Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 5 (Năm 1972)

Tư Tưởng Số 5 (Năm 1972)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1972. Số trang: 104.

Chương 2: 2. Cộng Sản Nga Sổ Dưới Mắt Một Người Nga (Trang 45 - 68)

CỘNG SẢN NGA SÔ DƯỚI MẮT MỘT
NGƯỜI NGA
 
LÊ TÔN NGHIÊM
 
Một cách rất thẳng thắn, ngày nay người ta dễ có cảm tưởng rằng : Cộng sản Nga sô đã chỉ thực sự bắt nguồn từ lý thuyết Mác xít với ba thành tố cấu tạo căn bản : một là triết học, hai là kinh tế, ba là chính trị.
            Một ý nghĩ như vậy không phải không có nền tảng vững chắc, vì chính Lénine trong quye3n “Karl Marx, Les trios sources et les trios parties constitutiées du Marxisme), cũng đã minh định điều đó, rồi từ đấy ai ai cũng nhìn nhận
Rằng : lý thuyết Mác xít đã khởi phát từ ba nguồn suối : một là “triết lý Đức quốc cổ điển” cấu tạo thành Duy vật sử quan và biện chứng : hai là “kinh tế chính trị Anh quốc” xây dựng lý thuyết cần lao, giá trị và thặng dư; ba là “chinh trị Pháp quốc” tức xã hội chủ nghĩa ảo tưởng của những Fouririer, St. Simone, Proudhon v.v…, yếu tố cảm hứng cho cuộc đấu tranh giai cấp và vô sản chuyên quyền.
            Tuy nhiên, ngoài những yếu tố trên, hình như còn một yếu tố khác không kém phần quan trọng và quyết liệt, nhưng í tai chú ý. Đó là yếu tố tôn giáo hay ý hệ. Thiếu yếu tố ấy có lẽ người ta khó có thể hiểu tại sao chủ nghĩa Cộng sản đã có thể kích động được sự hăng say và đam mê nơi những đảng viên hay nơi cả những người tri thức cảm tình.
            Yếu tố này đã được chính một nhân vật thoái thai từ lòng dân tộc Nga sô và am hiểu tường tận lịch sử và truyền thống tinh thần của họ.Đó là triết gia hiện sinh Nicolas Berdiaef (1874-1948) (1) khi Ông biên soạn ra cuốn “Những nguồn suối và đường hướng của Cộng sản Nga sô”. Một cuốn sách tuy đã hơi xưa, nhưng không phải không còn thời danh. Tác phẩm được biên soạn bằng Nga ngữ vào năm 1935-1936, nhưng chỉ được xuất bản bằng Pháp ngữ do Elexis Nerville dịch thuật và xuất bản tới lần thứ 13 vào năm 1951 dưới nhan đề “Les Sources et le Sens de Communisme Russe” N.R.F. Gallimard
__________________
(1) Xem Lê Tôn Nghiêm ; Những vấn đề triết học hiện đại. Ra khơi”.
Theo tác giả, người ta có thể nhìn chủ nghĩa Cộng sản Nga sô theo ba quan điểm khác nhau : Một là lịch sử, hai là chính trị, ba là tôn giáo; tuy nhiên tác giả chỉ chú trọng duy có yếu tố và quan điểm tôn giáo, vì theo Ông, lý thuyết Cộng sản Nga sô là một lý thuyết cách mạng và tính cách mạng ấy chỉ có thể có được sức mạnh kích động hùng mạnh tiềm ẩn của nó bằng cách thâm nhập qua những năng lực tôn giáo rất kỳ cựu và cố hữu của dân tộc Nga sô. Trong trang kết luận, Ông viết : “Trong quyển sách này tôi đã muốn chứng minh rằng, chủ nghĩa Cộng sản Nga sô có tính cách thủ cựu hơn điều người ta thường tưởng, nghĩa là nó chỉ là một biến trạng và hình ảnh sai thù của một quan niệm Cứu thế Nga sô kỳ cựu” (2)
            Chính tính cách thủ cựu ấy đã biến Cộng sản Nga sô trở thành một tín ngưỡng, một tôn giáo :
            “Ta cần nhắc lại một lần nữa rằng : nếu được du nhập trong những dân tộc khác thì nó sẽ không thiết yếu mang những hình thức cực đoan mà ta vừa ghi nhận trên đây, nghĩa là có lẽ nó sẽ không thiết yếu là một tôn giáo.” (3)
____________________
(1) (J’ai voulu montrer dans ce livre que le communism russe est plus traditionaliste qu’on n’a coutume de le penser, qu’ll est nne tran-formation et une deformation de la vieille idée chrissianique Busse)
(2) (Répétons encore une fois que le communisme, s’il venait à se réaliser en d’autres pays, n’y prendrait pas nécessairement ces forms extrè-mes que nous venous de noter. II n’y serait pas nécessairement une religion) (trg. 249)
Nói tóm, mục tiêu chính yếu của tác giả ở đây là chứng minh những liên hệ mật thiết giữa chủ nghĩa Mác Xít Sô viết với lịch sử và diễn tiến tinh thần tôn giáo của Nga sô.
            Mục tiêu chính yếu ấy cũng chính là quan điểm độc đáo của cuốn sách, gồm hai phần : Thứ nhất từ chương I đến hết chương IV, tác giả mô tả và phân tích quá trình lịch sử tinh thần tôn giáo kỳ cựu của Nga sô; Thứ hai từ chương V đến chương VII là chương chót, tác giả mô tả và phân tích những nét độc đáo của Cộng sản Nga sô hiện đại và ghi nhận những gì giống với truyền thống kỳ cựu của dân tộc Nga sô.
            Trong truyền thống Nga sô. Berdiaev ghi nhận hai yếu tố nổi bật nhất và được Ông coi như những yếu tố chuẩn bị cho sự du nhập và đồng hóa hầu như tự nhiên của chủ nghĩa Mác xít, với dân tộc tính Nga sô. Đó là quan niệm quyền binh cai trị như một quyền binh tuyệt đối, chuyên chế và tinh thần Cách mạng cố hữu. Hai yếu tố ấy được -Ông gọi là “Tiền-Mác xit” (Pré-Maxistes).
            Những hình thức cực đoan biều lộ tính cách thủ cựu qua quan niệm Cứu thế vừa nói trên được phân định thành hai loại : loại tích cực là sự tìm kiếm Thiên chúa và một chân lý toàn triệt, khả năng hy sinh, loại trừ khuynh hướng trưởng giả; loại tiêu cực, chủ trương Nhà nước độc tài và chuyên chế ; một ý thức càng ngày càng suy giảm về những quyền lợi của con người, sau cùng, hiểm họa, của một cộng đồng chủ nghĩa vô ngôi vị.
- Thứ nhất quan niệm quyền bính tuyệt đối, chuyên chế. Luôn luôn Mạc tư khoa tự nhận mình là một Đế quốc, nhưng tinh thần Đế quốc ấy lại luôn luôn được khích lệ do một lòng tin tưởng sâu xa vào sức mạnh tôn giáo.
“Cảnh vực tâm lý là phản ảnh của cảnh vực địa lý” (tr.10) Theo Berdiaef, sở dĩ người Nga có khuynh hướng đi tới một chính quyền chuyên chế là vì tâm hồn họ luôn luôn bị đe dọa bởi những bờ cõi mênh mông của bờ cõi họ, một sự mênh mông mà các sử gia đã coi là nguyên nhân cho hình thức cai trị luôn luôn chuyên chế của họ ; nên một sử gia danh tiếng nhất trong bọn họ, Ô. Kliouchevski đã viết : “Hễ Nhà nước phồng lên thì dân đen xẹp xuống ; công thức ấy đúng đối với cả lôi cai trị của Sô viết ngày nay, vì ở đây cũng vậy, những quyền lợi của toàn dân phải được hy sinh cho hùng cường và tổ chức của Nhà nước.” (tr. 10)
Nhưng một khuynh hướng quyền bính chính trị tuyệt đối ấy chỉ có đủ sức mạnh khuất phục là nhờ ở sự hình thành về tôn giáo :
“Sự hình thành tôn giáo của dân tộc Nga sô đã ghi trên họ những nét rất độc đáo như tinh thần khắc khổ, vỡ đoán, khả năng chịu đựng đau khổ và hy sinh về một tín ngưỡng nào bất cứ, sau cùng là sở thích đối với cái siêu việt, sở thích này khi thì biểu lộ trong một tương lai được thực hiện ngay trong trần gian này.” (tr.10)
Thái độ tin tưởng có tính cách Tôn giáo ấy đã thể hiện thành cực đoan như một sự tin tưởng thường được gọi là có tính cách chính thống hay ý hệ loại trừ mọi tin tưởng khác nó.
            “Chính vì truyền thống võ đoán – tôn giáo của họ, người Nga sẽ không bao giờ không là chính thống, hoặc là chính thống tà đạo, hoặc là chính thống thần khải, hoặc là chính thống theo hư vô chủ nghĩa. Ngay ở thế kỷ XVII, họ cũng vẫn chính thống khi họ trở thành những tín đồ ly khai kỳ cựu, hay cả ở thế kỷ XIX, kho họ trở thành những con người Cách mạng. Luôn luôn cơ cấu tâm hồn Nga sô là như thế,…, cho nên tín ngưỡng chính thống (la foi orthodoxe) bất cứ là tin ngưỡng đối với vấn đề gì, cũng là một điều tối quan trọng đối với ta. Vì chính đó là yếu tố luôn luôn thiết định đặc tính của những gì gọi là Nga sô” (tr. 10-11)
            Với niềm tin chính thống bất khuất ấy, dân tộc Nga tin tưởng rằng : chỉ có Đế quốc Mạc tư khoa mới mãi mãi là Đế quốc chính thống duy nhất và chỉ có dân tộc Nga sô là dân tộc bảo trì được niềm tin chính thống.”
            “Niềm tin chính thống là niềm tin Nga sô, còn niềm tin không Nga sô là niềm tin không chính thống.” (1)
            Từ sự tin tưởng ấy, đã có lần Mạc tư khoa tự xưng là Đế quốc La mã thứ ba, và tự hào ấy đã là nền tảng ý hệ cho sự hình thành Đế quốc của Tsars : Chính quyền chuyên
_______________________
 
(1) (La foi orthodoxe est la foi russe, la foi non – ruse est la foi non orthodose  ) trg 13.
Chế của Mạc tư khoa sẽ được thiết lập dưới biển hiệu của một quan niệm cứu thế tức là một gia công tìm kiếm để xây dựng một Đế quốc, Đế quốc của chân lý, như lý tưởng sẽ theo đuổi dân tộc Nga sô qua tất cả dòng lịch sử của họ. Như thế, người ta chỉ có thể gia nhập Đế quốc Nga sô bằng niềm tin chính thống, cũng như ngày nay người ta chỉ có thể gia nhập Nga sô viết bằng niềm tin Cộng sản mà thôi.
            Vào khoảng thế kỷ XVII, quan niệm chính trị chuyên chế này đã bị tục hóa, nhưng một lần nữa, nó đã đầu thai lại trong khuynh hướng cứu thế xã hội Cộng sản.
- Tiếp đó là truyền thống Cách mạng Nga sô :
Truyền thống ấy cũng thể hiện qua một ý thức Cứu thế cao độ nhất và gần gũi với chủ nghĩa Bolchevism nhất ở thế kỷ XIX với những nhân vật thời danh và đại diện của Nga sô, được Berdyaev gọi chung một tiếng là “Intelligentia” tạm dịch là “Đầu não” Nga sô.
Theo tác giả, đây là yếu tố giúp “hiểu những nguồn suối phát sinh ra Cộng sản Nga sô” và “tính chất đích thực của Cách mạng” (tr. 27), nhưng tác giả lưu ý rằng : ý niệm “Intel-ligentia” ở đây hiểu theo quan niệm như “Giới tri thức” của Âu châu Tây phương, vì ở đây chỉ được coi là trí thức những người chú trọng học hỏi và sáng tạo những công trình thuộc trí óc như giới bác học, văn sĩ, giáo sư v.v… Trái lại, theo quan niệm “đầu não” của người Nga thì khác hẳn, vì có thể thuộc thành phần này, cả những người không
chú ý gì đến những công trình thuộc trí óc hay chính họ cũng không phải những người trí thức.
            Vậy có lẽ phải so sánh “đầu não” này với một dòng tu, một đảng phái có một căn bản luân lý riêng, rất khắc khe, và theo đuổi một thế giới quan mà không một ai có thể khước từ, rồi họ còn sống theo những tập quán, những thói tục đặc biệt, đặc biệt đến cả dáng vẻ bề ngoài.
            Nói tóm “Đầu não” Nga sô là một tập đoàn cùng ý hệ, chứ không phải cùng nghề nghiệp hay kinh tế.
            Tập đoàn này được tuyển mộ từ những tầng lớp xã hội khác nhau trước kết từ giai cấp thượng lưu, tiếp đó, từ con cháu các vị linh mục và phó tư tế, từ các công chức nhỏ, hay thương gia và sau cùng, từ những người nông dân.
            Như thế tập đoàn này là sự tụ hội của mọi tầng lớp xã hội, mà đường hướng nhất trí thiết yếu đượcxây dựng bằng những tư tưởng nhất là những tư tưởng xã hội.
            Tóm lại, tác giả viết : “Những con người của “Đầu não” luôn luôn bị chi phối mãnh liệt bởi một ý tưởng mà thường thường là ý tưởng xã hội và họ hoàn toàn hiến thân cho ý tưởng đó.” (1)
            Phải, tất cả họ là những con người Cách mạng mà Dostoi-evski đã gọi là “Những con người lang thang số một của miền đất Nga sô. Tất cả họ đều là những con người cực đoan,
_______________________________
(1) ( Les homes de I’intelligentria sont toujour happés par une idée, sociale généralement, et s’y coressement exclusivement) (trg. 28)
Nga sô, hoặc họ là hư vô chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, hoặc họ là chiến sĩ của nhân dân hay vô chủ chính trị thuyết. Tất cả họ đều mang nặng trong đầu óc ý thức Cách mạng, để “cứu thế” một xã hội coi là suy đồi. Con người Cách mạng ấy đã được Netchaev – một khuôn mặt âm u đầy dằn vặt, con người xây dựng nền móng cho một xã hội Cách mạng – như sau : “Con người Cách mạng là một con người đã mang một ấn tín. Họ không có quyền lợi, không có giao thương, không có tình cảm riêng tư, không liên hệ, không một cái gì riêng tư cho một mình họ, ngay cả danh xưng. Trong họ tất cả đều bị chi phối bởi một mục tiêu duy nhất, một tư tưởng duy nhất, một đam mê duy nhất. Đó là Cách mạng.” (trg. 84)
            Với con người Cách mạng, tất cả những gì phục vụ cho Cách mạng đều tốt. Sau này, Lénine cũng nói lại câu đó. Ai còn quý chuộng một cái gì trên trần gian thì người đó không xứng danh một nhà Cách mạng.
            Ngoài quan niệm “Đầu não” ra, văn chương Nga sô còn tô điểm thêm cho tinh thần chính trị tôn giáo và cách mạng ấy, bằng những nét độc đáo khác. Đó là tính chất “Tiên tri” hay “ khải huyền thế mạt” (caractè re prophétiquae, aprodytique et eschatolagique).
            “Nếu chỉ nhìn vào vấn đề ta đang bàn luận ở đây tức là những nguồn suối khai sinh ra Cộng sản, thì có một đặc tính thiết yếu cho nó, đó là tính chất tiên tri. Quả vậy, văn chương
Nga sô là một thứ văn chương có tính chất tiên tri nhất thế giới, nó đầy đặc những tiên cảm và dự đoán,vì luôn luôn bị giao động bởi  sự chờ đợi một tai họa hóng tới.” (trg, 101)
            Các đại văn hào Nga sô thế kỷ XIX đã cảm thấy rằng : Nước Nga đang đứng trước bờ vực thẳm và đang chực sẩy chân rớt xuống đó. Toàn bộ sáng tác của họ đều phản ảnh một cuộc Cách mạng nội tâm đang hình thành và một cuộc Cách mạng khác đang diễn tiến.
            Thế kỷ XIX là một thế kỷ vĩ đại nhất của lịch sử Nga sô và là thế kỷ đánh dấu sự thăng tiến sáng tạo của nó đã là thế kỷ của Cách mạng sôi động. Ngoài trừ thời kỳ sáng tác của Pou-chkine là thời kỳ canh tân, hoàng kim của thi ca Nga sô, ngay từ thời Gogol, văn chương Nga sô đã có khuynh hướng “cứu thế” ; nó luôn luôn đi tìm chân lý và sự công bình, và những phương diện để thực hiện cả hai điều đó. Đâu đâu, văn chương ấy cũng khởi phát lên từ sự bị dằn vặt, từ cảm nghiệm số kiếp đau khổ của con người, của toàn dân và từ sự nỗ lực đi tìm một giải thoát cho nhân loại.
            Như thế, chúng ta mới dễ hiểu rằng : Những chủ đề nền tảng của văn chương Nga sô đều có tính cách tôn giáo và những cảm tình đối với toàn nhân loại là những đặc tính của họ đã bùng nỗ trước sự ngỡ ngàng của khắp thế giới.
            Về phương diện tâm lý, những Gogol, Tolstoi, Dostoiev-ski thường hay giống với Bielinski, Bakomine, Tchernichevski, Pissarev v.v…
Nói tóm, cả văn chương, cả tư tưởng Nga sô về trước đã chứng minh rõ rệt rằng : Đế quốc Nga sô xưa đã bị chi phối bởi một sự phân hóa sâu xa, nhất là sự phân hóa giữa giới trí thức, thượng lưu và giai cấp dân chúng. Do đó, muôn người như một đều hướng về quan niệm cần thiết phải vượt lên trên sự phân hóa đó và lấp đầy hồ thẳm ấy bằng một kinh nghiệm nào bất cứ, nhưng kinh nghiệm ấy phải có giá trị cộng đồng.
            Như thế, tất cả đều hướng về Cách mạng.
            Đó là sơ lược những nét độc đáo của phần thứ nhất trong cuốn sách của Berdyaev.
 
