Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 4 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 4 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 70.

Chương 4: Thiền Tông Đời Lý (Trang 50 - 59)


THIỀN TÔNG ĐỜI LÝ

NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
 
 
THIỀN VỚI Ý THỨC TAM GIÁO Ở TRẦN THÁI TÔNG

Ý thức Thiền là đồng nguyên của Tam giáo thực bắt đầu rõ rệt với Trần Thái Tông đầu nhà Trần thế kỷ XIII.
Mở đầu “Thiền tông chỉ nam tự”, tác giả viểt về căn bản hợp nhất Đạo và Đời, là cái ý thức giác ngộ coi như thực thể đại đồng siêu việt trên thời gian không gian, không lệ thuộc vào phương Nam hay phương Bắc mà tác giả gọi là Phật.
“Trẫm thiết vị Phật về Nam Bắc, quân khả tu cầu, tính hữu trí ngu đồng tư giác ngộ. Thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện, minh sinh tử chi tiệp kinh giả, ngã Phật chi đại giáo dã. Nhậm thùy thế chi quyền hành, tác tương lai chi quĩ phạm giả, tiên Thánh chi trọng trách dã. Cố Lục tổ hữu ngôn văn: “Tiên đại thánh nhân dữ đại sư vô biệt, tắc tri ngã Phật chi giáo hựu giả tiên thánh nhân dĩ truyền ư thế dã”. Kim

 

 
trẫm yên khả bất dĩ tiên thánh chi nhiệm vi kỹ nhiệm, ngã Phật chi giáo vi kỷ giáo tai”?
(Thiền tông chỉ nam tự)
“Trẫm trộm bảo đạo Phật không có phân chia ra phương Nam phương Bắc, ở đâu cũng có thể tu tỉnh mà cầu được! Tính người có kẻ biết, kẻ ngu, nhưng cùng tư bẩm sự giác ngộ. Bởi thế nên để dạy quần chúng mê lầm cái phương tiện là con đường tắt để tỏ sáng lẽ sống chết, đấy là giáo lý chính của Đức Phật ta. Còn như nhiệm vụ đặt ra phép công bằng, vạch đường khuôn mẫu cho tương lai ấy là trọng trách của  thánh Nho đi lên trước. Cho nên Lục tổ có nói: “Thánh Nho đi lên trước với các chư Phật không khác nhau biết rằng giáo lý của Phật ta lại phải mượn đường Thánh Nho đi lên trước để truyền vào cho đời. Nay Trẫm có thể  không lấy nhiệm vụ của tiên thánh làm nhiệm vụ của mình. giáo lý của Phật ta làm giáo lý của mình hay sao?”.
Khác với Cứu Chỉ (1065) thời nhà Lý chê “Khổng Mặc thiên chấp vào “có”; Lão Trang thiên chấp vào “không” cả hai đều là cái học tục thế, không phải phép giải thoát”, để chuyên sùng bái Phật giáo. Ở đây Trần Thái Tông tìm hợp sáng cả hai khuynh hướng tục thế và giải thoát, coi như phương tiện cho cứu cánh giác ngộ. Giải thoát theo Trần Thái Tông chẳng phải giải từ chỗ này sang chỗ khác, trong núi không có Phật, Phật chỉ tồn tại nơi tâm, tâm yên lặng trong sáng mà biết ấy là có tên chân Phật”.
“Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm, tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật” (như đã dẫn trên).
Chính cái “tâm tịch nhi tri ấy là giác ngộ” vậy. Giác
 
 
 
ngộ là một trạng thái tâm lý đặc biệt do sự tập trung năng lực sinh lý tâm lý đi đến biến hóa khi chất mà thành tựu. Theo Chang Chen Chi (Trương Trinh Cơ) thì ngộ (hay Giác ngộ) là một thực nghiệm trực tiếp của sự thấy, khai mở, hay là thực hiện Tâm thể đầy đủ toàn diện. Cốt yếu của nó là sáng chiếu mà “không hư”, bình thản mà hoạt động, siêu nhiên mà nội tại, tự do mà bao hàm tất cả. Thực nghiệm Ngộ hay Giác ngộ là thuần nhất mà cũng là đa thù, thuần nhất vì chúng đồng nhất ờ bản tính, đa thù vì chúng khác nhau về trình độ sâu, sáng và đạt...
Ý nghĩa chữ Hán Ngộ — Ngộ có nghĩa là giác tỉnh về sự thật, hay là hiểu biết. Chữ này dùng trong truyền thống Thiền học ngụ ý những thực nghiệm nội tâm về tỉnh giác nhân lý Bát nhã (Prajna). Nó không giống với Samyaksam bodhi — chính đẳng giác là sự giác ngộ hoàn toàn và kết thúc về Phật tính. Phật giáo Thiền tông ở Trung hoa ít khi nói về Chính giác (Sam-bodhi) hay là nói về thực nghiệm thiền định của họ như là Giác (Bodhi.) Tuy Giác với Ngộ rất gần nhau, nhưng có sự khác nhau ở chỗ là Ngộ trỏ vào thực nghiệm thức tỉnh bất thình lình, còn Giác tỏ ra một sự thức tỉnh bền lâu và đầy đủ, ví như danh từ Đại giác là chỉ để áp dụng cho Đức Phật mà thôi, ít khi cho các Tổ Thiền tông.”
(The Practice of Zen — Chang Chen Chi
Horper Brothers— New York)
Vậy “Giác ngộ” là một trạng thái tâm lý sinh lý đặc biệt của Thiền định tam muội (Samadhi) nghĩa là của thực nghiệm tâm linh, như một đạo sĩ trứ danh Âu Mỹ hiện đại

 
 
 
 
đã mô tả thực nghiệm bản thân của mình về ý thức vũ trụ như sau :
“Sư phụ tôi sẽ vỗ vào ngực tôi, bên trên tim một chút. Thân thể tôi hình như tê liệt lại không cưỡng được, hơi thở trong phổi như là bị một tảng đá nam châm hút lấy; linh hồn và tinh thần bị kéo ra khỏi vị trí không gian của chúng khác gì một luồng sáng từ mỗi lỗ chân lông mà tuôn ra vậy. Tôi không còn cảm giác thấy thân thể tôi, mặc dù những năng khiếu càng sắc bén của tôi chưa từng bao giở như lúc ấy cho tôi một ý thức về sự sống phong phú nhường ấy. Cái “Tôi” của tôi không còn giam hãm nơi thân thể nữa mà bao hàm lấy những nguyên tử chung quanh. Thiên hạ trong các đường phố xa tít hình nhưêm đềm đi qua trong thể hữu tôi trở nên vô biên. Những rễ cây lớn nhỏ hiện ra cho tôi trong lòng đất sâu trở nên trong suốt và tôi theo dõi cuộc lưu thông của nhựa cây.
“Cảnh tượng chung quanh trải ra trước mắt tôi xa tít mù tắp. Nhãn giới tôi trở nên toàn nhất cho tôi bao quát tất cả vào nhất lãm. Đằng sau gáy tôi, tôi nhìn thấy những người lên xuống đường phố Rai Ghát và tôi thấy một con bò cái trắng thủng thẳng đến gần tôi. Nó đi tới cổng tùng lâm, nhập vào trong nhãn giới bình thường của tôi. Khi nó bước qua ngưỡng cổng, tôi còn phân biệt được rõ rệt thông suốt bức tường gạch.
“Trong cái nhãn giới toàn nhất nhất quán, những vật đối tượng rung động và lấp lánh như những hình chiếu bóng. Thân thể tôi, và Sư phụ, những cột ở trước sân, những đồ vật, sàn nhà, cây cối, và mặt trời mọc rung động càng ngày
 
 
 
càng mạnh đến tan hòa vào một đại dương độc nhất với làn sóng lân tinh; chẳng khác gì đường miếng tan vào nước người ta quấy. Ánh sáng hợp nhất bị cắt ra thành hình thể vật chất biểu lộ cái bí quyết của định luật nhân quả thiên nhiên qua những biến thể ấy.
Tâm hồn tôi bấy giờ tràn ngập một sự mê say vô tả như là những đợt sóng trong đại dương. Tôi hiểu rằng Tinh thần là lạc thú vô tả, và Thể tướng của Ngài do vô số tia kết lại. Trong bản thể sâu thẳm của tôi tỏa ra một hào quang lan rộng bao trùm thung lũng vối đồng bẳng, trải đất, mặt trời và tinh tú, hành tinh, vầng sao cho tới ngân hà cùng tột. Cả vũ trụ sáng chiếu dịu dàng như một đồ thị nhìn ban đêm đằng xa, đã tỏa khắp bản thể vô biên của tôi. Những biên giới rõ rệt tự mở dần đi ở điểm cực đoan của nhãn giới của tôi, nhưng tôi còn tri giác thấy xa hơn, một tia sáng phi chất, quân bình với sự rực rỡ không suy giảm. Một ánh sáng kém phần vi tế hợp nên hình ảnh tinh tú.
Tia sáng thần linh từ nguồn Vĩnh cửu phản chiếu ra, thêu dệt ngân hà thu về hàng ngàn hào quang rực rỡ vô tả. Tôi lại nhìn mãi mãi những tia sáng sáng tạo ngưng kết thành bầu tinh tú và thu lại thành những ngọn lửa sáng trong. Hàng ức triệu thế giới vận hành nhịp nhàng trong một vầng sáng trong toàn thể không trung chỉ còn là một bầu sáng ngời vô hạn.
Tôi đã biết rằng trung tâm Thiền định ở tại một vị trí trong Tâm tôi, nguồn gốc của trực giác. Bao nhiêu là quang diệu từ những tế bào của tôi mà phản chiếu ra, thâm nhập vào cơ cấu thâm trầm của vũ trụ! Cam lộ linh thiêng,

 
 
 
 
mật thơm bất tử tiết ra nguời tôi như là mỏ dầu. Chúa Lời,Lời sáng tạo, vang dậy trong vần A U M, ba động cơ của động cơ vũ trụ.
Chợt đâu tôi lại thở. Với nỗi thất vọng khó chịu, tôi nhận ra cái vô hạn mênh mang đã biến đi. Một lần nữa tôi lại thấy mình bị giam trong thân thể nhà tù, mà tinh thần chỉ có thể thích ứng cách bất đắc dĩ. Tôi đã bỏ mất quê hương vũ trụ để tự giam vào trong cái tiểu vũ trụ chật hẹp vậy.”
(Dịch ở Autobiographie d’ uu Yogi-Yogananda)
Trên đây là một thực nghiệm tâm linh của một đạo sĩ Ấn hiện thời do một khoa học gia Âu tây -giới thiệu. Đấy là một ấn chứng lại về cái trạng thái sinh lý tâm lý biến hóa của nhà tập thiền định mà Trần Thái Tông gọi là “giác ngộ” một tác dụng của cái ý thức đại đồng gọi là Phật.
Phật ấy gọi là Giác ngộ một trạng thái tâm lý đặc biệt không phải một hình tượng bèn ngoài, mà tất cả chúng sinh đều “tư bẩm” khác nhau ở chỗ minh hay vô minh. Ở đây Trần Thái Tông đã lấy trạng thái giác ngộ hay minh của tâm hay ý thức làm động nguyên cho hai đại truyền thống Á đông là Nho và Phật. Hành động chính trị và trí thức siêu hình, hai khuynh hướng ấy vốn là tác dụng tâm lý căn bản nhân loại thường mâu thuaanxxung đột nhau như là tình và lý ở thế giới biểu hiện vậy. Chừng nào còn ở trong hiện tượng tương đối thì còn xung đột làm cho con người đau khổ, lo lắng thậm chí như là chính nhà vua đang đêm phải bỏ cung điện để trốn vào núi tìm giải thoát. Nhưng giải thoát không thể thấy ở nơi này nơi khác bên ngoài mà chính phải tìm ở tại trong cái Tâm quân bình.

 
 
 
 
Đấy là đòi hỏi thiết yếu chính đáng về trực giác siêu hình ở chỗ nhất tâm mà giác ngộ vậy.
Bởi Tâm một khi nhất hay là thuần nhất, quân bình, chưa phân hóa hay là sắp phân hóa ra khuynh hướng khác nhau như tình với lý, còn tập trung cả vào một điểm thì càng sáng chiếu, “minh” đến cực độ. Do đấy mà cả ba đại truyền thống Á Đông đều lấy cái Nguồn sáng làm khởi điểm (làm sáng đức sáng) (Minh minh đức). Lão giáo cũng đặt lý tưởng “sáng” ở trên cái biết có đối tượng của lý trí (tri nhận giả trí, tự tri giả minh). Và Phật giáo thfi lấy tuệ là sáng làm trình độ cuối cùng đạt đạo. Giới, ĐỊnh, Tuệ. Tuệ chính là minh, là “Sáng’ thoát khỏi cảnh giới vô minh, mê vọng vậy. Bởi thế nên Trần Thái Tông mới tuyên bố cái triết lý “tam giáo đồng nguyên” của Ngài hết sức rõ rệt.
“Khởi thức Bồ đề giác tính, cá cá viên thành; Tranh trí Bát nhã thiện căn nhân nhân cụ túc. Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia. Bất câu tăng tục nhi chỉ yếu biện tâm, bản vô nam nữ nhi hà tu trước tướng? Vì minh nhân vọng phân tam giáo, liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.”
(Phổ khuyên phát Bồ đề tâm)
Nghĩa: “Biết chăng cái bản tính giác ngộ Bồ đề, mỗi người đều thành tựu tròn vẹn mà hay gốc thiện Bát nhã ai nấy đầy đủ. Chớ hỏi người nầy là ẩn sĩ lớn, ẩn sĩ nhỏ, đừng phân biệt kẻ xuất gia với kẻ tại gia. Chẳng nên câu chấp bề ngoài tăng với tục, chỉ cốt biện biệt cho rõ bản tâm mình, vốn không có phân chia ra tâm đàn ông hay tâm đàn

 
 
 
 
bà, thì làm sao còn nên chấp vào hình thức. Chưa sáng người ta lầm phân biệt có ba giáo lý khác nhau, đển khi hiểu thấu đến cùng cực thì cùng một Tâm giác ngộ.
Có đạt tới cái Tâm giác ngộ ấy thấy được cái chỗ đồng nguyên của ba giáo lý, đại diện cho ba phương diện cơ bản sinh tồn nhân loại: con người thiên nhiên, con người xã hội, con người tâm lý tức là: Thiên đạo, Nhân đạo và Tâm đạo vậy. Ba vấn đề cố lai của tư tưởng nhân loại tìm giải quyết, đối với tạo vật thiên nhiên ta tìm hiểu biết đến cùug, làm chủ thiên nhiên hay là để thiên nhiên dịch sử; đối với nhân quần, xã hội ta phải hay là nên như thế nào; và đối với chính ta, đâu là ta thật, có gì tồn tại sau khi thể xác biến đi hay là tất cả chỉ là một trào lưu biến ảo. Và từ cổ lai các bậc đại hiền triết đều giải quyết bằng cách phản tỉnh, quay về tự tìm hiểu mình, xem, chính mình là ai trước hết. Bởi thế nên Trần Thái Tông đẵ sớm tỉnh ngộ mà quay về giải quyết vấn đề xung đột tư tưởng ởtại nơi tâm lý bằng cách tuân theo một kỷ luật tâm lý biến hóa khi chất đến điểm quân bình, giác ngộ.
Về kỷ luật tâm lý và sinh lý của đạo học Đông phương nhà tâm lý học tối tân ngày nay ở Tây phương là Carl Jung đã xưng tụug như sau:
“Tất cả thực hành tôn giáo hay là biết triết học đều giả thiết có một kỷ luật tâm lý, nghĩa là một khoa vệ sinh tinh thần. Các phương pháp thuần vật lý của khoa “Đạo dẫn” (Yoga) cũng giả thiết một phép vệ sinh tâm lý cao hơn là môn thể thao và tập thở Ihỏng thường, chừng nào nó không phải chỉ máy móc và khoa học, mà còn là triết học nữa. Luyện tập thể thao, khoa Đạo dẫn (Yoga) điều hòa thân thể với tinh thần,

 
 
 
 
ví như trong sự luyện tập “Pranayama = điều tức”, điều ấy đã hiển nhiên, khí Prana là hơi thở, đồng thời cũng là động cơ vũ trụ.
Khi một cử chỉ cá nhân cũng là một sự kiện vũ trụ, hiệu quả do thân thể cảm thụ (cảm ứng thần kinh) hợp với xúc động của tinh thần (ý niệm đại đồng) và kết quả là một tổng hợp thể linh động mà một kỹ thuật khoa học đến mấy cũng không sao sản xuất ra được. Thực hành khoa Đạo dẫn (Yoga) nếu thiếu những quan niệm cơ bản của chính khoa Đạo dẫn (Yoga) thì không có thể tưởng tượng được và không có hiệu quả, vì khoa Đạo dẫn (Yoga) điều hòa vật lý với tinh thần thành một toàn thể đặc biệt hoàn bị.
Ở Đông phương mà những tư tưởng và thực hành ấy đã phát triển, và ở đấy, trải qua hàng ngàn năm, một truyền thống liên tục đã tạo nên những cơ bản tinh thần kiên cố tôi tin chắc rằng khoa Đạo dẫn (Yoga) là một phương pháp thích hợp để dung hòa thân thể với tinh thần thành một toàn thể kiên cố. Cái toàn thể này lại sinh ra một trạng thái tâm lý đem cho ý thức khả năng trực giác siêu hình vậy.”
(do Yogananda trích dẫn trong sách “Autobiographie d'un Yogi” Adyar-Paris).
Ở Trần Thái Tông, cái kỷ luật tâm lý nói trên chính là khoa thiền định hay là tọa thiền như Ngài đã viết:
Thích già Văn Phật nhập vu Tuyết sơn, đoan tọa lục niên, tước sào vu đính thượng, thảo xuyên vu bề thân tâm tự nhược.
“Tử Kỳ ẩn kỷ nhi tọa, hình như khô mộc, tâm tự tử hôi,
 
 
 
“Nhan Hồi tọa vọng, truy chi thể, chuyết thông minh, ly ngu trí, đồng ư đại đạo.
Thử cổ giả tam giáo Thánh hiền tăng dĩ tọa định nhi thành tựu giả.
(Tọa thiền luận)
Nghĩa: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào núi tuyết sơn, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim tước làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên thủng đùi, thân tâm như một.
Tử Kỳ ngồi tựa ghế, hình như cành cây khô, tâm như than nguội.
Nhan Hoogi ngồi quên, buông chân tay, nhụt thông minh, đời cả ngu lẫn khôn, đồng nhất đạo lớn đại đồng.
Đấy là cổ xưa cả ba truyền thống giáo lý các bậc Thánh hiền từng đã lấy sự ngồi thiền để thành tựu vậy.


(còn tiếp)
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
PHAMCONGTHIEN
 
 
NIKOS KAZANTAKIS
PHAMHOANG
 

 
 
 
 
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »