CẦN CÓ KẾ HOẠCH
HÓA GIA ĐÌNH Ở
NÔNG THÔN KHÔNG ?
• Vương Pển Liêm
CHO đến ngày hôm nay, không ai còn chối cãi nữa về mối ưu tư trọng đại nhứt của thế giới, của nhân loại về vấn đề Dân số và Kế hoạch gia đình.
Liên hiệp quốc đặt năm 1974 là năm Dân số Hoàn cầu vớichủ đích thúc đẩy những công trình nghiên cứu và hoạt động nhằm tìm giải pháp thích ứng cho vấn đề áp lực kinh khủng dân số gia tăng tại các quốc gia trên thếgiới.
Khóa hội thảo về dân số do ủy ban Quốc gia Dân số tổ chức đã diễn ra từ 18-2 đến 20-2-74 vừa qua tại Saigon đã đi từ nhận định vấn đề bộc phát dân số qua việc tìm hiểu hậu quả tương quan với các vấn đề kinh tế xã hội đến việc cứu xét đến khía cạnh tinh thần và đạo đức của những chính sách dân số.
Kế đó, cuộc hội thảo « Kế hoạch hóa gia đình » về khía cạnh kinh tế xã hội và luận lý, tín lý được tổ chức vào ngày 3-3 tại Tân định và hôm nay do Trường Công tác Xã hội đảm trách, đã đặt nặng vai trò của nhân viên xã hội đối với vấn đề trên, một lần nữa như cố ý thúc đẩy những người làm công tác xã hội phải quan tâm và dính líu, tích cực hơn là có thái độ cũng như phải biết mình hành động ra sao.
Có lẽ trước hết, chúng ta nên suy nghĩ về hai chiều hướng hầu như trái ngược nhau đã diễn ra trên thế giới : Một mặt người ta lo ngại dân số gia tăng sẽ gây khủng hoảng đời sống nhân loại, là con người đang lớn mạnh từ 25 đến 40 % ở những vùng kém mở mang và từ 16 đến 17 % ở những vùng phát triển, tức khu vực kỹ nghệ. Như Ấn độ 33 %, Mã lai Á 34 %, Thái lan 34 %... (Tài liệu : L’Economie de Tiers Monde của W. Schmeltz, trang 16-17).
Mặt khác, người ta lại không ngớt suy tư về tỷ số yểu tử. Như Hoa kỳ vẫn còn 11 % trong khi Hòa lan 21 %, các nướcĐông nam Á 200 % và Mễ tây cơ 125 %.
Như vậy, chúng ta nghĩ gì khi một đàng lo làm giảm dân số, đàng khác lại ra công bớt tử xuất ?
Trong khi đó, Niên giám Thống kê năm 1972, dân số Việt nam gia tăng 2,6 % mỗi năm và ước định trong vòng 25 năm tới, dân số Việt nam từ 20 triệu sẽ tăng lên gấp đôi là 40 triệu người (Tài liệu thuyết trình của Giáo sư Nguyễn Duy Xuâu, Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ).
Tỷ lệ gia tăng nói trên vẫn còn rất thấp so vớicác quốc gia trên thế giới có khi không thấm vào đâu nữa. Trong dịp hè năm rồi, một toán sinh viên Trường Chính trị Kinh doanh
của Đại học Đà lạt, nghiên cứu ấp Thới tam Đông quận Hốc môn (Gia định) phát giác rằng một số lớn sản phụ đánh mất nhiều trẻ sơ sinh hoặc lúc lâm bồn hoặc bỏ rơi trong vài tháng sau.
Tuy rằng đó là một trường hợp nghiên cứu ngẫu nhiên nhưng vẫn cho thấy tử xuất vẫn còn cao ởnông thôn Việt nam.
Bây giờ chúng ta bàn về vấn đề dân số và kế hoạch gia đình có cầu thiết hợp và thực tế không ?
Chúng tôi không muốn và chưa vội trả lời ngay.
Có điều trước khi trình bày về quan niệm và vai trò của tác viên xã hội, chúng tôi muốn đề cập tới bối cảnh nông thôn và thực trạng gia đình nông dân, vì đó là môi trường làm việc của Thanh niên Phụng sự Xã hội (TNPSXH) và ở đây, chúng tôi được hiểu biết hơn.
I.__ BỐI CẢNH VỀDÂN SỐ NÔNG THÔN
1) Thực trạng về dân số tại các làng xã
Dân sốnôngthôn đã giảm sút một cách đột ngột từ 80% (năm 1960) xuống đến 58% vào năm 1969.
Mật độ trung bình các làng xã mà TNPSXH có dịp công tác là 800 người/km2 Hiện nay nôngthôn chiếm 57%dân số toàn quốc.
Trên 1/4 thế kỷ qua bom đạn tàn phá làng mạc và chiến tranh đã ảnh hưởng càng ngày càng trầm trọng vào đời sống nông dân. Tuy chưa có thống kê chính xác nhưng người ta tin con số tử vong khá lớn. Miền quê chỉ còn những người già cả và trẻ con vì thế tỷ lệ dân phụ thuộc càng ngày càng tăng trong khi đó thành phần dân hoạt động miền quê đã giảm sút một cách trầm trọng.
Có thể mật độ dân số chỉ lên cao ở một vài thị trấn vì tình hình an ninh ở nông thôn. Trong tương lai thế nào nó cũng giảm xuống, không gian của nôngdân bị thu hẹp lại nhưng mật độ không vì thế mà tăng thêm. Làng Sơn trung tại Quãng ngãi nơi tập trung dân số nhiều làng bất an khác mà chỉ có 12.000 dân trải ra trên một diện tích là 17,8 cây số vuông.
Trong khi đó, dân hoạt động giảm nhưng tình trạng khiếm dụng nhân công cố hữu của nôngthôn vẫn không giảm sút vì diện tích canh tác hay sự khai thác tài nguyên địa phương vẫn đồng biến theo sự di chuyển địa lý của thành phần dân hoạt động.
Như thế, thực trạng dân số làng xã đãcó sự di động về số lượng và cơ cấu mà không tăng mật độ và nếp sống.
2) Thực trạng gia đình ởNông thôn
Theo sự phối hợp nghiên cứu của Tác viên TNPSXH và một số Sinh viên Xã hội IV Đại học Vạn Hạnh trong tháng vừa qua * cho thấy rằng cơ cấu nông thôn vẫn là cơ cấu đại gia đình, mực độ tương quan lệ thuộc kinh tế có phần giảm sút nhưng tương quan luân lý đại gia đình vẫn còn.
Trung bình mỗi gia đình hiện nay là 7 người con, một gánh nặng cho người cha lẫn mẹ. Một số rất ít có con dưới 4 người; số gia đình có con dưới 4 người là vì thiếu điều kiện sinh lýkhông sinh sản chứ không phải muốn ngưng sinh. Những câu mà dân làng thường dùng để trả lời trong cuộc tiếp chuyện thân mật với phỏng vấn viên là :
_______________________________
Chúng tôi dựa vào bản tóm lược sơ khởi của cuộc nghiên cứu về Đời sống xã thôn Việt nam do Giáo sư Lê Văn Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Xã hội ĐH Vạn Hạnh hướng dẫn, ngày 09-2-1974.
-
Trời sinh trâu thi sinh cỏ,
-
Trời cho bao nhiêu thì nuôi bấy nhiêu,
-
Người ta có của mình có con.
Điều đó nói lên một thái độ chấp nhận sự tiếp đón con cái một cách chân thành của những bậc làm cha mẹ.
Những gia đình trên 8 đứa con, chúng tôi thường gặp sự than vãn là con cái đông quá không đủ ăn và tuyệt nhiên không có một ý nghĩ nào cho thấy rằng thôn dân nghĩ đến chuyện ngưng sinh hay là hạn chế lại.
Thôn dân chỉ nghĩ rằng sinh một đứa con chỉ thêm « cái chén đôi đũa » chứ « không mất gì cả ». Biết đâu nhờ tuổi tác nó mà gia đình làm ăn nên.
Đứa lớn dẫn dắt đứa nhỏ và có thể giúp cha mẹ công việc làm ăn. Sự giúp đỡ này của con cái trong giai đoạn hiện tại đã giảm sút rất nhiều, trong gia đình chỉ còn những đứa dưới 15 tuổi chỉ giúp những việc lặt vặt.
Vai trò người mẹ tăng thêm về kinh tế và giáo dục trong gia đình, đôi khi nuôi cả người chồng đi lính thì phải gói thêm tiền cho chồng, nếu chồng không đi lính vì bệnh hoạn hay trốn lính và như thế không thể làm ăn gì được.
Khía cạnh dân số của gia đình nông thôn đã làm nổi bật năng suất kém và bị khống chế bởi quan niệm truyền thống để gia tăng số lượng.
3) Nhu cầu về Dân số tại Nông thôn
a) Nếu đối chiếu dân số nôngthôn và thành thị ta thấy 2 con số:
—Mật độ dân số tại làng Sơn trung (Quảng ngãi) là 800 người/km2
— Một độ dân số tại Đô thành Saigon là 25.000 người/km2.
Vậy thì ở nôngthôn hiện nay nhu cầu hạn chế số lượng chưa có gì trầm trọng so với thành thị.
Tỷ lệ dân lệ thuộc cao trong khi đó tỷ lệ dân hoạt độnggiảm, đã làm cho vấn đề dân số nông thôn trở thành một sự đảo lộn trong lề lối sinh hoạt. Dân số bất khả dụng (dưới 15 tuồi) chiếm 48 %. Dân số khả dụng 49 % so với 55 % ở các nước chậm tiến và 63 % tiền tiến. Vì thế cần phải tăng dần hoạt động nôngthôn lên, người chồng và những đứa con lớn khôn được có cơ hội sống tại làng xã để sản xuất.
Nếu theo dõi chi phí cho một đứa trẻ từ khi người mẹ thụ thai đến khi trưởng thành tại nôngthôn ít tốn hơn thành thị, nếu mức sống của 2 gia đình này giống nhau. Vì thế vấn đề giới hạn số lượng con trong gia đình chưa khẩn thiết bằng những nhu cầu khác trong gia đinh và của cộng đồng ởnông thôn.
II.— QUAN ĐIỀM VỀ SỰ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI NÔNG THÔN
1. Trước cao trào kiểm soát và hạn chế sự sinh sản, và trước sự gia tăng dân số nhất là tại đô thị, người ta đã vội vã cho rằng giới hạn sinh sản là vấn đề trọng đại nhất. Nhưng vấn đề này đặt ra chỉ đúng cho vấn đề dân số tại thành thị chứ chưa khẩn thiết đặt ra cho vấn đề dân số nông thôn.
Vấn đề áp dụng kế hoạch hóa gia đình nôngthôn phải được hiểu là giúp đỡ đểnông dân biết tổ chức lấy nếp sống gia đình cho phù hợp với sinh hoạt của gia đình và cộng đồng
hơn là ngăn chận sự sinh sản. Hơn nữa tử xuất vẫn còn cao so với sinh xuất.
-
Cần có một sự nghiên cứu sâu rộng về dân số và quan niệm lẫn thái độ của nông dân về vấn đề sinh sản chứ không thểnôn nóng áp dụng một cách liều lĩnh vào nông thôn những kỹ thuật hạn chế sinh sản.
Vấn đề đặt ra là thay đổi thái độ và quan niệm nhất là lãnh vực Đạo lý và Tôn giáo chứ không phải thuần kỹ thuật hạn chế sinh đẻ.
-
Phải đặt dân số trong môi sinh của cộng đồng, vì thế cần phải ưu tiên gây yếu tố môi sinh thuận lợi để tự nó giải quyết vấn đề dân số.
-
Tuy nhiên, Việt nam là một phần của cộng đồng thế giới. Vấn đề dân số và kế hoạch gia đình đã được người ta đặt ra cho thế giớithì chúng ta có bổn phận phải hành động theo đa số nhưng khi áp dụng cho Việt nam, chúng ta phải nghiên cứu sâu rộng và tận tường mọi khía cạnh đạo đức, tâm lý nhân bản và dân tộc để giải quyết vấn đề kế hoạch gia đình một cáchđứng đắn.
III.- VAI TRÒ TÁC VIÊN XÃ HỘI TRƯỚC VẤNĐỀ DÂNSỐVÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
-
Tác viên ưu tiên am hiểu tình trạng dân số của cộng đồng và phải dựa vào yếu tố dân số khách quan này để hoạch định công tác cho phù hợp sự phát triển nói chung.
-
Giúp cho nôngdân ý thức được bổn phận vàtrách nhiệm của người cha người mẹ để rồi tự họ giải quyết vấn đề dân số của gia đình.
Ưu tiên giải quyết bế tắc tình trạng dân sốbằng những công tác hướng về môi sinh và mưu sinh
4. Tìm hiểu kỹ thái độ, tâm lý của nông dân để giúp đỡtổ chức gia đình hơn là giải quyết bằng hạn chế sinh sản.
5. Người tác viên cần có sự hiểu biết kỹ thuật về kế hoạch hóa gia đình và chỉ nên đóng vai trò môi giới giữa nông dân với cơ quan liên hệ trong việc giải quyết vấn dề trong những trường hợp tối ư cần thiết.
6. Tác viên xã hội phải biết thích nghi hóa và khế hợp hóa vai trò của inình trong công cuộc cải tiến dân sinh và phát triển cộng đồng.
KẾT LUẬN
Đáp lời kêu gọi của Liên hiệp quốc, Việt nam đã sốt sắng tham gia vào hoạt động thảo luận về vấn đề dân số và kế hoạch gia đình.
Qua các cuộc hội thảo rộng lớn vừa diễn ra tại Saigon, chúng ta nhận thấy đại đa số chuyên gia đều ưu tư và hình như tán đồng một mục đích chung là tìm cách hạn chế sự gia tăng dân số và đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình để cóthể hữu hiệu hóa công cuộc phát triển kinh tế.
Bên cạnh sự đồng ý đó, chúng ta cũng không quên cánh giác rằng « kế hoạch hóa gia đình có thể đưa quốc gia lên cao nhưng cũng có thểđưa quốc gia tới chỗ diệt vong».
Trên phương diện xã hội, tác viêncó trách nhiệm bình thường hóa sinh hoạt gia đình, gây ý thức trong mọi lãnh vực kiểm soát sự sinh nở và làm giảm thiểu nhu cầu. Và coi đó là một trong những côngtác xã hội bình thường, với mục đích đóng góp vào công trình chung của thể giới.
Dù sao đi nữa, dân Việt nam vẫn lo ăn hơn lo đẻ. Nghèo đói là hậu quả của nền kinh tế tệ hại chớ chưa phải là đích thựcdân số đông.
VƯƠNG PẾN LIÊM