xXx
            Tiếp sang phần thứ hai, tác giả bắt đầu trình bày sự chuyển hóa từ Mác xit cổ điển tức của chính Max và Engels sang Mác xít Nga sô tức của Plekkanoff và Lénine.
            Theo Berdyaex, trong lịch sử chính trị và cách mạng Nga sô, học thuyết Mát xít là một học thuyết phức tạp hơn những học thuyết cách mạng đi trước như hư vô chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa hay cách mạng nhân dân v.v… Do đó, hơn mọi chủ nghĩa khác, học thuyết Mác xít đòi hỏi một cố gắng lớn lao hơn, hầu như phi thường.
            Trước hết nó muốn được coi như một phương diện cho hành động cách mạng, một phương diện đấu tranh chủng tộc những khuynh hướng cổ xưa là những sức mạnh đã tỏ ra hoàn toàn bất lực và vô công hiệu. Tuy nhiên, thoạt tiên, những
con người Nga sô chủ trương Mác xít cho con người Nga sô cảm tưởng rằng : Mác xít là những con người cách mạng ít cực đoan và ít bạo động hơn những chủ thuyết gia chính trị và xã hội đi trước, nhưng kỳ thực, “sự khai sinh ra học thuyết Mác xít (ở Nga sô) đã là biến cố đánh dấu một khủng hoảng trầm trọng cho giới “Đầu não” và cho sự ly khai nền tảng đối với vũ trụ quan của giới đó. Vì thế, tất cả mọi khuynh hướng mới đều từ nó mà khởi phát lên.” (1)
            Để dễ hướng dẫn độc giả vào “đường hướng” tức là những trào lưu tương lai của tư tưởng Nga sô, sau lý thuyết Mác xít Berdyaev phác họa một hai nét được Ông coi là độc đáo nhất trong lý thuyết Mác xít cổ điển, nhất là để làm nổi bậc lên tính chất “cứu thế” và “ý hệ” của nó, như sau :
            Trong số những đặc điểm phức tạp, tác giả chỉ ghi nhận duy có hai yếu tố nền tảng sau đây ; Ông viết :
            “Không những là một lý thuyết về Duy vật sử quan và kinh tế vì nó hoàn toàn lệ thuộc những yếu tố kinh tế ; lý thuyết Mác xít còn là lý thuyết chủ trương giải phóng, chủ trương giai cấp vô sản có sứ mệnh cứu thế, chủ trương tiên báo (cho nhân loại) một xã hội hoàn hảo mà trong đó con người sẽ không còn lệ thuộc những định luật kinh tế nữa, chủ
 
_____________________________
(1) (En réalité, “la naissance du marxisme ne requait une crlse profonde de Pintelligentria, la rupture des bases de sa conception du monde. Toutes les tendances nouvelles vont naitre de loi) trg. 130.
Trương sức mạnh và sự chiến thắng của con người trên những sức mạnh phi lý của thiên nhiên và xã hội. Đây mới chính là linh hồn của chủ nghĩa Mác xít, chứ không phải những định luật cố định của kinh tế.” (1)
            Như thế, trong hai yếu tố nền tảng của Mác xít, Berdyaev sau cùng chỉ nhấn mạnh trên tính chất “Cứu thế” và “ý hệ” của nó. Đây là điểm nói lên tính chất Duy tâm (ảo tưởng) (idé-aliste) của Mác xít mà chàng thiếu niên Marx đã thừa hưởng được từ Fichte, Hegel, Feuerback (xem Cornu) và đây cũng chính là điểm đã đóng con dấu đậm đà của nó trên tất cả ý thức của mọi con người Mác xít (2).
            Giải thích điểm ấy, tác giả viết tiếp : “Sự kiện con người hoàn toàn bị chi phối bởi xã hội tư bản (tức là bởi sức mạnh kinh tế) là một sự kiện đã thuộc quá khứ ; sự bị lệ thuộc yếu tố kinh tế) là một sự kiện đã thuộc quá khứ ; sự bị lệ thuộc yếu tố kinh tế chỉ là một di truyền quá khứ, nhưng trong tương lai thì sẽ khác, con người phải được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ. Giai cấp Vô sản chính là nguyên động lực có khả năng giải
________________________
(1) (Le marxisme n’est pas seulement la doctrine du matérialisme his-torique et économique ; il est aussi la doctrine de la délivrance, dela voca-tion messianique du prolétariat, de I’annonce de la société parfaite dans laquelle I’homme ne sera plus sources à ces lois de I’écono-mic, la doctrine de la puissance et de la victoire de I’homme sur les forces irrationnelles de la nature et de la société. Ici réside I’âme du marxisme, et non dans le déterminisme économique) trg 132.
(2) (Cette filitiation idéaliste qui mettra son calret sur toute conscience marxiste) trg, 130.
Phóng nhân loại và xây dựng một cuộc sống mới. Người ta gán cho giai cấp này một sứ mệnh cứu thế, những gì là đặc ân của dân được Thiên chúa tuyển  mộ đều đã được chuyển đạt sang cho họ, vì họ cũng được coi là một dân tộc Do thái mới.” (trg. 133).
            Nói tóm, sau cùng người ta đã tìm ra được đòn nạy để đẩy cho toàn thế giới thăng tiến tới những tương lai sáng lạn hơn. Đòn nạy đó là Giai cấp Vô sản.
            Như thế là từ căn bản Duy vật, lý thuyết của Marx đã hóa thân thành một chủ thuyết Duy tâm cực đoan nhất. Yếu tố Duy tâm này, như đã nói, Marx thừa hưởng được tứ Duy niệm Đức, trong đó sự tin tưởng vào sức mạnh hành động của con người là căn bản nhất, vì thực sự nó cũng là sự tin tưởng vào tinh thần, nói khác duy niệm hoàn toàn không đội trời chung với Duy vật. Hơn nữa, đây còn là một điểm Mác xít giống với triết học Hiện sinh, vì cả hai bên cùng chủ trương tố cáo sự nói dối của khuynh hướng “đối tượng hóa”, để đề cao sự chiến thắng của sức mạnh hành động nơi con người.
            “Sức mạnh kinh tế Duy vật nô lệ hóa con người ; trái lại, con người mới tự cảm thấy mình được khích lệ do niềm tin vào sức mạnh hoạt động của mình, như có khả năng thực hiện được những phép lạ và thay đổi bộ mặt của xã hội.” (1)
            Và theo tác giả chỉ có khía cạnh đó mới giảng nghĩa được
 
_____________________
(1) (La matérialisme économique abaisse I’homme au contraire, I’homme se sent ranimé par la foi dans sa proper activité, eapale d’opérer des miracles et de renouveler la société) trg 134.
tại sao lý thuyết Mác xít đã khơi động lên được sự hăng say và nghị lực cách mạng.”
            Cũng như tất cả mọi chủ nghĩa đấu tranh, lý thuyết Mác xít không bao giờ có tính cách thuần túy kinh tế, trái lại luôn luôn mang nặng tính chất thẩm định và tìm kiếm một giá trị, một lý thuyết để đạt tới.
            Tóm lại, “trong hệ thống lý thuyết Mác xít, người ta ghi nhận một sự xáo trộn những yếu tố Duy tâm, luân lý và sáng tạo huyền thoại. Theo quan điểm luân lý thì sự xáo trộn này hoàn toàn mâu thuẫn.
            Nhưng thực sự chính Marx đã chế tạo ra một huyền thoại đích thực về vô sản, nên sứ mệnh mà vô sản đã trở thành một tác động của tín ngưỡng. Do đó, Mác xít không phải chỉ là một khoa học, một chính trị mà còn là một sự Tin tưởng và một Tôn giáo. Chính đó là nền tảng sức mạnh cho nó.” (trg. 136)
            Bằng “đường hướng” Duy tâm ảo tưởng và cực đoan ấy, lý thuyết Mác xít cổ điển đủ ảnh hưởng mạnh mẽ vào những thế hệ Mác xít Nga sô đầu tiên, khởi đầu từ Plekhanoff- một trong những lý thuyết gia quan trọng nhất được  mọi người công nhận về Mác xít. Tuy ông có vẻ là đại diện cho mẫu người cách mạng có tính cách sách vở hơn là thực tế, nhưng các sáng tác của Ông đã ảnh hưởng từ những ý tưởng Tây phương đã ảnh hưởng nhiều cho một vài thế hệ Mác xít Nga sô trong
số đó phải kể cả Lénine và những người cầm đầu phong trào Cộng sản (trg 128)
            Nhưng khi những ý tưởng Mác xít được đem áp dụng vào Nga sô qua trung gian của những nhà Xã hội Dân chủ thì đã khai sinh giữa lòng lý thuyết Mác xít Nga sô một sự phân hóa thành một bên là cánh chính thống có tính cách cách mạng hơn, một bên là cánh bình luận, kiểm thảo, có tính cách cải cách mà thôi ; do đó một đàng với khuynh hướng kiểm thảo, Nga sô tỏ ra trung thành nhiều hơn với khía cạnh cố định và duy khoa học của lý thuyết Mác xít nguyên thủy ; trái lại, với khuynh hướng “chính thống” của nhà Xã hội Dân chủ Nga sô lại rút ra từ học thuyết Mác xít. Một cách chung cục, những kết luận rất độc đáo, khó có thể được Marx và Engels chấp nhận.
            Theo G. Luckas, ý hướng Cách mạng Nga sô ở đây mang một bản sắc đặc biệt, vì đối với người Nga “con người Cách mạng không phải là bằng những chủ đích cực đoan, cũng không phải bằng bản chất những phương diện sử dụng trong sự đấu tranh. Ở đây, đường hướng cách mạng là cách mạng toàn diện, là sự toàn bích đối với mỗi hành vi trong cuộc ; Con người cách mạng là con người trong mỗi hành vi đặc thù, do họ thực hiện đều quy hướng về toàn bộ, về toàn thể xã hội và phục tòng vào tính cách phổ biến của xã hội.
            Nói tóm, con người Cách mạng có một vũ trụ quan toàn diện trong đó lý thuyết đã thực hành hoàn toàn, bị hòa lẫn với
nhau. Cách mạng toàn diện và cách mạng tuyệt đối, triệt để là nguyên tắc nền tảng của thái độ cách mạng đối với với đời sống (trg 142)
            Những nhà Cách mạng Nga sô thuộc “đầu não” của dĩ vãng, cũng đã là những con người “toàn diện”, cực đoan và tuyệt đối, vì đối với họ ngày nay cũng như ngày xưa, Cách mạng vừa là tôn giáo, vừa là một triết lý, chứ không chỉ là một cuộc chiến đấu liên hệ tới những khía cạnh chính trị và xã hội của cuộc sống mà thôi ; vì vậy phải nhào nặn lý thuyết Mác xít Nga sô cho tới trình độ đó đáp ứng với tiềm thức và bản năng cách mạng toàn diện tuyệt đối.
            Công trình ấy chính là công trình của Lénine và chủ nghĩa Bolchevisme. Chính phủ nghĩa Bolchevesme cũng tự định nghĩa như một lý thuyết Mác xít chính thống duy nhất, tức là phù hợp với lý tưởng toàn diện tuyệt đối như vừa phân tích trên đây.
            Như thế, lý thuyết Mác xít chính thống thực sự như đã nói, chỉ là một lý thuyết mác xít đã biến thể theo cách thức Nga sô và thay vì chấp nhận khía cạnh cố định, tiến hóa, khoa học của học thuyết Mác xít cổ điển, lý thuyết này đã trước hết và trên hết chấp nhận khía cạnh cứu thế, tôn giáo, sáng tạo cách huyền thoại, chấp nhận sự ĐỀ CAO Ý CHÍ cách mạng là ý chí đẩy lên hàng đầu sự đấu tranh Cách mạng của vô sản do một thiểu số có tổ chức hướng dẫn và được cảm hứng bởi một ý tưởng vô sản ý thức. Chỉ có lý thuyết Mác xít, tức lý
thuyết Mác xít chính thống và toàn bích ấy đã đòi hỏi một tuyên xưng tín ngưỡng duy vật, mặc dầu nó hàm chứa rất nhiều yếu tố duy niệm. (trg 143).
            Nói tóm, lý thuyết Mác xít đã thực sự bị Nga sô hóa và Đông phương hóa (trg 145).
            Nhưng Mác xít đã là yếu tố gieo một khủng hoảng trầm trọng vào giới “đầu não” Nga sô và là ý thức cho sự nhu nhược của nó, vì không những nó đã đánh dấu một sự thay đổi về quan niệm thế giới mà còn đánh dấu một thay đổi một cơ cấu tâm hồn.
            Do đó, chủ nghĩa Xã hội Nga sô đã trở thành ít tính cách cảm xúc và tình cảm, để mang những mầu sắc và nền tảng lý trí mạnh mẽ hơn. Từ đó một khuynh hướng Duy tâm mới chớm nở : “Một cách rất mau chóng, trào lưu Duy tâm mới này sẽ cắt đứt mối dây ràng buộc với bất cứ một hình thức Mác xít nào và lao mình vào cuộc tranh đấu nhân danh những giá trị tinh thần mà thôi. Đó là những người thuộc lãnh vực nghệ thuật, khoa học, đời sống đạo đức và tôn giáo (trg 148).
            Vì thế mà vào đầu thế kỷ XX, nước Nga đã trở thành sân khấu cho một cuộc Phục hưng vĩ đại về mặt văn hóa, tôn giáo, triết lý, nghệ thuật. Từ Tchernichevski và Pletehanoff, người ta trở về với Dostoievski, Tolstoi và Soloviev.
            Nhưng những con người sáng lập nên phong trào văn hóa tinh thần đã không còn sức mạnh tác dụng nào trên tinh thần
cách mạng đang trào lên nữa. Họ đã tự cô lập hóa mình với xã hội để sống trong một nhóm trí thức hoàn toàn khép kín (trg 150).
            Chính trong những năm ấy đã xẩy ra những cuộc tranh luận rất sôi nổi giữa hai nhóm người : một bên là những người “Menahavisme” là biểu hiện cho một sự nhu nhược, một bên là những người “Bolcheviks” với tinh thần cách mạng hùng hổ chỉ có Lénine mới là thủ lãnh thực sự được. Danh từ “Bol-chevisme” là tượng trưng cho sức mạnh. (trg 150-151)
            Bolcheviks là những người không còn chú ý tới những vấn đề tinh thần nữa mà chỉ xuất hiện như những con người hoàn toàn Duy vật và Duy kiện. Thực vậy, “trên bờ mặt của đời sống Nga sô hình như tinh thần tự do tư tưởng đã bắt đầu giữ một vai trò và nhà nước có thể tin cậy vào tinh thần ấy. Nhưng nghịch lý phi lý nhất cho số mệnh Nga sô, cho Cách mạng của nó là những lý tưởng tự do và những ý tưởng pháp lý-nói tóm là quan niệm chỉ có cải cách đều phải được coi là những ý tưởng hoàn toàn ảo tưởng ; trái lại, chủ nghĩa Bolchevisme sẽ xuất hiện như một thực tại ít ảo tưởng, thực tế hơn, thích hợp với hoàn cảnh nước Nga vào năm 1917 hơn, hơn nữa, nó còn tỏ ra trung thành hơn với truyền thống cổ kính, với những công cuộc tìm hiểu chân lý xã hội, toàn cầu hiểu theo một ý nghĩa Duy vật và thực sự phù hợp những phương pháp cai trị căn cứ hoàn toàn trên sức mạnh của cưỡng bách và bạo động của Nga sô.” (trg 152-153)
Do đó, Cộng sản đã trở thành số mệnh bất khả kháng của Nga sô, như một giai đoạn tiến triển nội tại của số mệnh của nó.
            Cũng như tất cả mọi cuộc cách mạng, Cách mạng Nga sô đã thực hiện được với danh nghĩa một Quốc tế chủ nghĩa, nhưng đồng thời Cách mạng ấy lại giữ nguyên vẹn tính cách quốc gia của nó. Như thế, tự bản chất, Cộng sản Nga sô vừa có tính cách quốc tế vừa có tính cách quốc gia đồng thời, do đó người ta khó lòng có được một phán quyết đích xác về nó. Hơn nữa, trong cuộc Cách mạng này, sự tham gia nồng nhiệt của người Do Thái còn biểu lộ thêm rằng : Chủ trương cứu thế Nga sô có nhiều điểm tương đồng với tinh thần cứu thế của Do thái. (tr 158)
            Theo Berdyaev, chính Lénine là người đã thể hiện hoàn bị nhất tiêu biểu Nga sô đó, với bộ mặt lộ liễu, độc đáo, Ông mang di tích của một dòng giống Nga-Mông cổ rất rõ rệt.
            Thay vì thuộc giới “đầu não” Nga sô, Ông lại xuất thân từ giới nông dân Nga sô. Tính tình đơn sơ chất phác, nhất trí, cộc cằn, ác cảm với tất cả những gì rườm rà, mơ mộng, văn chương, và rất thực tế, là những đặc tính Ông đã thừa hưởng được từ lòng của giới nông phu. Lénine là một nhà Cách mạng cực đoan và là một chính trị gia. Ông đã dung hòa được một thế giới sử quan tuyệt đối và cách mạng cực đoan với sự mềm dẽo và hợp thời trang những phương tiện đấu tranh và
Một chính trị thực tiễn. Đơn sơ,ngay thẳng, khắc khổ trong khuynh hướng hư vô là những đức tính nơi ông có thể đi đôi với sự xảo quyệt và hầu như sự dối trá. (tr 157)
            Tất cả cuộc sống của Ông đã hoàn toàn dành cho sự đấu tranh về một thế giới quan toàn bích, tuyệt đối mà Ông coi là cần thiết cho sự đấu tranh và chính đó mới là động cơ thúc đẩy những tiềm lực cách mạng. (tr 160)
            Với Lénine, chủ nghĩa Mác xít trước hết là lý thuyết chủ trương sự cai trị chuyên chế của giai cấp vô sản (tr 163), điều mà các người Mencheviks từ chối không công nhận vì không thích hợp cho một nước có căn bản kinh tế nông nghiệp như Nga sô. Những người này thì muốn xây dựng sức mạnh cách mạng trên số đông, trên những người dân chủ, nhưng Lénine thì không bao giờ. Không chấp nhận nguyên tắc của đa số, mà chỉ chấp nhận nguyên tắc của thiểu số được tuyển lựa. Do đó, người ta mới gọi Ông là “Blanquiste”. (tr 1963)
            Chính sách độc tài là hậu quả đương nhiên của những quan niệm của Lénine hay đúng hơn Ông đã xây dựng quan niệm thế giới của Ông thích hợp với chính sách độc tài. Ông còn tuyên bố độc tài cả trong lãnh vực triết lý, vì ở trong đó Ông chỉ chấp nhận ưu thế tuyệt đối chủ trương Duy vật biện chứng trên tư tưởng.
            Chủ nghĩa Bolchevisme từ đó mà thành hình và đảng Bolcheviske đã có thể trở thành mô phạm cho tổ chức tương
Lai của nước Nga, và thực sự nước Nga đã được tổ chức theo hình ảnh đó.
            Tuy xem ra mâu thuẫn, nhưng kỳ thực, có thể nói chủ nghĩa Bolchevisme là biểu thị thứ ba cho cường quyền bá chủ của Nga sô, hay cho tinh thần Đế quốc của Nga sô, vì biểu thị đế quốc thứ nhất là Đế quốc Mạc tư  khoa, biểu thị đế quốc thứ hai là Đế quốc của Pierre.
            Nói khác, chủ nghĩa Bolchevisme là tổng hợp giữa Ivan le Terrible và Marx (tr 1964).
            Lénine là một con người cực đoan, vì Ông tin tưởng ở chân lý tuyệt đối : đó là Mác xít toàn diện, Mác xít biện chứng. Chân lý tuyệt đối ấy phải là công cụ cho cách mạng và cho tổ chức chính quyển chuyên chế, độc tài. Một lý thuyết như vậy quan tâm tới toàn bộ các khía cạnh của của cuộc đời, không những về chính trị và kinh tế mà cả về tư tưởng, ý thức và sáng tạo văn hóa.
            Nói tóm, một lý thuyết như vậy đã mang tất cả những đặc tính của một tín ngưỡng một ý hệ cực đoan, rất phù hợp với dân tộc tính Nga sô vậy.

LÊ TÔN NGHIÊM
đưa người
vĩnh biệt thành tây


 
 
ấm ớ vài câu mưa nắng
thì người giã biệt ra đi
ngồi đây với ly rượu cặn
uống hoài không hết canh khuya
 
thành tây có người mới chết
trên trời mới rớt ngôi sao
đầu ghềnh trăng chưa muốn khuyết
mà nghe cuối bãi ta sầu
 
mang mang một cõi trời tây
hồn xưa chập chùng sương khói
tình nào hiu hút chân mây
 
TRẦN DUYÊN TƯỞNG
/4
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »