại tâm lý: phải nắm bắt nó, giữ gìn nó và hy vọng nó vĩnh viễn không đổi thay.

 
Quán vô thường: lần thứ nhất, cũng là lần cuối cùng
 
Cũng như vậy, đối với những gì có ở bên cạnh, chúng ta có được kinh nghiệm như trên không? Đối với thân thể, tài phú, địa vị, gia đình, sự nghiệp v.v… của mình, thì chúng ta có kinh nghiệm như trên không? Đối với sự thể nghiệm về “vô thường”, tôi hay vận dụng câu này cho cuộc sống của tôi: “đối với mỗi giây mỗi phút tiếp xúc với bất kỳ ai hoặc bất kỳ sự kiện nào, tôi cũng cho đó là lần thứ nhất, cũng là lần cuối cùng.” Câu này đã ảnh hưởng đến tôi cả nửa cuộc
 
 
 
đời còn lại. Khi tôi làm luận án tiến sĩ, tôi hay suy tư về vấn đề này: “Làm cách nào để đem đạo lý vô thường này vào cuộc sống của chính mình?” Sau đó khi tôi đã nắm bắt được nguyên tắc này rồi, thái độ của tôi tiếp xúc mọi người và xử lý công việc đã thay đổi tốt hơn. Tôi tin rằng mỗi người có cách ứng dụng riêng cho chính mình, còn ở đây tôi chỉ đem cách của mình ra chia sẻ với quý vị tham khảo.
Câu nói trên đối với tôi rất hữu dụng. Một giây trước họ mắng tôi, tôi không cho rằng giây tiếp theo họ mắng tôi nữa, bởi vì tôi không cho là một giây trước vĩnh viễn tồn tại, do đó một giây tiếp theo đó đối với tôi chính là lần đầu tiên. Nếu như tôi đã cho là họ sẽ tiếp tục mắng tôi, thì tôi sẽ không cho họ cơ hội thay đổi, và cũng không cho cơ hội chính mình hóa giải vấn đề đó. Hay nói rõ hơn, thì giả như hôm qua tôi và họ cãi nhau, hôm nay gặp lại họ, vì do kinh nghiệm bị mắng hôm qua ảnh hương đến nên một số người sẽ đưa bộ mặt giận dữ của mình ra, họ nhìn thấy mặt mình không vui như thế, thì họ cũng đưa ra bộ mặt như vậy, thế thì kết quả là rất khó có khả năng hóa giải được điều này. Nếu như tôi cho đó là lần đầu tiên gặp nhau, không bị kinh nghiệm của quá khứ ảnh hưởng, sẽ phát hiện, không những tạo cơ hội cho chính mình mà còn đem cơ hội này trao tặng cho người khác nữa. Lúc này tiếp đãi người khác hay xử lý công việc ở đâu lúc nào cũng đều có tính sáng tạo, bởi vì đây chính là sáng tạo cơ hội cho chính mình và cho tha nhân.
Cũng như vậy, một giây trước họ ca ngợi tôi, tôi không nghĩ họ sẽ nhất định ca ngợi tôi ở giây tiếp theo. Có một câu chuyện rất cụ thể thế này: địa vị của giáo sư ở Nhật rất được
 
 
 
tôn trọng, chỉ có uống rượu trong buổi tiệc liên hoan là mới phá vỡ giới hạn giữa giáo sư và sinh viên, lúc này không phân chia địa vị cao thấp nữa. Có nhiều du học sinh Đài Loan ở trong buổi tiệc này, và khoảng cách giữa Giáo sư và họ không còn nữa. Qua buổi sáng hôm sau, đến lúc gặp Giáo sư, nếu còn dùng thái độ của ngày hôm qua, thì sẽ có thể bị Giáo sư không vừa lòng.
Đồng thời, quý vị cho đó là lần cuối cùng, thì sẽ trân trọng nó. Bởi vì chúng ta thường có hai loại tâm lý, không cho đó là lần đầu tiên, mà hầu như đều bị ảnh hưởng của kinh nghiệm từ quá khứ, vì thế luôn sống và tư duy hành động theo mô thức sẵn không có gì thay đổi. Bởi vì không có sự thể nghiệm về vô thường, do đó không hiểu cách cho điều đó là lần đầu tiên. Cũng như thế, cũng không cho đó là lần cuối cùng, mà luôn cho rằng vẫn vĩnh viễn còn lần sau, dù sao lần sau làm tốt thì tốt rồi. Vốn hiện tại nên đối với họ nói tiếng “xin lỗi”, hoặc “cảm ơn”, hoặc khen họ vài lời vẫn tốt, nhưng chúng ta đều đợi để lần sau vậy! Hay nói về kinh nghiệm lâu dài một chút, hiếu thuận đối với cha mẹ cũng vậy, hôm nay làm kiếm được 10 đồng, muốn cung phụng cha mẹ, thì lại nghĩ: “để ngày mai làm kiếm thêm 20 đồng mới gửi cha mẹ.” Ngày mai lại có được 20 đồng thì nghĩ: “để kiếm thêm 30 đồng hẳn gửi”. Rồi dần dần như thế, thì sẽ khóc than “con muốn báo hiếu mà cha mẹ không còn”, đây là bởi gì “luôn nghĩ còn có lần sau” mà ra.
Vì thế, lần đầu tiên cũng như lần cuối cùng, sự thật là như vậy. Sự việc của một giây trước làm sao mà giống với một giây sau? Sự việc đó làm sao mà vĩnh viễn dừng lại chỗ
 
 
 
cũ? Nó thật là lần đầu tiên cũng như lần cuối cùng. Đây là một sự thật, không phải là cố ý nghĩ ra. Tiếp nhận quan niệm này rồi, có thể vận dụng ở trogn rất nhiều sự việc khác. Khi chúng ta “phân công công tác” thường là làm qua loa lấy lệ, sơ sài cho xong, nên nhiều vấn đề rắc rối nảy sinh từ đây. Ngước lại, thì đối diện với việc chưa từng làm thì lo sợ, hoặc cự tuyệt từ chối.
Thêm một ví dụ nữa, làm công việc của người bán hang, mỗi ngày họ làm một việc cố định là thu tiền trả hóa đơn, thu tiền trả hóa đơn. Nếu như họ đối với từng việc và khách hang như thế đều cho là lần đầu tiên cũng như lần cuối cùng, thì cảm thấy công việc sẽ khác. Bởi vì họ cảm thấy mỗi người khách khác nhau, nên có thái độ cư xử khác nhau, vì thế cảm thấy cuộc sống đầy sáng tạo và thú vị, chứ không phải nhạt nhẽo vô vị, mỗi phút mỗi giây đều sáng tạo bởi vì đó là lần đầu tiên cũng như là lần cuối cùng. Bất luận là đối xử với người khác hoặc xử lý công việc, họ cảm thấy mỗi giây đều có một cái mới vậy.
Ngoài ra, đối với thể nghiệm về sự thật của vô thường, thì việc học hỏi thay đổi vai trò của nhau rất hữu dụng. Vì vậy, tôi thường nói với sinh viên: “có thể vào một ngày nào đó chính bạn sẽ đóng vai trò của họ.”

 
 Quán đoạn, quán ly dục và quán diệt
 
Từ nhận thức được vô thường, tiếp đến sẽ nói về “quán đoạn”, cũng chính là quán chiếu để đoạn trừ loại bỏ quan niệm cách nhìn sai lầm. Sau khi nhận thức được đạo lý vô thường, có thể loại trừ được hiểu biết sai lầm. Quá trình từ
 
lời nói hành vi ở bên ngoài cho đến tư tưởng bên trong, thì thay đổi được cách nhìn là điều rất quan trọng. Đối với việc trói buộc ràng buộc được lời nói và hành vi, là đều xây dựng trên cách nhìn chính xác. Do đó trước tiên đề cập đến “quán chiếu bên trong xây dựng cách nhìn chính xác’, sau đó mới phát triển rộng đến “quán ly dục”.
Bảo đảm đã ly dục thì phải cần mượn ngoại cảnh để thử thách, từ quy tắc ở bên ngoài, đạt đến nhận thức vượt qua ở nội tâm, sau khi toàn bộ quan niệm của cuộc đời thay đổi, vẫn cần phải mượn sự việc bên ngoài để rèn luyện, nhờ kinh nghiệm thực tế để bảo đảm một loại nhận thức nào đó, chứ không phải là lý luận trống rỗng, cho là: “tôi chắc chắn là như vậy”. Tất yếu phải chịu sự khiêu khích thử thách từ bên ngoài, để xem mình có khả năng “ly dục” chưa, cuối cùng đạt đến trình độ quán sát “diệt”, lúc này tất cả vấn đề đều đạt đến giải quyết.
Từ sự cải thiện lời nói hành vi ở bên ngoài, cho đến trải qua sự phản tỉnh từ nội tâm, từ bỏ nhận thức sai lầm, tiếp đến phát triển thành mô thức của lời nói và việc làm tốt. Liên quan đến sự khác nhau về từ bỏ nhận thức và hành vi với thực tế rèn luyện, tôi thường lấy ví dụ về bác sĩ cho mọi người nghe, về lý luận, thì bác sĩ là người biết rõ hơn ai hết về tác hại của hút thuốc, nhưng họ chưa chắc là đã bỏ hút. Tuy họ biết cụ thể tác hại, nhưng khó vượt qua cám dỗ của khói thuốc, bởi thế họ chưa đạt được sự khẳng định của thực tế đối với hiểu biết này.
Tóm lại, toàn bộ quá trình này nói lên: bạn có khả năng quán chiếu thân tâm, mới có khả năng khiến cho thân tâm tự
 
 
 
tại; bạn có một thân tâm tự tại, thì chính mình được ổn định; sau khi được ổn định rồi, thì đối với mọi người xung quanh, sinh viên, đồng sự, người nhà đều được ổn định.
Tôi nghĩ bài giảng hôm nay tới đây kết thúc, thời gian còn lại hy vọng nghe được những câu hỏi và sự chỉ giáo của quý vị.

 
Giải đáp các câu hỏi
 
Xin hỏi: “4 giai đoạn 14 bước quán chiếu thân tâm” có xuất xứ ở đâu?
Trả lời: Đây là truyền thống tu học của Phật pháp, khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội cây Bồ-đề giác ngộ đạo lý “vô thường”. Đã là vô thường, thì không có quan niệm cái ngã nào vĩnh hằng (vô ngã), chỉ có sự tồn tại của cái ngã có điều kiện và chịu hạn chế mà thôi. Trong ý thức của chúng ta có một loại quan điểm sai lầm cơ bản, cho là tôi là thường tồn, độc nhất, vì thế không thể đối diện với “vô ngã”, đối với thân hoặc tâm, thường sử dụng các loại phương pháp để tìm cầu trường sinh bất tử, như vua Tần Thủy Hoàng v.v.. Ngoài ra, đối với những hiện thực thì thường mong muốn đó không phải với chính mình, như các sự thực về tử vong, già yếu, sinh lão bệnh tử, yêu thương xa lìa, mong cầu không đạt được v.v…
Đức Phật nhận thấy đạo lý vô thường thật khó trình bày cho người khác hiểu được, nhưng cuối cùng Ngài phải quyết định giảng dạy dần dần cho mọi người. Lúc ấy Đức Phật phải đối diện với giới tôn giáo rất phát triển của Ấn Độ đương thời, có nhiều loại nhiều dạng Bà-la-môn giáo, nhưng
 
 
 
khi ấy các đệ tử đến học với Ngài (đặc biệt giai đoạn đầu), có gần 100% là người lãnh đạo của Bà-la-môn giáo. Khi đức Phật và họ thảo luận, cũng chỉ nói về sự thật của hiện tượng này, không có nói liên quan đến vấn đề “thần thánh” của tôn giáo, Ngài chỉ dạy: vấn đề nảy sinh từ thân và tâm, thì cũng nên từ thân và tâm mà giải quyết từng bước từng bước.
Vì thế, từ thời đại Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vấn đề này đã được mang ra thảo luận và truyền thống này đã có từ xa xưa, chỉ là con người hiện tại ít chú ý đến vấn đề này, như ở Trung Quốc có hai pháp môn tu hành phổ biến, một là thiền tông, chủ yếu tham thiền, hai là tịnh độ tông, chủ yếu niệm danh hiệu Phật. Tuy nguyên lý tu hành căn bản là như nhau, nhưng nói về “thân niệm trú” ít hơn. “Niệm” ở trong pháp môn niệm Phật, với “niệm” trong tứ niệm trú như nhau, chỉ là khi dạy một người tu học, nếu nói về điều tiết hơi thở, thì có một số người có niềm tin tôn giáo cao, thì hình như không hợp với ý nguyện của họ, nên dạy họ niệm Phật sẽ ổn hơn. Trước tiên cho họ chế ngự tâm ở danh hiệu Phật, rồi sau đó dạy họ quán chiếu thân tâm để đạt được thân tâm tự tại.
Ở trong phần thứ 2 của mục 2 cũng có nói đến “thiền quán” và “thiền tông”, tôn chỉ căn bản của thiền tông là “minh tâm kiến tánh”. Phương pháp tu tập của thiền tông chú trọng ở việc nắm bắt “tâm niệm trú” và “pháp niệm trú”, cũng chính là vấn đề then chốt của thân và tâm, mà họ ít quan tâm đến quá trình ở giai đoạn trước. “Kiến tánh” là tánh gì? Sử dụng phương pháp so sánh để dễ hiểu, đó là thấy được “tánh vô thường”. Nếu biết được tánh vô thường, thì nắm rõ cái tự ngã mà tưởng tượng ra là sai lầm, cần trừ bỏ, đó cũng chính
 
 
 
là “Phật”. Vì vậy đem kiến tánh giải thích thành thấy được Phật tính cũng đúng, Phật tính vốn không có gì trừu tượng mà chính là trừ bỏ đi quan niệm sai lầm, thì đó chính là Phật tính (Phật có ý nghĩa là tự giác, giác ngộ). Vì thế thiền tông nói về minh tâm kiến tánh chính là hai giai đoạn cuối cùng “tâm niệm trú” và “pháp niệm trú”.
Vì sao hai giai đoạn đầu không được chú trọng lắm? Từ sự phát triển của lịch sử Phật giáo nhìn lại, một trong những nguyên nhân chính là: do một số trào lưu tôn phái quá chú trọng ở giai đoạn trước, vì thế hình thành nên các quy định rất phức tạp, mà quên đi tinh thần quan trọng ở giai đoạn sau. Cũng như ông hiệu trưởng Trần nói: “Quy định của trường rất rõ ràng, nhưng lại không rõ ràng, bởi vì không hiểu được tinh thần của nó là ở đâu.” Vì vậy, thiền tông trực tiếp nắm bắt tinh thần. Nhưng như vậy sẽ hay nảy sinh một loại bệnh thiền, quên mất đi những việc cơ bản quan trọng. Vốn là nên thực hiện các việc cơ bản ấy song, giống như trước tiên vẽ thân thể con rồng song, rồi mới điểm con ngươi, nhưng lại điểm con ngươi trước vẽ thân con rồng sau, họ cho đó là được rồi. Vì thế, thiền tông đề cao điểm quan trọng của tu hành, chính là “điểm con ngươi của rồng”, nhưng muốn thế trước đó phải vẽ con rồng xong đã, cũng chính là nên thực hiện các giai đoạn trước xong rồi mới tính, vẽ con rồng rất tốn thời gian, nhưng điểm con người chỉ trong tích tắc.

 
 Vô thường với chấp trước có xung đột nhau không
 
Xin hỏi: thầy dạy nên lấy vô thường mà nhìn cuộc sống, nhưng đối với việc học hành, sự nghiệp và tu học, nếu không có tâm chấp trước, thì làm cách nào thực hiện tốt, đạt được
 
 
 
mục đích? Vô thường và chấp trước có bị xung đột với nhau không?   
  
Trả lời: Câu hỏi rất là quan trọng cũng rất thực tế. Bạn nói đến sự nghiệp, học tập và tu đạo đều phải cần có tâm chấp trước mạnh, có sự tính toán mới đạt được thành công, thì hình như điều này mấu thuẫn với đạo lý vô thường. Nhưng trên thực tế, lại không có mâu thuẫn, mà ngược lại càng tiếp cận với sự thật. Trong tương lai quý vị có thể thể nghiệm, hoặc đợi một chút quý vị sẽ lập tức thể nghiệm, quý vị chú ý hơi thở ra vào, đó cũng là đối tượng của tâm ý, của tu thiền định của sự quán chiếu cảm thọ.
Trong toàn bộ quá trình tu tập thiền định, “tâm” cần giữ chặt (quan sát) “hơi thở”. Quý vị sẽ phát hiện ra rằng phải phù hợp với hiện thực mà giữ chặt hơi thở, mới thực sự là giữ nó. Khi hơi thở ra vào, nó có bắt đầu và kết thúc. Nếu hơi thở vào, quý vị quán sát biết được, lúc hơi thở hít vào đã đủ, nếu giả sử quý vị muốn nó không kết thúc, thì rất là đau khổ, bởi vì quý vị phải nén khí lại. Vì không khí của hơi thở hít vào ấy muốn thở ra, cho đến khi đã thở ra rồi, thì quý vị mới cảm vui vẻ, bởi vì quý vị sẽ cảm nhận được rất thư thái, còn nếu quý vị mong muốn hơi thở ấy ra mãi mãi, không hít vào nữa, nhưng quý vị sẽ rất khó chịu, bởi vì trong phổi sẽ thiếu không khí.
 Vì vậy cần tùy vào tình huống hiện tại mà nắm bắt, giữ sao cho hợp nhất, không luận là thời gian và công sức bỏ ra, đều phải cho hợp lý nhất, đây mới thật sự là “nắm bắt”. Vì vậy, chấp trước là một loại nắm giữ sai lầm, còn Phật giáo nói về “không chấp trước”, điều này không đồng nghĩa Phật giáo
 
 
 
dạy quý vị hoàn toàn không quản lý sự việc, mà là quản lý nắm bắt một cách chính xác nhất.
Giống như một vận động viên ném cầu cho bóng chày muốn ném thật nhanh, họ không phải dùng thật nhiều sức lực mới làm cho bóng ném nhanh. Nếu như chỉ dùng sức lực, thì tuyển thủ lừng danh Quách Thái Nguyên không thể có danh xưng “chiếc xe nhanh nhất Đông Phương”. Bởi vì nếu như vận tốc của cầu được ném mà hoàn toàn quyết định bởi sức lực, thì cơ bắp của ông này đâu bằng lực sĩ hoặc những người tập thể hình, họ sẽ ném nhanh hơn, nhưng thực tế lại khác. Nhớ lại lúc tôi đang du học ở Nhật Bản, nghe người khác phỏng vấn Quách Thái Nguyên: “phương pháp nào ném bóng nhanh như vậy?” Anh ấy trả lời rất hay, câu này cũng hỗ trỡ cho việc tu tập của tôi rất nhiều, anh nói: “Tôi thường luyện tập sử dụng sức lực ít nhất, để ném cầu nhanh nhất”. Thật ra ném cầu không chỉ ở sức lực, mà là ném vừa đúng nhất. Toàn thân cần thư thái thì thì thái, lúc cần sức thì dùng sức; không phải lúc cần thư thái lại căng thẳng, lúc cần dùng sức thì không có sức. Bởi vì ném cầu không chỉ là dùng “tay” mà là dùng toàn thân ném. Như nguyên lý của bắn cung, kéo dây cung ra, sau đó lợi dụng sức căng của cây cung mà bắn mũi tên đi ra, toàn thân cũng giống vậy, độ dẻo dai tốt, ném cầu mới nhanh được.
Cũng như vậy, đối với cảm giác cũng thế, làm cách nào để nắm giữ đẹp nhất? Cũng chính là, lúc buông thư thì buông thư, lúc nắm giữ thì nắm giữ. Cũng như vận động viên học ném cầu, huấn luyện viên dạy anh ấy: “chỗ này quá căng thẳng, cần buông thư xíu.” Thế là anh ấy buông thư quá
 
 
 
nhiều, kết quả cầu không ném được mà rơi xuống đất. Cũng giống như anh nói tôi không nên chấp trước, thế thì tôi hoàn toàn buông xả. “Buông xả” vốn không có ý nghĩa như vậy, thật ra là muốn nói “hợp đến tốt nhất”, nên buông thì buông nên nắm giữ thì nắm giữ.
Tôi đưa ra thêm một ví dụ nữa: viết chữ thư pháp. Có một số người viết chữ thư pháp yêu cầu hoàn mỹ gấp gáp, do đó cầm bút rất chặt, kết quả cầm càng chặt viết càng xấu. Lúc này thầy dạy thư pháp mới dạy anh ấy: “buông thư! Buông thư!” Thế thì anh ấy buông thư thái quá, khiến cho cây bút bị rơi, không viết được chữ nữa. Vì vậy “không chấp trước” có điểm giống như “thân tâm cần buông thư”, chỉnh là cần xử lý đến “hợp đến tốt nhất”.
Lúc nắm bắt cái gì đó, nên hiểu rõ vô thường, đạo lý này cũng vậy. Tất cả các việc đều là chấp nhận có điều kiện (conditioned) chịu sự ràng buột lẫn nhau, là một cách bị động chịu sự ràng buột của cái khác; đồng thời cũng là bắt theo cần có điều kiện “conditioning”, chủ động bắt cái khác theo điều kiện. Vì vậy khiến bạn cảm thấy rắc rối, có lúc cảm thấy là mình làm chủ được tất cả, lại có lúc thấy bất lực. Thật ra “chấp nhận có điều kiện” và “cần có điều kiện” có tính hỗ trợ qua lại.
Vì vậy, quan niệm về vô thường không chỉ khiến quý vị không còn chấp trước, ngược lại làm cho quý vị đạt đến mục tiêu một cách chính xác, mà còn phối hợp với nhau một cách thuận lợi giữa con người, thời gian và không gian một cách tốt nhất. Bởi vì khi quý vị không suy nghĩ tới các nhân tố tương quan này, ngược lại sẽ trở thành khó khăn trở
 
 
 
ngại không thể đạt được mục đích. Vì thế tôi nghĩ nếu như hiểu rõ vô thường thì càng có khả năng thành tựu nhiều sự việc hơn.
 
Không phân biệt và có phân biệt
 
Câu hỏi: tâm không phân biệt là giai đoạn pháp niệm trụ, còn ở giai đoạn thân, thọ và tâm đều là có phân biệt phải không?
Trả lời: liên quan đến “có phân biệt” và “không phân biệt” ở phần 2 mục 2 có nói đến. Hai loại tác dụng của tâm lý này có thể nói đó là quá trình thành thục của tâm trí, đây cũng là quá trình của rất quan trọng của tĩnh tâm và lặng nghĩ cần hiểu rõ. Không phân biệt là thuộc năng lực quy nạp, có năng lực là thuộc năng lực phân tích. Không phân biệt là đem những sự việc khác nhau quy nạp lại thành một. Ví dụ, sinh hoạt ở trong một đoàn thể, có rất nhiều người có hoàn cảnh, gia đình, sự nghiệp, giới tính, chủng tộc v.v… khác nhau, thì quý vị làm sao tìm điểm tương đồng của họ? Đây là một quá trình huấn luyện tâm trí rất quan trọng. Nhưng nếu chỉ có năng lực này không vẫn chưa đủ, nếu như chỉ nắm lấy điểm tương đồng, thì sẽ bỏ qua đi tính cá biệt trong đó, điều này là chúng ta cần quan tâm, nếu không sẽ khó mà thỏa mãn được hai phương hướng của sự việc.
Vì thế trong cả quá trình tu tập tĩnh tâm và lặng nghĩ, sẽ có sự thay đổi như sau: “trước tiên tĩnh tâm sau đó lặng nghĩ, trước lặng nghĩ sau đó tĩnh tâm, tĩnh tâm và lặng nghĩ cùng vận hành”. Quá trình tâm trí có phân biệt thì gọi là “lặng nghĩ”, còn quá trình tâm trí không phân biệt thì gọi là “tĩnh
 
 
 
tâm”. Bởi vì cần sự quán sát lặng nghĩ để phân tích, còn muốn đạt đến vô phân biệt thì cần tĩnh tâm. Nếu muốn tâm định lại, trở thành không phân biệt, thì cần sức mạnh của tĩnh tâm hay là sức mạnh của lặng nghĩ? Tôi muốn hỏi ý kiến của quý vị như thế nào?
Ngồi ở dưới có một vị chủ nhiệm nói: khi ngủ có thể làm cho tâm định được.
Ngủ là thuộc phương pháp không phân biệt làm cho tâm định được. Vì thế đa số là có thói quen sử dụng phương pháp “tĩnh tâm”. Trong trường hợp, khi ngủ sử dụng phương pháp không phân biệt, thì quý vị mới ngủ được, quý vị tự nói với mình rằng: “Không nên suy nghĩ! Không nên suy nghĩ!” Đây là một phương pháp không phân biệt. Nhưng sau khi thức dậy, vẫn phải “suy nghĩ”, mới có thể giải quyết các vấn đề. Mặc dù có một số vấn đề không cần suy nghĩ đến nó, để nó tự nhiên giải quyết, nhưng có một số vấn đề vẫn phải suy nghĩ mới xử lý được.
Tiếp tục đổi một vấn đề để nghĩ, khi một lớp học đang ồn ào náo nhiệt, thầy giáo bước vào lớp, thấy tình hình như thế, thì thầy giáo làm sao khiến cả lớp im lặng? Thường sử dụng là dùng câu mệnh lệnh: “Không được ồn ào!” Từ ngôn ngữ học thì đây là câu mệnh lệnh “không được ồn ào” hoặc là câu cầu khiến “xin các em không được ồn ào có được không!” Đây là thuộc phương pháp không có phân biệt, không cần nói rõ lý do. Ngoài ra một phương pháp khác là dùng câu nghi vấn: “Các em ồn ào chuyện gì?” Muốn họ biết là mình đang ồn ào cái gì, đây là phương pháp có phân biệt. Vì vậy, muốn tâm được tĩnh, có lúc sử dụng phương pháp “có phân biệt” cũng
 
 
 
hữu dụng, bởi vì có thể hỏi được vấn đề trung tâm của nó. Ví dụ, khi đau thương rơi lệ, thì hỏi chính mình: “bạn đang khóc cái gì? Ai đang khóc? Người khóc là ai?”
Cho nên, làm cho tâm được tĩnh thì bắt buộc trước tiên phải tĩnh tâm sau đó lặng nghĩ, có lúc là trước tiên lặng nghĩ sau đó tĩnh tâm. Đây là tình huống đem năng lực của tĩnh tâm và lặng nghĩ chia ra mà nói như vậy. Giống như lúc họp hành, vấn đề phát sinh có lúc sử dụng hai phương pháp xử lý: 1. Để đó một bên hoặc ủy thác lại, nghỉ không thảo luận nữa. 2. Đem vấn đề phân tích rõ ràng, tiếp tục thảo luận. Tuy là có một số vấn đề để đó một bên, nhưng về sau vẫn đem ra thảo luận, nhưng cũng có một số vấn đề để đó, thì mọi người cảm thấy không cần thảo luận lại, thế là không bệnh mà chết, vấn đề tự nhiên được giải quyết. Căn cứ theo thường tình, thì phổ biến là trước hết tĩnh tâm sau đó lặng nghĩ nhiều hơn. Trước tiên đem tâm tĩnh lại, rồi mới tư duy suy nghĩ giải quyết vấn đề. Nhưng bước tiếp theo rất quan trọng là ở mức độ “tĩnh tâm và lặng nghĩ song hành” lúc này sự vận hành ứng dụng của nó trở thành một thể.
Vậy thì, mức độ không phân biệt cao? Hay là mức độ có phân biệt cao? Giả như có một mức độ là không phân biệt cộng thêm có phân biệt, thì quá tốt rồi. Điều này có 2 góc độ:
Một là không phân biệt là định, có phân biệt là huệ, đem định và huệ dung hòa vận dụng.
Ví như khi đọc sách, nhất định là giữ tâm định lại, đem tâm tập trung vào đọc sách, bởi vì đọc sách là do năng lực của quán chiếu lặng nghĩ; trong khi đọc sách có một sức tập
 
 
 
trung tinh thần rất lớn ở đó. Vì vậy tập trung có hai tầng thứ: một là tập trung mang tính tổng hợp, đem tâm tập trung ở nội dung của sách mà đọc; tâm đạt đến nội dung của sách, thì các trạng thái tình huống trong sách rõ ràng, lúc này tâm của chúng ta cũng định ở nội dung trong sách. Nhưng do sức lực của tâm, thời gian không được duy trì dài. Có người sử dụng sức lực của tâm không được tốt, duyệt đọc một lúc thì cảm thấy mệt mỏi; nếu điều tiết sức của tâm tốt, thì duyệt đọc lâu hơn. Có người muốn đọc sách cho tốt, họ cho là phải dùng sức mở mắt thật to mới được, kết quả là đọc sách mà hoa cả mắt, thật ra cũng không nên như thế. Vì thế muốn đọc sách thời gian dài hay không, nó có mối quan hệ với sự điều tiết của thân tâm, nhưng cũng không có thể đọc liên tục được, bởi vì theo nguyên tắc vô thường, thì nó vẫn có thay đổi. Do vậy khi có sự thay đổi thì nên điều tiết cho tâm được trở về với trạng thái không phân biệt; những cũng không nên để tâm ở trạng thái không có phân biệt, vì cần phải trở về trạng thái có phân biệt. Vì thế trong cuộc sáng hằng ngày, chúng ta phải sử dụng phối hợp nhịp nhàng giữa năng lực của có phân biệt và không có phân biệt với nhau.
Lấy một ví dụ càng rõ ràng hơn, có phân biệt giống như ban đêm, không có phân biệt giống như ban ngày; có phân biệt giống như công tác, không có phân biệt giống như nghỉ ngơi. Thông thường chúng ta đi làm ban ngày, ban đêm nghỉ ngơi, không ngừng thay đổi, mới giữ gìn được năng lực sống. Chúng ta đều cần cù làm việc, bởi vì chỉ có làm việc thì mới giải quyết vấn đề, nhưng cũng phải nghỉ ngơi vì không thể lúc nào cũng làm việc. Căn cứ vào nguyên lý vô thường, thì nó nhất định có sự thay đổi, vì thế cần có ngủ nghỉ. Ngủ nghỉ
 
 
 
tuy không phải là làm việc, nhưng nó có giá trị của nó, nhưng nếu nghỉ ngơi suốt thì lại không giải quyết được vấn đề gì.
Hai là nếu có khả năng nắm bắt (phân biệt) đến “vô thường” và “vô ngã” (không phân biệt), mà lấy không có phân biệt để thể nghiệm thì càng tốt nữa. Có một thứ thức tạp nhất mà căn bản nhất lại là “ngã”, nếu như nắm bắt được (có phân biệt) “vô ngã” (không có phân biệt), thì rất tốt. Nhưng “vô ngã” không chỉ là tưởng tượng, mà là do thể nghiệm vô thường mới đạt được. Hay nói cách khác, trải qua quá trình của định lực (không có phân biệt), để có trí tuệ (có phân biệt) thể nghiệm chơn lý (không có phân biệt) “vô ngã”, đây mới là tốt nhất.
Vì thế mức độ của có phân biệt hay có phân biệt cái nào cao hơn? Thật ra là nên từ hai góc độ trên để thảo luận. Nhưng thường thì cường điệu là không có phân biệt là mức độ cao hơn, bởi vì xuất phát từ “vô ngã” mà thảo luận. Tóm lại, thảo luận về không có phân biệt có hai khả năng, một là thiền định không có phân biệt, mức độ giải thoát chưa triệt để, bởi vì mức độ này giống với ngủ nghỉ; còn một loại nữa là trí tuệ không có phân biệt, mức độ giải thoát triệt để.
Xin hỏi: không có phân biệt và có phân biệt là một loại động tác, hay là một loại trạng thái; nó là động từ hay là danh từ?
Trả lời người hỏi: Quý danh của bạn là gì? Hôm nay quên mất hỏi quý danh các vị.
Người hỏi trả lời: Điều này không quan trọng lắm, vô thường mà.
 
 
 
Trả lời: tuy là vô thường nhưng nó không có nghĩa là không quan trọng, vì nó là lần cuối cùng, vì thế chúng ta nên trân quý nó. Rất nhiều người cho là vô thường rất là tiêu cực, nhưng sự thật nó lại rất tích cực, bạn cho đó là lần đầu tiên cũng như là lần cuối cùng, thì nó trở thành rất tích cực và rất sáng ý sáng tạo! Có một số người cho là “thường” mới là tích cực, kỳ thật chính nó mới là khổ sở, mà còn tổn hại đến chính mình, và tổn hại đến người khác. Nếu như chúng ta cho chữ “thường” ấy không thay đổi, thì con của mình vĩnh viễn ở bên cạnh, kết quả là nó khổ não, mình cũng khổ theo; sinh viên cũng như thế, luôn luôn mong muốn nắm bắt cái gì đó hằng thường, vì thế lênh đênh giữa hai cực đoan này, một là bỏ mặc không quan tâm, hai là nắm bắt rất chặt, không thể lấy được một cách phù hợp nhất.
Tại sao không thể nắm bắt một cách phù hợp nhất? Bởi vì người bạn đầu tiên và cuối cùng nhất của mình đã giữ không được (hởi thở), thì làm sao có khả năng nắm bắt một cách phù hợp nhất. Từ khi chúng ta mới sinh ra, hơi thở đã theo chúng ta, cho đến khi chúng ta lìa đời thì mới chấm dứt, người bạn thân mật như thế, nhưng quý vị thử ngồi lại và nắm bắt nó xem, có lúc thì giữ được, có lúc không thể nào hiểu nổi nó. Tôi thường nói, vốn liếng cơ bản nhất của một con người là hơi thở, cảm giác của cuộc sống ở trong một hơi thở. Nhưng đối với nó, chúng ta còn không thể nhận biết hết thì làm sao mà nắm bắt nó một cách phù hợp nhất, đối với cái có của những thứ khác càng khó mà thưởng thức được hương vị của nó. Đối với cái có cơ bản nhất cũng còn chưa biết hương vị như thế nào, mà muốn có cái khác thì đó chỉ là tưởng tượng mà thôi, còn tưởng tượng thì làm sao biết
 
 
 
được một chút hương vị của nó, thì sao nói đến được thưởng thức nắm bắt nó, mà còn nghĩ muốn có nhiều thứ khác nữa? Quý vị cùng với người bạn đầu tiên và cũng là cuối cùng đều không thể giao du tốt, quán chiếu tốt, thì làm gì có thể hiểu hết được cái khác? Ngay cả hạnh phúc an lành của hơi thở không thể nghiệm hết thì làm sao mà mong muốn thể nghiệm được hạnh phúc khác? Nếu có hạnh phúc chăng cũng chỉ là mong manh.
Trở về với vấn đề mà bạn hỏi. Có phân biệt và không có phân biệt có thể nói về tâm, cũng có thể nói về đối tượng; hay nói cách khác, cũng có thể đó là chủ ngữ (subject), cũng có thể là tân ngữ (object). Nói chung, nó là nói về một loại trạng thái (condition), khi tâm đi nắm bắt đối tượng, hình thành ra một loại trạng thái. Nó cũng có thể nói là một loại quá trình (process) thao tác của tâm lý. Vì thế, nó có thể là “động từ” chỉ cho động tác (action); cũng có thể là danh từ chỉ cho tác nhân (agent).

 
Trong vô thường thể nghiệm được tính hằng thường
 
Hỏi: gần đây giới vật lý học và xã hội học đề xuất một loại “lý thuyết hỗn loạn”, lý thuyết này cường điệu tuy là vô thường nhưng “trong hỗn loạn có trật tự”. Vô thường không ngừng tuần hoàn, thì đó là một loại hằng thường, thế thì làm sao trong vô thường thể nghiệm cao hơn nữa đến tính hằng thường?
Đáp: Đây là câu hỏi phân tích thấu triệt. Xin chú ý, vừa rồi tôi có giải thích qua, vô thường có thể dùng một phương thức khác để biểu đạt: nhân duyên sinh, nhân duyên diệt. Nói
 
 
 
đến nhân duyên chính là nói đến một loại tương quan lẫn nhau. Từ nguyên nhân đến kết quả, cần có sự phối hợp giữa nhân bên trong và duyên bên ngoài. Từ điểm này thì thấy trong đó có sự trật tự của nó. Vì vậy, nói đến vô thường, thật ra cũng là nói đến các loại nguyên tắc. Các loại nguyên tác này là một loại có tính tương quan (relative), hoặc là có điều kiện, có tính ràng buột (conditional). Do đó nếu hiểu được nguyên tắc này, thì tìm được sự trật tự của nó. “Lý thuyết hỗn loạn” cũng có người dịch thành “lý thuyết hỗn độn”. Cũng có thể nói trong hỗn độn (chaos) lại có trật tự (cosmos).
Thời gian diễn giảng của hôm nay cũng gần hết, có rất nhiều việc trên thực tế thì quý vị có thời gian thực tập xem. Thật ra ngồi thiền rất đơn giản, mới bắt đầu thì chú ý hơi thở ra vào, đến khi tâm được lắng đọng, thì cảm nhận về khổ vui lo thích, biết được nó đến và đi, điều quan trọng là thể nghiệm được vô thường, từ đó tiến lên thể nghiệm được vô ngã.
Có rất nhiều điều, hiểu biết của tôi cũng có hạn, hy vọng trong tương lai được học hỏi nhiều ở quý vị. Cảm ơn quý vị đã cố gắng ngồi lắng nghe, trải qua niềm vui buồn lẫn lộn đến đến đi đi, nhưng ít ra cũng ngồi được 2 tiếng rồi. Cảm ơn quý vị!


Huệ Mộ ghi chép chỉnh lý
(Bài này trích từ tác giả Thích Huệ Mẫn “Thiền định và cuộc sống” nhà xuất bản Tây Liên Tịnh Uyển, năm 1997)
 
 
 
/5
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »