
XIV. Phẩm Loài Người
(I) (131) Kiết Sử
1. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử không được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh không được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, nhưng các kiết sử khiến được sanh không được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, nhưng các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một hạng người, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu được đoạn tận.
2. Ðối với hạng người nào, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử không được đoạn tận, các kiết sử khiến được tái sanh không được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với vị Nhất Lai. Ðối với hạng người này, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử ... các kiết sử khiến được sanh ... các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
3. Ðối với hạng người nào, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh không được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với hạng người Thượng lưu, đi đến Sắc cứu kính. Ðối với hạng người này, này các Tỷ-kheo, ... các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
4. Ðối với hạng người nào, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được
đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận?
Ðối với hạng người Trung gian Bát-Niết-bàn. Ðối với hạng người này, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu không được đoạn tận.
5. Ðối với hạng người nào, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu được đoạn tận?
Ðối với bậc A-la-hán. Ðối với hạng người này, này các Tỷ-kheo, các hạ phần kiết sử được đoạn tận, các kiết sử khiến được sanh được đoạn tận, các kiết sử khiến được hữu được đoạn tận.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(II) (123) Trả Lời 1
1. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Trả lời tương ứng, trả lời không tự tại,; trả lời tự tại, trả lời không tương ứng; trả lời tương ứng và trả lời tự tại; trả lời không tương ứng và trả lời không tự tại.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(III) (133) Lanh Trí 2
1. Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Biết một cách tổng quát,3 biết một cách rộng rãi với các chi tiết,4 biết cần phải hướng dẫn chỉ giỏi về chữ nghĩa.5
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
_____________________
1 Pugg. Tr. 42. Tập sớ Yuttapatibhāno, khi hỏi một câu, trả lời đúng đắn, không hấp tấp trả lời, trả lời một cách thong thả. Yutta: tóm tắt, cô đọng. Mutta: lỏng lẻo, ra ngoài vấn đề.
2 Pugg. Tr. 41. netti. 211
3 ugghatitaññu: sankhepaññu ( học vắn tắt).
4 vipancitannu: vintthāritaññu (học rộng rãi)
5 padaparamo: học thuộc lòng nhưng không hiểu
(IV) (134) Nỗ Lực 1
- Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Sống nhờ kết quả của nỗ lực, sống nhờ kết quả của hành động, sống không nhờ kết quả của hành động, sống không nhờ kết quả của nỗ lực; Sống nhờ kết quả của nỗ lực và sống nhờ kết quả của hành động; Sống không nhờ kết quả của nỗ lực và sống không nhờ kết quả của hành động.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(V) (135) Có Tội
1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Có tội, nhiều tội, ít tội, không có tội.
2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thành tựu với thân nghiệp có tội, thành tựu với khẩu nghiệp có tội, thành tựu với ý nghiệp có tội. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có tội.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nhiều tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thành tựu với thân nghiệp có tội nhiều, không tội ít, thành tựu với khẩu nghiệp có tội nhiều, không tội ít, thành tựu với ý nghiệp có tội nhiều, không tội ít. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người với nhiều tội.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người với ít tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thành tựu thân nghiệp với không tội nhiều, với có tội ít, thành tựu khẩu nghiệp với không tội nhiều, với có tội ít, thành tựu ý nghiệp với không tội nhiều, với có tội ít. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ít tội.
5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không tội?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thành tựu với thân nghiệp không có tội, thành tựu với khẩu nghiệp không có tội, thành tựu với ý nghiệp không có tội. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có tội.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
_________________________
1 Pugg. Tr. 51. Tập sớ phân biệt cả hai là vāyāma-phala và puññapha và cho ví dụ: vua bốn Thiên vương và chư Thiên sống không nỗ lực, sống nhờ kết quả của hành động. Vua và các vị đại thần sống nhờ cả hai. Các chúng sanh ở đọa xứ thuộc loại thứ tư.
(VI) (136) Có Giới (1)
1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không đầy đủ về giới, không đầy đủ về định, không đầy đủ về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đầy đủ về giới, không đầy đủ về định, không đầy đủ về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đầy đủ về giới, đầy đủ về định, không đầy đủ về tuệ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đầy đủ về giới, đầy đủ về định, đầy đủ về tuệ.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(VII) (137) Có Giới1 (2)
1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người không kính trọng giới, không xem giới là tốt thượng,2 không kính trọng định, không xem định là tốt thượng, không kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt thượng,
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng giới, xem giới là tốt thượng, không kính trọng định, không xem định là tốt thượng, không kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt thượng.
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng giới, xem giới là tốt thượng, kính trọng định, xem định là tốt thượng, không kính trọng tuệ, không xem tuệ là tốt thượng,
Ở đây, này các tỷ-kheo, có hạng người kính trọng giới, xem giới là tốt thượng, kính trọng định, xem định là tốt thượng, kính trọng tuệ, xem tuệ là tốt thượng,
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
______________________
1 Kinh này, với hạng người đầu không nói đến, có nói đến ở Pugg. Tr. 37; hạng thứ hai chỉ cho Dự Lưu và Nhất Lai; hạng thứ ba là Bất Lai; hạng thứ tư là A-la-hán. tập sớ lại chỉ: Hạng thứ nhất là vô minh phàm phu; hạng thứ hai là phàm phu có giới; hạng thứ ba là Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai; hạng thứ tư là A-la-hán.
2 ādhipateyya: kính trọng hay xem là tối thượng, quan trọng. tập sớ, im lặng. A. i, 147. Jetthākakāranato, đặt vào địa vị thứ nhất.
(VIII) (138) Viễn Ly
1. - Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly; thân không viễn ly, tâm viễn ly; thân không viễn ly, tâm không viễn ly; thân viễn ly và tâm viễn ly.
2. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thân viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
3. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm vô sân, nghĩ đến tầm bất hại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly.
4. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, tâm không viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; Tại đấy, vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.
5. Này các Tỷ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
(IX) (139) Thuyết Pháp1
1. - Có bốn hạng người thuyết pháp này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, ít nói và không
_______________________
1 Pugg. Tra. 42
liên hệ đến vấn đề; và hội chúng không thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự. 1
2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, ít nói và liên hệ đến vấn đề; và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và không liên hệ đến vấn đề; và hội chúng không thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuyết pháp, nói nhiều và liên hệ đến vấn đề; và hội chúng thiện xảo về liên hệ hay không liên hệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người thuyết pháp và vị ấy được xem là hạng người thuyết pháp cho một hội chúng tương tự.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người thuyết pháp này.
(X) (140) Hạng Thuyết Trình
- Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này. Thế nào là bốn?
Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa,2 không về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về văn, nhưng không về nghĩa; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, không đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này.
Không có trường hợp nào, này các Tỷ-kheo, không có cơ hội này, là một người thành tựu bốn vô ngại giải,3 lại đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
___________________
1 Nguyên bản cần phải học là evarūpāva parisava như nguyên bản Tích Lan
2 pariyādānam gacchati: khi hỏi đến thuyết trình vị ấy đứng im.
3 Bốn patisambhidā: nghĩa vô ngại giải pháp vô ngại giải, từ vô ngại giải (nisutti) và biện tài vô ngại giải.