|
TIỀM NĂNG CỦA
Ý THỨC THẦN THOẠI
|
LÊ TÔN NGHIÊM
(tiếp theo)
Ý nghĩa thứ nhất là Vũ trụ được coi như tổng số các sự vật hợp lại (la somme des estants). Trong vũ trụ này, mỗi sự vật được hình dung như những đối tượng mang những đặc tính giống hệt nhau, mà đặct ính căn bản là trương độ (resextensa) như Descartes nói. Nói khác, mỗi sự vật trong cá tính của nó đều có một chỗ đứng trong hệ thống những vị trí xuất hiện trong môi trường tri giác của con người,do đó, mỗi cái đều có tương quan với con người. Nhưng những tương quan ấy lại được quan niệm như “những điểm số không” đồng đều nhau, chỗ nào cũng giống hệt chỗ khác, như trên một không gian mặt phẳng. Rồi trong hệ thống những điểm số không ấy, ta có thể chọn một điểm số không ở bất cứ chỗ nào, nhưng phải chọn một điểm số không, mới thiết định được vị trí cho mọi sự vật khác trong tương quan với điểm số không cố định đã được chọn lựa.
Nói tóm, một quan niệm vũ trụ như vậy kỳ cùng căn cứ trên không gian trương độ của hình học. Đó chỉ là một quan niệm tổng cộng nhiều sự vật giống nhau thành một vũ trụ, như Fink gọi(conception additionnante du monde). Từ đó, tự nhiên, vũ trụ được hình dung như một cái khuôn hay một cái thau lớn chứa được vạn vật trong đó. (M. Heidegger: Vom Wessen des Grundes, Bd. Pháp, Questions I, trg 117). Hình ảnh này thường được gọi là hình ảnh vũ trụ vật lý hay hình học. Một khi tư tưởng căn nguyên bị sa đọa và tư tưởng biểu tượng, luận lý được đề cao thì hình ảnh vũ trụ này cũng được coi là duy nhất và tuyệt đối. Do đó, giá trị hữu thể của nó cũng được coi là giá trị thực tại tuyệt đối, nhưng thực sự đó chỉ là giá trị hữu thể của cái gì đồng tính theo luận lý thuộc từ mà thôi.
Tuy nhiên, đối với tư tưởng Tây phương, đây là hình ảnh vũ trụ quan trọng nhất và bất cứ quan niệm nào về vũ trụ đều phải lấy nó làm nền tảng (Ce qui fait 1’être essentiel du fondementou raison!)
Nhưng Kant là người đầu tiên đã đặt hình ảnh vũ trụ ấy thành nghi vấn. Thực vậy, thay vì chấp nhận vũ trụ như tổng số các sự vật hợp lại tức là một thế giới với những chiều kích vĩ đại và năng lượng hùng hậu nhất, Kant đã đề nghị một quan niệm vũ trụ phát xuất từ chủ tri. Tất cả phần 3 quyển Kiềm thảo lý tính thuần lý nhan đề là Biện chứng pháp tiên nghiệm của ông đã được dành cho việc trình bày ý niệm tiên nghiệm về vũ trụ. Theo đó, vũ trụ không còn được coi là một đối tượng hay tổng số các đối tượng hợp lại, vì luôn luôn chúng ta chỉ nhìn được vũ trụ trong một chân trời hạn hẹp, chứ không bao giờ nhỉn được toàn
diện. Toàn diện khách quan cho kinh nghiệm thường nghiệm và thực nghiệm cũng không thể có, mà toàn diện cho trí tưởng tượng vô giới hạn cũng không thể có, vì giả tỉ như ta có thể mở rộng giới hạn không gian hoạt động ta ra xa như những phi thuyền không gian tương lai hay có sống được kinh nghiệm thời gian của tất cả những con người đồng loại hiện tại hay của quá khứ và tương lai đi nữa, cũng không bao giờ ta có thể có được một toàn diện vũ trụ khách quan. Do đó, vũ trụ không phải một toàn diện sự vật khách quan hợp lại cũng không phải toàn diện ý thức của cả nhân loại hợp lại. Hai tỉ rưỡi con người trong thế giới cũng không sống gần vũ trụ hơn một cá nhân sống trong thế giới của họ.
Nói tóm, theo Kant, hình ảnh vũ trụ như một tổng số sự vật hợp lại không thể là đối tượng cho kinh nghiệm ngoại tại theo không gian và kinh nghiệm nội tại theo thời gian.
