Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 2 (Năm 1969)

Tư Tưởng Số 2 (Năm 1969)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: -. Số trang: 104.

Chương 2: Hòa Bình Đầu Tiên Trong Thê Giới Cuối Cùng (Trang 15 - 40)

HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN TRONG THẾ GIỚI CUỐI CÙNG
 
Chiến tranh chỉ là sự phát biểu bên
ngoài của trạng thái nội tại trong tâm
hồn chúng ta, sự phóng đại của đời
sống thường nhật chúng ta.

KRISHNAMURTI


1 — ẢO TƯỞNG CỦA CĂN BẢN PHÁP LÝ VỀ VẤN ĐỀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI

Lịch sử thế giới ghi chép được chỉ trong vòng 5.500 năm mà nhân loại đã chứng kiến được 15.000 cuộc chiến, trung bình hàng năm có gần ba chiến tranh bùng nổ và một số tương đương hòa ước được ký kết. Hòa ước hay khế ước hòa bình tự cổ chí kim không những không giải quyết được gì cụ thể mà lại thường được xem như nguyên nhân của những chiến tranh về sau. Hòa ước không mấy khi hòa, thế nào cũng có bên thắng bên bại cho nên đương nhiên tạo những trở ngại tâm lý gây hận thù về sau. Vì vậy cho nên chúng ta có quyền không lưu ý đến sự diễn tiến của hội nghị Paris 1968 cũng như đã

từng không đặt tin tưởng vào hội nghị Genève 1954. Đó là những tổ chức dựa trên căn bản pháp lý quốc tế mà chúng ta biết trước là sẽ kẹt trong vòng ảo tưởng. Một ảo tưởng dựa trên nguyên lý đồng nhất hóa mọi sự vì tin rằng chiến tranh giữa hai quốc gia không khác gì sự gây gổ giữa hai cá nhân. Họ quên rằng những nhân vật trong chiến tranh giết nhau trong vòng vô ý thức hoàn toàn khác hẳn hai người thù trong một trận đấu gươm đã biết nhau quá nhiều. Sự đồng nhất hóa ấy đi đến chuyện liên hiệp quốc bày đặt ra những tòa án quốc tế, những luật lệ chiến tranh, những hiến chương hòa bình, những hội đồng tài binh, những hội đồng tối cao xét chương trình nguyên tử vân vân. Tất cả với đầy đủ thiện chí hình thức, oai nghi hơn tất cả mọi ngành tư pháp quốc gia xét phạm nhân. Tất cả đều tốt đẹp nhưng họ quên rằng riêng cá nhân con người cũng đã là một nghi vấn vô cùng rắc rối là làm bể đầu những luật gia lo về tội trạng học, huống hồ đấy là trường hợp của một tập đoàn phức tạp như quốc gia đầy mâu thuẫn vì là tổ hợp của những rắc rối cá nhân. Cho rằng những phản ứng cá nhân là tương đương với phản ứng của một quốc gia là cả một sự liều lĩnh giết người. Quan niệm ấu trĩ ấy đã gây mâu thuẫn giữa pháp lý quốc tế và tâm lý cá nhân mà dân Việt chúng ta được nhiều lần thí nghiệm một cách đau thương. Liên hiệp quốc đã hai lần làm chúng ta mất cảm tình, trước hết với sự chia đôi Việt Nam bằng vĩ tuyến thứ 16 giao cho tướng Tầu Lư Hán miền Bắc và tướng Anh Cédille miền Nam, lần thứ hai là cho phép tướng Leclerc của chỉnh phủ De Gaulle-Thorez đem đệ nhị sư đoàn vào cai trị Việt Nam. Những sự kiện lạ lùng này mâu thuẫn với hiến chương Đại tây dương cho phép dân tộc tự quyết. Liên hiệp quốc đã cư xử tàn nhẫn đối với một dân tộc nhỏ bé không gây chiến tranh mà lại chịu đựng chiến tranh trong kỳ đệ nhị thế chiến. Chính việc đàn áp tâm lý này mà dân Việt từ đó có mặc cảm ao ước vũ khí và sức mạnh, và
mặc cảm ấy tồn tại cho đến bây giờ gây biết bao nhiêu xương máu.
Nếu căn bản của Hòa bình theo pháp lý quốc tếlà những ký kết dựa trên sức mạnh thì không còn cách gì mà ngăn chặn được mầm chiến tranh. Sự thi đua trang bị bằng những vũ khí nguyên tử để có một sức mạnh tối hậu của các cường quốc là kết quả của pháp lý sức mạnh bảo đảm hòa bình này. Trong cuốn bách thư 1957 Anh quốc có ghi chép ở đoạn 12 và 13 đại khái như sau :
  • « Phương pháp duy nhất để tránh chiến tranh là làm nản chí kẻ xâm lăng bằng cách hăm dọa họ sẽ bị trừng phạt bằng vũ khí nguyên tử»
Tư tưởng « sẽ trị đối phương bằng sức mạnh » đã có từ ngàn xưa với La mã trong câu tục ngữ : « Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh» (Si velle pacem, para bellum), Thật là cả một khôi hài ra ra nước mắt, văn minh tiến bộ khoa học kỹ thuật tiến vượt bực với con người lên cung trăng trong khi biện pháp hòa bình không tiến được nửa bước.
Hòa bình pháp lý đã phái quân đội Liên hiệp quốc dùng vũ lực can thiệp thật sự vào chiến tranh để ngăn chận chiến tranh như ỏ Suez, Congo, và Đại Hàn. Đó là một quái thai do lỗi của cha mẹ bệnh hoạn, thử hỏi nước Nga Mỹ chiến tranh thật sự, Liên hiệp quốc phái quân đội nào để ngăn chận ? Ngăn chặn chiến tranh bằng chiến tranh là theo phương pháp ấn định từ thế kỷ thứ hai trước dương lịch với Polybe, một chính trị gia Hy lạp. Căn bản của chiến tranh hợp pháp của Liên hiệp quốc ngày nay áp dụng là do ông đặt ra với danh từ justum bellumđể ủng hộ lập trường xâm lăng của La mã sau khi chiếm đỏng Hy lạp Và diệt trừ Carthage. Theo ông,nếu lý do đúng thì chiến tranh là hợp pháp. Hình luật tư pháp cấm gắt gao việc cá nhân giết người vì lý do đúng ngoại trừ lý do tự vệ
khi tinh mạng bị hâm dọa. Polyhe không định nghĩa rõ ràng thế nào làlý đo đúng, căn cứ trên căn bản nào để có lý do đúng ông cũng không nói đến. Dầu sao chính nhờ hai danh từ hợp pháp ấy cho nên chiến tranh bành trướng khốc liệt. Lịch sử sau ông là những cố gắng để kiếm cái lý do cho sự hợp pháp, với sự cộng tác vô cùng đắc lực của hầu hết những tưtưởng gia lớn nhất nhân loại ở Tây phương.
Platon và Aristote cho rằng sự hiện diện của thành quốc (Cité) bay chiến lũy công cọng là lý do tất yếu cần được bảo vệ và phát triển bằng xương máu nếu cần.
Saint Augustin tạo ra một thuyết mới dựa vào Cựu ước (Vĩnh cửu sẽ phán xử bằnq lửa, trị tội gươm mọi thân xác... và Vĩnh cửu sẽ giết rất nhiều... và sau chót người ta sẽ thấy xác chết của những ai dám nổi dậy chống ta... ESAIE, 66) chống lại tinh thần của Tân ước (Bài giảng trên núi) mà Origene, Tertullien và Saint Ambroise là những đại diện hiền hòa chủ trương chống bạo lực. Chủ trương của Saint Augustin là : “Nếu Thượng đế bảo phải giết bằng một mệnh lệnh đặc biệt thì tội sát nhân trở thành một công đức”. Chủ trương này biện minh cho sự hợp tác beo sơn giữa Giáo hội và Chính quyền theo con đường thực tiễn mà Saint Paul đã vạch sẵn từ lâu. Từ đấy mọi danh từ về vua chúa đều được thêm chữ Thánh đằng trước, Thánh đế quốc, Thánh vương, Thánh đồng minh, Thánh chiến (Saint Empire, Saint Roi, Saint Alliance, Guerre sainte), đôi khi Vua cũng được phong thánh (Saint Louis).
Thành thật nhất có lẽ là saint Thomas, ông này tin tưởng vào điều ấy một cách triệt để và ấn định ra ba điều kiện căn bản để hợp pháp hóa chiếntranh. Chiến tranh lợi pháp phải căn cứ trên :
  1.  Uy tin của vương chúa.
  2. Lý do chánh đáng.
3. Cốt ý ngay thẳng
Giáo hoàng Pie XII vừa bị chỉ trích oan trong vở kịch « Người đại diện » vì đã im lặng về vấn đề Do thái trong trận chiến vừa rồi. Ngài không thể làm trái với căn bản pháp lý mới về chiến tranh của Giáo hội cho rằng chiến tranh có thể chánh đáng ở cả hai bên « khi mà mỗi phe dự chiến đều tin chắc rằng mình có pháp lý và sau khi lãnh ý kiến giáo hội, tự cho mình có pháp lý »Bulletin de liltérature ecclésiaslique, Toulouse 1940, Bruneau de Solages) Truyền thống pháp lý chiến tranh bao giờ cũng chủ trương rằng một cuộc chiến chỉ có mỗi một bên là hợp pháp bây giờ Giáo hội đã làm một cuộc cách mạng tư tưởng đó thôi. Dầu sao quan niệm của Bossuet « Thượng đế hướng dẫn các quốc gia với sự đại diện của các bậc vương,chúa » đã chấm dứt từ lâu khi những thánh vương gây chiến với nhau và Thuợng đế không thể bênh một bên được.
Tư tưởng Á đông theo căn Duyên không bao giờ có chuyện trọng võ khinh văn. Tư tưởng Phật giáo chống chiến tranh với sự cấm sát sanh và tư tưởng Trung hoa bao giờ cũng khinh khi võ biền. Những hiền triết bậc nhất Á đông không thốt một ngôn ngữ nào để có thể bị lợi dụng làm căn bản cho chiến tranh. Giai cấp võ tướng ở Ấn độ phải nhường bước trước giai cấp đạo sĩ (Brahman). Nói như vậy phải nói dân Á đông ngày xưa hiền hòa và tôn giáo Á đông khuyến khích Hòa bình. Trái lại chiến tranh cũng khốc liệt không kém, tôn giáo cũng đầy nhũng chuyện chiến tranh (Kinh Vệ đà), người ở đâu cũng y nhau chỗ tàn bạo, Á đông trên phương diện này có thể tự hào không thua kém Tây phương ở đây chúng tôi –muốn nhấn mạnh rằng Á đông không có một tư tưởng gia thượng thặng nào lại đi tạo lý do để hợp pháp hóa chiến tranh, và tư tưởng họ cũng không
 
xuyên tạc được. Việc này rất thường xảy ra ở Tây phương và Kant là triết gia đầu tiên đặt lại căn bản pháp lý mà Liên hiệp quốc là sản phẩm của tư tưởng ông. Ông đặt những điều kiện pháp lý thực tiễn cho một nền hòa bình mệnh danh là Vĩnh cửu (Projet de Paix éternelle). Lịch sử đã chứng tỏ sự bất lực của NHỮNG Liên hiệp quốc. Riêng, Kant cũng đã tiên đoán những mâu thuẫn trong danh từ vĩnh cửu, đó là một vĩnh cửu không tuyệt đối.
Căn bản của chiến tranh hợp pháp tuyệt đối phải đợi tay đại triết gia Hgel mởi thành tựu. ông chủ trương chỉ cóbạo tàn mới đem lại văn minh tiến bộ. Ông suy tôn Napoléon như « Linh hồn Vũ trụ trên yên» khi tin tưởng rằng tinh thần tự do dân chủ Pháp sẽ cùng Napoléon quét sạch mọi phong kiến Âu châu thối nát. Liên hiệp quốc đã đến vởi Kant, tinh thần dân chủ và tự do bằng vũ lực đã đến với Hégel nhưng phải đợi Marx mới có tinh thần bình đẳng để kiện toàn bản tuyên ngôn nhân quyền cho Liên hiệp quốc. Bản tuyên ngôn nhân quyền là căn bản pháp lý tối hậu của mọi tổ chức quốc tế trên phương diện lý thuyết suông.Chính bản tuyên ngôn này đã được thuyết giai cấp đấu tranh của Marx lợi dụng để biến nó thành sự đấu tranh giữa giàu và nghèo, giữa tư sản và vô sản. Pháp lý xưa thường không sát với tâm lý quần chúng, với Marx pháp lý đã đi đôi được với tâm lý : Hố sâu giữa giàu -nghèo khó lòng mà lấp cạn được.
Khó lòng vì giới hạn giữa giàu và nghèo không rõ rệt, một giới hạn tâm lý chứ không phải pháp lý. Hơn nữa có biết bao thứ nghèo và giàu, đồng nhất hóa tất cả với mỗi một hạng giàu nghèo vì bóc lột lẫn nhau, một quan niệm căn cứ trên trình trạng tệ đoan giữa các chủ nhân xí nghiệp lúc đầu thế kỷ thứ 19 tại Đức quốc. Tư tưởng Marx có hai điềm mâu thuẫn với nhau : một đằng chủ chiến với thuyết giai cấp đấu tranh;
 
 
một đằng chủ hòa gián tiếp với sự chỉ trích nhữngchiến tranh thời phong kiến. Đối với ông, nguyên nhân của mọi chiến tranh là một vấn đề kinh tế, giải quyết được nó tất có hòa bình. Đây là một sự phóng đại hóa những khủng hoảng kinh tế trong những thế kỷ gần đây mà thôi, thời trước làm gì có chuyện khủng hoảng kinh tế. Theo ông Gaston Bouthoul trong La 'Guerre thì chiến tranh xảy ra vì sự say mê quyền hành hơn là sư say mê của cải (trang 41) và « người ta không thể bênh vực nghiêm chỉnh rằng khủng hoảng kinh tế bao giờ cũng đem lại chiến tranh. Những khủng hoảng, trầm trọng nhất vì xảy ra khi thế giới đang bàng hoàng chưa biết tính chất chúng và phương thức cứu chữa, nghĩa là vàođầu thế kỷ thứ 19, không tạo ra chiến tranh. Trái lại giai đoạn này lại là một giai đoạn hòa bình nhất trong lịch sử Âu châu » (trang 46.)
Sở dĩ tâm lý quần chúng chấp nhận cái thuyết kinh tế của Marx là vì trong thâm tâm có mặc cảm giàu nghèo, nghe nói đến kinh tế là liên tưởng đến danh từ giàu bóc lột nghèo. Chủ nghĩa giai cấp đấu tranh đi kèm với sự lầm lẫn kinh tế học thành « tâm lý học » tạo ra một không khí chiến tranh khốc liệt đầy hận thù. Vì căn bảnpháp lý là tâm lý cho nên hận thù chỉ có một chiều: nghèo hận thù giàu chứ không có chuyện ngược lại. Do đó sốt sắng với chiến tranh tâm lý chỉ có thế giới vô sản mà thôi.
Chủ nghĩa đấu tranh của Marx lại được vô số tư tưởng gia bực hai ủng hộ triệt để. Trước hết Georges Sorel đề cao đấu tranh của Đám đông, ủng hộ nội chiến như sau : « Một sự tổng đình công có thể trở nên một chiến trận Napoléon » 'Gracchus Baboeuf thì cho rằng ; « Chỉ có một chiến tranh vĩnh cửu, đólà chiến tranh của người nghèo chống người giàu »
     Còn chủ trương dùng vũ lực để giải quyết, thì Liên hiệpquốc lại được R.S.Steinmetz thay thế Hégel mà ủng hộ lập
trường : « Chiến tranh là sự thử thách của các quốc gia. Thươnghại cho kẻ yếu là tùy ý nhưng phải nhường chỗ cho kẻ mạnh ». Lập trường này có thểtrái với lập trường ủng hộ kẻ yếu của chủ trương dân tộc tựquyết. Trên thực tế theo căn bản pháp lý Liên hiệp quốc thì dân tộc tự quyết phải là dân tộc mạnh, đúng với tinh thần Steinmetz. Chúng ta đã lầm cho hồi 1945 và mất tin tưởng vào Liên hiệp quốc từ đấy mặc dầu bản tuyên ngôn nhân quyền có tuyên bố long trọng rằng : “Mọi người đều tự do và bình đẳng và phải được bảo vệ triệt để».
Chính câu tuyên ngôn trên đã đặt nền tảng cho chiến tranh tâm lý. Chính Liên hiệp quốc đã tạo chiến tranh một cách bất ngờ. Tuyên ngôn nhân quyền là một sự hợp lý giết người vì đầy mâu thuẫn nội tại : Tự do và bình đẳng chỉ có thể có trên phương diện tâm linh và chỉ đi tới tuyệt đối với nội tâm mình mà thôi. Phóng tự do và bình đẳng ra ngoài xã hội là hạn chế nó và sinh mầm chia rẽ giữa tự do nhiều và tự do ít, giữa bình đẳng nhiều và bình đẳng ít. Nguy hại nhất là tư do với bình đẳng không thể cùng sống chung được. Ở thế giới tự do, sự phát triển cá nhân trên mọi phương diện tạo ra giai cấp và làm mất bình đẳng, trái lại ở thế giới bình đẳng sự hạn chế phát triển cá nhân trên mọi phương diện làm mất tự do. Ở thế giới tự do, việc ký khế ước một cách bình đẳng cũng làm mất tự do vì lo sợ sẽ không làm đúng khế ước hay bị mất khế ước. Ở thế giới bình đẳng, không đựợc tự do ký khế ước thành thử vấn đề tự do hầu như không bao giờ được đặt ra. Bản tuyên ngônnhân quyền tạo căn bản pháp lý cho cả đôi bên đểthi đua chế ra vũ khi giết người.
Josue de Castro đại sứ Ba tây ở Liên hiệp quốc đồng thời chủ tịch hội chống nạn đói thế giới và chủ tịch hội nghị về giảm trừ tài binh của hội Nghị sĩ thế giới (world Parliament Association) đã tuyên bố như sau về tinh thần của Liên hiệp quốc :
Liên hiệp quốc không phải thậi sự là một tổ chức quốc tế.Đó có thể là liên hiệp quốc vả bằng hai chữ (inter và national). Mục đích nguyên khởi của nó không phải để hòa hợp địa cầu nhưng để làm cơ sở cho các cường quốc được phép song thoại với nhau. Mỗi phái đoàn bênh vực lập trường mình trong tinh thần Promethée và thường đi đến một cuộc song thoại giữa người điếc.. . . Liên hiệp quốc quả thật là duy quốc gia...
Nếu căn bản pháp lý mà dựa trên căn bản giai cấp đấu tranh nghĩa là tự do và bình đẳng ngoại hướng đồng thời được liên hiệp quốc duy quốc gia bảo vệ bằng vũ lực thì chiến tranh sẽ không bao giờchấm dứt.
2 - VÒNG LẨN QUẦN CỦA NHỮNG CĂN BẢN LÝ THUYẾT MỚI VỀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI
Một số chính trị gia và triết gia đại học nhận thấy nhược điểm của căn bản pháp lý quốc tế về hòa bình nên cố gắng tạo ra những lý thuyết mới để thay thế. Những phong trào hòa bình, những hội nghị hòa bình, những kiến nghị hòa bình, những tòa án kết tội chiến tranh thi nhau mọc ra như nấm. Thiện chí có, gian lận có, vàng thau lẫn lộn nhưng chung qui không đem lại kết quả tốt đẹp gì mà trái lại đôi khi lại tưới dầu thêm lửa vì lý thuyết hòa bình càng hay ho bao nhiêu thì chiến tranh càng khốc liệt bấy nhiêu. Chiến tranh càng khốc liệt vì căn bản pháp lý được lý thuyết mới sơn son thếp vàng đểđễ dàng lôi cuốn thiên hạ hy sinh vì chính nghĩa. Uy tin của các lý thuyết càng cao bao nhiêu thì sự tại hại càng lớn bấy nhiêu. Tất cả mọi lý tưởng cao đẹp đều hướng vào tương lai nên tất cả đều đập đúng vào tâm lý quần chúng ước mơ một ngày mai tươi sáng. Tất cả mọi lý thuyết cao siêu đều quên cả thể hiện tại, đôi khi, nếu có nhắc đến thì chỉ nhắc để bảo
phải hy sinh hiện tại mà thôi. Biết bao nhiêu thế hệ đã hy sinh hiện tại mà con cháu lại càng chết nhiều hơn. Kết quả là chưa có con cháu nào nhờ vào thế hệ trước hy sinh để mà an hưởng thái bình. Lỗi không phải ở lý thuyết nhưng ở chỗ căn cơ chúng ta thấy kém nên bị thủ đoạn chính trị lợi dụng và mê hoặc bằng những lý thuyết hướng về tươi lai này. Thầy sốnói láo ăn tiền là trường hợp ngây thơ nhất, nhưng nào ai có vì đấy mà ngây thơ phản đối kinh Dịch. Mọi tư tưởng đều có giá trị của nó xem như phương tiện chứ không phải như cứu cảnh. Phần nhiều các lý thuyết gia hay trình bày tư tưởng mình xem như cứu cánh tối hậu cho nền sinh ra tai hại. Do đó chúng tôi cho rằng thành thật nhất không phải là những lý thuyết gia hòa bình nhưng mà chính là những lý thuyết gia chiến trranh như Tôn tử, Machiavel, và Clausewitz. Họ thành thật vì họ xem chiến tranh như phương tiện đồng thời họ trình bày không che đậy tất cả mọi mánh khóe lường gạt đê tiện, những thủ đoạn ghê tởm của chiến tranh. Machiavel chủ trương chiến tranh phòng bị một cách trắng trợn như sau : Ta phải bảo vệ tổ quốc hoặc bằng phương pháp đê hèn hoặc bằng phương pháp anh dũng, tất cả mọi phương tiện đều tốt, miễn sao tổ quốc được bảo vệ. Nếu Khổng Minh trình bày Vương đạo thì Machievel trình bày bá đạo. Theo chúng tôi, Machiavel có công trong việc phụng sự hòa bình hơn Khổng minh nhiều vì giết người khó mà thành vương đạo lắm, thà thú thật là bá đạo cho nó bớt tai hại. Vương đạo là siêu bá đạo, bá đạo bậc hai. Vì muốn tiểu đội đao phủ thành người máy cho nên người ta giết chết lương tâm họ bằng cách để một viên đạn mã tử trong số 12 viên phát cho tiểu đội. Bắn người không thắc mắc mà cho là đó duy trì đạo đức thì thực quả là siêu bá đạo. Chiến tranh chính trị lần đầu tiên được Clausewitz đề cập đến với tác phẩm De la guerre. Ông tuyên bố rằng : Chien tranh là chính trị được tiếp tục bằng phương pháp khác
Tương quan giữa chính trị và chiến tranh đã được Tôn tử đặt ra từ lâu, nhưng Clausewitz lần đầu chủ trương chiến tranh toàn diện và chiến thắng bằng sự tiêu diệt đối phương hoàn toàn. Tất cả mọi công dân phải đóng góp vào chiến tranh vì chiến tranh là chính trị cuối cùng hay, sự bế tắc của chính trị. Clausewilz vẫn còn theo truyền thống cũ chủ trương sự định đoạt hậu bằng vũ lực cho nên khi lôi toàn dân vào trận chiến y tỏ ra tàn bạo đến cực điểm, bá đạo đến tột độ. Tư tưởng của Clausewitz rất khó mà theo vì sẽ bị kết án như Đức quốc xã trước đạo đức quần chúng.
Làm sao lôi cuốn toàn dân vào chiến tranh theo kiểu Clausewitz mà khỏi bị lương tâm cắn rứt phải chờ đến Lénine mới kiếm ra phương pháp tuyệt diệu. Lénine tìm ra nhờ phương pháp biện chứng đảo ngược tư tưởng Clausewitz mà ông tôn thờ : Thay vì câu : Chiến tranh là chính trị được tiếp tục bằng phương pháp khác ông đổi ra thành câu : « Chính trị là chiến tranh được tiếp tục bằng phương tiện khác.» Câu này là một cạm bẫy lớn nhất nhân loại từ cổ chí kim đã lừa gạt được những bộ óc vĩ đại như Bertrand Russell và J.p. Sartre. Câu này có thể hiểu như chủ trương hòa bình vì ai cũng đinh ninh rằng đấu tranh bằng phương pháp chính trị mà thay thế cho chiến tranh bằng phương pháp vũ lực là biểu dương tinh thần phản chiến. Nhờ vậy mà Nga sô có thể tự cho mình là lãnh tụ hòa bình thế giới mặc dầu phương pháp chính trị là hiếu chiến số một. Hiếu chiến vì chiến tranh đang từ lãnh vực pháp lý khô khan nay nhảy sang lãnh vực tâm lý sôi nổi. Lần dầu tiên chiến tranh tâm lý bá đạo lại được tượng trưng cho sự hòa bình chính thống với sự ủng hộ của mấy ông triết gia đại học tại Stockholm, Paris và Genève. Chiến tranh tâm lý là một thứ chiến tranh nhồi sọ bằng phương pháp tuyên truyền và khủng bố, tuyên truyền để kiếm phiếu cử tri và khủng bố để diết trừ đối nghịch. Ta cỏ thể nói mục đích của chiến tranh tâm lý là đạo quân thứ năm trong lòng địch bằng tuyên truyền
và khủng bố hay nói một cách nôm na, bằng phương pháp đếm đầu và cắt đầu.
Phương pháp của Machiavel và Clausewifz có tính cách thất nhân tâm và thành thật dámnói sự tàn bạo của chiến tranh, phương pháp Lénine « đắc nhân tâm » vì che dấu sự thật dưới lớp màn ý thức hệ. Chiến tranh ý thức hệ là tàn bạo bậc nhất vì nó tiến triển không có một phút nào ngừng ; hơn nữa, chiến tranh ý thức hệ lại không có giới tuyến, và dài vô hạn định vì chưa bao giờ ýthức hệ trừu tượng mà lại đi đầu hàng ý thức hệ khác một cách cụ thể được. Thế giới tự do vì thành thực chủ trương vũ lực trong vấn đề chiến tranh nên thường bị hiểu lầm là hiếu chiến.
Muốn hiểu thực chất của chủ trương sống chung hòa bình của Nga cần phải nhớ lại lời tuyên bố của Krouchtchev trong bài diễn văn đọc tại Novosibirsk : « Sống chung hòa bình cần phải được hiểu rõ, đó vẫn là sự tiếp tục chiến tranh giữa hai hệ thống xã hội, nhưng mà lại là một chiến tranh bằng những phương tiện hòa bình ».
Nói một cách khác chiến tranh sẽ không bao giờ chấm dứt và không bao giờ có hòa bình thật sự với chủ trương « Sống chung hòa bình » này, một thứ hòa bình mà tướng Chapochnikov định nghĩa như sau : «Hòa bình là liếp tục chiến tranh với đặc điểm là dùng những phương tiện khác».
Phương tiện đó là chiến tranh tâm lý mà theo Maurice Mé- gret là vũ khí khoa học reo khủng bố cho đối phương. Những, lý thuyết gia sẽ là công cụ qúi báu cho chiến tranh tâm lý này nếu họ chỉ hời hợt chạy theo cái bề mặt của danh từ hòa bình nhất là họ có thể góp sức với cái lý tưởng hướng về tương lai của họ. Năm nay, vào khoảng cuối tháng 8, 1969, các viện trưởng và giáo sư đại học quốc tế Đông Tây sẽ nhóm họp tại Vienne để tìm và đặt kế hoạch cho sự Đónggóp của Đại họcvào vấn đề hòa binh. Đây là một vòng lẩn quần lớn nhất nhân
 
nhân loại vì Đại học xưa nay là công cụ, là xưởng đào tạo chuyên viên, lò phát minh kỹ thuật, nơi phát xuất lý tưởng mới, trại huấn luyện tư tưởng cũ, hay nói một cách khác Đại học là nơi phát sinh ra những phương tiện càng ngày càng thiện xảo thường được dùng vào chiến tranh vũ lực hay chiến tranh tâm lý. Những giáo sư mặc dầu có thiện chí phụng sự hòa bình thật nhưng những sáng chế hay tư tưởng họ vẫn bị lợi dụng bằng hai thứ chiến tranh nói trên ; Bertrand Russell tranh đấu cho hòa bình nhưng luận lý toán học do ông truyền bá đã giúp cho chiến tranh tự động và chính trị máy móc không trách nhiệm cá nhân. Chính vì những nhà bác học uyên thâm theo kiểu Rusell cho nên những lời gọi Hòa bình nay đều gặp toàn sa mạc vắng bóng cá thể hưởng ứng. Các ngài nguyền rủa sa mạc nhưng chính lỗi quí ngài đã biến nguồn sống nhân loại thành suối cát lý luận. Hội nghị Vienne sẽ không đi đến đâu (Viện Đại học Vạn hạnh và Saigon được mời và sẽ đi dư) vì không có Đại học nào ý thức sự quan trọng của thế hệ hiện tại, tất cả đều chủ trương hy sinh hiện tại để ngày mai tươi sáng, tất cả đều hướng vào tương lai. Căn bản lý thuyết của các ông sẽ biến thành căn bản pháp lý mới, ý thức hệ mới và giúp thêm sức vào chiến tranh tâm lý thay vì đóng góp cho hòa bình thực sự. Chúng ta thường lầm tưởng rằng Đại học là nơi đào tạo ra cấp lãnh đạo quốc gia vì là nơi tập trung của những phần tử ưu tú nhất trong nước. Thiện chí hòa bình của họ sẽ không bao giờ được thành tựu vì cấp lãnh đạo không bao giờ là thành phần ưu tú nhất trong nước. Câu chuyện « Tam cố thảo lư » mà ta thường nhắc là một mánh khóe chánh trị của Lưu Bị để lợi dụng « đại học » Khổng Minh mà thôi. Nhưng nếu đê cho những bậc ưu tú Đại học ra cầm chính quyền thì kết quả cũng không hơn gì vì quan niệm cho rằng Hòa bình là một món quà một sản phẩm ngoại tại mà Đại học có thể cống hiến cho nhân loại là một sai lầm căn bản : Hòa bình là chuyện không thể có nếulòng người hiếu hòa. Ép người hiếu chiến phải theo
hòa bình lý tưởng là gây chiến tranh. Món quà hòa bình sẽ nổ như nguyên tử lực phụng sự hòa bình của những nhà bác học vậy. Từ tư tưởng ngàn xưa : Chiến tranh để hòa bình đến tư tưởng rùng rợn : Chiến tranh là hòa bình» các ngài sẽ đi trở lui với tư tưởng : Hòa bình để chiến tranh». Nếu Đại học không theo chiều hướng mới làm một cuộc cách mạng tư tưởng theo kiểu Heidegger hay Krishnamurti để phá tan sức mạnhcủa những căn bản truyền thống, thì Đại học sẽ đi vào vết xe cũ để đào sâu nó thêm mà thôi. Đại học quân sự có, đại học chiến tranh có, đại học chính trị có, đại học chiến tranh chính trị có, nhưng không nguy hại vì thành thật với mục đích. Một ngày kia để thay thế cho phong trào hòa bình mà thành lập một đại học hòa bình, thì sẽ tai biến vô cùng cho nhân loại Đại học hòa bình sẽ được ngụy trang để âm thầm chủ chiến, làm bệnh hoạn tư tưởng ; nếu không ngụy trang thì lại bị lợi dụng, đàng nào cũng vậy kết quả như nhau. Hòa bình là một hành động phát xuất từ nội tâm nên không thể đem ra mà học. Hơn nữa, Đại học là cơ cấu cuối cùng mà nhân loại ngày nay đặt hy vọng để thay thế cho tôn giáo bị lợi dụng quá nhiều ta không nên phá hoại nó làm gì tội nghiệp, sở dĩ đại học chưa tai hại đến mức độ nguy hiểm là vì chưa ai chủ trương dạy hòa bình. Phải làm một cuộc cách mạng tư tưởng trọng đại học chống những căn bản truyền thống về hòa bình trước khi đặt vấn đề hòa bình mới được.
3 - SỨC MẠNH CỦA NHỮNG CĂN BẢN TRUYỀN THỐNG VỀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI.
Những căn bản truyền thống là những gì ăn sâu bám rễ vào trí óc chúng ta, làm bệnh hoạn tứ tưởng đến mức độ mà chúng ta không còn biết mình đang ở trong tình trạng nguy cấp. Căn bản truyền thống là sự cố chấp vào thành kiến, phong
 
tục, tập quán, lý lịch, quốc gia, giai cấp, nòi giống, nghề nghiệp của mình. Đó là những nhãn hiệu giúp cho mình phương tiện mà sống chứ không thay thế cho bản thân minh được. Sống với nhãn hiệu lâu ngày quên mất bản thân, quên đời sống tâm linh, quên THẮC MẮC, quên ĐẶT CÂU HỎI. Chỉ có những tâm hồn biết thắc mắc mới cả gan đập tan truyền thống để đặt lại vấn đề tư tưởng thế giới, trở về với sự bắt đầu tiên khởi mà theo Husserl đó là điều kiện cho mọi hiểu biết. Rất tiếc là Hiện tượng luận của ông thường được hiểu lầm theo truyền thống đại học của những bộ óc không biết thắc mắc. Những bộ óc chuyên thắc mắc về văn bằng làm sao mà biết thắc mắc về sự vật tiên khởi ? Họ chỉ biết thắc mắc về nhãn hiệu với tinh thần tranh đua ghen ghét chứ không biết thắc mắc về căn nguyên của nhãn hiệu vói tinh thần thông cảm hòa đồng.
Những nhà xã hội học và chính trị học thìkhông bao giờ thắc mắc với chiến tranh, họ coi chiến tranh như một việc dĩ nhiên phải có và đi đến những kết luận ngớ ngẩn như Auguste Comte: Sự kỹ nghệ hóa đem lại no ấm sẽ hủy diệt chiến tranh, và chiến tranh tân thời sẽ bớt tàn khốc vì dân chúng không thật sự dự chiến. Herbert Spencer cũng thừa nhận giá trị của chiến tranh trong lịch trình tiến hóa nhân loại nhưng cho rằng đến ngày nay thì chiến tranh đang thối hóa vì quả nguỵ hiềm.
Chính vì sự thờ ơcủa những nhà xã hội học chấp nê truyền thống trước vấn đề chiến tranh này cho nên Gaston Bou- thoul chủ trương một môn học mới gọi là Bất hòa học (polé- mologie (1946).
Nhân loại có thể lên cung trăng nhưng tư tưởng không vượt qua khỏi Platon và Aristote. Chúng ta có thể hình dung tinh thần không thắc mắc nảy qua bài hát bất hủ của cô bé Bobbie Gentry nhan đề là : Bài thơ tặng Billie Joe (Ode to Billie Joe). CôBobbie hồi tưỏng lúc bé về thăm nông trại của quê ngoại ở gần sông Tallahatchie, ngang sông có một cái cầu nhỏ, sông
này là một trong nhiều nguồn của Mississipi. Billie Joe đã nhảy từ trên cầu xuống sông tự tử mà không một ai hiểu rõ lý do kể cả cô Bobbie. Bài hát bắt đầu lúc hàng xóm láng giềng được tin Billie tự tử trong giờ cơm và không có mảy may phản ứng. Cái chết của Billie không va chạm quyền lợi của họ cho nên họ chỉ biết phê bình mà thôi : « Billie Joe không bao giờ có chút lý trí, đưa tôi ít bánh bít qui, cám ơn» Bài hát của cô là để mô tả sự kiện thờ ơ của nhân loại trước những vấn đề căn bản tiên khởi triệt để. CôBillie đã làm bài ca lừ lúc 7 tuổi và bài này là bài đầu tiên.Còn những bài ca khác cũng căn bản không kém như « Thời gian và cô liêu» (Time and solitude) đã đưa cô đến danh vọng nhưng cô đã từ khước mọi khế ước với truyền hình, điện ảnh (cô rất đẹp) và hạn chế ngay cả sự thâu thanh để có thời giờ sáng tác.
Chúng tôi tin tưởng rằng sức mạnh của những tư tưởng Nietzsche, Heidegger, Herbert Marcuse không làm sao bằng những bài ca của cô bếBillie Gentry để đập tan truyền thống bệnh hoạn. Chỉ có nghệ thuật mới họa may làm lay chuyển được lòng người. Nghệ thuật đi vào đại học là điều kiện tối cần để đại học có thể làm cách mạng tư tưởng. Kỹ thuật khoa học chỉ là phương tiện còn Nghệ thuật mới là cứu cánh. Một đàng là chế tạo tiện nghi cho đời sống hàng ngày, một đàng là sáng tác tình cảm cho đời sống tâm linh. Hòa bình không thể nào là sản phẩm của óc kỹ sư chế tạo nhưng mà là kết quả của sự truyền cảm giữa các tâm hồn nghệ sĩ. Ở Việt Nam giá trị của Bùi giáng đã được ghi nhận trên phương diện quốc tế. Nhân vật này cùng với Phạm Công Thiện lần đầu tiên sau hai mươi năm chiến tranh đã lay chuyển được một số tâm hồn sắt đá dám phá truyền thống thờ ơ và thành kiến đàn cừu của Việt Nam. Đừng lầm truyền thống với căn nguyên. Truyền thống và lớp sơn thời gian phủ kín căn nguyên, làm mất gốc, cạn nguồn sống. Nhân danh truyền thống biết bao người đã chết. Kỹ thuật phương tiện tiến triển vượt bực nhưng tư tưởng
vẫn còn ấu trĩ là vì truyền thống chận đứng tư duy. Truyền thống không cho phép người ta đặt vấn đề, và nhờ vậy giết chết bao nhiêu thiện chí muốn tư duy. Chí nguyện quân đã chết một cách say sưa cho truyền thống. Hòa bình mà theo truyền thống là hòa bình đẫy máu lửa. Nhưng chiến sĩ hòa bình là những chiến sĩ nguy hiểm gấp bội giặc cướp vì họ sống với thiện chí, quên mình bị lường gạt, quên mình đang giết mình. Ghép hai danh từ chiến sĩ với hòa bình là sản phẫm của biện chứng căn cứ trên truyền thống luận lý Aristote.
Bị lường gạt mà sung sướng say mê với sự kiện bị lường gạt là vô phương cứu chữa cũng như mắc bệnh mà thích nặng bệnh thêm thì làm sao mà lành được? Chúng ta hiện đang sống trong một rừng khẩu hiệu, tuy đầy mâu thuẫn, tuy đầy phi lý, nhưng nghe nhàm tai rốt cuộc cũng chấp nhận hết ráo. Hòa bình truyền thống là hòa bình của tấtcả các đài phái thanh trên thế giới mà chúng ta chấp nhận trong lúc ăn, lúc làm việc và trước khi đi ngủ, chấp nhận không thắc mắc tại sao ai cũng đồng một ý mà vẫn còn chiến tranh hoài.
Chúngta cũng không thắc mắc tại sao học chống đối nhau bằng chiến tranh tâm lý một sống một còn như vậy mà lại tiếp tục buôn bán với nhau công khai hay lén lút : Sau đây là bản thống kê sự buôn bán công khai ghi nhận được giữa hai khối hận thù đăng trong Newsweek ngày 25-12-67
Tây phương xuất cảng sang Đông Âu :
Albania, Bão gia lợi, Tiệp khắc, Đông đức,
Hung gia lợi, Ba lan, Lỗ manie, Nga sô.
Trị giá tính bằng
triệu mỹ kim                 1961   1962   1963    1964  1965  1966
Áo                                  176    187    197       215    246    260
Bì-Lục xâm Bão            93         94      83      85      110    120
Pháp
240
270
230
359
302
387
Hy Lạp
52
50
57
64
75
93
Ý
216
235
265
274
330
357
Hòa Lan
77
77
72
75
104
116
Tây Ban Nha
15
16
26
18
24
57
Thụy Điển
114
153
133
169
155
164
Thủy Điển
66
58
64
65
84
112
Liên hiệp Anh
295
310
345
280
315
410
Huê Kỳ
135
125
165
340
140
198
Tây Đức
373
505
438
552
588
696
 
Dân khối tự do không thắc mắc vì bận làm ăn nên từ lâu nhờ máy, sản phẩm của luận lý toán học (logistics), suy nghĩ và quyết định giùm. Dân khối cộng sản không thắc mắc vì luận lý Aristote và biện chứng pháp đã biến con người thành máy từ khuya. Chỉ có người thành máy và máy thế người mới có thể chịu đựng được khẩu hiệu như «chiến tranh là hòa bình» « Tự do là nô lệ» «ngu dốt là sức mạnh» mà George Orwell đã khôi hài trong Nineteen Eighty - Four.
Họ không hỏi tại sao cộng sản và tư bản chống nhau trong khi hai danh từ ấy đồng nghĩa. Cộng sản là cộng vốn thành tư bản quốc gia còn tư bản là cộng chung các cổphần thành cộng tư sản. Ngoài ra tư bản là dân chủ sao lại thíchủng hộ những độc tài con con, và cộng sản là theo biện chứng luôn luôn biến chuyển sao lại có chuyện chống xét lại, mà nếu xét lại thì đâu còn chủ nghĩa Duy Marx hay Marxisme vĩnh cửu nữa để suy tôn. Đặc biệt nhất là các quốc gia tự do chủ trương vũ lực chống cộng sản, nhưng lại dùng phương pháp chiến tranh tâm lý của cộng sản để đảo chánh hay phá hoại nhau khi quyền lợi va chạm ; trái lại các quốc gia nhân dân chủ
trương chiến tranh tâm lý thì lại dùng vũ lực phản động của
Tư tưởng bảnđểđàn áp nhữngphong tràonhân dân của nhau. Nếu giữa Anh và Pháp, giữa Mỹ và Anh, giữa Pháp và Mỹ chọi nhau ngầm thì giữa Nga và Tiệp khắc hay giũa Nga và Tàu chọi nhau công khai bằngthiết giáp liên thanh.
Không ai thắc mắc những chuyện trên vì ở bên này thì máy đã thay thế cho người để suy nghĩ, còn bên kia thì lại người đã hóa máy khỏi cần suy nghĩ, lôi thôi. Máy thay thế cho ngườithì ngôn ngữ biến thành thống kê, chiết tính, cộng trừnhân chia một rừng công thức. Người được nhồi sọ thành máy thì ngôn ngữ biến ra khẩu hiệu suy tôn, châm ngôn tranh đấu, một rừng biện chứng. Vói máy thay người thì dân khối tự do tuy biết đau khổ kêu trời nhưng máy lại không biết nghe thành thửđành bó tay ngồi chơi trò may rủi. Với người hóa máy thì dân khối bình đẳng chỉ thấy một chiều, lòng dạ sắt đá vì đồng tâm nhất trí quên mình đau khô. Chiến tranh giữa hai bên là cău chuyện Sơn tinh Thủy tinh, bất phân thăngbại .Người thành máy có thể thắng những lính khối tự do nhưng không thắng được kỹ thuật tổ chức và phương tiện chớp nhoáng của máy thay người. Người máy không thắng được máy và trái lại máy cũng không làm sao thắng được người máy. Óc biện chứng một chiều gặp phải óc điện tử nhiều chiều. Đây là một trận đấu « TRÍ»giữa luận lý biện chứng Aristote và luận lý toán học Russell, hai sức mạnh vô song của hai truyền thống tư tưởng CŨ và MỚI. Kết quả chắc chắn là hòa nhưng tiếc rằng chỉ có dân Việt Nam là lãnh phần tính số để chết oan, hy sinh cho ván cờ luận lý. Những biến động của Việt Nam trong suốt 24 Dăm qua chỉ là những thế cờ mà chúng ta là con cờ không biết trời đất gìcả. Hai luận lý nói trên đã sản xuất ra không biết bao ,nhiêu là lý thuyết tự cổ chí kim nhưng không giải quyết được gì vì gặp phải thế trùng phức của vòng quanh lýsự. Tất cả mọi giải quyết về chiến tranh Việt Nam hay hòa thế giới đều phải dựa trên một trong những lý thuyết, nghĩa là phải lựa chọn một trong hai luận lý, Aristote hay Russell.
 
Nhưng làm như vậ là không giải quyết gì hết vì không bao giờ quan tòa mà lại đi bênh vực một bên để phán xử một kiện tụng. Sự thiên vị tiên khởi không bao giờ dàn xếp được chiến tranh, mà lại gia tăng chiến tranh. Phải từ khước truyền thống luận lý mới hòng vượt qua khỏi hàng rào lý thuyết và hủy diệt mọi căn bản pháp lý của chiến tranh hay hòa bình.
4 — CĂN BẢN CỦA MỌI CĂN BẢN VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI
Trước hết hai danh từ hòa bình thế giới là một tổ họp đầy mâu thuẫn mà vì truyền thống dùng quen, nên chúng ta không thấy sự phi lý. Hòa bình là trạng thái đặc biệt của những tâm hồn khoan dung, đại lượng, vô chấp, không phân chia giai cấp đẳng trật, nòi giống, giàu nghèo v.v. Đối với những tâm hồn hòa bình thì không có gì là giới hạn để ngăn cách họ với người khác : Người và ta là một. Tinh thần vô nhị (Advaita) của Vệ Đà có thể tượng trưng cho tư tưởng hòa bình chính thống. Hòa là không thắng không bại, Bình là không hơn không thua. Hòa Bình là vô phân biệt, giới hạn tri thức hay tâm lý không còn.
Thế giới là những Thế do những Giới hạn tạo ra. Danh từ Việt Nam thật là vừa siêu thoái, vừa rõ ràng và minh bạch như vậy mà không mấy ai đểý. Jaspers chật vật mãi với hiện tượng luận mới thấy rằng thế giới là những thế của giới hạn (situations limites). Wittgenstein trong giai đoạn Tractatuscũng thấy rằng thế giới là giới hạn của ngôn ngữ.Óc Wittgeinslein có tính cách phân tích hơn Jaspers nên chỉ thấy có mỗi ngôn ngữ trong những thế mà nhân loại bị kẹt. Nhưng dầu sao Witt­genstein cũng đã tiến rất dài trên con đường tư tưởng vì ngôn ngữ là Thế quan trọng bậc nhất của nhân loại. Vì vậy chúng ta có thể cho rằng : Thế giới của chiến tranh tâm lý là những THẾ Luận lý được ngăn cách bằng những giới hạn hay hàng rào tâm lý và tư tưỏrng.
 
Hòa bình là không phân biệt giới hạn nên không thể cótrong một thế giới đầy giới hạn. Hòa bình thế giới do đó không thể nào thực hiện được nếu chúng ta không dẹp tan những hàng rào tâm lý và những giới hạn tư tưởng hẹp hòi. Nhưng cái nguy là nếu làm như vậy thì thế giới theo truyền thống không tồn tại và danh từ Hòa bình thế giới sẽ không còn để nhường chỗ cho hai chữ Hòa bình trống rỗng. Đó là một sự kiện mà lý trí chúng ta, căn bản của luận lý, căn bản của mọi căn bản bế tắc nói trên, không bao giờ chấp nhận được. Hòa bình chỉ có thể là Hòa bình của Thế vô giới mà thôi. Do đó Hòa bình không thể nào là một món quà do trên trời ban xuống hay do phép thần thôngcủa những nhà xã hội học đem lại nếu nó không phát xuất tự bản thân mình. Hàng rào tâm lýlòng tự ái, tật đố kỵ và cố chấp không cho phép chúng ta thấy hòa bình thành thử bao nhiêu hội nghị quốc tế cũng tốn công hao của, làm toàn những chuyện vô ích. Nhớ chuyện người trên hoang đảo của Eddington,thấy dấu chân lạ đi tìm mãi không ra thủ phạm vì y đâu biết đó chính là dấu chân y. Giải pháp hòa bình là không ở đâu cả đừng tìm kiếm nhọc công, nó nằm trong lòng mình, trong thâm tâm mình : Đừng tìm ở ngoàitức nhiên thấy. Không có chuyện chủ hòa và chủ chiến ở đây. Chủ hòa không đem lại hòa bình vì căn bản nó đặt trên óc phân chia biên giới, đó là một thử chủ chiến trá hình : chủ hòa để đợi thời cơ mà chủ chiến lại. Có một thứ chủ hòa nguy hiểm làm lạc hướng những người có thiện chí thiếu sáng suốt :Đó là chủ trương bất bạo động đểđấu tranh, một thư bạo động ngầm tai hại làm bệnh hoạn tư tưởng. Bất bạo độngđể chiến thắng không thể gọi là có tinh thần hòa bình được. Thà rằng chủ chiến mà không có tinh thần tranh dành quyền lợi. Chính vì tư tưởng chủ trương CHIẾN NHƯNG KHÔNG TRANH này mà nhân loại đã hiểu lầm rằngNietzsche. Rimbaud, Juenger, Heidegger và Herbert Marcuse chủ trương sức mạnh của bạođộng. Những vị trên cương quyết khai chiến với truyền thống
giết người. Trận chiến của họ không chết ai vì đó là một cuộc nội chiến tâm linh, chỉ có cái NGÃ là chết, haynói cho đúng hơn chỉ có cái CHẤP NGÃ là chết mà thôi. Chính truyền thống đã chận đứng không cho chúng ta nghe theo tiếng gọi chủ chiến của Zarathoustra-Nietzsche mà cổ vũ chúng ta chạy theo lời gọi hòa bình Stockholm. Cần phải có một cách mạng tư tưởng, đảo ngược giá trị truyền thống này chúng ta mới có thể nhìn thấy mặt thật của mình và « Bản lai diện mục » là điều kiện duy nhất để có hòa bình, một cái hòa bình đầu tiêntrong một thế giới không biên giới hay thế giới cuối cùng.
Chiến tranh tiếp tục khắp mọi nơi là trách nhiệm của mọi người, lỗi của tất cả chứ không phải vì riêng Nga Mỹ hay những cường quốc bậc Hai, chiến tranh trước hết do bản thân mình bê bồi, thối nát, chia rẽ, tranh chấp, sở dĩ chiến tranh ở Việt Nam kéo dài lâu trên 24 năm và tàn bạo đến mức độ chưa từng thấy là vì ở mảnh đất nhỏ bé này sự MẤT GỐC đã đến thời kỳ trầm trọng. Chúng ta đã mất tận gốc, đã làm tan nái gia tài nguyên thủy của VIỆT TÍNH. Trước hết chủ trương «Trở về căn nguyên » của chúng tôi không phải là chấp nê thủ cựu, bài ngoại lạc hậu chống tiến bộ. Trở về căn nguyên là đập tan truyền thống ham mê hình thức mà bỏ căn bản, say theo ngoại cảnh mà sao lãng nội tâm. Phải trở về căn nguyên để thấy chân tánh của sự vật và khỏi bị lầm vào ngôn ngữ luận lý của Ý thức hệ. Phải trở về căn nguyên để khỏi phải chết hàng triệu một cách vô ích với chiến tranh tâm lý. Trở về căn nguyên để khỏi phải làm con cờ cho người ta đánh, khỏi làm con vật hy sinh tế thần : Thần tài và thần giai cấp đấu tranh.
Sự trở về căn nguyên trên căn bản tư tưởng và ngôn ngữ Việt Nam mà chưa có ai đề cập đến là nguyên nhân số một của sự sa đọa và quên Việt tính để cho đất nước này làm môi trường tranh đấu của thế giới. Một nước mệnh danh hai ngàn năm văn hiến mà chỉ có những Văn khoa nghèo nàn đến cùng độ.
Văn khoa Việt nam chỉ là một trung tâm góp nhặt và bắt chước cặn bã của Văn khoa thế giới, có thể nói ở đây không có gì gọi là sáng tác cả. Lỗi không riêng ở giáo sư mà lỗi ở chánh sách giáo dục ở Việt Nam đã làm cạn nguồn cảm hứng cá nhân ; Đại học Vạn Hạnh chủ trương đi tìm căn bản của Việt tính qua tư tưởng và ngôn ngữ Việt nam với một số giảo sư như Nguyên Tánh và Kim Định ngỏ hầu vớt vát lại phần nào sự thiếu sót. Chúng tôi thiết tha kêu gọi các ngài nên hợp tác, đóng góp vào công cuộc chung này để chấm dứt chiến tranh Việt nam. Chúng ta không biết tiếng Việt nhưng chỉ biết một loại tốc ký phiên âm, bằng ký hiệu La Mã. Chữ quốc ngữ là như vậy không hơn không kém. Đó là phương tiện để phụng sự Khoa học kỹ thuật chứ không phải là cứu cánh của Triết học, của tư tưởng, của văn chương Việt nam. Chúng ta phải trở về với tinh thần CHỮ NÔM và CHỮ NHO để thấu triệt VIỆT TÍNH. Chúng ta không nên tự hào là vô địch về ngoại ngữ một khi Việt tính chưa nắm vững. Làm như vậy là chết cả đám vì thông ngôn và cán bộ, kỹ thuật gia và chính trị viên không thể nào đem lại hòa bình. Trở về với Việt ngữ là học tinh thần chữ Nho và chữ Nôm chứkhông phải học hình thức viết quốc ngữ. Đối với chúng tôi hình thức chữ quốc ngữ cũng là một ngoạingữ in đúc ngoại ngữ của dân tộc thiểu sổ mà các nhà truyền bá Tin lành đang phổ biến. Nó khônggiúp ích cho tư tưởng vì không có căn nguyên sống động. Với nóta không có sách mà đọc Ban tu thư Việt nam không có ngân khoản phiên dịch ngoại ngữ hay cổ ngữ. Thư viện đến hôm nay mới bắt đầu được xây để chứa đựng những pho sách chữ Hán và Nôm chất đống hàng chục năm. Những bộ Sách rày không ai để ý đến nó vì có ai biết đọc đâu. Ngoài ra việc phiên dịch những tác phẩm tư tưởng quốc tế phần nhiều do tư nhân đảm nhận. Đôi khi Giải Nobel cũng bị kiểm duyệt cắt xén. Việc đóng cửa các trường có căn bản ngoại quốc và khuyến khích trường ngôn ngữ loại thông ngôn thư ký, không phải là phương pháp trở
về căn nguyên một cách thông minh.
Bài ngoại không phải chủ trương của sự trở về căn nguyên chính thống. Trở về căn nguyên là đặt vấn đề tiên khởi, tìm căn nguyên của mọi sự. Học ngoại ngữ Âu tây phải nhớ gốc nó là Phạn rồi kê đến Hy lạp, La mã. Làm như vậy tức là trở về nguồn gốc của mọi tư tưởng nhân loại: sở dĩ chúng tôi chủ trương trở về căn nguyên với Việt tính trước vì cái đó gần chúng ta nhất nếu không là chính chúng ta, vì chúng ta lãngquên nó cho nên ngày nay dễ dàng bị tứ phương chi phối. Sức mạnh của sự truyền bá vôý thức hình thức chữ quốc ngữ là nguồn gốc của sự sa đọa Việt tính. Văn khoa không phát triển, tư tưởng không sáng tác là vì ưu thế của hình thức chữ « quốc ngữ »đàn áp tinh thần chữ Hán và chữ Nôm trong Đại học. Chúng ta là những đàn cừu đi học lỏm đi góp nhặt văn bằng ngoại quốc về để phổ biến bằng hình thức chữ « quốc ngữ» các ý thức hệ để đấu tranh. Chúng ta chết vì từ căn bản chữ Việt Hán nghĩa là Siêu (vượt) biến thành Việt quốc ngữ không có nghĩa gì hết. Nếu đọc sai thì có thể hiểu là Vẹt cũng nhưcừu mà thôi. Chúng ta đã biến thành đàn Vẹt mà không hay do đó chiến tranh tàn khốc sẽ tiếp tục không ngừng vì chúng ta là những con cờ lý tưởng và đất Việt là bàn cờ quốc tế lý tưởng.
Chúng ta vì mất Việt tính cho nên được thế giới lựa chọn làm nơi xả hơi cho áp lực của chiến tranh tâm lý Việt Nam là bàn cờ lý tưởng vì ngoài sự phân hóa mất gốc, đất nước chúng ta có tài nguyên dồi dào đến nỗi nếu không phá đê Hồng hà xả nước hay đắp đê cửu Long chận nước thì nạn đói không bao giờ đến với chúng ta. Xin nhắc lại rằng Do thái và Ai cập chỉ chịu đựng chiến tranh hai ngày, và Ấn độ và Hồi quốc không đánh nhau quá một tuần.
Thành thử nếu chiến tranh Việt Nam mà chấm dứt thì loạn to trên toàn thế giới, áp lực chiến tranh tâm lý sẽ nổ tan địa
cầu bằng nội loạn liên miên và bằng bom khinh khí. Hòa bình thế giới đòi hỏi chiến tranh Việt Nam tiếp tục và giải pháp cho hòa bình Việt nam trong tình trạng bi đát này là chiến tranh thế giới bùng nổ. Nhưng cái khó là Chiến tranh lại không thế tiếp tục lâu dài trên một nơi nào trên thế giới ngoài Việt nam vì không chỗ nào tài nguyên dồi dào, giang sơn gấm vóc bằng Việt nam và cũng không chỗ nào mất gốc bằng Việt nam. Giòng giống tiên rồng không còn, con Hồngcháu Lạc cũng khống còn. Dân Miền Nam là bèo dạt hoa trôi, không biết mình đi đến đâu ngoài cách ngôi chờ luận lý toán học xổ số ra quyết định may rủi với óc điện tử. Dân miền Bắc thì nhờ khẩu hiệu một chiều của biện chứng Aristote cho nên biết quá nhiều định hướng phải đi, đi kiếm độc lập tự do hy sinh hạnh phúc để mà mất cả tự do lẫn độc lập. Nếu dân miền nam là bèo thì dân miền Bắc là máy, máy chạy không ngừng thì bèo trôi không hướng. Tình trạng bi đát này kéo dài quá lâu cho nên vì thói quen đồng thời vì chiến tranh lâu ngày tạo ra một thế giới sinh sống căn cứ trên chiến tranh Việt Nam. Nếu đình chiến quá đột ngột, thì kỹ nghệ thương mại, ý thức hệ, vân vân, lâm vào tình trạng khủng hoảng sinh ra đại loạn. Hàng vạn nhà máy chiến tranh phải đóng cửa, hàng triệu nhân công mất việc, hàng triệu cán bộ tuyên truyền và anh hùng chiến sĩ thất nghiệp. Bà Fallaci cho biết rằng những nhà cầm quyền Bắc việt rất ngán Mỹ ngừng thả bom. Chiến tranh là một cớ để độc tài giải quyết mọi vấn đề rắc rối do tâm lý quần chúng gây nên, có thểgiam giữ tù đày bất cứ ai một cách vô tội vạ. Chiến tranh nuôi chiến tranh lâu ngày thành thử chiến tranh là nguồn sống của nhân loại. Năm 1939 Pháp có 700.000 công chức, sau trận giặc năm 1946 Pháp có tới 2.000.000 công chức. Chiến tranh đã gia tăng những tổ chức quốc gia lên cùng độ cho nênvấn đề đình chiến bao giờ cũng kéo dài hàng năm đề giải quyết nội bộ. Mỹ và Bắc việt đồng ý từ lâu nhưng cái khó không phải ở Việt Nam mà chính là ở nội bộ hai bên : một đàng làm sao biến cái kinh tế chiến tranh sang kinh tế hòa
 
bình, một đàng ăn nói làm sao với người máy để khi ngừng mà đừng làm đứt lò xo.
Tuy nhiên, trong cái rủi có cái may sự khó khăn để đình chiến đã làm sáng mắt thế giới với một chân lý bất ngờ : « Muốn hết đấu tranh ở ngoài nước mình phải đừng có chuyện đấu tranh ở trong nước», nói một một cách khác muốn có hòa bình ởngoài ta phải có hòa bình ở trong.
Nếu chân lý ấy đi mạnh vào căn nguyên, đi đến tận cùng của thể tánh mọi sự thì câu ấy biến thành : Muốn có hòa hình ngoại tại phải có hòa bình nội tại trước tiên. Đó là sự TRỞ VẾ căn nguyên mà chúng tôi chủ trương để cố gắng tạo ra một HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN TRONG MỘT THẾ GIỚI CUỐI CÙNG. Nhưng với sự trở về căn nguyên tối hậu vào nội tâm này thì Việt tính không còn nữa và bốn chữ Hòa bình thế giới cũng nhường chỗ cho hai chữ HÒA HÌNH mà thôi.
« Hòa bình không thế giới» là hòa bình Vô nhị không còn giói hạn của những thế, là hòa bình nội tâm, căn bản cho mọi căn bản về hòa bình. Sự đảo ngược giá trị của tư tưởng truyền thống nhân loại không thực hiện được nếu chúng ta không bắt chước Bồ đề Đạt ma chín năm quay mặt vào vách mà chiến đấu với nội tâm mình. « Hòa bình không thế giới » không làm sao diễn tả bằng ngôn ngữ thế gian cho nên chính trị thường lợi dụng tư tưởng Thế mạt luận (eschatologique) của Ramayana, Thánh kinh (Cựu Ước), Coran (Sourate) để ngoại tại hóa nó thành pháp lý chiến tranh.
Nhưng ngày hôm nay không có pháp lý nào có thể đình chỉ một cuộc chiến tranh tâm lý, những tư tưởng chủ chiến của Thế mạt luận phải hiểu theo tinh thần hướng nội toàn triệt với Nietzsche mới hòng tạo ra cái HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN TRONG THẾ GIỚI CUỐI CÙNG; Hòa bình là những Thế mạt luận con con của từng cả thể nội hướng toàn triệt.
/8
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »