VẤN ĐỀ THỰC TẠI TRONG HIỆN TƯỢNG HỌC HUSSERL
I.CẢM NHẬN VÀ HIỀU BIẾT
Vấn đề thực tại là vấn đề hiện hữu của sự vật, của thế giới ngoài chúng ta, của ngoại cảnh. Hầu hết mọi người ai cũng cho rằng mình đang ở trong một thế giới có thật. Đó là một sự hiển nhiên trước mắt khỏi phải đem ra bàn cãi. Dầu có ta hay không có ta thế giới vẫn còn đó, hiện hữu từ ngàn xưa và tồn tại mãi mãi. Nhờ tin chắc rằng loài người là sản phẩm của văn minh và lịch sử cho nên chúng ta là những triết gia phái Duy thực tại mà không hay. Duy thực tại không cần dùng nhiều tâm trí đề xây dựng thuyết mà lại thâu thập tài liệu, bằng chứng và tang vật để chứng minh rằng thế giới có thật ở ngoài chúng ta. Tri giác chúng ta qua trung gian cảm giác đã thâu nhận những bằng chứng ấy nhờ trực giác. Sự vật cảm nhận được (chose sensible) là thế giới của hầu hết mọi người có óc duy thực tại. Tuy nhiên sự vật cảm nhận được nói trên lại không thể nào diễn tả bằng ngôn ngữ, do dó chúng ta phải thực tại hóa những đặc tính của nó vì chỉ có những đặc tính ấy mới có thể nhờ lý trí thâu nhận giúp được. Đến đây chúng ta lại tạo thêm một thế giới mới cũng mệnh danh thực tại, đó là thế giới của-
đó là sự vật ý niệm được ( chose intelligible). Thật ra đầu tiên chỉ có những triết gia chuyên môn tạo thuyết mới sống trong thế giới này là lấy tên là phái Duy niệm hay duy Lý tưởng mà ta thường gọi là Duy tâmr. Sự vật cảm nhận được tuy dễ nhưng lại rất khó duy trì, còn những sự vật ý niệm được và quên mất cái thực tại cảm nhận lúc ban đầu mà ta gọi nó là thực tại ngây thơ ( réali- sme naïf); còn cái thực tại hiểu biết được thì được gọi là thực tại hợp lý ( réali sme rationnel) hay thực tại phê phán (réalisme critique.
2. HAI THỰC TAI : ( Xem sơ đồ đính kèm)
Tam thời chúng ta có thể phân ra hai loại thực tại. Mỗi thực tại có một hệ thống tư tưởng, một cơ cấu ý niệm riêng biệt, thường thường đối lập nhau nhưng trong nội bộ riêng thì rất ăn khớp. Thực tại cảm nhận được A và thực tại hiểu biết được B đã được nhiều triết gia tự cổ chí kim chấp nhận. Họ chia ra hai phái tư tưởng đối lập, có biên giới hẳn hoi, rõ ràng dễ hiểu, ai thích thực tại theo kiểu thì suy tôn triết gia phái ấy. Thực tại tri giác được đại diện từ Hérclite với sự vô thường ( AI) Aristote, sự thí nghiệm ( A2) Leibnitz, sự đặc thù (A3 ) Pascal, cái kinh nghiệm sống ( A4 ) Bergson, cái đà sống (A5 ) Goethe,sự sang tác nghệ thuật (A6 ), Schopenhauer, cái bất tất (A7 ) Sartre, tự do (A8 ) Heidegger, tư tưởng về hiện thể (A9 ) và biết bao triết gia khác đặt tin tưởng vào thế giới của thể tự thân ( être en soi) (AIO) mà chúng ta cảm nhận bằng trực giác (AII)
Thực tại của tri thức được đại diện với Praménide, cái thường hằng (BI), Platon,những ý niệm (BII) thiên phú, Hesgel, sự phổ biến (B3), Descartes, cơ giới tính (B4) Kant, lý tưởng tính (B5) Auguste Comte,
sự kiến tạo kỹ thuật (B6) Spinoza, cái tất yếu (B7), Russell, chân lý chính xác (B8), Carnap tư tưởng thực nghiệm luận lý (B9) cùng một số đông triết gia khác tin tưởng vào thểtha hướng (être pour autrui) (BIO) mà chúng ta có thể ý thức được bằng suy luận. (BII)
Sự vật cảm nhận bằng trực giác là tánh thể(étant) (AI2) và sự vật ý niệm bằng suy luận là lý thể(idéal) (BI2). Căn nguyên của cả hai loại sự vật đều được gọi là thể tánh (essence). Thể tánh của tánh thể thì linh động và nội tại (AI3) còn thể tánh của lý thể thì thường hằng và ngoại tại (BI3).
|
THỰC TẠI TRI GIÁC A
|
THỰC TẠI TRI GIÁC B
|
|
AI vô thường
|
BI thường hằng
|
|
A2 thí nhiệm
|
B2 thiên ý
|
|
A3 đặc thù
|
B3 phổ biến
|
|
A4 kinh nghiệm sống
|
B4 cơ giới tính
|
|
A5 đà sống
|
B5 lý tưởng tính
|
|
A6 áng sáng nghệ thuật
|
B6 kiến tạo kỹ thuật
|
|
A7 bất tất tính
|
B7 tất yếu tính
|
|
A8 tự do
|
B8 chân lý
|
|
A9 tư tưởng hiện thể
|
B9 tư tưởng thực nghiệm lý luận
|
|
AIO thể tự thân
|
BIO thể tha hướng
|
|
AII trực giác
|
BII suy luận
|
|
AI2 tánh thể
|
BI2 lý thể
|
|
AI3 thể tánh nội tại
|
BI3 thể tánh ngoại tại
|
Còn nhiều đặc tính khác của hai hệ thống thực tại ví dụ khônggian và thời gian nội tại hay ngoại tại không thể kê khai hết, tuy nhiên chúng ta cũng phải công nhận rằng tất cả các ý niệm trên đều
đúng nếu chúng ta đặt nó nằm trong khung cảnh tư tưởng thích hợp. Có những ý niệm như Thể tánh thường được hiểu như là thể tánh ngoại tại, thời gian và không gian cũng vậy. Trái lại khi người ta nói đến hai chữ Thực tại thì hầu hết các triết gia đều hiều rằng đó là Thực tại tri giác ngoại trừ một số ít như Platon, quá say mê Lý tính nên chỉ biết có Thực tại hiểu biết được mà thôi. Trong Phédonthì ông quên hẳn còn trong Philèbe và Timée thì cho thực tại cảm nhận nằm trong kinh nghiệm hoặc trong những cơ cấu hình học. Descartes thì cho rằng thực tại của chất sáp là một ý niệm cùa tri óc (intuitio mentis), do đó chúng ta có thể thấy được khoảng không gian (étendue), một thứ không gian vô định.
Kant cũng không cảm nhận trực tiếp sự vật mà lại cho rằng kinh nghiệm tạo những vật thể tính (objectivités) nhờ áp dụng những nguyên lý về bản thể và nhân quả. Hégel cũng vậy khi ông cho rằng “Cái thực tại là cái hữu lý tính”. Các sự vật cảm nhận được theo Hégel là tạm bợ không đáng để ý vì nó sẽ không tồntại trong vận hành tư tưởng.
3 HIỆN TƯỢNG HỌC HUSSERL, MỘT PHƯƠNG PHÁP ĐẶC BIỆT CỐ GẮNG DUNG HÒA HAI TRUYỀN THỐNGTHỰC TẠI.
Sở dĩ các triết gia duy lý nói trên không nói đến thực tại tri giác là vì trong hệ thống của họ không có chỗ nào khả dĩ đặt sự vật cảm nhận được. Hơn nữa phái Duy niệm càng ngày càng mạnh vì các khoa học gia thấy rằng Thực tại do cảm giác đem lại không thể nào vượt quá giới hạn khả năng cảm nhận của giác quan. Những vật thể tự định của khoa học ngày nay càng ngày càng trừu tượng và chỉ còn có danh nhưng không thực. Đó là những ý niệm xuất xứ do
tương quan giữa các biến từ cũng trừu tượng không kém. Giới hạn giữa hai thực tại lại khó phân định với những thuyết như tương đối (relativité) hay giảm năng (entropie). Khoa học ngày nay xa dần thực tại tri giác để đi vào những định luật thường hằng do lý trí đem lại, cần phải có một tư tưởng triết học mới để dung hoa hai cái thực tại đầy mâu thuẫn nói trên. Như đã biết, Kant sáp nhập nó vào thế giới hiện tượng (phénomène) đầy lý tính, còn Hégel thì bảo nó không có tồn tai. Thực tại tri giác được Husserl hồi sinh bằng cách chủ trương xa rời ý niệm vì lý thuyết để trở về với “sự vật đích than” Ông bảo rằng chúng ta nên trở về với “nguồn sống động của tri giác tiên khởi.” Nhiều triết gia cũng đã nói như ông, Aristote đã nói : Phương pháp quán sát sự vật có hiệu quả nhất là nhìn theo sự vật biến chuyển từ lúc nguyên thủy”. Gaston Berger khi bàn về hiện tượng luận đã cho Hume là thủy tổ của hiện tượng luận hiện đại như sau : « Ta phải rời những ý niệm trống rỗng mà ý tưởng do đó phát xuất để đi đến sự trực giác cụ thể cửa ý tưởng như theo Hume đã dạy : cần phải bỏ ý tưởng để đi đến cảm tưởng». Sau Hume có Bergson với những «dự kiến trựctiếp của ý thức» (lesdonnées immédiates de la conscience) không khác với “ Cái trực giác tiên khởi của cái đã sống” của Husserl gì cả. Đồng thời với Husserl còn có Peirce với một thứ hiện tượng luận độc đáo là trạng thái học (Phanéroscopie) mà Farber, chủ tịch hội Hiện tượng luận quốc tế đã cho rằng Peirce là một trong những hiện tượng luận gia đầu tiên ở thế giới. Nói đến đây chúng ta cần phải nhớ rằng hiện tượng luận không phải là một triết học nhưng mà 1à một phương pháp triết học. Phương pháp hiện tượng luận lại là một phương pháp đặc biệt không thể thành lập bằng lối kê khai cách thức sử dụng. Hiện tượng luận chỉ có thể trình bày theo phương pháp tác dụng nghĩa là các triết gia dùng nó để trình bày lý thuyết của mình. Do đó những tư tưởng của các hiện tượng luận gia đều khác nhau.
Trình bày hiện tượng luôn theo tư tưởng một triết gia rồi bảo đólà hiện tượng luận chung cho tất cả là một sai lầm kiến thức. Sở
dĩ Husserl thành lập ra hiện tượng luận là vì ông muốn, cũng như Peirce đặt nền tảng cho triết học biến thành một khoa hoc chính xác. Muốn vậy ông cần phải đập tan những ý thức hệ, những lý thuyết cá nhân, những giá trị giả tạo, những thành kiến mà triết học của thế kỷ thứ 19 tạo ra trong một tình trạng hỗn độn. Là một giáo sư toán học, là một luận lý gia chuyên môn cho nên ông cũng bị ảnh hưởng của sự suy tôn lý trí trong việc giảm trừ (réduction) hiện tượng mà ông dùng để đóng dấu ngoặc những thành phần của thực tại. Ngay cả sự trở về của ông với những trực giác tiên khởi (intuitions originaires) cũng khác với Bergson. Trực giác của Bergson là ở TRỰC GlÁC AII và TÁNH THỂ AI2 còn trực giác của Husserl thì đang ở AII lại nhảy sang LÝ THỂ BI2 và ông cho rằng hiện tượng là một xuất hiện, một biểu lộ đầy ý nghĩa (apparition, manifestation pleine de sens) và triết học là một cố gắng để đi kiếm ý nghĩ ấy. Merleau-Ponty thì thấy ngược lại muốn đem các ý thức phản tĩnh (conscience reflexive) trở về với đời sống không phản tĩnh của sự vật (vie irréfléchie dans les choses) A4 và A5. Ý nghĩa của Husserl là ý nghĩa của khoa học, của kiến tạo kỹ thuật B6 khác hẳn với ý nghĩa mà Merleau-Ponty đã tìm thấy trong hội họa Cézanne, đó là ý nghĩa của sáng tác nghệ thuật A6. Ý nghĩa của Husserl cũng khác hẳn với ý nghĩa của Jaspers, ý nghĩa nội tại của một tổng thể gồm những đề phức tạp nằm trong một thế (thèmes divers constituant une situation) AI3. Cái nguồn suối tiên khởi của Husserl không sống động mà lại chết khô đó là suối cát của một nhà toán học. Husserl tiếp tục truyền thống Descartes và Kant khác hẳn vớiBergson, ông này thấy cái nguy hiểm của óc toán, đã từ khước nó để trở về với thực tại tri giác sống động. Trong những giai đoạn chót của Husserl thì may thay chúng ta lại thấy ông cố gắng kiếm lại thế giới hiện tượng của tri giác, của cảm giác và khai màn cho triết học hiện sinh với phương pháp hiện tượng luận độc đáo.
Nói tóm lại, chúng ta có thể chia hiện tượng luận Husserl ra
làm ba phần căn bản:
-
Cố gắng khoa học hóa triết học bằng cách tạo một thuyết về Thể tánh
BI3 (ngoại tại), Théorie de 1' essence, hoàn toàn nằm trong Thực tại của tri thức B, tiếp tục truyền thống Duy niệm của Descartes và Kant.
-
Cố gắng trở về với thế giới hiện tượng bằng cách đi kiếm vật thể lập căn (thiết lập căn bản) AI2, objet fondant, trong một tổng hợp thẩm mỹ hay khả cảm (synthèse esthétique ou sensible), mở đường cho Jaspers Merleau-Ponty với thực tại tri giác A.
-
Tạo ra phương pháp giảm trừ (époché) không phủ nhận hay khẳng định để tùy cơ thay đổi thực tại nhờ đó tạo ra thuyết Chủ hướng tính (intentionalité) liên kết chủ thể tri thức của Duy niệm với vật thể khả cảm của Duy thực tại, đặt sự quan trọng vào tính chất tương quan (rapport) của chữ VỀ trong câu:Ý thức làý thức VỀ cái gì.
4 THỰC TẠI TRI THỨC VÀ THUYẾT THỂ TÁNH
Đối với Husserl danh từ Thực tại không bao giờ được dùng để chỉ định thực tại tri thức B ca,mà lại dùng để chỉ định Thực tại tri giác A. Ông gọi Thực tại tri thức của thuyết Thể tánh BI3 là Lý tưởng tính B5 (Idéalité). Do đó không bao giờ Thực tai A vàLý tưởng tính B5 có thể sống chung trong một thế giới, ông nói: Không thể nói ý niệm được một hệ thống giai cấp có thể móc nối ly tưởng vào với thật tại (Recherches logiques I, 74) hay : Giả tưởng (fiction) là yếu tố sống còn của hiện tượng luận cũng như của mọi khoa học về thể tánh (sciences eidétiques); Giả tưởng là nguồn gốc phát xuất ra tri thức về những Chân lý thường hằng (Idées 225-227). Khi đọc Husserl chúng ta cần phải thật sự giảm
trừ tâm lý cho chính mình trước (réduction psychologique) để khỏi ngại ngùng vướng thành kiến với những danh từ như giả tưởng, chân lý v.v... Phần đông những triết gia như Marvin Farber bây giờ và Natorp đồng thời hay quên sự kiện nay nên thường chỉ trích rằng Husserl khi thì Duy niệm khi thì Duy thực. Thực tình ông không Duy gì cả nhưng cố gắng sống trong hai thực tại vì thực tại phải gồm cả hai. Thành thật mà nói, Husserl đã chật vật lắm trong cái thực tại song phương này vì không bao giờ vừa ý những gì ông đã viết. Trong Idées ở nhiều đoạn ông nói rõ rằng ông không bằng lòng những gì ông đã viết : Ví dụ ở đoạn 8 khi ông bàn về nguyên lý giao hỗquan hệ (principe de corrélativité) đặt tương quan giữa năng tri (noèse) và khả tri (noème) ông dùng những danh từ như để (thèse) tổng để (synthèse) và sự cấu thành (constitution) vật thể; những từ ngữ này đã hướng quá mạnh về duy niệm cho nên ở đoạn 9 ông tuyên bố không bằng lòng nó và sửa đổi tư tưởng bằng một quan niệm song phương: Tổng đề gồm hai thứ: Tổng đềphạm trù (synthèse catégoriale) hay hình thức (formelle) theo kiểu của Kant duy niệm và tổng đề thẩm mỹ (synthèse esthétique) hay cảm giác, duy thực.
Một khi độc giả tự giảm trừ tâm lý cho mình thì thấy Husserl khác hẳn với Hume. Hume trở về nguồn với mục đích giải thích căn nguyên sự vật, còn Husserl thì không chủ trương giải thích nhưng lại hạn chế hiện tượng học trong phạm vi mô tả mà thôi. Muốn mô tả thì phải kiếm cái thường hằng BI trong một ự vật(invariant). Cái thường hằng hay thể tánh ngoại tại BI3 ấy chúng ta không bao giờ nhận ra nếu chỉ nhìn sự vật bằng một khía cạnh nào đó. Sự nhìn phiếm diện không thấy được cái thường hằng của nó. Sự vật cần phải được biến đổimột cách giả tưởng (variation imaginaire) để tìm cái gì không thay đổi hay thể tánh của sự vật. Thấy được thể tánh hay quán tánh (vision dees essence; Wesenschau) theo Husserl là một trực giác AII căn bản, không có tánh chất siêu hình gì cả nhưng mà là
một phương pháp để thấy cái thường hằng BI và Thể tánh tại ngoại BI3. Nói một cách khác Husserl dùng một đặc tính của thực tại tri giác A để thấy một đặc tính của thực tại tri thức B, hoặc dùng thực tại A để thấy lý tưởng tính B5. Do đó lý tưởng tính của ông mất bớt tính chất tất yếu B7 của Kant và Hègel đi rất nhiều. Ông chưa dám thay đổi tất yếu tính B7 này bằng bất tất tính (contingence)A7 của Schopenhauer để làm căn bản cho cái thường hằng nên chỉ dùng ý niệm Khả tính (Possibilité) và tiền giả định (Présupposition) để tạo điều kiện tiên khởi cho khoa học thực nghiệm. Nhưng nhà hiện tượng luận khác như Max Scheler thì lại dùng phương pháp giảm trừ thể tánh này (réduction eidétique) để tìm giá trị nguyên khởi, còn Heidegger lại đem áp dụng vào Tánh thể luận (Ontologie) để tìm Nguyên Tánh của thể (essence de l‘etre)
Thực chất của hiện tượng luận Hussert là luậnlý và toán học, ông không tin tưởng rằng tân luận lý có một nền tảng vững mạnh như luận lý cổ điển với sự thành công của hình học Euclide (Logi- que forme lie et logique transcendantale7). Ông muốn đặt nền móng luận lý cho triết học xem như khoa học chính xác, còn khoa học thực nghiệm thì ông ít quan tâm đến. Hiện tượng luận do đó theo ông áp dụng rất dễ dàng đối với những khoa học thuộc pháp qui học (nomologie) như toán học còn những khoa học khác thuộc tính thể học (ontologie) như sử học, sinh vật học v.v thì khó lòng mà áp dụng được. Luận lýlà một khoa học qui tắc căn bản (science normative) cho nên theo ông « mọi khoa học tiên nghiệm đều có nhiệm vụ đặt qui tắc cho những khoa học sự kiện (sciences de fait) tùy thuộc. Những qui tắc phổ biến với ý nghĩa rộng 1ớn nhất phải là luận lý.» (LFLT)
Luận lý là hoàn toàn nằm trong thế giới của thực tại tri thức, mà lại khởi nguyên cho các khoa học về sự kiện của thực tại tri giác, Husserl đã đi ngược với tư tưởng Merleau-Ponty. Để giải quyết vấn đề này, Husserl lại một lần nữa đặt ra một ý niệm song phương mới, đó là vật thể tính lý tưởng (objectite idéale). Vật thể
lý tưởng khác với vật thể thực tại AI2 ở chỗ nó không ở trong thời tính, nó là phi thời (extratemporel) Luận lý đặt nền tảng lên trên những vật thể phi thời nghĩa là vừa là tánh thể (étant) AI2 của thực tại tri giác và là lý thể BI2 của thực tại tri thức. Những vật thể lý tưởng này lại không phải là thể tánh ngoại tại BI3 (eidos) thường hằng vì ,chúng là phi thời cho nên tri thức chúng ta không hiểu nổi vì trực giác AII quá yếu. Do đó, luận lý hình thức còn phải dùng suy luận vì cần thiết, vì Husserl cho rằng luận lý mà không dùng toán học là luận lý thiếu sót. Ở đây chúng ta gặp Husserl trên con đường của Bolzano và Leibniz. Tuy nhiên vì quá chú trọng đến cái thể tánh ngoại tại cho nên luận lý của Husserl sau này nhảy dần qua lãnh vực siêu hình, siêu là vượt ra ngoài cái phán đoán của luận lý hình thức mà nhập vào ý thức bày tỏ phán đoán. Do đó Husserl đặt ra luận lý siêu việt (logique transcendantale) và chủ quan (subjective) hoàn toàn ở trong thực tại tri thức B. Cái luận lý chủ quan này bị phái hiện tượng luận Hoa kỳ do Farber cầm đầu chống đối mãnh liệt: «Việc vận động đem chủ quan tính vào triết học của Husserl là một phương thức kém cỏi đáng phàn nàn (La philosophie descriptive trong La philosophie americaine trang 74). Perry thì bảo rằng: Husserl thực ra đã lợi dụng cái chấp ngã (situation égocentrique) và phạm lỗi định nghĩa bằng cách bao hàm tiên khởi thuộc từ (définition par inclusion inidale du prédicat) trong Les tendances actuelles de la philosophie. Tại sao chúng ta lại bó buộc vật thể phải ở trong óc chúng ta và không thể,ở ngoài ? Cái luận lý chủ quan này cũng bị Cavaillès chỉ trích, trong Sur la logique et la théorie de la science: Nếu luận lý siêu việt làm nền tảng cho luận lý thì không cóluận lý tuyệt đối (vì không có chủ quan tuyệt đối). Nếu có một luận lý siêu việt thì uy tín của nó chỉ do nó tự tạo ra và hết siêu việt”. Thật ra luận lý là nền tảng của khoa học khách quan không thể nào chủ quan được dù cho Husserl muốn có siêu việt đến bực nào. Để giải quyết phần nào cái vị trí song phương của luận lý siêu việt mà chủ quan này, Husserl tạo ra một ý niệm hàng hai khác
nữa đó là ý niệm liên chủ tính( Intersubjectivité) nghĩa là quan tính nằm trong óc mọi người màông còn gọi là chủ quan tính siêu việt(subjectivite transcendantale). Liên chủ tính này là phi thời (Zeitlose) cũng như vật thể lý tưởng nói trên, không thuộc thực tại nào, cho nên tri thức cũng như tri giác không nhận biết được.Husserl chỉ tin vào trực giác mà chúng ta lại quá kém khiếu năng này, do đó luận lý hình thức được suy luận phương tiện cần thiết giai đoạn. Luận lý siêu việt của ông còn được gọi là luận lý trực giác, một danh từ đầy mâu thuẫn. Như đã biết, luận lý ởBII mọi trực giác lại ở AII thành thử luận siêu việt nằm ngang giữa hai thực tại hay hai thế giới. Luận lý siêu việt của ông không dùng để chứng minh được gì nhưng lại đem kết quả cần thiết cho khoa học trong việc đặt nền tảng cho luận lý hình thức với vấn đề thường hằng (invariant) và thể tánh (eidos) tại ngoại. Khoa học thực nghiệm ngày hôm nay không đặt vấn đề chủ quan khách quan hoặc duy niệm duy thức vì giới hạn giữa đôi bên không còn. Nhiều khoa học gia cũng khách quan một cách chủ quan và tạo ra những thuyết lý tưởng rất xa vời thực tại cảm nhận được. Rapoport thuộc phái Tổng từ nghĩa luận đã viết trong Operational Philosophy như sau: «Thay vì đặt câu hỏi: Gì là thực tại ? triết học tác dụng kiếm những tiêu chuẩn có thể chấp nhận cho thực tại. Theo ông, cái thường hằng và sự tương đối của ý niệm tuy chống nhau nhưng trong những trường hợp đặc biệt có thể gặp nhau, vì những trường hợp này lại thường xảy ra (trang 23). Cái thường hằng của Husserl ra đời rất đúng lúc và được những phái triết học Duy thức nghiệm và Duy thực dụng Anh Mỹ lập hội nghiên cứu hiện tượng luận. Chỉ tiếc rằng họ lại nghiên cứu cái thực tại tri thức này mà thôi và loại bỏ những gì khác mà họ cho là Siêu hình. Farber viet trong La Philosophic américaine như sau: « Vì tính chất Duy niệm của Husserl quá mức chịu đựng được nên tôi chủ trương loại ra khỏi phong trào hiện tượng luận những chướng ngại duy niệm phá hoại (trang 85) Duy niệm hiểu với nghĩa tùy thuộc theo chủ thể suy tư, không tùy
thuộc sự vật khách quan. Trên thực tế cái duy niệm siêu việt của Husserl vượt ra khỏi phạm trù duy niệm vì cả phạm trù duy thức : vựt khỏi duy niệm vì mọi ý thức đều nhìn vào một vật thể nằm ngoài nó (vật siêu việt), vượt khỏi duy thức vì mọi ý nghĩa đều do một ý thức siêu nghiệm tạo ra (conscience donatrice de sens). Cái tôi suy tư của thực tại nội tại cũng biến thành vật thể đối với cái tôi siêu việt này.
5. THỰC TẠI TRI GlÁC VÀ THUYẾT TỔNG HỢP THẨM MỸ HAY KHẢ CẢM
Tư tưởng Husserl trong những giai đoạn chót thay đổi chiều hướng, ông không còn say mê luận lý nữa, và trở về vơi sự vật khả cảm của thực tại tri giác, hay nói một cách khác ông trở về với những gì tiềm ẩn dưới tri giác. Ông đã kiếm ra nền móng của tri giác với ý niệm tiền thuộc từ (pré-prédicatif) căn bản của thực tại, đó là cái tiền phản tính mà Merleau-Ponty đeo đuổi. « Sự vật luôn luôn thị hiện như một sự vật hiện hữu, nghĩa là như thế này thế kia, mặc dầu không một ý niệm hay phán đoán nào trung gian hóa nó thành ý nghĩa thuộc từ» (Ideen...) Husserl đã trở về với thực tại tri giác với câu trên. Ý niệm sự vật không quan hệ bằng sự vật, trong ý niệm sự vật đã hàm ngụ ý niệm rằng sự vật đang là dù cho chúng ta muốn phán đoán rằng nó hiện hữu hay không hiện hữu. Đó là căn bản tiền thuộc từ của tri giác.
Tiền thuộc từ này cho phép chúng ta nhìn thấy “ những gì vô hình trong sự vật” theo danh từ Husserl, và « do đó sự cảm nhận thay đổi không ngừng” (kết luận của đoạn 9 Ideen). Đến đây Husserl bắt đầu thấy cái vô thường AI của thực tại tri giác. Thực tại này, ở đoạn I0 ông nói rõ là gỗm những sự vật mà chúng ta
có thể quả quyết trưóc tư tưởng và tư tưởng là một sự khích động (activation) của những động tác tổng hợp phạm trù (actes synthé- tiques catégorials) có sau sự vật thực tại. Thực tại có trước tư tưởng, có trước cái thường hằng đầy lý tưởng tính của lý trí... hay nói một cách khác, quan niệm khoa học về sự vật phải có sau một cái gi căn bản hơn. Cái vật thể lập căn (objet. fondant) hay siêu việt ấy không ở trong cái tổng hợp phạm trù của Kant mà lại nằm trong cái tổng hợp thẩm mỹ hay khả cảm hiểu theo Berkeley. Một sự vật có thể được nhìn dưới nhiều khía cạnh tùy theo cảm giác (nhãn, nhĩ. tỹ, thiệt, thân). Thực tại của Berkeley là thực tại tri cảm : Essc est percipi vel percipere (Hiện hữu là bị tri cảm hay tri cảm), một thực tại triệt để, vì theo Ông không có cái gì thường hằng gọi là bản chất cả. Thực tại của Berkeley là bề mặt, không có gì tiềm ẩn sau biểu tượng, ông cho rằng: « Những vật thể do tri giác trực nhận chỉ là bề mặt (apparences) của sự vật mà tôi cho là chính thực tại hiện thân (Dialo entre Hylas et Philonous). Thực tại của Husserl cũng theo chiều hướng trên nhưng không đến nỗi triệt để vì Husserl không dùng danh từbề mặt mà đùng danh từ biểu lộ (apparition). Thực tại Husserl là một sự biểu lộ, một hành động, một chủ hướng, mộtsự xuất hiện.Berkeley phủ nhận giá trị của toán học và vật lý học, còn Husserl thì thấy trong sự biểu lộ có ẩn tàng ý nghĩa trong đó có toán học. Rất tiếc rằng sự nghiệp của Husserl xây dựng trên ý nghĩa toán học nhiều hơn ý nghĩa hiểu theo mật số của Jaspers (Chiffre). Mật số hiểu theo Jaspers là khi ẩn khi hiện, vừa hiện diện vừakhiếm diện, mập mờ và sáng tỏ trong một tổng hợp bao quát (engỊobant). Cái bao quát này «không phải là một ý niệm (khách thể) cũng không phải là một động tác trí thức (chủ thề) mà là một cái gì bao gồm cả hai lại là một. Jaspers khai triển ý niệm chủ hướng tính của Husserl triệt để hầu kiếm một thực tại khác ở khoảng giữa giới hạn hai thực tại chủ quan và khách quan. Ông bảo rằng: “ Trước hệt chính ở trong những thế giới hạn (situations limites) mà con người mới ý thức được hiện thể mình”. Thế giới
là những thế giới hạn. Cái bao quát Jaspers là chữ VỀHusserl được nới rộng, chữ VỀ liên kết chủ thể với khách thể trong câu: Ý thức là Ý thức VỀ cái gì. Sở dĩ Husserl chưa đi mạnh vào thế giới tri giác là vì chữ VỀHusserl không được hiểu theo mật nghĩa mà lại hiểu theo hiển nghĩa để đặt nền tảng cho những tương quan toán học. Suốt một cuộc đời Husserl cố gắng đi kiếm cái siêu việt có ý nghĩa căn bản để làm một tổng hợp bao gồm tất cả « những thực thể hay khả thể hiện hữu đối với cái tôi siêu việt, và do đó những phương thức ý thức liên hệ hiện hữu có thực hay có thể có». Hoài vọng này Husserl trước khi chết mới nhận thấy rằng không thể nào thực hiện được. Những môn đệ tăm tiếng của ông như Heidegger hay Scheler cũng không theo ông trên con đường tôi siêu việt này. Với một lý do khác, những hiện tượng luận gia duy thực dụng Anh Mỹ mặc dầu say mê khoa học thực nghiệm, cũng từ khước cái tôi siêu việt này. Họ không muốnnền tảng khoa học là cái tôi dù cho siêu đến mấy cũng vậy. Ngoài ra óc duy thực khoa học không bao giờ chấp nhận những hiện tượng bột phát (spontanéité) không lý do hay nguyên nhân. Husserl khi đùng những danh từ biều lộ hay xuất hiện để chỉ định những hiện tượng tiên khởi đã làm một cách mạng tư tưởng. Triết học của sự bất tất do Schopenhauer chủ trương nay được Husserl hệ thống hóa trong vấn đề tiên khởi bột phát bằng ý niệm khả tính đầy nghi vấn (ambigu). Khai thác tư tưởng này, những hiện tượng luận gia đã đi mạnh vào thực tại bất tất với Sartre trong La nausée, với Camus trong Le Mythe de Sisyphe. Merleau-Ponty triết gia của nghi vấn trong Le philosophe et son ombre đã cho rằng tư tưởng trên là quan trọng nhất trong sự nghiệp Husserl, đó là «sự trở về với sự vật tiên khởi trước tri thức» và «những mô tả danhtiếng nhất của hiện tượng luận hướng vào một chiều hoàn toàn khác với triết học trí óc ».
Triết học của trí óc đặt nền tảng trên sự suy luận nhờ những
nguyên lý luận lý tất yếu được chấp nhận trước. Những nguyên lý tiên khởi này thay thế cho sự vật tiên khởi và tạo ra biểu tượng sự vật thay vì sự vật chính nó. Những biểu tượng này cũng tất yếu như những nguyên lý luận lý cấu tạo ra nó, do đó khi ta «thấy» được sự vật bằng trực giác không suy luận thì cái tất yếu không còn để nhường chỗ cho cái khả tính hay cái bất tất. Trực giác là phương tiện duy nhất đểđi tìm thực tại tri giác. Dùng danh từ “đi tìm” ở đây là một mâu thuẫn, vì đi tìm là một hành động của trí óc. Chúng ta nên dùng danh từ «không tìm» thì sẽ «thấy» mới đúng. Một khi chúng ta trở về với sự vật tiên khởi thì không còn đặt vấn đề nhận và ngộ nhận được nữa. Chính cái tất yếu đã tạo ra cái tôi đầy tin tưởng đầy nghị lực, nếu mất nó đi thì cái tôi không còn, mình không nhận ra được mình, thực tại tiên khởi là mộc sự bí mật và chính ngay mình cũng biến thay ra một kẻ xa lạ (1' étraiiger).
Sự biểu lộ bột phát của hiện tượng bao giờ cũng đem lại sự kinh ngạc, một kinh ngạc căn bản mà theo Platon: “là ý thức triết học số một”. Những phân tích về hiện thể (Dasein) của Heidegger là kết quả của sự đi về nguồn gốc đầu tiên của sự vật. Triết học Heidegger bao giờ cũng bắt đầu bằng một sự kinh ngạc: «Tại sao hiện thể thay vì vô thể ? », «tại sao tư duy ?» «tại sao tri thức chấpnhận nguyên lý lý trí dễ dàng? »Hiện thể là một sự kinh ngạc trước khi hiện hữu, những kinh ngạc trước sự bột phát cũng là bột phát vì bình sinh chúng ta bị chìm đắm trong sự bất chính thống của thế giới “người ta”, mình quên hiện thể mình, sống qua ngày (quoti- dienneté). Trở về với sự vật tiên khởi là biến cái sống hàng ngàyấy (existence quotidienne) thành xuất thể (Ex-sistence) hay sự xuất hiện của hiện thể. Nhưng chỉ có con người mới có khả năng xuất thể, hay bị «lãnh án tự do» theo danh từ Sartre, và Hddegger khác hẳn Husserl, dùng danhtừ siêu việt để chỉ định khả năng xuất thể mình vượt ra khỏi mình, mình thấy mình là hoàn toàn xa lạ với
mình, hay nói một cách khác đặt mình thành nghi vấn, đặt tất cả thành nghi vấn. Husserl cho rằng hiện tượng luận là một trâm tư vô hạn và, theo lời Merleau-Ponty trong Le philosophe et son ombre “dầu muốn hay không, làm sống dậy một thế giới hoang dại, một ý thức hoang dại tuy nghịch với kế hoạch nhưng thuận theo bản tánh ngang tàng của ông”. Đặt tất cả thành nghi vấn là thể tánh của hiện tượng luận, không hệ thống triết học là triết học của mọi hệ thống, ảnh hưởng của hiện tượng luận trong triết học hiện đại vẫn tiếp tục không bao giờ ngừng. Thuyết cơ cấu của Lévy Strauss có thể chống hiện sinh của Sartre nhưng không bao giờ đi ngược với hiện tượng luận, Sartre đặt trọng tâm vào hành động tiên khởi còn Lévy Strauss thì chú trọng vào biểu tượng ghi nhận sự vật tiên khởi. Có thể cho rằng đó là hai trạng thái động và tĩnh của một thực tại hiểu theo nghĩa Á đông. Trong triết học nghi vấn của Mer- leau Ponty có đầy đủ cảSartre lẫn Lévy Strauss và Merleau Ponty đã nhìn hiện tượng theo lối Á đông: «Những triết lý Ấn độ và Trung hoa thay vì tìm cách chinh phục cuộc đời đã tìm cách trở thành tiếng vang hay phản ánh của sự quan hệ giữa chúng ta và thể» (Partout et nulle part).
Đặt tất cả thành nghi vấn nghĩa là không trông mong vào mộtgiảiđáp thích nghi cho nên phương pháp để nhìn sự vật tiên khởiphải là một phương pháphết sức nên thơ : đó là phương pháp tự do giả tưởng (fictions libres) hay phương pháp tùy nghi ấn định hình thức để biến hóa một cách giả tưởng sự vật để kiếm những gì thường hằng. Cái thường hằng này suốt đời không bao giờ Husserl tìm ra được một cách chắc chắn mà chỉ trong vòng giả thuyết : có thể có hay không có. Ý niệm về sự vật là ý niệm rằng sự vật không bao giờ tri giác được một cách vẹn toàn. Trongsở tri bao giờ cũng hàm ngụ năng tri hay khả năng thí nghiệm sự vật về sau. Sự vật tiên khởi không bao giờ là sự vật chung thẩm. Jean Wahl trong Début d' une étude sur Husserl cho rằng :« Chúng ta luôn luôn
vượt vượt qua tri giác và luôn trở về với tri giác”. Trở lui về vì sự vật không đứng yên nhưng sống động, Husserl cho rằng một sự vật đứng yên không thay đổi trên nguyên tắc là phi tưởng. Do vậy phương pháp tự do giả giả tưởng cũng phải linh động để chạy theo sự vật biến đổi chưa chắc chỉ nên thơ mà thôi, đó là một phương pháp thực tế có lẽ là duy nhất. Trong Kinh Kim cang có nói đến: Nhất thiết hữu vi pháp,như mộng huyễn bào ảnh như lộ diệc như điện, ứng tác như thị quán. Phương pháp biến hóa giả tưởng (variations fictives) là trong bốn chữ ứng tác như thị quán (nên làm như vậy mà nhìn). Muốn nhìn các sự vật linh động, phải nhìn lanh như điện chớp, diễm ảo như sương sa.
6. PHƯƠNG PHÁP GIẢM TRỪ THIẾT CHỦ HƯỚNG TÍNH CHUYỂN HÓA THỰC TẠI
Phương pháp giảm trừ với mục đích đi tìm chân lý hiểu theo nghĩa thực tại lý trí đã có từ lâu với những vận hành tư tưởng của triết gia trong động Platon sự ngoài nghi của Descartes, cuộc cách mạng Copernic của Kant, sự hồ nghi luân phiên của Perice. Husserl bắt đầu bằng những phương pháp này với những giảm trừ tâm lý ( réductions psychologiques) và giảm trừ thể tánh (reductions eidéque). Đây là giai đoạn duy lý triệt để của Husserl, những “ ý niệm” của Husserl không khác gì những “ý niệm” của Platon những thể tánh ngoại tại (essences) vĩnh cửu, khách quan.Husserl đã đi vào thực tại duy niệm khai trừ cái chủ thể suy tư để thay thế bằng đối tượng suy tư, loại cái năng tri(noèse) để trừ lại cái sở tri (noème) mà thôi.
Phương pháp của Husserl ở giai đoạn sau giảm trừ tất cả một cách triệt để,không thế giới bên ngoài, không thế giới bên trong,
không cái tôi nội tại, không đấng tối cao, không có cái gì hiển nhiên mà còn tồn tại với cái giảm trừ hiện tượng của Husserl.Đó là một sự táo bạo tư tưởng giải tỏa cho sự bế tắc triết học, sự say mê ý thức hệ và tạo một cuộc cách mạng tư tưởng quan trọng ở tây phương.
Phương pháp giảm trừ này không chú trọng vào mục đích thành tựu một ý thức hệ do những gì tiên nghiệm, không quả quyết sự hiện hữu mọi thực tại mà cũng không phủ nhận cái gì, nhưng lại chú trọng và sự quan hệ giữa hai thực tại, giữa năng tri và sở tri. Đó là chủ hướng tính. Nếu chúng ta chưa giảm trừ hiện tượng, thì danh từ chủ hướng tính có thể hiểu là tương quan giữa các sự vật như công thức khoa học, hoặc ý muốn của một chủ thể hay sự chú tâm lý. Chưa giảm trừ hiện tượng thì những gì Husserl mâu thuẫn và phi lý hoặc tối nghĩa. Ngay chính Husserl cũng không nhận rõ điều này, khi viết ông đã giảm trừ hiệntượng nhưng khi đọc lại thì ông ở trong tình trạng hết giảm trừ cho nên ông không hiểu những gì đã viết. Husserl lúc đọc lại bản thảo Ideen đã ghi thêm “ Bản thảo này thành lập kém, sang tác kém, nói đúng hơn là không sang tác được gì cả. Cần phải làm lại”. Mặc dầu không bao giờ Husserl làm lại được và giữ nguyên. Sự nghiệp vĩ đại của ông còn có vào khoảng 30.000 trang không phổ biến. Ông không thấy tiếc khi thấy một sang tác mình chưa phổ biến bị rủi ro cháy mất, đã không tiếc lại đi an ủi bạn bè rằng: “ Dầu sao đó là sự thật, thiên hạ rồi cũng biết đến nó” ( Gusdorf, Vers une métaphysique).
Chủ hướng tính không thể trình bày bằng ngôn ngữ được nếu chúng ta không muốn bị hiểu lầm như đã nói trên. Trình bày bằng ngôn ngữ thì chúng ta chỉ có thể nói đó là đặc tính của chữ Về trong câu ý thức là ý thức Về cái gì, nối liền hai thực tại năng tri và sở tri. Vì chúng ta chỉ biết hai thực tại ấy mà thôi. Trong Le principe de raison, trong đoạn nói về sự ẩn mình và hiện diện
của thể (retrait et présence đe 1‘être) Heidegger cho rằng «Đối vớichúng ta, thể thực tại luôn luôn là thểtác dụng hay bị tác dụng vật thể tạo lập hay bị tạo lập ». Điểm quan trọng là con đường (đạo) mà chúng ta phải hiểu ràng : « Những gì mà chúng ta tri giác, ta chỉ kiếm được ở đọc đường, trên đường. Sự vật để tri giác ở dọc bên lề đường» Con đường đó là chủ hướngtính Husserl vì thực tại toàn diện chỉ biểu lộ như một giòng kinh nghiệm chủ hướng. Chủ hướng tính là tính chất căn bản của xuất thể luônluôn dự phát, luôn luôn hiện diện. Chính lý trí đã làm cho chứng ta vắng mặt, lãng quên trong cái nhìn căn bản. Chính chủ hướng tính giúp ta trở về với sư vật nguyên khởi, trở về bằngpháp biến hóa giả tưởng. Những sự vật nguyên khởi sương sa điện chớp ấy có một đặc tính khác mà Husserl đã thấy trong Idee:Chúng không lại với chúng ta mà lại đang là, đang thể hiện hay nói một cách khác đang ẩn mình đồng thời hiện diện». Sự biến hóa giả tưởng căn cứ trên chủ hướng tính là phương pháp duy nhất để lên «đường» với Heidegger.
Những con đường của Heidegger lại là con đường của sự bế tắc tư tưởng. Muốn lên đường hay nhập đạo phải làm một cái nhảycăn bản vượt qua lý trí. Phải nhảy từ sự giảm trừ hiện tượng đến sự giảm trừ tối hậu hay pháp bội lý quy kết (reductio ad impossibile) nếu chúng ta không muốn rớt vào cái hoài nghi của Descartes haycủa Peirce. Con đường ấyPhạm công Thiện gọi là con đường phá hủy biện chứng pháp (Im lặng hố thẳm)
Phải nhảy qua cái chủ hướng tính cuối cùngtrong câu: Ý thức là ý thức về ý thức, cái hàng rào co giản ấy là cái vòng lẩn quẩn tri thức không bao giờ chấm dứt (regressio ad infinitum) của chữ Về.
Đừng bao giờ đểcho phương pháp biến hóa giả tưởng rơi rứt thành phương pháp phụ tùy biến hóa (méthode des variations concomitantes) củaJohn Stuart Mill.
Con đường của Hiedegger là Không lộ hay là con đường hủy diệt
tư tưởng (Via negativa) theo ngữ thuật của Phạm công Thiện. Muốn vào đạo phải nhảy ra khỏi phạm trù lý trí, phương pháp nhảy thế nào theo Á đông cũng là một sự Giảm trừ mà gọi là Thiền định. Đó là một lối giảm trừ tối hậu không lý thuyết nhưng thực tiễn. Đi tìm thực tại theo phương pháp Lục độ là phải đích thân bố thí, tri giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
-
Bố thí là giảm trừ chấp hữu,
-
Trì giới là giảm trừ chấp thức
-
Nhẫn nhục là giảm trừ chấp ngã
-
Tinh tấn là giảm trừ tiềm thức
-
Thiền định là giảm trừ tối hậu về thế giới hiện tượng
Trí huệ là trạng thái giác ngộ nhìn thấy thực tại hay bản thể chân như. Giảm trừ có nghĩa là quy y, hay sự trở về tối hậu tại đây.
Triết học Tây phương không bao giờ nhận rõ cái giá trị củahành trì, tu chứng. Họ đi vào thế giới triết với một tinh thần học giả hơn là hành giả, thành thử luôn luôn bị kẹt trong vòng phong tỏa của ý thức hệ. Nếu các nhà triết học cố gắng giảm trừ tâm lý cho chính bản thân thay vì tìm hiểu cái giảm trừ ấy thì họ sẽ không thấy những nghi vấn khi Husserl khi dùng những danh từ lạ lùng như : chủ hướng tính mà không chủ thể, Tôi siêu việt mà lại khách quan, chân lý mà lại là giả tưởng. Chính ngay Husserl cũng đôi khi quên giảm trừ sau những phút bốc đồng sáng suốt tuyệt độ, Husserl không nắm vững thật tại, ý niệm ông về thực tại không bao giờ rõ ràng, Đó không phải là một lời trách mà lại là một lời khen. Chỉ có những bộ óc vĩ đại mới có gan đi kiếm cái chính xác trong cái mơ hồ của sự vật tiên khởi. Thấy cái gì cũng chính xác là đặc chất của tâm hồn ỷ lại, không thắc mắc, không vấn tính. Einstein đã thành thực khi cho rằng: «Toán học đi vào thật tại thì hết chính xác và chỉ chính xác khi không còn thực tại »
Hiện tượng luận muốn biến thành khoa học chính xác cũng phải mất thật tại. E. Fink trong Problèmes actuels de la phénoménologie nhận định rằng «Hiện tượng tính của hiện tượng không bao giờ chính nó là một dữ kiện hiện tượng. » Nói một cách khác, chúng ta chỉ biết hiện tượng qua trung gian hiện tượng tính, và không bao giờ đạt được hiện tượng vì hiện tượng tính không phải là hiện tượng chính thống.
Husserl đã thành thật nhận rằng mình không thâu hoạch được mục đích mong muốn, song thế hệ sau ông đã đón chào phương pháp độc đáo ngang tàng của ông, mặc dầu phương pháp này đem lại một kết quả trái ngược : Hiện tượng học thay vì xây dựng nền tảng cho nền triết học lại được dùng để hủy diệt mọi ý thức hệ triết học. Sự hủy diệt này theo Heidegger là hành động căn bản để Tây phương có thể song thoại với tư tưởng Á đông.
NGÔ TRỌNG ANH