Tuy nhiên, số kiếp kỳ quái của thân phận con người chúng ta lại luôn luôn bị ám ảnh và dằn vặt bởi ý tưởng toàn diện về vạn vật. Từ thời khai nguyên tư tưởng, các triết gia trước Socrate cũng đã bắt đầu bị ám ảnh ngay bởi ý tưởng toàn diện ấy! Ra như ý tưởng “toàn diện” không bao giờ buông thả con người. Nó thẩm nhập trong xương tủy con người. Một phần nào tính cách chủ quan trong quan niệm vũ trụ của Kant đã phôi thai từ đó, khi con người triết gia tiên nghiệm cảm thấy bất lực trước toàn diện khách quan của thế giới ngoại tại, khi nhìn “vòm trời đầy sao” trên đầu mình.
Trước sức quyếh rũ của toàn diện vũ trụ này, ta có thể tự hỏi: đây có phải một thứ“tình cảm” chủ quan về vũ trụ
hay một khuyến khích “đạo đức”để đi tới Kiềm thảo lý tính thực tiễn? Eugen Fink trả lời ta: “Cảm nghĩ này không phải một thứ “tình cảm”, cũng không phải một thứ khuyến khích “đạo đức” ; mà là một sắc thái của tư tưởng, có lẽ phải nói đây mới là sắc thái đích thực của tư tưởng.” (Cette humeur n’ est ni “sentimentalité”, ni “édification”; c’ est une tonalité de la pensée, peut - être la tonalité de la pensée tout simplement.) (Le Jeu comme symbole du Monde, trg 25)
Thực ra, Kant vẫn chưa đi tới sắc thái tư tưởng mà Eugen Fink muốn nói ở đây, nhưng Kant cũng đã có công trong việc đặt hình ảnh vũ trụ vật lý thành nghi vấn, điều mà từ trước tới ông trong tư tưởng Tây phương chưa một ai đã dám làm. Theo đó, ông mới giải thích ý niệm vũ trụ như toàn diện kia chỉ có thể phát xuất do chủ tri không khác gì những trực giác không gian và thời gian trong Cảm tính luận tiên nghiệm. Nhưng ý niệm vũ trụ theo chủ tri ở đây có tính cách chủ quan không như một nguyên tắc kiến tạo (principe constitutif ) đối tượng tính cho sự vật phùhợp với những quy luật của trí năng, trái lại chủ quan ở đây lại có tính cách như một nguyên lý điều hành(idée resgulatrice), nghĩa là ý niệm vũ trụ không thể nào thực nghiệm được theo tiên nghiệm.
Trái lại, ý niệm vũ trụ như ý tưởng điều hành phải được giả thiết thì hệ thống phạm trù và các trực giác tiên thiên suy tư về các khoa toán học và vật lý học mới có tính
cách hợp lý, đúng như khả năng của những phán quyết tổng hợp tiên nghiệm được.
Nói tóm, ý niệm vũ trụ chỉ có thể có tính cách chủ quan, nghĩa là không thể đem ra thực nghiệm được nhưng lại cần thiết cho tất cả quá trình suy tư và thực nghiệm.
Nói khác, quan niệm vũ trụ có tính cách chủ quan của Kant đã được sáng nghĩ ra để chống đối quan niệm vũ trụ khách quan đi trước. Như thế đương nhiên phải quan niệm nó khác; hơn nữa, còn đối lập với quan niệm trên. Tuy nhiên, nếu xét cho kỳ cùng thì đây cũng chỉ là một lối trình bày khác hay đúng hơn là một trá hình của ý niệm vũ trụ vật lý nói trên. Có khác nhau chăng là một đàng suy tư vũ trụ theo hậu nghiệm, một đàng suy tư vũ trụ theo tiên nghiệm. Nhưng tiên nghiệm trên cùng một căn bản hậu nghiệm. Dođó không những ý niệm vũ trụ ở đây mà còn toàn cả triết học tiên nghiệm của Kant đã chỉ thích hợp cho những khoa học và toán học của vũ trụ tĩnh, tức là tinh thần khoa học của Newton, Laplace và hình học của Euclide mà thôi.
Chính vì vậy, giá trị hữu thể của vũ trụ này cũng chỉ là giá trị hữu thể của hình ảnh vũ trụ vật lý. Đó là lý do để Heidegger có thể phê bình Kant rằng: Kant vẫn còn quên lãng quan niệm vũ trụ theo tại-thế. (Xem Sein und Zeit, trg 321 và Vom Wesen des Grundes, Bd. Pháp. Questions I. trg 118-125).
Trong cùng đường hướng ấy, Fink cũng đã nhận định một cách tinh vi rằng: “lối đặt vấn đề (của Kant) lại có giá trị thiết yếu hơn “giải đáp” cho vấn đề.” (la position du
problème est plus essentielle que sa “solution”) (Le Jeu comme symbole du monde, trg 25).
Nói tóm, cả 2ý niệm về vũ trụ trên đây chỉ là “hình ảnh vũ trụ” (Weltbild) chưa nói lên được tương quan bản nhiên giữa vũ trụ và con người, vì cả 2 mối quan niệm tương quan ấy như tương quan giữa 2 sự vật. Do đó giá trị tính thể của “hiện-hữu-tại-thế” (in-der-Welt-sein) vẫn còn bị che dấu, trong đó có vũ trụ quan của thần thoại, vì giữa con người và vũ trụ chỉ có tương quan theo vũ trụ mà không có hình ảnh vũ trụ.
Vậy Vũ trụ quan là gì?
Định nghĩa Vũ trụ quan của K. Jaspers có thể coi như giải thích trực tiếp vũ trụ quau thần thoại ở đây. Ông viết: “Vũ trụ quan là một cái gì toàn diện và phổ quát (Etwas Ganzes und etwas Universales). Ví dụ trên bình diện tri thức, nó không có nghĩa là một kiến thức đặc biệt, mà lại là tri thức như một toàn diện (als eine Ganzheit), một hoàn vũ (als Kosmos). Nhưng vũ trụ quan lại không phải chỉ là một tri thức, trái lại nó còn đầu thai vào trong những lối thẩm định giá trị (in Wertungen), những cách thái sống (Lebensgestaltung), trong số mệnh (Schicksal) và trong trật tự những giá trị mà cuộc sống ta bị chi phối (in der erlebten Rangordnung der Werle). Một cách khác, mỗi khi nói tới vũ trụ quan, luôn luôn chúng ta nghĩ tới những “ý tưởng” (điều hành), nguyên lý tối hậu và toàn cục của con người, tức là một mặt cả những gì có tính cách chủ thể, như kinh nghiệm sống, năng lực, những khả tính nội tại, và mặt khác cả những gì thuộc khách quan như mô thức thực tại của vũ trụ.”
(Psychologie der Weltanschauungen, Springen, 1960, trg 1).
Một cách cụ thể, vũ trụ quan thần thoại cũng là vũ trụ quan của những giá trị con người gán cho, nghĩa là không hoàn toàn khách quan như vũ trụ vật lý hay chủ quan như vũ trụ theo “ý tưởng điều hành”.
Do đó, từ quan niệm “đối tượng” căn bản cho 2 hình ảnh vũ trụ nói trên, ý thức thần thoại đã gán cho một giá trị hữu thể khác nhau. Mircea Eliade nhận định: “Đối tượng xuất hiện như dự trữ một sức mạnh ngoại lai, tách biệt nó với vị trí của nó và đem lại cho nó ý nghĩa và giá trị: sức mạnh ấy có thể ngự trị trong bản thể hay trong hình thức của nó.” (l’ objet apqaraît comme un réceptacle d’une force étrangère qui le différencie de son milieu et lui confère sens et valeur) (Le mythe de l’éternel retour, trang 17).
Đối với tâm trạng của người “sơ khai’, tất cả những sự vật, những đối tượng của vũ trụ ngoại tại, tự chúng không có một giá trị nội tại, biệt lập: một hòn đá không phải là một đối tượng vô hồn, vật chất bất động, mà là một hòn đá linh thánh, vì hình thức của nó biểu lộ một tượng trưng nào đó. Theo những tin tưởng của các dân tộc Mésopotamie, con sông Tigre là mô phỏng của linh tượng (Archétype) là vì sao Anumȋt, hay con sóng Euphrate là mô phỏng của vì sao Hirondelle. Trong chuyện “sáng thế” của Ba tư theo tục truyền zervanite: “mỗi hiện tượng xảy ra dưới đất hoặc là trừu tượng, hoặc là cụ thể, đều có một tương đương với những gì ở trên trời, là những gì siêu việt, vô hình hay với một “lý tưởng” theo nghĩa của Platon. Mỗi sự vật, mỗi ý niệm đều thể hiện dưới hai khía cạnh: một là mênôk, hai là gêtik. Nếu có một thế giới hữu hình thì cũng có một thế
giới mênôk vô hình.” (H.S. Nyberg: Questions de cosmogonie, II, pp. 35-36)
Mỗi sự vật, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều hàm chứa một giá trị hữu thể đặc biệt, huyền bí chứ không phải giá trị hình học, vật lý. Hơn nữa, những đô thị, những đền thờ ở dưới trần này thảy đều mang hình ảnh của những gì ở một thế giới khác: các đô thị cũng có mộl linh tượng, tất cả mọi đô thị của Babylonies đều có những chòm sao làm linh tượng: Sippar có sao Cancer, Ninive có sao Grande Ourse, Assur có sao Arcturus v.v... Các đền thờ — nơi tế tự đặc biệt — cũng có những mô hình trên trời: trên núi Sinaĩ, Jéhovah trình bày cho Moïse “hình thức” đền thờ ông phải thiết lập để thờ Ngài: “Ngươi sẽ thiết lập đền thờ với tất cả những đồ vật trong đó, y hệt theo mô hình mà ta sẽ chỉ vẽ cho ngươi.” (Exode, XXV, 8-9)
Hơn nữa, mỗi dân tộc còn công nhận một thắng cảnh đặc biệt nào của mình làm “Trung tâm của hoàn vũ” (Axis Mundi) ví dụ dân Ấn độ coi núi Meru là trung tâm vũ trụ. Dân Palestine thờ núi Thabor (có nghĩa là tatbâr = rốn (nombril) omphalos, hay thờ núi Golgotha v.v... (Eric Bunrows: The Labyrinth)
Vì là trung tâm của hoàn vũ, mỗi đền thờ, mỗi đô thị, mỗi thắng cảnh mới luôn luôn được coi là nơi gặp gỡ của 3 địa hạt là Thiên, Địa, Âm phủ.
(Mircea Eliade: Le mythe de l’ éternel retour, những trang 17, 21, 23-35).
Đó là mấy ví dụ về vũ trụ quan thần thoại.
Về Nhân sinh quan thần thoại cũng vậy, ý thức “sơ khai” cũng không chân nhận rằng: những hành vi hay biến cố xảy ra trong cuộc đời con người có giá trị tự nội, biệt lập, theo kiểu những phản ứng trong một bộ máy hay một cơ thể. Do đó ý nghĩa của những hành vi ấy không phải ở sự kiện vật lý suông của chúng mà là ở sự lập lại một hành vi nguyên thủy, một mô phạm thần thoại tức hành vi của những đấng thiêng liêng xưa kia đã hành động như vậy ví dụviệcănuống, dinh dưỡng không phải là tác độngthuầntúysinh lý, mà là sự tham dự với sự sống thần linh (communion), rồi những cuộc lễ hôn phối hay những lễ cuồng ẩm (orgies), cày ruộng đều rập mẫu những hành vi của các thần, của tổ tiên hay của các vị anh hùng: sự hôn phối của loài người là rập mẫu lại sự hôn phối giữa Thần và Người (hiérogamie) nhất là giữa Thiên và Địa. Trong kinh Atharva (Veda XIV, 2, 71), người chồng và ngườivợ được coi làThiênvà Địa:rồitrong các kinh khác (Atharva Veda, XIV, 1) mỗicửchỉcủahôn lễ đều được bảo đảm bởi một mô phạm của nguyên thủy: “Cũng như thần Agni đã nắm bàn tay mặt của trái đất, thì tôi cũng nắm tay nàng như vậy v.v...” Hôn phối của người tín hữu được tượng trưng bằng sự giao hôn giữa Christ và Giáo hội.
Nói tóm, nhân sinh quan thần thoại mang những ý nghĩa và giá trị hữu thể khác biệt hẳn những nghiên cứu nhân thể học thực nghiệm và suy lý. Trong viễn tượng ấy, con người theo ý niệm sinh vật và con người theo ý niệm suy lý của chủ tri hay Ngã tiên nghiệm không thể chấp nhận một cách dễ dàng được.
Đứng trước một kho tàng thần thoại phức tạp như vậy
người ta đã nêu ra không biết bao nhiêu là giải thích khác nhau về ý nghĩa thần thoại. Lý do là vì, tuy rất khác nhau, nhưng những hình ảnh thần thoại kia vẫn để lộ những tư tưởng sơ đẳng giống nhautừ dân tộc này đến dân tộc khác. Hơn nữa, hình như tất cả đều phát xuất từ cùng một khả năng tinh thần nào đó.Một thắc mắc như vậy tất nhiên phải nảy ra trong đầu óc các nhà nghiên cứu.
Từ đó họ mới đi tìm những giả thuyết để giải thích và mở đường cho một triết lý về thần thoại.
(còn tiếp)
LÊ TÔN NGHIÊM
|
Dành hết Tình Yêu cho Người trong
thơ tình của một thi sỹ việt nam trên đất mỹ
thơ PHƯƠNG TẤN
người-trẻ-việt-nam tái bản
liên lạc nơi 220/150/17
trương minh giảng Saigon.
|