HIỆN TƯỢNG HỌC VỀ HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA HUSSERL
1. LẬP THỨCVỀ Ý NGHĨA CỦA SỰ LẬP NGHĨA ĐỒNG NGHĨA CỦA “ SỰ LẬP THỨC TRIỆT ĐỂ ” VÀ “ VIỆC TRỞ VỀ SỰVIỆC BẢN VỤ ”,ZUR SACHE SELBST.
Thiên luận thuyết này không có tính cách giới thiệu và trình bàv hiện tượng học theo điệu nhà trường, theo điện “truyền bá phổ thông”. Mục đích của thiên luận thuyết là khai mở tự thức vào khai vực của ý nghĩa về sử tinh trong Thể Mệnh Nhân loại hiện nay mà sinh mệnh và tất mệnh của Việt nam đã được thành tựu cùng lúc với sự thành tựu của siêu hình học Tây phương trong ý nghĩa của vật và đồ vật những ý nghĩa này đã được hội tụ lại nơi chung điểm, chung điểm mà ra sự quyết định tối hậu khả dĩ chuyển di phương hướng của tinh mệnh Việt nam. Khả tính của sự đánh mất quê hương càng lúc càng trở nên quyết liệt trầm trọng đồng lúc cùng khả tính của sự phục hồi quê hương; mấl và còn nằm trong thếbiến động toàn diện hiểu theo ý nghĩa Krisis của Hy lạp, tức là nguyên nghĩa của crixe theo ý thức thông dụng là khủng hoảng ; Sự khủng hoảng
của Việt Nam nằm trong lòng biến động toàn diện của thế giới. Thế giới như ý nghĩa là thế giới của biến nghĩa và động ý trong sự dung nhiếp của nhất thể và dị thể. Tư tưởng của Việt Nam hôm nay và ngày mai phải đi vào ý nghĩa hai chữ «cải» và «con» (1) hai chữ Việt đơn giản khả dĩ khai mở tất cả khả tính tối thượng của Việt tính và Nam tính tronq sự hội thoại với ý nghĩa của những chữ «Sache», «Ding», «Chose», «Objet», «thing», «esse», «res». «ens», «on», «onta» của sử mệnh Tây phương, đồng thời khai mở lại sự phục thoại với nguyên nghĩa của « vật », « sự vật »; « thể », « hữu », « sự thể », «sự», «tat», «tad», «sat», «bhàva» của tỉnh mệnh Trung Hoa và Ấn độ, đại điện cho tính mệnh Đông phương.
Sự di động không ngừng của thiên luận thuyết này lên đường tiếp theo việc tương ứng với ý nghĩa của Husserl về sự tuyệt đối của lịch sử như Husserl đã viết trong «Nguồn gốc của Kỷ Hà Học» (Die Frage nach dem Ursprung der Geometrie als intentional historisches Problem) nơi trang 380, ilusserliana cuốn VI «lịch sử thoạt tiên chỉ là sự di động linh hoạt của sự tương dung tương nhập (des Miteinander und Ineinander) về sự lập nghĩa (Sinnbildung) và về sự tập nghĩa (Sinnsedimentie- rung) nguyên thủy» (bản dịch chữ Pháp do Jacques Derrida, L‘ origine de la Géométrie, p. Ư. F. 1962, trang 203). Hiểu lịch sử là lập thức về sự di động vận hành linh hoạt ấy. Tiết I của thiên luận thuyết này mang nhan đề “lập thức về ý nqhĩa của lập nghĩa”; động từ «lập thức» ở đây chính là ý nghĩa của động từ Đức «besinnen») , danh từ «ý nghĩa» ở đây chính
(1) Hiện nay, tại Viện Đại học Vạn hạnh, trong niên khóa 1968 —1969 trong những lớp dạy về chứng chỉ Tư tưởng Việt nam, tôi đã thiết lập nền tảng cho triết lý Việt Nam về «cái» và «con» trong sự hiện diện của ý thức Việt Nam nơi hiện tính của toàn thể nhân loại ( những bài giảng này sẽ được xuất bản trong hoàn cảnh thuận tiện).
là danh từ Đức «Sinn» và sự «lặp nghĩa» ở đây chính là chữ Đức « Sinnbildung » (1) mà trong bản dịch I ‘ Origine de la Géométrie, Jacques Derrida dịch.là « la formation de sens » (những trang 113, 178, 193, 1«5, 199,203, 215) — Hiện tượng học thường được coi là triết lý của ý nghĩa; tất cả ý nghĩa của hiện tượng học của Husserl có thể rút gọn trong nhan đề của tiết I : « lập thức về ý nghĩa của lập nghĩa » ở trên đã nói đến chữ Krisis trong ý nghĩa « sự biến động» và « sự khủng hoảng», ý nghĩa của hiện tượng về Krisis giữ vị trí quan trọng nhất trong giai đoạn cuối cùng của Husserl ; hiện tượng về Krisis (biến động khủng hoảng) có ý nghĩa là «Umkehrung» (sự đảo nhịch) nghĩa là quên mất những căn nguyên nguồn gốc, làm sai lạc ý nghĩa, dời đổi nền tảng cơ sở; trái lại, lập thức, «besinnen» về những nguồn gốc căn nguyên có nghĩa đồng lúc là chịu trách nhiệm về ý nghĩa( Sinn) của Khoa học và của Triết học. Do đó, đối với Husserl, «sự biến động khủng hoảng của triết lý có nghĩa là sự biến động khủng hoảng của tất cả mọi nền khoa bọc hiện đại với tư thế là những thành phần liên hệ với cơ thể phổ biến đại đồng của triết lý» (Philosophia, t, I, p 89). Phải phục hồi triết lý như là sự tự lập thức của nhân loại (Philosophie als mensch heitliche Selbstbesinnung) nghĩa là phục hồi ý nghĩa cho con người. Đối với Husserl, triết lý chính là ratio (tính lý) trong sự di động không ngừng để tự giải minh (Selbsterhellung) và « đừi sống cá nhân thực sự có tính cách nhân tính là tự mở trải ra qua những cấp độ khác nhau của việc lập thức và của sự trách nhiệm cá nhân » mà cấp độ tối thượng là « lập thức và trách nhiệm phổ biến » và «sinh hữu là hữu thể, hữu thể là tự thể hiện, tự lập chí
(1) xuất hiện lần đầu tiên 6- trang 367, Husserliana, cuốn VI, 0 Die Frage nach Ursprung der Geometrie als intentional historisches Problem» (cf 1' Origine de la Gérométrie, trang 178
thể hiện, có khả năng ý chí tự thể hiện theo bản tính và thể cách riêng tư của minh» Husserl đưa con người trở về vị thế của sinh thể hữu lý, tự thể hiện, tự trách nhiệm, « tự trị » La Philosophie comme prise de conscience đe Phumanité do Paul Ricoeur dịch trong Deucalion, III, 1950, trang 122)
Ý tượng về «sự tự trị» đã được Husserl tự thể hiện cho triết lý của ông đối lại sự thống trị của triết lý Descartes: Heidegger cũng đã tự thể hiện «sự tự trị» cho tư tưởng mình để thoát ra ngoài sự thống trị của Husserl, và Merleau-Ponty cũng đã tự thể hiện sự tự trị cho triết lý của ông đối lại thống trị của Husserl, Heidegger đã tự lập thức và tự trách nhiệm theo bản tính và thể cách riêng biệt của ông cũng như Merleau-Ponty cũng đã tự lập thức và tự trách nhiệm theo bản tính và thể cách riêng biệt của Merleau-Ponly (1). Do đó, hiện tượng học của Iieidegger hoàn toàn không giống hiện tượng học của Husserl và hiện tượng học của Merleau-Fonty cũng hoàn toàn không giống hiện tượng học của Husserl. Sự khác nhau triệt để này nằm trong ý nghĩa của «sự lập thức triệt để» của toàn thể hiện tượng học. Không ý thức được sự việc bản vụ (zur Sache selbst) này là không hiểu gì về hiện tượng học cả.
Trong «Philosophic als strenge Wissenschaft» (La philosophie comme science rigourense, p. u. F, tr. 124-125) Husserl viết: « Chúng la không trở thành triết gia nhờ ở những triết lý, triết
(1) Riêng đối với trường hợp của Sartre thì thực là trường hợp đặc biệt : Sarirc là nét mặt méo mó của Descartes cộng với Hegel giai đoạn -Iéna. Lịch sử tư tưởng Sartre là lịch sử của sự xuyên tạc tàn nhẫn liên tục, một thứ nihilisme được ẩn dấu một cách biện chứng dưới mặt nạ humanisme : Sartre xuyên tạc Husserl, xuyên tạc Heidegger, xuyên tạc Freud và xuyên tạc cả Marx; chương viết về Mauvaise Foi của Sattre trong l'Être et le Néant chỉ là một cách cự giải thích về chính thái độ của Sartre : không ai thể hiện kinh nghiệm mauvaise foi cho bằng chính Sartre !
học». Câu này đáng suy nghĩ nhất và có ý nghĩa nhất khi chúng ta đổi triết lý, triết học ra hiên tượng luận, hiện tượng học : «Chúng ta không trở thành nhà hiện tượng học nhờ ở những nền hiện tượng học». Heidegger đã thể hiện thế «tự trị» nhờ sự tách rời ra ngoài phong trào hiện tượng học của Husserl ; Merleau-Ponty cũng tách rời ra ngoài Husserl. Sự khác nhau triệt để giữa Husserl và Heidegger và Merleau-Ponty xuất phát từ tinh thần triệt để (Radikalismus) của chính hiện tượng học, chính Husserl cũng đã từng nói «Khoa học về những gì có tính cách triệt để thì cũnq phải có tính cách triệt để trong phương sách đối trị của nó và phải làm thế trong tất cả mọi quan điểm » vì «thế tính của triết lý là khoa học của những sự bắt đầu thực sự, của những nguồn gốc, những"bản nguyên...» (1)
II. LẬP THỨC VỀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC LẬP THỨC VỀ SỰ TỰ LẬP THỨC
Ý, thức về ý thức là lập thức. Muốn hiểu hiện tượng học thì phải hiểu bằng chính phương pháp của hiện tượng học. Phương pháp của hiện tượng học quyết định bản chất của biện tượn học. Phương pháp của hiện tượng học nhất thiết phải đi trước khoa học về hiện tượng học (Q. Lauer, Pheno- meneloqy, its qenesis and prospect, Harper, N.Y. 1965, trang 37 ). Điều này đã được Jacques Derrida trình bày một cách linh động, trong phương trời của sử tính, nơi phân mở đầu dài 171 trang cho bảa dịch L‘ Origine de la Géométrie : «Trong những ý nghĩa tiềm ẩn triệt để nhất, phương pháp không phải là phần mở đầu có tính cách trung lập hoặc sự diễn tập có tinh cách
La Philosophie comme Science rigoureuse, tr. 124-125
mào đầu của một loại tư tưởng mà đó chính là tư tưởng trong ý thức về sử tính nguyên vẹn của nó» (op. cit. Introduction, trang 166) (1) Đối vởi Husserl, hiện tượng học trước tiên vẫn là một phương pháp, và sự qui hồi (Reduktion) có tính cách siêu thể, chính là bản tính của một phương pháp đặc hiệt, chính Huserl nhận rằng sự qui hồi siêu thể là « phương pháp uyên nguyên của tất cả mọi phương pháp triết lý». Trong Idee der Phanonenologie, trang 23, Husaerl viết : «Hiện tượng học : danh từ này chỉ một khoa học, một hệ thống của những qui phạm khoạ học. Nhưng danh từ này cũng trước hết chỉ một phương pháp và một thái độ của tâm thức, thái độ đặc biệt có tính cách triết lý của tâm thức, phương pháp đặc biệt có tính cách triết lý» (2) tiếp theo nơi trang 24, Husserl viết : Triết lý nằm nơi một khai vực hoàn toàn mới lạ. Triết lý cần một khởi điểm hoàn toàn mới lạ và một pbương pháp hoàn toàn mới lạ để tách biệt ngay từ nguyên lý ra ngoài bất cứ khoa học duy nhiên nào». Tiếp theo nơi trang 25, Husserl lại nhấn mạnh : « triết lý, tôi lặp lại, nằm nơi một khai vực mới lạ... một phương pháp mới lạ, mới lạ một cách triệt để».
Xin trở lại với Jacques Derrida, trong phần Introduction cho bản dịch L‘Origine de la Géométrie, nơi trang 166, Derrida viết một đoạn văn đáng suy nghĩ nhiều nhất : «Hiện tượng học như là Phương Pháp về Ngữ luận trước tiên hết là Selbstbesin- nung và Verantwortung, sự quyết tính tự tại mà nhờ đó con người « lấy lại ý nghĩa của mình » để tự chịu trách nhiệm về một con đường đang hiểm nguy nhờ ở tiếng nói. Tiếng nói này
(1) L‘ Origine de la Géométrie, Introduction : «Dans ses implications les plus radicales, la Méthode n‘ est donc pas la préface neutre ou 1' exercice préambulaiie d'une pensée, mais la pensée elle-même dans la conscience de son historicité intégrale »,
(2) Die Idee der Phaenomenologie, La Haye, Nijhoff, 1950
có linh cách lịch sử, vi tiếng nói ấy vẫn là một sự trả lời rồi. Tự chịu trách nhiệm chính là tự cưu mangmột tiếng nói nghe được, chính là tự gánh lấn sự giao hoán của ý nghĩa để mà« thận độc », gìn giữ con đường đang đi của mình « (1).
Đoạn văn này có vẻ khó hiểu khi chúng ta không ý thức về lộ trình tối hậu của Husserl; lộ trình tối hậu của Husserl đồng nghĩa với «phương pháp uyên nguyên» (Ur-methođe) ; phương pháp uyên nguyên ấy được thu gọn lại trong một chữ «Selbstbesinnung» nghĩa là «sự tụ lập thức» và «tự lập thức» luôn luôn đi đôi đồng nhịp với «sự trách nhiệm» (Verantwortung); trong bản thảo KIII, 19 f 13b trong Archives-Husscrl ở Louvain, Husserl định nghĩa tinh cách tất nhiên ( Apodiktizitaet) là «sự lập thức của con người tự trị nắm lấy sự trách nhiệm triệt để của mình».
Những tác phẩm của Husserl thuộc giai đoạn « biến động khủng hoảng » (Krisis), giai đoạn quan trọng nhất và ý nghĩa :nhất trong suốt lộ trình gian nan của Husserl, kẻo dài từ năm 1933 đến 1938; chính giai đoạn ấy, Husserl đã tự lập thức một cách triệt để về toàn thể lộ trình của hiện tượng học, những bước đi dò dầm từ mấy chục năm trời bỗng trở nên những bước đi quyết liệt dứt khoát trên con đường hiểm nguy trong số mệnh máu lửa của thế giới và nhân loại, qua tiếng nói, Husserl tranh đấu cho ý nghĩa của con người trên mặt đất, bằng cách «lấy lại tất cả từ sự khởi đầu...» (Husserl nói với em gái Adel
(1)L'Origine delà Géométrie, introduction, trang 166 : La Phénoménologie comme Méthode du Discours est d'abord, à cet égard, Selbstbesinnung et Verantwortung, libre résolution en laquelle on «reprend son sens» pour se rendre comptable, par la parole, d‘ un chemin en péril. Cette parole est historique, parce qu‘ elle est toujours déjà une réponse. Sa rendre responsable, c' est se charger d‘ une parole entendue, c' est prendre sur soi 1‘ échange du Sens, pour veiller sur son cheminement«
gundis trong cơn bệnh nặng hấp hối lần cuối). Sự khởi đầu ấy là «sự tự lập thức». Tôi nghĩ rằng không ai có thể tự nhận là hiểu được hiện tượng học của Husserl nếu bỏ quên «sự tự lập thức» này. Husserl gọi «sự tự lập tbức» là «Selbstbesinnung». Toàn thể tác phẩm giai đoạn Krisis của Husserl đều đầy dẫy danh từ «Selbstbesinnung». Ba danh từ «Sinn» «Besin- nung» và «Selbstbesinnung » là ba danh từ mà tôi dùng làm trọng tâm để xoay tất cả hiện tượng học của Husserl vào trong: «lý nhất quán». Thay vì theo cách phân loại những tác phẩm Husserl ra làm từng thời kỳ vũ đoán theo điệu Fink, Spiegelberg, Kockelmans, v.v... tôi cho rằng từ Philosophie der Arithmetik, 1891, cho đến Vorlesungen zurPhaenomenologie des inneren Zeitbewusstseins, 1928, là nằm trong giai đoạn «Sinn», từ Formale und transzendentale Logik. 1929,cho đến CartesianischeMeditationen, 1931, là nằm trong giai đoạn «Besinnung», từ Die Krisis dar eu- rupaeschen Wissen schabten und die transzendentale Phaenom- enologie, 1936, cho đến 1938, nằm trong giai đoạn «Selbstbesin- nung» Lý nhấtquán cho ba giai đoạn là danh từ «Sinn», vì hai danh từ sau (Besinnung và Selbstbesinnung) đều xuất phát từ danh từ « Sinn ». (Sinn, besinnen, Besinnung, Selbstbesinnung). Ba danh từ (Sinn, Besinnung, Selbstbesinnung) chỉ mang một ý nghĩa chỉ nên lưu ý là Sinn có tính cách tĩnh, Besinnung có tính cách động và Selbstbesinnung có tính cách tự động. Ngoài ra, trong toàn thể hiện tượng học của Husserl, ba chữ «Sinn» và «Selbst» luôn luôn đồng nghĩa, «trở về chính sự việc» (Zur Sache seibsl) có nghĩa là «trở về ý nghĩa của sự việc» và «Sinn» (ý nghĩa) cũng là đồng nghĩa với «Bewusstsein» (thức tính) và ý thức trong chữ Đức Bewusstsein có nghĩa là «thức thể» (Bewusst-sein), vì thế«Sinn» cũng có nghĩa là «Sein», ý nghĩa chính làtính thể : ý nghĩa của tính thể (Sein) là thể tính (Wesen) «Do đó, đối vởi Husserl, hể tính và ý nghĩa là toàn hoàn đồng, nhất. Kiến thức thực sự về thực tại là kiến thức về ý nghĩa
của những sự thể... và ý nghĩa ấy là ở nơi ý thức» vì «cho rằng nắm được thể tính của sự thể nào có nghĩa là cho rằng nắm được ý nghĩa của nó» Q. Lauer, The Triumph of Subjectivity. Fordham University Press, 1958). Tóm lại, Sinn có nghĩa là Besinnunq và Besinnung có nghĩa là Selblbesinnunq, đó là tất cả ý nghĩa của chủ thể tính siêu thể (subjectivité transcen- danlale). Trong Formale und transzendentale Logik, trang 241, Husserl nói một câu khả dĩ rút gọn lại những gì đã trình bày ở trên : «Trọn vẹn hiện tượng học không gì khác hơn là việc tự lập thức về chủ thể tính siêu thể». (1). «Việc tự lập thức về chủ thể tính siêu việt» là một «ý tứ trùng phức» (tautologie) vì, chủ thể tính siêu việt không gì khác hơn là «sự tự lập thức»
III. LẬP THỨC VỀ SỰ QUAN TRỌNG TUYỆT ĐỐI CỦA VIỆC TỰ LẬP THỨC. « SELBSTBESINNUNG » TRONG TOÀN THỂ HIỆN TƯỢNG HỌC HUSSERL.
Trong thiên luận thuyết nhan đề La question da point de départ radical chez Descartes dt Ọusserl (L' homme cl la raison, cuốn I, trang 142-165), Pierre Thévenaz đã đưa ra một nhân xét qua loa tình cờ nhưng vô cùng nặng nghĩa : «Husserl quan niệm Selbstbesinnung như là sự trở về, sự phục hồi lại điều bantặng một ý nghĩa cho những gì chúng ta đã thể nghiệm và suy nghĩ » (2) Nơi phần mở đầu của bản dịch L' Origine de la
Logique f elle et logique transcendantale, bản dịch cảa S. Bachelard, P.U.F., 057 tr-jg 363: «La phénoménologie entière nfest rien đe plus que la prise de conscience par soi-même de la subjectivité transcendantalei».
Trong bản dịchAnh ngữ của James M. Edie, What is Phenomenology, Chicago, 1962, trang 104 :« Husserl conceives the Selbstbesinnung as a
return, a re- grosping which should give a meaning to what we have
cxperienced andthought ».
Géométrie, Jacques Derrida đă viết : «lập thức (besinnen) về những nguồn gốc là đồng thời tự trách nhiệm về ý nghĩa (Sinn) của khoa học và triết lý»(Prendre conscience des Origines, c'est en même temps se rendre responsable du sens de la sciencer et de la philosophie), nhưng quan trọng nhất và đáng suy nghĩ nhất: chính Husserl đã viết ngaytrang đầu của Dic Fraqe nach dem Ursprung der Géométrie als intentional-historisches Problem :
« ánh sáng chiếu ngời trên tất cả công cuộc suy tư của chúng, tôi : ý chí muốn thành tựu, dưới hình thức, những suy tưởng lịch sử, muốn thành tựu những sự lập thức về hoàn cảnh triết lý hiện tại của chính chúng ta và làm thế để hy vọng rốt ráo rằng chúng ta có thể nhờ đó mà có được ý nghĩa, phương pháp và sự bắt đầu của triết lý, của nền triết lý mà đời sống chúng tôi muốn hiến và phải cung hiến « (bản dịch của Jacques' Derrida, L' Origine de la Géométrie, trang 174: « l‘esclatd‘ une lumière brille sur toute notre entreprise : la volonté d‘ accomplir sous la forme -de méditations hisloriques, des plises de conseience de notre pro píe siLuation philosophique présente, et ce dans 1* eapóir que, finalcment, nous pourrons par là pren- dre posse3sion du sens, de la mcthode et du commencement de la philosophie, de ce//ephilosophie à laquelle notre vie veut et doit se consacrer» ).
Trong câu trích dẫn này, Husserl đã nói trọn vẹn ý nghĩa của hiện tượng học. Trong câu ấy, chúng ta thấy «ý nghĩa,» « phương pháp », «sự bắt đầu của triết lý» đều đồng nghĩa với nhau ; chúng ta lại thấy rằng sở dĩ có «ý nglĩa, phương pháp, sự bắt đầu của triết lý» là vi nhờ sự lập thức về hoàn cảnh triết lý hiện tại của chính riêng chúng ta hay nói gọn là nhờ «sự tự lập thức«. Qua câu trên, chúng tá có thế đặt lên câu hỏi quan trọng sau đây : ánh sáng rực ngời nào chiếu trên tất cả công cuộc suy tư của Husserl ? Husserl đã tự trả lời : ý chí muốn thàuh tựu những sự lập thức». Càng lúc chúng ta.
càng thấy rằng sự tự lập thức chính là nền tảng của tất cả nền tảng, phương pháp của tất cả phương pháp. Sự tự lập thức đã giữ vị trí quan trọnq nhất trong hiện tượng học của Husserl, nhưng có một điều đáng nói nhất là trong tất cả những quyển sách viết về Husserl từ mấy chục năm nay, hoàn toàn không có một quyển nào nói đến sự tự lập thức như một chủ đề của hiện tượng học (dù đó là chủ đề quan trọng nhất mà vẫn không được ai đề cập như là một đề tài thông thường!) (1) Chỉ trừ ra Jacques Derriđa và Pierre Thevenaz đã đề cập qua loa vắn tắt như đã trích dẫn ở trên. Từ giai đoạn Formale und‘ transzendentale Logik 1929, cho đến giai đoạn Krisis, 1936- 1938, chúng ta thấy Husserb nói đi nói lại bao nhiêu lần ý nghĩa của Besinnung và Selbstbesinnung, qua những câu trích dẫn của Husserl trong tiết II và tiết III của thiên khảo luận này, chúng ta đã thấy Husserl đã đồng hóa «sự tự lập thức» với «tất nhiên tính» (Apodiktizitaet), với« sự trách nhiệm triệt để » với « chủ thể tính siêu việt», với « ánh sáng rực ngời chiếu rọi trên toàn thể công cuộc suy tư của chúng ta», với «ý nghĩa», với «phương pháp» và « sự khởi nguyên của triết lý » nghĩa là với tất cả những gì làm hiện tượng học trở thành hiện tượng học. Vậy « sự tự lập thức» (Selbstbesinnung) có nghĩa là gì? Câu hỏi này lại rơi vào vòng lẩn quẩn, vì muốn hiểu ý nghĩa của bất cử cái gì cần phải «lập thức» và «tự lập thức»; Muốn hiểu những gì triệt để nhất thì sự hiểu biết của mình phải triệt để; tinh thần triệt đề là tất cả ý nghĩa cửa hiện tượng học và sự tự lập thức chính là tinh thần triệt đề. Không có sự tự lập thức thì
(1) ngay đến luận án tiến sĩ của Quentin Lauer, dày 441 trang mà chỉ dành một đoạn chú thích qua loa duy nhất cho ý nghĩa của chữ Besinnung (Q. Lauer, Phénoménologíe de Husserl, Essaí sur la gènèse de 1'intentíonali- téP.Ư.I. 1955, trang 231) Trong quyển Phenometneaology do J.J. Kockel- mans chủ trương, dầy 555 trang, do Doubleday xuất bản, 1967, mà vẫn không thấy đề cập một lần nào về ý nghĩa của Besinnung !
không có hiện tượng học gì cả. Muốn hiểu hiện tượng học thì sự hiểu của mình phải là hiện tượng học; nơi phần mỏ- đầu Idenn zu einer reine Phaenoménologie und phaenomenologischen Philosophie, I, Husserl viết: «nói gọn lại, phải cần một sự thay đổi thái độ một cách triệt để», (trang 3).
IV. LẬP THỨC VỀ « LEBENSWELT» VÀ «FUNGIERENDE INTENTIONALITÄT »
Muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa của Sinn, Besinnung và Selbst- besinnung thì chúng ta không thể nào không lưu ýđặc biệt tới ýtượng về Lebensivelt và fungierende Intentionaclitact ở giai đoạn cuối cùng của tư tưởng Husserl. Trước hết cũng cần nói đến ý tưởng về Reduktion và đề nghị ngay cách dịch chữ này ra. Việt ngữ là «qui hồi» (theo đúng nghĩa của ngữ căn La tinh là reducere : dẫn về, đưa về lại); dịch Reduktion là «giảm trừ» hay «giảm lược» la không hiểu gì vệ hiện tượng học cả, vì Reduktion có nghĩa tích cực là « qui hồi » hơn là nghĩa tiêu cực « giảm trừ », và hay «giảm lược» quan trọng nhất là sự khác nhau triệt để giữa Deseartes và Husserl chính là sự khác nhau triệt để giữa «giảm trừ» và « qui hồi » ; phương pháp của Descartes là « giảm trừ» bằng sự nghi ngờ; phương pháp của Husserl thì ngược lại: đóng ngoặc thế giới, đối với Husserl không có nghĩa là tự tách rời ra thế giới, trải lại ; nhờ sự qui hồi, thế giới lại xuất hiện như là hiện tượng được hướng động bởi ý tbức siêu thể, nghĩa là hiểu thế giới là ý nghĩa của thế giới và ý nghĩa của tbế giới là một « cogitatura » được hưởng động bởi «Cogito», nghĩa là ý thức lập thành ý nghĩa của thể giới; Reduktion không « giảm trừ » thế giới thành ra «cogito », trái lại qui hồi « Cogito »
thành ra « ego-cogito-cogitatum », ý thức về thế giới, ý thức lập thành ý nghĩa về thế giới, làm sáng tỏ tương giao liên hệ trực tiếp có tinh cách hướng động ý giữa thế thể (ý thức) và thế giới : Pierre Thévenaz đã rút gọn trong một câu nặng nghĩa : «réduire không có nghĩa là giảm trừ hoặc ngờ vực» (cf. Qu‘e st-ce la Phénoménologie in Revue de. Théologie et de Philosophie Lausanne, 1952, pp. 7-30, 126-140, 294-316); nếu «giảm trừ» mà không «qui hồi» thì chúng ta sẽ vô tình đồng hóa Husserl với Descartes. Richard Schmitt đã làm sáng nghĩa Reduktion khi ông nói : « gọi là Reduktion vì sự việc ấv dẫn chúng ta trở về lại, theo ý nghĩa La tinh reducere, trở vềlại nguồn gốc của ý nghĩa và sự hiện hữu của thế giới sở nghiệm... » (1)
Bây giờ, sau khi xác định lại cách dịch tinh nghĩa của Reduktion , xin bàn ngay về những « sự qui hồi hiện tượng học», ngoài ý nghĩa «đóng ngoặc lại vật thể, hữu thể». quan trọng nhất là « sự qui hồi hiện tượng học » có ý nghĩa là « qui hồi từ thế giới văn hóa trở về thế giới sinh hữu» (Lebens- welt, và về mặt siêu thể thì có nghĩa là « qui hồi từ cái ngãthể tục trở về chủ thể tính siêu thể. Đưa dẫn thế giới văn hóa trở về sinh thế (Lebens welt) có nghĩa là gì? Muốn hiểu sự qui hồi này, chúng ta cần xác định lại ý nghĩa của «qui hướnq tinh» (Intentionalita) ; không có định nghĩa nào về «qui hướng tính» là dứt khoát rõ ràng, cô đọng như chính định nghĩa của Husserl trong Méditations cartésiennes, Irang 28 : «Tiếng qui hướng tinh không có ýnghĩa nào khác hơn là tính cách đặc thù căn bản tổng quát của ý thức (thức thể) là ý thức vềmột cái gì đó, và với tư cách là cogilo, cho nên mang trong tự thể cái cogitatum của mình». Đặc tính của sự thể là do sự qui
(1) Richard Schmitt, Husserl's Transcendental-Phenomenological Reduction in Philosophy and Phenomendogical Research, 20 (1959-1960), pp 238-245
định cộng thành của đặc tính của động tác mà nhờ đó nó xuất hiện (1) và «bất cứ loại thể nào cũng đều có đường lối hoàn toàn riêng biệt của nó mỗi khi nó tự dâng bầy ra» (2). Động tác qui hướng của chúng ta, những con người của xã hội văn minh, đều không phải là những động tác nguyên khởi, có tính cách nguyên thủy mà chỉ có tính cách phụ thuộc, tùy thuộc. Trở lại căn nguyên, căn để, có nghĩa là trở về những sự thể nguyên khởi của những động tác nguyên thủy nhất của chúng ta, nghĩa là từ những động tác tri thức có tính cách phụ thuộc, chúng ta trở về những kinh nghiệm bản sinh nguyên thủy (Erlebnisse), trong đó bất cứ sự thể nào cũng đều hiện lên trong nguyên bản với tính cách dâng bày trực tiếp của nỏ (3). Khoa học có tính cách thực nghiệm không giúp đỡ gì cho chính ta trong việc trở về kinh nghiệm bản nguyên, trái lại, chúng đã bức hại nhào nắn tâm thức chúng ta trong những thanh kiến trừu tượng ly thể, trong ảo tưởng đánh lừa của một cơ cấu an định chặt chẽ — Trở về thế giới như là thế giới tự xuất hiện trong kinh nghiệm bản nguyên: trở về Lebenswelt (sinh thế): tất cả ý nghĩa của sự qui hồi theo hiện tượng học. Nói đến qui hồi là nói đến qui hướng : « qui hướng tính » (Intentionlit t) làýnghĩa của chính ý thức như là thức thể (Bewusst-Sein)' Sự khác nhau triệt để của chữ «conscience» trong Pháp ngữ và chữ « Bewusst-Sein » trong Đức ngữ là sự khác nhau triệt để giữa quan niệm của Descartes về «conscience» và quan niệm của Husserl về «Bewusst-Sein ». Dịch « Bewusst-Sein » là «ý thức» là dịch sai, là đồng hóa Desearles với Husserl, trong
1) Logische Untersuchungen, vol II, p. 373.
2) Landgrebe, Phaenomenologie and Metaphysik, trang 85.
3) P. Ricoeur, c,Méthodes et tâches d'une phénoménologie de la volonté,» Problèmes actuels de la phénoménologie, Paris, 1952 ; pp. 115-123.
tinh thần Đức ngữ và trong tinh thần qui hướng tính của Hus- serl thì phải dịch Bewusstsein là «thức thể» hay «thức tính» (chữ « thể » gợi lại chữ « Sein» trong Bewusstsein và nói lên qui hướng tính của cogilato là mang cogitatum trong tự tính, thức thể là thể đi liền đồng nhịp với thức); qui hướng tính là bản tính của thức thể, của ý thức như là thức thể hay nói rõ hơn, của ý thức như là thức tính—Bewusstsein: bản tính của thức tính là lập thành ý nghĩacủa đối tượng mình: qui hướng tính là một động tác cho nghĩa, ban cho ý nghĩa, chứ không phải tương quan giữa những sự thể như là những thực thể, hiểu như thế có thực; sau cùng, chúng ta sẽ thấy qui hướng tính chính là lập thành tính: ý nghĩa của sự thể được lập thành uyên nguyên trong thức tính và nhờ thức tính — Bây giờ chúng ta hãy trở lại «lý nhất quán» mà tôi đã nêu lên từ đầu thiên luận thuyết này : cả sự nghiệp triết lý của Husserl rút gọn trong một chữ «Sinn» (ý nghĩa); «Sinn» nằm từ trong nghĩa tĩnh trở về «Sinn» trong nghĩa động; «Sinn» trong nghĩa động thường được Husserl gọi là « Besinnung» tức là lập
thức hiêu theo nghĩa là lập nghĩa; nói theo qui hướng tính thì từ tĩnh đến động là từ Akt- Intentionalität mà tôi dịch là « qui hướng tính năng động » và đây mới chính là bản tính thực sự của thức tính trong sự động hành nhất loạt giữa thức thể và thể thức. Bây giờ, tồi xin trình bày tiến trình động hành từ Sinn đến Besinnung và trở về Selbstbesinnung, nghĩa là từ Intentionalität hiểu theo nghĩa tính cho đến Fungierende Intentionalität và trở về Lebensiwelt: « tự lập thức» hiều theo nghĩa «Selbstbesinnung» khônq có nghĩa là đưa thức tỉnh vào trong nội tại tính thuần tủy mà có nghĩa là xuất tính, qui hồi lại sinh thế (Lebenswelt) trong ý nghĩa của sự trách nhiệm của con người với ý nghĩa của sử tính. Tôi sẽ tim hiểu sự qui hồi này và qui hướng tính năng động này trong những thủ bản của Hussẹrl trong giai đoạn cuối
cùng (Ms. A, Ms. B. Ms-C, và Ms. K. III). Một tác phẩm quan trọng nhất về giai đoạn này là quyển Welt, Ich, und Zẹit của Gerd Brand, do Martinus Nijhoff xuất bản tại La Haguee 1955, chưa được dịch ra Pháp ngữ và Anh ngữ; tôi sẽ tham khảo phần lớn trong quyển Well, Ich, und Zeit của Gerd Brand, nơi trang 22-41 để lập thức về qui hướng tính năng độnq và qui hồi ở giai đoạn cuối cùng của Husserl. Nghiên cứu giai đoạn Krisis của Husserl, chúng ta để ý rằng chỉ đến phần thứ hai của Krisis thì Husserl mới trình bày kỹ càng ý tượng về Lebenswelt; trong tác phẩm Phaenomenogische Psychologie của Husserl xuất bản sau khi ông chết (quyển này được viết giữa 1925 và 1928), chúng ta thấy Husserl đã phân tích sâu sắc về thế giới của kinh nghiệm trực tiếp mà chúng ta sống trước mọi lý thuyết, trước mọi suy lý khoa học. Trong Phénoménologie de la perception (1945), MerleauPonly đã chú trọng nhiều đến Lebenswelt nhưng không nối kết rõ ràng giữa Lebensweit và Selbstbesinnung, nghĩa là không chú trọng đến Selbstbesinnung ; thực ra, Lebenswelt chỉ là nói đến tác động lập thành cùa Selbstbesinnung trong ý nghĩa của chủ thể tính siêu thể, vì chính Lebenswell từng đuợc «lập thành» trong «ngã thể siêu thể» (xin đọc Krisis sections 34-55, 71-72). Đối với Husserl Lebenswelt, có nghĩa là gì? Từ thời Galiléc cho đến nay, lịch sử văn hóa là một sự thay thế tiệm tiến, sự tráo trở đảo ngược bằng cách đưa thế giới khách quan của những nền khoa học để thay vào thế giới sinh động trực tiếp (Lebenswelt) — Thế giới khách quan của những nền khoa học được coi là thực tại, đúng nghĩa thực tại, đối tượng duy nhất của những nền khoa học, đối với Husserl, đó chính là sự đảo nghịch (Umkehrung) lật sai ý nghĩa, quên mất căn nguyên nguồn gốc, vì thực tại khách quan của những nền khoa học không thể nào lãnh hội được nếu không phát từ kinh nghiệm trực tiếp của
thế giới sở sinh; nói khác đi, nền tảng, cơ sở của những nền khoa học chính là Lebensivell và Lebenswelt có nghĩa là thế giới của sự bản nhiên trực tiếp của kinh nghiệm sở sinh; «bản nhiên tính » chính là «hiện tính nhục thể» của chính sự thể; những sự bản nhiên của lý thuyết khoa học khách quan phải tự biện minh từ những sự bản nhiện của Lebens weit. Krisis là Umkehrung, khủng hoảng có nghĩa là đảo ngược: nền tảng bị lật ngược: nền tảng của thế giới khoa học lý thuyết, thay vì phải đặt từ Lebcnsivell, lại bị đặt ngược lại thành ra Lebensivelt phải tự định thức từ lý thuyết khoa học: đó là ý nghĩa của Krisis trong hai nghĩa «khủng hoảng» và «biến động», «Sinn» bị lật ngược thành ra «Unsinn» : sự tương quan nhất loạt giữa Lebensivelt và Selbstbesinnung là sự lập thức một cách cụ thể rằng cả hai chỉ lá một, trong ý nghĩa cụ thể của chủ thể tính siêu thể, vì nếu chủ thể tính là vũ trụ của ý nghĩa khả hiện (Sinn) thì ngoại thể của thức tỉnh phải là vô ý nghĩa (Unsinn), vì không còn gì vô nghĩa cho rằng đặt nền tảng của Lebensivelt trong lý thuyết khoa học khách quan, vì việc ấy, nếu đặt trong bình diện chủ thể tính siêu thể thì cũng vô nghĩa như quan niệm rằng Tính thể tất nhiên là một cái gì ởngoài vũ trụ của thức tính (Bewusstsein) và chỉ có liên hệ với thức tính một cách ngoại tại thôi (1)... Tất cả những động tác qui hướng về Lebenswelt là « đời sống thể nghiệm của chúng ta » lập thức về đời sống thể nghiệm ấy là qui hướng tính năng động mà chúng ta thấy Gerd Brand đề cập nơi trang 22 - 41 trong Welt, Ich, und Zeit. Qui hướng tính năng động (Fungierende lntentionatitäi) chính là «Sinn» năng động trong ý nghĩa dung
Joseph J. Kockelmans, Phenomenology, Doubleday. N.Y., 1967, trang 534; «fit is nonsense to conceive of the universe of apodictically true Being a» something lying outside the universe of consciousness and related to it merely externally».
nhập của động lừ «besinnen» từ ý nghĩa danh từ Besinnung tiếp thông đồng nhất với ý tượng về Selbstbesinnung mà tôi coi như là trung tâm điểm của tất cả hiện tượng học Husserl (xin đọc lại tiết III). Nếu nối kết ý nghĩa viên dung giữa Sinn, Besinnung và Selbsibestnnung chúng ta sẽ thấy qui hướngtính mang một ý nghĩa dứt khoát, sống độnghẳn trong thế động của Besinnung:ý thức là ý thức về, câu này không có nghĩa đơn giản là về đối tượng mà có nghĩa động là ý thức về những thế động của ý thức ngụ trong ý nghĩa của đối tượng, những thế động này vượt qua đối tượng được tri nhận thực sự và làm nhất tinh cho ý nghĩa (Sinn), nói dễ hiểu hơn theo Gerd Brand thì «qui hướng tính» không phải là một ý thức tĩnh về, mà là một biến trình động nhờ đó mà ý thức tự vượt một cách liên tục (1). Qui hướng tính không phải chỉ là thức thể mà đúng hơn là động thể, động hành, mà Husserl gọi là «qui, hướng tính động năng» (2). Qui hướng tính vừa động hành tiềm tàng như là hướng theo nghĩa dự hướng (Vor-Wurf) vừa động hành như là qui theo nghĩa qui cố (Ruekschau), khi mà ýthức, hướng tới đàng trước trong động hành vượt qua những chân trời một cách liên tục thì ý thức đã có ý thức đàng sau rồi. (Đối tượng được lãnh hội trong dự hướng của những việc giải thích khả hiện cùng với lịch sử được tập thành trong nó) (Gerd Brand, Welt, Ich, und Zeit, 22-25) (tôi dịch ý tượng về « Sedimentierung » là « sự tập thành » đi
Gerd Brand, Welt, Ich, und Zeit, Martinus Nijhoff, La Hagufe, 1955- trang 22.
Eugen Fink, Das Problem der Phaenomenologie Husserls, Revue interna, 1939, trang 226.
đôi cùng với «Sinnsedimentierung» là «sự tập nghĩa» tương dung tương nhập với «sự lập nghĩa» là «SinnbiMung» trong sự vận hành sống động, ý nghĩa của lịch sử hiểu tbeo nghĩa tuyệt đối của Husserl. Xin đọc lại Husserliana, cuốn VI, trang 380). Chúng ta cũng cần để ý rằng khi một đối thể vừa được lãnh hội đầu tiên thì chân trời của nó ,đã được cộng tri đồng lúc rồi, như chỉ được cộng tri như là «vô danh» thôi (cf. Ms-C. 11, V, trang 11-15), nghĩa là chân trời ấy không để cho tri nhận được lập tức «chân trời chỉ để cho tri nhận khi nào lúcgiải thích hữu thể mà chúng ta đi vào chân trời và nhờ cách ấy mà giải phóng chân trời ra ngoài sự vô danh» (Gerd Brand, op, cit, 22-26). Qui hướng tính năng động luôn luôn tự vượt vì mỗi một kinh nghiệm đều có một chân trời nội tại, sự kiện ấy động hành trong sự tri giác của dữ kiện, đó chính là qui hướng tính năng động trong tri giác này, Thế nghiệm chính là qui hướng tính năng động, động hành một cách vô danh trong mỗi một kinh nghiệm và ban tặng ý nghĩa và Tính thể cho mỗi một kinh nghiệm. Gerd Brand nói gọn lại: «Đời sống, sinh hoạt thế nghiệm là qui hướng tính năng động một cách vô danh». Bây giờ chúng ta hãy nói đến sự qui hồi hiện tượng học. Nói đến qui hướng tính có nghĩa là đã hiểu sự qui hồi là gì rồi: qui hồi có nghĩa là lập thức về qui hướng tính năng động trong sự thể hiện việc kiến tính (Seinsehen) nguyên thủy, tức là «căn tính », nền tảng của sự việc cụ thể khi sự thể có được bất cứ ý nghĩa nào. Với tư cách là căn tính, tức là ban tặng ý nghĩa, qui hướng tính năng động vẫn giữ tính cách vô danh, không để lộ chân tướng của nó: làm thế nào để phát lộ sự động hành của qui hướng tính và đưa nó ra ngoài tính cách vô danh? «Qui hướng tinh năng động chỉ tự lộ bày chân tướng khi biến trình chuyển hóa sự thể thành ra thể đề hướng đến tỉnh cách xác định, khi chúng ta tiến sâu hơn nữa vào nó,
được đưa từ chân trời này đến chân trời khác và tiến hành một cách triệt để cho đến lúc nào chúng ta đạt tới được gốc rễ và khám phá sự thể trong tương nhiếp trọn vẹn của nó, trong toàn thề sự tương nhiếp của nó: đó là lý do mà Gerd Brand cắt nghĩa tại sao Husserl chủ trì rằng qui hưởng tính năng động tự lộ bày chân tướng trong sự đặt thành câu hỏi toàn triệt về những chân trời, như chính Husserl đã viết trong Ms. KIII 6, trang 56: «Chỉ khi nào tôi đặt câu hỏi về những: chân trời trong một đường lối phổ biến có hệ thống thì tôi mới khám phá ra ý thức về thế gian như là sự lập nền tối hậu và tôi mới khám phá rằng tôi vẫn luôn luôn dự thiết sẵn rồi...» Đối với Husserl. chủ thể và khách thể, ngã thể và thế gian chỉ có thể có được ý nghĩa từ nguyên khởi tính của qui hướng tính năng động. Trong thái độ «đương nhiên» qui hướng tính năng động còn bịẩn giấu (verdeckt), vì trong thái độ đương nhiên chúng ta không bao giờ hỏi một cách triệt để về ý nghĩa của một sự thể,thái độ triết lý là đặt thành vấn đề, đặt thành câu hỏi tất cả những gì cótính cách hiển nhiên trong thái độ đương nhiên, khi Husserl lập thức về qui hướng tính năng động như là ngã thể được hiểu như sinh hoạt thể nghiệm thì khai vực đã được mở ra làm trường sở để cho một sự thể được hỏi ngay chính bản tinh của nó. Sự qui hồi (Reduktion) là lập thức về thành kiến, tiền kiến tiền luận (Vor-Urteil) của thế giới đương nhiên để mà qui hồi từ thành kiến đương nhiên để trở về qui hướng tinh năng động, trở về sinh hoạt thế nghiệm của chúng ta. Thái độ triết lý chân chính là sự qui hồi hiện tượng học, là tự lập thực, sự tự lập thức mà ngã thể tự cắt nghĩa thề cách mình và thề cách của thế gian, ngã thề ở đây không thể hiểu là đời sống chúng ta như là «con người» trong thái độ đương nhiên, ngã thểở đây ngã thể (ego) trở về với mình như là ngã thể-tại-thỗ-gian, được hiểu như là sinh tính thế nghiệm... Nghĩa là «thế gian như ý nghĩa» được lập thành bởi động tác ban nghĩa
«Sinngebung», tức là «thức tính thuần túy». Qui hồi là trở về thế giới của kinh nghiệm, trở về sinh thế(Lebenswelt), thế giới mà chúng ta vẫn sống ở đó rồi (1). Hiện tượng học chính là sự trở về sinh thế, khai vực của kinh nghiệm đi trước mọi tư tưởng về kinh nghiệm, đólà ý nghĩa cô động mà tôi đã viết trong Hố thẳm Tư tưởng. 1966. trang 42: «Réduction của Husserl là quyết định làm thế giới xuất hiện trước khi suy tưởng về.Nói cách khác là thế giới, chứ không phải là về thế giới». Cả quyển Hố thẳm Tư tưởng gồm có 234 trang mà chỉ dành một câu duy nhất trên để nói về hiện tượng học của Husserl, nhưng chỉ trong một câu duy nhất ấy đã nói hết tất cả hiện tượng học Husserl (lộ trình tư tưởng từý thức mới trong văn nghệ và triết học, 1964, cho đến Hố thẳm Tư tưởng,1966, và Im lặng Hố thẳm, 1966, vẫn cô độc đi bên ngoài thái độ đương nhiên phè phỡn của thế giới đương nhiên tại Việt nạm hiện nay, lộ trình băng qua trong mấy cuốn sách ấy là lộ trình duy nhất đi bên ngoài sự ồn ào của thời tượng; bên ngoài triết ýnô lệ nhà trường, đó là con đường duy nhất thể hiện ý thức như thức tính, thức tính như đời sống thế nghiệm thế gian, theo nghĩa Welterfahrendesleben của Husserl, trong sự tự lập thức, Selbstbesinnung, của một lộ trình đối với ý nghĩa và sự trách nhiệm với ý nghĩa trong sự khủng hoảng của thời hiện đại). Hiện tượng học là triết lý của con người trong sinh thế của hắn và là nền triết lý khả dĩ giải tỏ được những động hành của ý thức, thức thể, thức tính (Bewusstseinsleistungen) của chủ thể tính siêu thể mà sinh thế (Lebenswelt) được lập thành trong đó. Nền tảng của ý nghĩa (Sionfundament) trong mọi nền khoa học chính là thế giới sinh tính tiền khoa học (Lebenswelt),
1Erfahrung und Urteil, no io, «Der Rueckgang auf die Welt der Erfahrung is Rueckgang auf die «Lebenswelt», d. i. die Welt, in der wir immer schon leben...»
sinh thể độc nhất,nhất trí của tôi, của anh của tất cả chúng ta (1).
V. LẬP THỨC VỀ«VORAUSSETZUNGSLOSIGKEIT»
Chúng ta thấy vấn đề căn bản nhất của triết lý là vấn đề arché, tức là vấn đề khởi điểm của tất cả tư tưởng (xin đọc lại Im Lặng Hố Thẳm, 1966, chương II). Vấn đề này là vấn đề chính yếu từ những tư tưởng gia trước Socrate cho đến Platon (Thea- tetus, 155d) cho đến Aristote (Métaphysique, 982b9) kéo dài đến cả thời hiện đại này. Husserl vẫn luôn luôn tiếc nuối là triết lý không được mang tên là «archéologie», chữ này diễn tả đúng bản chất của triết lý hơn cả , mà lại bị dùng để gọi một khoa học thực nghiệm (2). Khi đề cập đến Husserl, Merleau- Ponty cũng có nhắc lại chữ « archéologie » này (3), Merleau- Ponty gọi những « hàm nghĩa qui hướng của ý thức » là « archéologie » của ý thức trong bài dạy về Husserl (4). Đề cập đến vấn đề arché là đề cập vấn đề Voraussetzungslosigkeit trong triết lý. Voraussetzungslosigkeitcó nghĩa là « không cóVoraussetzung» (chữ Anh gọi là Presuppositionlessness). Đó cũng là đềcập đến khởi nguyên khởi điểm, khởi đầu của triết lý. Hiện tượng học là một triết lý luôn luôn bắt đầu, khởi đầu lại «một nền
(1) Alfred Schuets, « Phenomenology and the social science» in Marvin Farber, ed. Philosophicnl Essays in raemoryof Edmund Husserl (Cambridge, Mass- Harvard Univ. Press, 1940), trang 164-86
(2) E Fink, Das Problem der Phaenotnenologie Edmund Husserls, Revue Interna; tionale de Philosophie, 1ère année. No 2, 15.1.1939, trang 240.
(3) Merleau-Ponty, Signes, NRF, i960, trang 208.
(4) Merleau-Ponty, Husserl et la notion de Nature, notes prises au cours de M. Merleau-Ponty (Revue de Méta. et de Morale, No 3, 1965.)
khoa học của sự khởi đầu» như Husserl đã gọi là «Wissenschaft des Anfangs» trong Nachwort zu meinen «Ideen» (trang 161). Chúng ta thấy Sinn, Besinnung, Selbstbesinnung có liên hệ trực tiếp tới Lebenswelt, Inlentionalitaet vàReduktionvà chính ý tượng Besinnung (Selbstbesinnung) là lý nhất quánmà tôi dùng để viết thiên luận thuyết này và nơi đây hơn bao giờ cả chúng ta rõ thấy Besinnung (Selbstbesinnung) có liên hệ với lý tưởng Voraussetzungslosigkeit.Chúng ta ttấy vấn đề Voraussetzungslosigkeit,cũng là vấn đề trọng tâm của S.Hodgson, Brentano, E. Sprauger, Volkelt (1). Ở Đông Phương, triết gia lưu ý nhất đối với vấn đề Voraussetzunglosigkeitnày là triết gia Nhật Bản Rin'ichi Kittaka, ông đề cập nhiều đặc biệt đến vấn đềnày trong quyển Mew Method of Philosophy (đặt biệt nơi phần II, 4. Radiciology and Presuppositionlessness) (2) và cả nền triết học mới mà Rin'ichi Kittaka định thiết lập là chú trọng đến vấn đề ấy, vấn đề chủ yếu, liên hệ trực tiếp đến « cơ sởcủa căn nguyên học» («Kongengaku noKiso»); Rin'ichi Kittaka cũng đã viết về Husserl (op.cit., trang 30-32), nhưng Rin'ichi Kittaka muốn « triệt để» hơn Husserl vì ông cho rằng phương trình «ego-cogito-cogilatum» của Husserl vẫn được tiềnlập rồi (op.cit, trang 32) đây là điểm quan trọng mà tồi sẽ đề cập sau đây, vì chính tất cả ý nghĩa của Husserl là nằm trong phương trình « ego-cogito-cogitatum » ấy, và điều cần nói
(1) xin đọc F.Brentaao, Die Vier Phasen der Philosophie und ihr augenblickliches Stand, Leipzig, 192Ö, trang 137-144, cf. Volkelt, Die Aufgabe und die Fundamentalschwierigkeit der Erkenntnisstheorie als einer voraussetzungslosen Wissenschaft in Philosophische Monatschefte, XVII, trang
513-541.
cf. Ẹ. Spranger, Der Sinn der Voraussetsunglosigkeit in den Geisteswissens- schaften in Sitzungsberichte des Preussischen Akademie der Wissenschaften, Berlin, 1929, trang 2-30.
2Rin'ichi Kitcaka, New Method of Philoòophy, Tokyo, 1967. trang 25-35
ngay là không phải Husserl không ý thức về cái Voraus-Setz- ung, mà chính ý thức về cái «Voraus-Setzung» này mà Husserl mới thiết lập ýnghĩa cho tinh thần triệt để của hiện tượng học qui hướng về nguyên lý phi tiền giả lập «Voraussetzungslosigkeit»: đi từ phương trình «ego-cogito-cogitatum» như«Voraussetzung » thì chúng ta mới lãnh hội tất cả ý nghĩa của«ngã thể siêu thể» và từ đó mới hiểu trọn vẹntất cả ý nghĩa của « Besinnung » và « Selbstbesinnung ».
Gaston Berger nhận xét rất đúng : « Giá trị nền tảng đặt vào trực kiến không có ý nghĩa gì khác hơn là nhu thuận đối với thực tại, nghĩa giải phóng khỏi mọi tiền lập, « absolute Voraussetzungslosigkeit» (1). Cũng như A. de Waelhens giải thích trên một bình diện động: «se réduire chính là làm những sự diễn tả có tính cách Vorausselzungslos »(2). Một nhận xét sơ đẳng nhất và căn bản nhất là: nguyên lý về Voraussetzungslosigkeit chính là một Voraussetzung lớn lao nhất. Điều nhận xét này không có tính cách phủ nhận tinh thần triệt để, voraussetzungslos, của hiện tượng học mà chính là nói đến sự lập thức một cách ý thức nhất về ý tưởng Vorausselz- ungslosigkeit của hiện tượng học; nói đến tinh thần triệt để thì không thểnào không đi từ nhận xét sơ đẳng nhất và căn bản nhất này (3). Từ tinh thần của sự nhận xét này, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của sự bắt đầu tuyệt đối trong hiện
-
Gastoa B raer, Le Cogito dans la Pbilosophie de Husserl, Aubier, Paris, 1941, trang 101.
-
A. de Waelhens, De la Phenomenologie & l'existentialisme in Le Choix, Le Monde, I' Existence, B. Arthaud, 1947, trang 48.
-
Marvin Farber, The Ideal of a Presuppositionless Philosophy in Philosophical Essays in Memory of Edmund Husserl, Harvard University Press, 1940, trang 44-64.
tượng học, đi từ nhiệt hứng loại trừ mọi sự tiền lập như René Schérer viết trong phần kết luận của quyển khảo luận về giai đoạn đầu Husserl (1).
«Tiền lập » có nghĩa là gì? Trong một chương quan trọng ở Sein und Zeitnói về «sự tiền lập của chân lý» (die Wahrheil- heitsvorausse zung). Heidegger có đặt lên câu hỏi : «Tiền lập có nghĩa là gì?» Đó có nghĩa là hiểu được một cái gì đó như là căn thể về tính thể của một sự thể nào khác» (Was besagt Voraussetzen? Etwas verstellen als den Grund des Seins eines anderen Seienden) (2). Đây là một câu quan trọng, càng lúc càng có ý nghĩa, khi chúng ta đặt hiện tượng học vào trong sự thành tựu của siêu hình học Tây Phương, nơi đây, chúng ta thấy Heidegger xác định Voraussetzunglà Grund- như là Grund des Seins (vấn đề này có liên hệ trực tiếp với tương quan giữa Grund và Abqrund, nghĩa là giữa Nền tảng vàHố thẳm, xin đọc Hố thẳm tư tưởng, 1966, và Im lặng hố thẳm, 1966,) và sau này khi Heidegger lên liếng tỏ thải độ dứt khoát, với Husserl và xô đẩyHusserl vào trong sự cáo chung của triết lý thì chúng ta đã thấy rằng đó là điều dĩ nhiên rồi (xin đọ: Heidegger. La fin de la Philosophie el lơ tache de la pensée,trong Kierkegaard vivant, 1966, (trang 107-204)
Muốn phêbình, muốn xác định lại giới hạn và sư bế tắc của hiện tượng học Husserl thì phải đi từ con đường tư tưởng
1«Mais, si l‘idée de la science se confond avec celle d'une récherche de l'origine d'une fondation radicale de l'être et d'une connai-sapce excluant toute p’é- supposition, c'est bien elle qui est ainsi maintenue dans une réduction dont l'irspiration première sera d'abord la mise en suspens de toute présuppo- sition» (R. Schérer, La Phénoménologie des recherches logiques de Husserl, P. U. F., PARIS, 1967, trang 346-347.)
2Heidegger. Sein und Zeit, M.Niemeyer, Tuebingea. 1960, trang 328.
Lichtung của Heidegger, «Lichtung» hiểu theo nghĩa «Urphae- nomen» hoặc rõ ràng hơn «Ur-Sache» (1). Có phê bình Husserl một cách thấu đáo, viên dung, triệt để theo điệu Heidegger như vậy mới chính là «trở về chính sự việc» (zur Sache selbst) nơi chính « sự việc uyên nguyên» (Ur-Sache) được hiểu như là «Lichtung», «khoảng lâm» cho cả hiện tính và khiếm tính (xin đọc lại Hố thẫm Tư tưởng,trang 215).
Đối với tinh thần Voraiissetzungslosigkeitcủa Husserl, chúng phải bắt đầu từ Voraus-Setung của «chủ thể tính siêu thể» (2) rồi đặt ý nghĩa của chủ thể tính ấy trong ý nghĩa của Grund và Sachetrong toànthểsiêu hình học Tây Phương trong ý thức về sự tựu thành của siêu hình bọc ấy, rồi phê bình tát cạn vị thế của Husserl trong thế mệnh hiện nay, nghĩa là đưa Lichtung của Heidegger làm mai mối để chiếu rọi Sache- của Husserl, xồđẩy Husserl vào trong sự mất quê hương, nỗi vong quốc (Heimatlosigkeit) của Tính mệnh thế giới hiện nay (xin đọc lời giới thiệu trang I-XXIX, trong về Thể Tính của Chân Lý, 1967) có phê bình Husserl như thế mới là phê bình triệt để, mới đúng là «hiện tượng học về hiện tượng học của Husserl» không phải theo nghĩa «Phénoménologie de la Phénoménologie» của Merleau-Ponty (3) hiểu theo nghĩa «một loại kiến thức quay về tự thể » (eine Art von Erkenntnis an sich selbst richtet), vì thực ra, chính Merleau-Ponty đã xuyên tạc tự thể của hiện tượng học Husserl một cách triệt để, đã lôi hiện tượng học Husserl đến thái độ đương nhiên mà lại không làm bất cứ sự qui hồi (reduction) gì cả, từ sự xuyên tạc của Merleau-Ponty trong phần mở đầu «Qu‘est-ce que la phénomé-
1Heidegger, La fin đe la Philosophie et la tâche de la pensée trong Kierkegaard vivant, trang 192.
2Eormale und Transzendentale Logik, trang 244.
3Merleau-Ponty, Phénoménologie de la perception. NRF 1945, trang 419.
nologie?» trong Phéno. de la perceptionđến việc Merleau-Ponty chối bỏ «essence pure» của Hussserl trong Le visible et l‘Invisible,trang 142-171, nghĩa là lộ trình của Merleau-Ponty là lộ trinh chối bỏ Husserl một cách toàn triệt (mượn Merleau- Ponty để tìm hiểu hiện tượng Husserl thì không khác gì mượn ArisLote để hiểu Platon!) (1) Nhan đề «hiện tượng học về hiện tượng học Husserl «của thiên luận thuyết này không mang ý nghĩa của Merleau Ponty mà cũng không phải một vấn đề có tính cách tính cách lịch sử (keine historis che Fragẹ) mà lại có tính mệnh (eine geschichtliche, d. h. geschick-liche Frage) (xin đọc Triết lý là gì ? của Heidegger, bản dịch của Phạm Công Thiện, An Tiêm, 1969, trang 30-31). Chỉ có phê bình, phủ nhận Husserl trong câu hỏi có tính cách tính mệnh này mới có được «sự tự lập thức» (Selbstbesinnung) hiểu theo tinh thần triệt để (Radikalismus) tinh thần loại trừ tiên lập (Voraussetzunglosigkeit), đặt « sự tiền lập » (Voraus- Setzung) của Husserl vào trong ý nghĩa của « Grund » thì chúng ta mới lãnh hội được tất cả sự thất bại của Husserl, còn phê bình phủ nhận Husserl theo điệu Merleau-Ponty của giai đoạn Phéno. de la perception và Signes,chứ không phải ở giai đoạn le visible et 1‘ Invisible)hoặc phê bình phủ nhận Husserl theo
1 Cuồn hiện tượng học là gì ? của ông Trấn thái Đình đi trình bày kiến thức nông cạn hời hợt của một giáo sư «tiền sĩ triết học» về hiện tượng học, ông viết lôi thôi theo Merleau-Ponty mà không hiểu rằng Merleau Ponty đa xuyên tạc Husserl và chính cách trình bày của ông chỉ nói lên rằng ông chẳng hiểu gì về Merleau-Ponty cho thấu đáo và cũng chẳng hiểu một chút gì vềHusserl cả (về sự khác nhau triệt để, khác nhau hoàn toàn giữa Husserl và Merleau-Ponty, xin giới thiệu hai quyển của Remy C-Kwant, From Phenomenology to Metaphysics, Duquesne Uuiversity Press 1966, trang 156-169, và The Phenomenological Philosophy of Merleau- Ponty, Duquesne University Press, trang 153-168)
điệu nhà trường của Quentin Lauer trong phần kếtluận của luân án tiến sĩ Phénoménologie de Husserl(P.U.F. Paris, 1955, trang 393-405) thì chỉ là ngộ nhận Husserl ngay từ căn để, căn để ấy là ý nghĩa «Voraussetzung» mà hơn ai hết Husserl đã làm «sự lập thức » (Besinnung) và « tự lập thức » (Selbstbesinnung) từ ngay thế giới như là «hiện tượng»(Formale und Transzendentale Logik, trang 244)
Ý nghĩa uyên nguyên của hiện tượng học càng lúc càng ẩn trốn khi người ta càng viết nhiều khảo luận về hiện tượng học ởkhắp thế giới. Điều này không nói lên sự vô nghĩa của hiện tượng học mà chỉ nói lên sự vô nghĩa của chính triết học nhà trường, triết học nô lệ mô phạm, «triết học của những giáo sư Đại học »,(l) những kẻ vô trách nhiệm, không bao giờ biết bắt đầu, bắt đầu lại tất cả, không bao giờ biết «lập thức« (besinnen), chịu trách nhiệm (verantworten) cho ý nghĩa (Sinn) của con người và lịch sử.
VI. LẬP THỨC VỀ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
Thiên luận thuyết này sẽ khó hiểu và nói như Husserl trong Nachwort zu meinen Ideen,thì « sẽ không thể giúp đỡ ai cả, nếu kẻ ấy đã không bao giờ biết được sự thất vọng của một người đau đớn vì đã say mê triết lý... Chỉ có kẻ nào tự mình tranh đấu cho sự bắt đầu của một nền triết lý thì mới có thể có được một thái độ cư xử khác nơi đây »
1vần đề «triết học nhà trường» này, xin nhớ lại việc phê phán của Scho- penhauer, nhất là nên đọc tập «Considérations inactuelles» của Nietzsche nhất là nơi chương « Schopenbauer éducateur» (1874)
Trận chiến tranh Việt Nam hiện nay đang đến giai đoạn quyết liệt, càng lúc càng quyết liệt với ba câu hỏi quyết liệt nhất:
-
Tư tưởng là gì ?
-
Việt Nam là gì ?
-
Tư tưởng Việt Nam là gì?
Những câu hỏi ấy đã bắt đầu lên tiếng kêu gọi chúng ta từ mấy ngàn năm trước nơi sông Hồng và vọng xuống dọc dài theo sông Cửu Long cho đến hôm nay. Vì sao con sông đầu tiên của nên văn minh Việt Nam mang tên là sông Cái Vì sao Cái có nghĩa là Mẹ? Vì sao Cáidùng đê kêu gọi tất cả mọi sự? Vì sao Cái càng lúc càng ẩn mất trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay ? Cái có nghĩa là gì? Cái và Con có nghĩa là gì? Và Cái sẽ lên tiếng nói gi với Dingcủa Heidegger, với Sachecủa Husserl, với Ón của Hy Lạp, với Vật của Trung Hoa và với Satcủa Ẩn Độ ?
Tinh thần gì sẽ đưa người Việt Nam trở về nguồn gốc của quê hương? Tinh thần căn nguyên triệt để nào? Tinh thần « Voraussetzungslosigkeit» nào? «Sự tự lập thức» (Selbstbesinnung) nào khả dĩ đưa người Việt Nam đến chỗ « tự trị » và «tự trách nhiệm» cho ý nghĩa của Việt Nam? Hegel, Nietzsche, Marx không thể mang gì đến cho ta ; Husserl, Heidegger, Sartre không thể mang gì đến cho ta, nếu chính ta, ta không trở về chúng ta, không «qui hướng» trong ý nghĩa triệt để của «Inten- tionalilact» để «qui hồi» trong ý nghĩa của «Reduktion», trở về mình như là mình, mình với mình, với «lòng tin tưởng vĩ đại trong ý nghĩa của thế giới, trong ý nghĩa của chính hiện
thể của riêng mình, nơi mình» (thư Husserl gửi cho Dorion Cairas, ngày 21-5-1930).
Chỉ khi nào mình tự lập thức, tự trởlại mình, trở về theo nghĩa qui hướng qua sự qui hồi, chứ không phải trong thái độ đương nhiên, thì mình mới tự vượt qua mình, đưa Việt Nam vượt qua (« Việt») để tiến về phương Nam ( « Nam » ), phương Nam không phải hiểu theo nghĩa địa lý, địa phương, mà hiểu theo nghĩa trường sở («topos») của một sự lập thức (như trường sở của sự lập thức trong chân trời Thiềntông của phía Nam Đốn, Bát Nhã của phương Nam Ấn Độ, Lão Trang của phương Nam Trung Hoa), sự lập thức của tinh thần triệt để vượt ra ngoài mọi ý thức hệ (nghĩa là Voraussetzungslosigkeit) tách rời ra ngoài những lập trường và khuynh hướng để trở về ý nghĩa uyên nguyên của Đại Việt.
Từ sự tự lập thức và tự trách nhiệm cho ý nghĩa của Việt Nam ấy, chúng ta mới hiễu được tất cả ý nghĩa trong câu sau đây của Huseerl nói về Lịch sử, một câu mà tôi đã nêu nơi đầu thiên luận thuyết và cũng dùng đễ chấm dứt thiên luận thuyết này:
« Lịch sử thoạt tiên chỉ là sự vận hành di động linh hoạt của sự tương dung tương nhập (des Miteinander und Ineinander) về sự lập nghĩa (Sinnbildung) và về sự tập nghĩa (Sinn- sedimentierung) uyên nguyên ».
Trong câu trích dẫu trên, tiếng Việt đã« song thoại»một cách «tương dung tương nhập» với tiếng Đức, ngôn ngữ của một dân tộc thông minh nhất của Tây Phương, một dân tộc cũng chịu cùng một hoàn cảnh như hoàn cảnh Việt Nam, nhưng.
những đứa con của nước Đức (như Hoelderlin, Nietzsche, Husserl và Heidegger) đã lên đường trở về nguồn gốc của quê hương; còn chúng ta, những đứa con của Việt Nam, có ai trong chúng ta đang lên đường? Có cần lặp lại một lần nữa lời của Holderlin mà tôi đã ghi trong quyển VềThểTính Của Chân Lý, 1967, trang II :
Nhưng bạn bè của tôi hiện giờ ở đâu ?
Phạm Công Thiến 30-1V-1969
30-IV-1969