Lời mở đầu
Dostoievsky xuất hiện ở đoạn cuối của Tư tưởng số 2 về vấn đề Hòa bình không phải là một ngẫu nhiên mà là mội chủ đích: Chúng tôi muốn đóng góp vào Chân lý Hòa bình, Sự sống động của Nhân tánh Hòa bình qua «Hồi ký về chốn địa ngục trần gian » của Dostoievsky. Tập hồi ký này không nói gì đến Hòa bình cả nhưng chỉ trình bày những sự thật phũ phàng có liên hệ với căn nguyên của mọi hòa bình tâm linh vá siêu hình trong một trại tù. Nicolas Berdieff nói «Dostoievsky đã nhận thấy rằng những phương thuốc xưa không còn hiệu nghiệm đối với những căn bệnh tâm linh của tâm hôn hiện đại» (L‘ Esprit (le Dostoievsky, trang 64) và công nhận rằng « Chính chúng ta là can phạm sát nhân, mặc dầu trước luật hình và dư luận chúng ta vẫn trong trắng, vìgiết người không cần phải gươm đao mà chỉ cần tư tưởng thầm lặng cố sát» (trang 110). Cái tư tưởng thầm lặng cố sát ấy chính là nguồn gốc của chiến tranh tâm lý ngày nay. Đó là tư tưởng bênh hoạn sống ngày qua ngày với thành kiến, với truyền thống không hề thắc mắc, không bao giờ biết đặt câu hỏi.
Tập hồi ký về chốn địa ngục trần gian nhấn mạnh vào thành kiến của nhân loại đối với những thiên tài thích sống với cô đơn. Một thành kiến đi từ chỗ bỏ rơi khinh khi đi tới chỗ đọa đày tàn nhẫn.
Thiên tài sống với trầm tư và sáng tác cho nên thành kiến cho rằng họ đã « sống bên cạnh cuộc đời » vi không biết « sớm vác ô đi tối vác về »
Thiên tài sống với «cô đơn như cá trong nước » (theo lời Schopenhauer) cho nên thành kiến cho rằng họ đã «sống bên lề xã hội» vì họ không thích sống chung với sự bất trung tính của cái « người ta » (theo danh từ Heidegger).
Thiên tài sống với Nhân tánh cho nên con người xã hội làm sao hiểu nổi, nên khép hắn vào tội « sống ngoài vùng pháp luật» và cư xử hắn như trộm cướp.
Và nhà tù hay địa ngục trần gian là nơi thiên tài thườnq được phép sống với cô đơn và sáng tác. Nhân vật trong truyện (chính là tác giả) đã sống với cô đơn trong thực tại rùng rợn của nhà tù, đấy nhữnq sự thật trắng trợn, khủng khiếp. Khi được phóng thích, mặc dầu được sống trong bầu không khí «tự do»nhưng hắn lại thấy khó thở vì «sự bất trung tính» của xã hội đầy đạo đức giả, cho nên hắn đãâm thầm chết không ai biết, chỉ để lại độc nhất một mối luyến tiếc trong lòng một cô bé ngây thơ mười tuổi.
Đoạn đầu của tác phẩm (lời giời thiệu) chính là tiếng nói cuối cùng của tác giả nhắn lại rằng chỉ có cô đơn mới đem lại hòa bình tâm linh với trầm tư và sáng tác.
Tập hồi ký này viết sau khi Dostoievsky vừa mới ở tù ra và con người cũ trong người ông đã chết, Dostoievsky đã viết cho người anh : «Nhân cách của tôi sẽ biến mất, chỉ còn lại những ghi chép của một kẻ vô danh » Những tư tưởng cách mạng dân chủ tự do xưa của ông không còn và ông chủ trương trở về căn nguyên (Enracinement) mà Pierre Pascal đã trình bày trong lời mỏ đầu của bản dịch bằng Pháp ngữ như sau: «Chủ
trương ông lá « sự trở về căn nguyên » nhưng không từ bỏ tiến bộ, cải cách, vay mượn văn minh Tây phương, nói tóm lại không trở lui nhưng phải biết công nhận và trọng dụng gia tài của dân tộc tính».
Tinh thần trở về Căn nguyên với Việt Tính trong giai đoạn hướng về cách mệnh nội tâm của Viện Đại học Vạn Hạnh đã có một tiền bối xa xăm ở nơi Dostoievsky.
NGÔ TRỌNG ANH
I PHẦN GIỚI THIỆU
(Đoạn đầu của hồi ký)
Rất sâu trong nội địa Tây Bá Lợi Á, giữa những cánhđồng cỏ hoang hay giữa núi rừng rậm rạp, người ta thấy rải rác mọc lên một vài thị trấn nhỏ với một hai ngàn dân cư, với những căn nhà gỗ siêu vẹo và hai cái nhà thờ, một ở giữa thị trấn một ở khu nghĩa trang. Những thị trấn này giống những thôn làng lớn thuộc vùng ngoại ô Moscou hơn là những tỉnh lỵ. Ủy viên cảnh sát, bang tá và tiểu công chức mọi ngành không bao giờ thiếu. Công việc nhà nước ở Tây Bá Lợi Á nói chung tuy xa ánh mặt trời nhưng không đến nỗi tê cóng. Dân tình chất phác, thuần hậu ; tập tục cổ kính, vững chãi. Những công chức tạo thành phần quí phái ở đây hoặc là dân Tây Bá Lợi Á kỳ cựu, hoặc là dân Nga, phần đông đến từ những đô thị lớn như Saint Pétersbourg hay Moscou. Họ bị lôi cuốn bởi lương bổng cao, phụ cấp di chuyên lớn và viễn ảnh tươi sáng trong tương lai. Trong số những kẻ sau này, những kẻ khôn ngoan, những kẻ biết giải quyết vấn đề nhân sinh, đều bằng
lòng mọc rễ ở đây và họ đã gặt hái được những kết quả xứng đáng. Trái lại những kẻ nhẹ dạ, những kẻ vụng về không biết sống chẳng bao lâu sẽ cảm thấy chán ngấy xứ này và tự hỏi với bao tiếc hận : « Quỉ sứ nào đã dẫn mình tới đây ? » Họ bất nhẫn chờ cho hết ba năm công vụ, và cuốn gói khỏi Tây Bá Lợi Á trong lòng không ngớt dè bỉu ngay sau khi nhận được lệnh thuyên chuyển. Họ đã nhầm to; vì xét về nhiều phương diện, ngoài phương diện nghề nghiệp, người ta có thể nói rằng Tây Bá Lợi Á là một vùng đất an lạc. Khí hậu tốt. Nhiều cửa hiệu lớn, hiếu khách. Các thiếu nữ tươi mát như hoa, công dung ngôn hạnh rất đôi vẹn toàn. Con mồi chạy dong phố di kiếm phường săn. Rượu chảy như suối. Trứng cá muối rất ngon. Mùa màng ở một vài nơi một ăn mười lăm. Tóm lại. đó là một mảnh đất lành. Người ta chỉ cần biết khai thác, ở Tây Bá Lợi Á, người ta thạo nghề khai thác lắm.
Chính tại một trong những thị trấn vui tươi, tự mãn, với đám dân cư hiền hòa mà kỷ niệm không bao giờ mờ phai trong trí tôi ngày nay, tôi đã gặp Alexandre Petrovitch Goriant- chikov, cựu quí tộc và chủ nông trại ở Nga. tù khổ sai hạng hai (1) vì tội giết vợ. Được phóng thích sau mười năm tù tội (2), hắn âm thầm định cư tại K... Lẽ ra hắn phải lưu trú tại một tổng lân cận, nhưng hắn chọn K...và sinh sống bằng nghềgỏ Đầu trẻ. Những ông thầy thuộc loại này không hiếm và rất được trọng vọng tại Tây Bá Lợi Á. Họ thường dạy Pháp văn, một ngôn ngữ rất cần thiết để đi vào đời, nhưng nếu thiếu họ.
-
Tù khô sai Nga chia làm ba hạng :
a) khổ sai trong hầm mỏ
b) khô sai trong pháo lũy
c) khô sai trong xưởng máy
(2) « Hồi ký về chốn Bịa Ngục Trần Gian» tiểu thnyết hóa kinh
nghiệm tù dày của Dostoievsky. Alexandre Petrovitch Goriantclukov.
Nhưng ông chỉ bị tù 4 năm, từ 1850 đến 1854, và vì lý do chính tri.
Alexandre Petrovitch lần đầu tiên tại nhà Ivan Ivanytch Gvozdikov, một công chức già, nổi tiếng thanh liêm và hiếu khách, cha của năm thiếu nữ đầy hứa hẹn, Alexandre Petrovitch đến đây các cô bé này một tuần bốn buổi, với ba mươi kopeck - bạc một giờ. Giáng điệu của hắn khiến tôi chú ý. Đó là một người dàn ông nhỏ nhắn, gầy ốm xanh xao và hãy còn trẻ - khoảng ba mươi lăm tuổi là cùng. Hắn luôn luôn mặc âu phục chỉnh tề. Nếu bạn nói với hắn, hắn sẽ chú mục nhìn bạn không chớp mắt, lắng nghe từng lời bạn nói một cách hết sức lễ độ, ưu tư, như thể câu hỏi của bạn đặt ra một vấn đề nan giải hay chực khám phá một điều bí ẩn gì nơi hắn ; sau cùng, hắn trả lời bằng một vài câu ngắn, gọn nhưng cân nhắc từng chữ một khiến cho bạn tự nhiên cảm thấy khó chịu và chỉ mong câu chuyện sớm chấm dứt. Tôi hỏi ngay Ivan Ivanytch về hắn và được biết hắn rất đứng đắn- nếu không ông cụ đã chẳng dám giao con gái cho hắn dậy nhưng hắn sống ẩn khuất, mọi rợ một cách khủng khiếp. Học thức rộng, đọc sách nhiều, hắn lẩn tránh tất cả mọi người và ít nói đến nỗi khó mà nói chuyện dằng dai với hắn được. Một vài người quả quyết rằng hắn điên, nhưng họ cũng phải nhận rằng đó không phải là một nhược điểm trầm trọng lắm. Những kẻcó tai mắt trong thị trấn tỏ ra niềm nở đối với Alexandre Petrovitch : một đôi khi hắn có thể rất hữu ích ; thảo một tờ đơn thỉnh nguyện chẳng hạn. Người ta phỏng đoán có lẽ hắn thuộc giòng dõi quí phái, con ông cháu cha bên Nga, nhưng người ta cũng biết rằng từ khi bị tù đày, hắn đã cắt đứt mọi liên lạc với họ hàng - tóm lại, hắn muốn một mình cam chịu đắng cay. Tuy nhiên ai cũng rõ chuyện hắn : hắn đã giết vợ ngay sau năm chung sống đầu tiên vì ghen tuông, và sau đó tự nộp mình cho nhà chức trách, nhờ vậy tội bắn được giảm
vậy, con người kỳ khôi này nhất định chôn mình trong một xó và chỉ ra ngoài khi phải đi dậy học.
Thoạt tiên, tôi chẳng mấy quan tâm đến hắn, nhưng khônghiểu tại sao, dần dần hắn khiến tôi chú ý. Có một cái gì bí ẩn trong con người hắn. Nói chuvện với hắn quả là một việc khó khăn. Dĩ nhiên hắn trả lời tất cả những câu hỏi của tôi và hình như còn coi việc đó là một bổn phận thiêng liêng nữa ; nhưng cung cách hắn trả lời khiến tôi cảm thấy ngại ngùng bứt rứt không muốn hỏi thêm nữa; vả lại, sau những câu chuyện như thế người ta thấy khuôn mặt hắn toát ra một vẻ mệt mỏi, đau đớn. Tôi còn nhớ rõ vào một buổi chiều mùa hạ, chúng tôi cùng dời nhà Ivan Ivanytch. Đột nhiên, tôi mời hắn ghé lại nhà tôi để hút một điếu thuốc chơi. Tôi không thể nào diễn tả nổi nỗi kinh sợ phản chiếu trong ánh mắt hắn. Bối rối, hắn lẩm bẩm những câu nói không liên lạc gì, rồi thình lình trừng mắt nhìn tôi, cặp mắt ngập oán thù, đoạn bỏ chạy sang ngả dối diện. Tôi đứnglại, chưng hửng. Từ đó trởđi mỗi lần gặp tôi, hắn nhìn trộm một cách sự hãi. Nhưng tôi không chịu dừng tại đó; có một cái gì lôi cuốn về phía Goriantctnko và, hơn một tháng sau, tự nhiên tôi lại nhà hắn; hành dộng đó, tôi xin thú thực, chướng và lố bịch. Hắn ở tận cuối lỉnh, tại nhà một bà cụ già. Bà cụ này có một cô con gái đau phổi đáng thương, mẹ của một đứa con hoang, một cô bé chừng mười tuổi, xinh xắn, luôn luôn tươi cười. Lúc lôi bước vào phòng, Alexandre Petrovilch đang ngồi cạnh cô bé và dậy nó đọc. Khi nhận ra tôi, hắn bối rối như bị bắt quả tang, đứng phắt dậy và trừng trừng nhìn tôi. Sau cùng, chúng tôi ngồi xuống. Cặp mắt hắn theo tôi tia nhìn của tôi không chớp làm như hắn linh cảm thấy có những âm mưu mờ ám trong tôi. Tôi tin rằng sự nghi kỵ của hắn đã đi đến chỗ bệnh hoạn. Hắn giận dữ nhìn thẳng vào mặt tôi như muốn nói: «Bao giờ mi mới chịu xéo đi cho?» Tôi bắt đầu nói với hắn về thị trấn chúng tôi đang ở, về những tin tức thời sự
trong ngày; hắn giữ yên lặng, thỉnh thoảng gượng cười. Tôi có cảm tưởng hắn không biết gì về những tin tức mà ai ai cũng biết, tệ hơn nữa, hắn chẳng buồn lưu tâm tới. Tôi nói tiếp về miền chúng tôi, về những nhu cầu địa phương; hắn lẳng lặng nghe và nhìn thẳng vào mặt tôi bằng một cái nhìn trân trối, lạ lùng đến nỗi cuối cùng tôi cảm thấy hối tiếc vì những điều đã nói. Tuy nhiên, chút nữa tôi lay động được hắn bằng cách cho hắn mượn những cuốn sách và tạp chí tôi mới lãnh ở bưu điện về, chưa đọc. Hắn liếc nhìn một cách thèm thuồng, nhưng dằn lòng được ngay, từ chối, lấy cớ là không có thì giờ. Sau cùng tôi ra về và khi đã ra đến ngoài đường rồi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng. Tôi cảm thấy xấu hổ, vô lý vì đã quấy nhiễu một người mà mục dích duy nhất là chạy trốn mọi người xa chừng nàoday chừng ấy. Nhưng chuyện đã lỡ rồi. Tôi đề ý thấy hắn chỉ có một hai cuốn sách : người ta đã nhầm khi cho rằng hắn đọc rất nhiều. Tuy nhiên một hai lần đi xe qua cửa nhà hắn vào lúc nửa khuya, tôi nhận thấy có ánh đèn nơi cửa sổ. Hắn làm gì mà thức thâu đêm vậy? Hay là hắn viết? Và nếu bắn viết, hắn viết gì vậy?
Tôi có việc phải đi vắng khoảng ba tháng. Khi tôi trở về, lúc ấy đang vào giữa mùa đông, tôi hay tin Alexandre Petrovitch không còn nữa. Hắn đã chết trong mùa thu, trong một nỗi cô đơn hoàn toàn. Hắn không cho mời thầy thuốc lấy một lần. Người ta hầu như đã quên hắn. Phòng hắn ở hãy còn để trống. Tôi vội đến thăm mụ chủ nhà để hỏi dò về công việc của người quá cố và xem hắn có viết lách gì không. Sau khi nhận tấm giấy 20 Kopeck, mụ mang ra cho tôi một giỏ đày giấy và thú thực rằng mụ đã đốt đi hai tập. Đó là một mụ già khó tính, ít nói. Mụ không cho tôi biết thêm điều gì mới mẻ về người khách trọ quá cố của mụ. Theo lời mụ, hắn hầu như không bao giờ làm gì cả và có khi ở không cả tháng không rờ tới sách vở,bút mục. Ngược lại, nhiều đêm hắn thức
trắng, đi đi lại lại trong phòng, chìm đắm trong suy tưởng hay nói lớn một mình. Hắn rất yêu Katia, cháu mụ, nhất là từ khi hắn biết tên cô bé. Hàng năm, vào ngày lễ thánh Catherine, hắn nhờ nhà thờ đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn một người nào đó, mang tên Katia (1). Hắn không chịu nổi khách khứa và chỉ ra ngoài khi phải đi dâv học, ngay cả mụ hắn cũng nhìn nhìn một cách bực dọc, nghi kỵ khi mỗi tuần một lần mụ vào dọn dẹp trong phòng hắn ; trong suốt ba năm ở trọ, hắn hầu như không nói với mụ một lần. Tôi hỏi Katia cô bé có nhớ thầy không. Cô bé nhìn tôi không đáp doạn quay mặt vào tường và khóc nức nở. Vậy ra, người đàn ông này dù sao cũng biết làm cho người ta yêu mình đấy chứ !
Tôi mang chồng giấy về nhà và để ra cả một ngày đểđọc. Ba phần tư là giấy lộn hay bài tập củahọc trò. Cuối cùng tôi tìm thấy một tập vở dày, phủ đầy những giòng chữ rất đẹp như bỏ dở, và có lẽ bỏ quên bởi chính tác giả. Đó là câu chuyện mười năm trong tù của Alexandre Petrovitch. Trong câu chuyện bất toàn này, thỉnh thoảng lại chen vào những đoạn văn lấy từ truyện khác, một vài hồi niệm lạ lùng, kinh khủng viết tràn lan xuống giấy như thể tác giả bị thúc đẩy bởi một cơn dày vò quằn quại nào đó. Tôi đọc đi đọc lại những đoạn này, và tin rằng có lẽ tác giả viết trong một trạng thái điên loạn. Nhưng những hồi ức về nhà tù, những « cảnh tượng của chốn Địa Ngục Trần Gian » như Alexandre Petrovitch đã gọi ở một vài đoạn trong bản thảo không phải là không có giá trị. Tôi bị lôi cuốn bởi một thế giới hoàn toàn mới mẻ, lạ lùng, một vài sự kiện kỳ dị, một vái nhận xét: độc đáo về một lớp người bỏ đi, và tôi đọc một cách say mê, thích thú. Dĩ nhiên, tôi có thể lầm lẫn vềgiá trị tác phẩm. Hôm nay tôi thử trích ra đây vài chương, phần phán xét xin dành cho độc giả...
(1) Tên thân mật vắn tắt của Catherine
2. RA KHỎILAO TÙ
(Đoạn cuối của hồi ký)
Tất cả những chuyện đó xảy ra vào năm cuối cùng của tôi ở nhà tù. Năm cuối cùng này, nhất là những ngày cuối năm in sâu vào tâm trí tôi-chẳng kém gì năm thứ nhất. Nhưng nói lên những chi tiết làm gì, vô ích. Tôi chỉ xin nói rằng mặc dầu bứt rứt muốn ra khỏi nhà tù ngay, năm cuối cùng vẫn là năm dễ chịu nhất trong những năm tôi bị cầm tù. Trước hết, tôi có nhiều bạn bè trong đám tù nhân. Họ đều coi tôi như một người chính trực. Rất nhiều người thành thực quí mến và tận tình giúp đỡ tôi. Người lính «công binh» khóc khi tiễn tôi và một người bạn ra khỏi nhà tù; và sau đó tuy đã được phóng thích chúng tôi vẫn phải nằm một tháng trong một công thự trên thị trấn, gần như ngày nào hắn cũng đến với mục đích duy nhất là được nhìn chúng tôi thêm lần nữa. Tuy nhiên, có trời hiểu tại sao có vài kẻ lòng dạ sắt đá nhất định không chịu hé răng nói với tôi một lời. Hình như có một hàng rào ngăn cách chúng tôi !
Trong khoảng thời gian cuối cùng này, tôi được hưởng nhiều đặc ân nhất so với những năm trước. Trong số những sĩ quan hiện đang phục vụ trên thị trấn, tôi nhận ra nhiều người quen biết và cả bạn học cũ. Tôi giao thiệp lại với họ. Nhờ những người ấy, tôi nhận được nhiều tiền hơn, có thể viết thư về cho gia đình và có sách đọc. Đã từ lâu lắm tôi không được đọc một cuốn sách nào, và khó có thể tưởng tượng được những ấn tượng và những cảm xúc lạ lùng mà cuốn sách đầu tiên-
một tờ tạp chí ; mang lại cho tôi. Tôi còn nhớ bắt đầu đọc từ buổi tối hôm đó, sau khi trại giam đã khóa cửa» và tiếp tục suốt đếm cho đến tảng sáng hôm sau. Hình như đó là bức thông điệp từ một thế giới khác gửi đến cho tôi; quãng đời quá khứ
hiện ra trước mắt tôi với tất cả sắc mầu, và qua những điều đã đọc, tôi cố gắng đoán xem tôi lạc hậu đến đâu, và ở ngoài kia, người ta đã sống nhiều thế nào cuộc đời trong đó không có tôi. Người ta xúc động vì những điều gì? những vấn đề nào dã được đặt ra? Tôi nghiền ngẫm từng chữ, phân tích từng dòng, và tôi có khám phá những huyền bi, những ẩn dụ của quá khứ ; tôi tìm dấu vết của những người xưa, những người thời tôi đã từng làm rung động bao tâm hồn. Và tôi buồn bã xiết bao khi phải thú nhận rằng tôi đãxa lạ với cuộc sống hiện tại biết chừng nào ! Tôi, một phần tử bị cô lập, một kẻ bỏ đi của xã hội ! Tôi phải làm quen lại với mọi sự, phải tìmhiểu thế hệ mới Tôi đọc ngấu nghiến một bài báo ký tên một người quen, một người đã từng thân thiết với tôi... Nhưng cũng có nhiều tên tuổi mới chói sáng, nhiều mặt mới bước lên văn đàn ; tôi rất muốn quen biết họ, nhưng tôi thất vọng ngay vì có ít sách và lại khó kiếm sách đọc. Ngày trước, thời tên thiếu tá cũ, mang sách vào nhà tù là cả một cuộc mạo hiểm. Trong trường hợp bị lục soát người ta sẽ không ngớt gay gắt bạn bằng những câu hỏi như thế này : « Mày lấy sách này ở đâu ra? Tòng phạm với mày là những thằng nào? »... Làm sao tôi có thể trả lời được tất cả những câu hỏi đó? Bởi thế tôi sống không sách vở, miễn cưỡng quay vàolòng mình, và day dứt không ngừng vì những vấn đề tự mình đặt ra không phương giải đáp ! Nhưng tất cả những điều ấy không bút mực nào diễn tả được !...
Vì tôi đến nhà tù vào mùa dông, nên tôi cũng sẽ được phóng thích vào mùa đông, đúng ngày tôi bị cằm tù ! Với bao bứt rứt tôi chờ đợi mùa đông tới, với bao hân hoan tôi thấy lá nhuộm vàng trên những cây và có bắt đầu khô cháy ngoài đồng hoang ! Nhưng đây rồi mùa hè đã hết, gió thu rên rỉ và những bông tuyết đầu tiên quay cuồng, tơi tả... Mùa đông sau bao nhiêu chờ đợi, đã đến !... Viễn tượng bát ngát của tự do khiến rạo rực, nôn nao. Nhưng, điều lạ lùng là, thời gian
càng trôi qua, càng gần đến ngày, tôi càng trở nên bình thản. Trong những ngày cuối cùng, tôi kinh ngạc tôi, tôi tự trách tôi lãnh đạm, tôi tưởng mình là gỗ đá vô tri. Rất nhiều tù nhân khi gặp tôi ngoài sân trong giờ nghỉ, lại nói chuyện và mừng cho tôi :
-
Anh sắp được tự do rồi, Alexandre Pfctrovitch ! chẳng bao lâu nữa anh sẽ di, bỏ chúng tôi ở lại. Chúng tôi, những kẻ khốn nạn!
-
Anh cũng vậy, Martynov, sắp đến lượt anh rồi còn gì ! tôi đáp.
-
Tôi hả ? Ồ không, tôi còn phải kéo cầy bảy năm nữa !
Và hắn thở dài, đứng đừng lại, mơ màng nhìn về xa vắng như nhìn về phía tươnglai...
Vâng, nhiều người thành thật, vui vẻ mừng cho tôi. Tôi có cảm tưởng rằng tất cả đều trở nên thân ái đối với tôi, chắc hẳn mọi người cũng đã cảm thấy tôi không còn thuộc về họ nữa và họ sẵn sàng từ biệt tôi. K... ezinski, một thanh niên quí phái Ba Lan, hiền lành và trầm lắng, cũng thích đi dạo trong sân vào những giờ nghỉ ngơi như tôi. Ông ta cho rằng không khí trong lành và cử động có lợi cho sức khỏe, bù cho những đêm ngột ngạt trong phòng giam. Ông ta vừa mỉm cười vừa nói với tôi trong một cuộc đi dạo :
Tôi xin nói qua rằng, vì sự thiếu thốn trường kỳ, vì khuynh hướng mơ mộng, tự do đối với chúng tôi, nhìn từ nhà tù, tự do hơn tự do thực, tự do hơn cả tựdo có trong thực tế. Tù nhân có một ý niệm quá đang về tự do, và đó là điều rất đặc biệt, rất tự nhiên nơi bất cứ một tù nhân nào. Một tên hầu rách rưới của sĩ quan đối với chúng tôi cũng như thể một ông hoàng, như
một mẫu người lý tưởng, chỉ vì hắn muốn đi đâu tùy ý, không xiềng, không xích, không có lính canh chừng, không có mái đầu cạo nhẵn. (1)
Buổi chiều trước ngày cuối cùng, tôi đi dạo lần chót dọc theo hàng dài quanh trại trong bóng hoàng hôn. Đã biết bao nhiêu ngàn lần tôi đi dọc theo hàng cọc này ? Kia, sau trại, nơi mà trong suốt năm đầu tiên ở nhà tù, tôi thường đi ngơ ngẩn một mình, trong hất hủi, cô dơn và tuyệt vọng. Tôi còn nhớ tôi thường đếm xem còn có bao nhiêu ngàn ngày trước mặt. Chúa ơi ! đã quá xa rồi thời kỳ đó ! Đây, trong xó này, nơi con chim ưng của chúng tôi sống trong cảnh cầm tù ; đây, nơi Petrov thường đến gặp tôi. Cho đến bây giờ hắn không rời tôi nữa; hắn chạy lại, và hình như đoán được ýnghĩ của tôi, hắn lằng lặng đi bên cạnh, lòng thầm ngạc nhiên. Lặng lẽ, tôi từ biệt những cây đà vuông đen đủi của hàng rào trại giam. Sao trong những ngày đầu tiên ấy, trông chúng khó thương thế nhỉ ? Những cây đà ấy chắchẳn bây giờ cũng đã rí đi hơn trước, song tôi khống thể nhận ra sự thay đổi nọ. Và biết bao trai tráng bị chôn vùi sâu những bức tường này, bao nhiêu sức lực siêu quần bị tiêuhao nơi đây ! Vâng, phải nói với tất cả sự thực rằng : tất cả những tù nhân là kẻ phi thường. Có lẽ họ là những kẻ dũng mãnh nhất, tài ba nhất của dân tôc ta. Nhưng những năug lực siêu quần của họ đã bị tiêu hủy một cách vô ích, vô lý, vô vọng. Ai là kẻ chịu trách nhiệm ?.
Vâng, ai là kẻ chịu trách nhiệm ?
Sáng mờ đất hôm sau, trước khi tù nhân đi làm tạp dịch, tôi đi lần lượt các phòng để từ giã tất cả mọi người. Nhiều ban tay thô cứng, chai đá thân thiện chìa ra cho tôi. Nhưng
1Tù nhân Nga thời đó bị hớt từng mãng đầu chứ không bị cạo trọc. Dostoievsky bị cạo nửa đầu phía trước, nửa ria mép vàtất cả râu cằm
những kẻ xiết tay tôi như bạn không được bao nhiêu. Những người khác hiểu rằng chẳng mấy chốc tôi sẽ trở thành một người khác. Họ biết rằng tôi có nhiều chỗ quen biết trên thị trấn và từ nhà tù, tôi sẽ đi thẳng đến nơi các « quan lớn » và ngồi chung với các ông lớn như một kẻ ngang hàng. Họ đều hiểu thế, và mặc dầu họ xiết tay tôi một cách thân ái, họ không tiễn biệt tôi như tiễn biệt một người bạn, nhưng như một « ông ». Một vài kẻ quay đi và khăng khăng không nhận lời chào của tôi. Một vài kẻ còn nhìn tôi với cặp mắt ngút oán hờn.
Trống dục, tất cả đều đi làm và tôi ở nhà một mình. Souchilov, sáng nay dậy sớm nhất, đang lo pha trà cho tôi trước khi di. Tội nghiệp Souchilov ! hắn khóc ròng khi tôi cho hắn những bộ quần áo tù, vài chiếc chemise, sợi đai da và chút ít tiền.
-
Không phải vì những thứ này, không phải vi những thứ này !... hắn nghẹn ngào qua nước mắt, cố mím chặt đôi môi run... Tôi, ông hiểu, tôi mất ông, Alexandre Petrovitch ; không có ông tôi biết làm gì ở đây ?
Tôi từ biệt Akim Akimytch.
-
Chẳng bao lâu sẽ đến lượt anh, tôi nói.
-
Tôi còn phải ở lại đây lâu, lâu lắm ! ông ta vừa thì thầm vừa xiết chặt tay tôi.
Tôi choàng tay qua cổ Akim Akimytch và chúng tôi hôn nhau.
Mười phút sau khi các tù nhân ra khỏi trại, tôi và người bạn cùng đến nhà tù một lượt với tôi rời khỏi lao xá để không bao giờ trở lại. Chúng tôi đến thẳng lò rèn để chặt xiềng, nhưng không có lính canh chừng nữa, chỉ có một viên hạ sĩ đi theo. Những tù nhân chặt giây xích của chúng tôi trong xưởng công binh. Chờ cho người ta chặt xích cho người bạn xong, tôi lại
gần cái đe. Những tù nhân bảo tôi xây lưng lại, nắm lấy chân tôi, đặt lên đe... Họ ra công làm cho thật khéo léo. Người chánh lò rèn ra lệnh :
-
Cái đinh tán, trước hết hãy xoay cối đinh tán! Giữ nó như vậy nhé, được rồi! ... Nào, bây giờ cho xin một nhát búa coi !
Xiềng xích rơi xuống đất. Tôi lượm lên... Tôi muốn cầm nó trong tay, nhìn một lần cuối. Tôi rất đỗi ngạc nhiên vì không cảm thấy nó nơi chân nữa.
-
Thôi... đội ơn Thượng-đế ! đội ơn Thượng-đế ! những tù nhân nói bằng một giọng cộc cằn, giật giọng, nhưng trong giọng nói của họ, tôi thoảng thấy một dấu vui mừng.
Vâng, đội ơn Thượng Đế ! Tự do ! một cuộc sống mới đang chờ đợi, một cuộc hồi sinh giữa những kẻ đã chết!... Ôi, giây phút tuyệt vời !,..
DOSTOIEVSKY
(Dịch giả : NGUYỄN HỮU HIỆU)