Đại Tập 185, Bộ Sử Truyện VII, Số 2060- 2061 (Quyển 9- 30)
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 18 chương/phẩm, dày 517 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 287.
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 83
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
SỐ 1507
( QUYỂN 1 5 )
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
SỐ: 1507
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Hán dịch: Mất tên người dịch – dựa theo sự sao chép đời Hậu Hán
QUYỂN 1
Trong bài kệ lập ra đầu tiên, có nói: “Ca-diếp tư duy về gốc của chánh pháp, nghĩA-là tư duy về kinh, pháp với ngôn, giáo rất nhiều. Vì sao biết? Vì Ca-diếp luôn dùng sự so sánh để làm sáng tỏ ít nhiều kinh pháp kia. Phương pháp so sánh là từ mười con lừa bắt đầu, nêu: Sức của mười con lừa, không bằng sức của một con lạc đà thường. Sức của mười con lạc đà thường không bằng sức của một con voi thường. Sức của mười con voi thường không bằng sức của con voi chân nhỏ. Mười con voi chân nhỏ, không bằng sức của một con voi trộm thức ăn. Mười voi trộm thức ăn, không bằng sức của một con voi Liên hoa. Mười con voi Liên hoa, không, bằng sức của một con voi hoa sen xanh. Mười voi hoa sen xanh, không bằng sức của một con voi hoa sen hồng. Mười con voi hoa sen hồng, không bằng sức của một con voi hoa sen trắng. Mười voi hoa sen trắng, không bằng sức của một con voi núi Tuyết. Mười con voi núi Tuyết, không bằng sức của một Hương Tượng.
Từ lừa đến Hương Tượng chỉ là một phần. Như thế, tám vạn bốn ngàn Hương Tượng, đem so sánh với da lừa trong ngoài, chép đầy kinh, Hương Tượng nầy với số như thế, là so sánh về sự chuyên chở.
Tôn giả A-nan đã nghe, đã biết các việc. Lấy khối to lớn ấy so sánh sẽ biết được số lớn. Muốn mỗi mỗi nói ra bằng văn tự của kinh kia,
để cuối cùng cho nó được sống lâu thì không thể thông suốt được.
Tư duy về pháp Kinh rất là to lớn, làm sao có thể khiến chúng được truyền bá khắp trong thiên hạ, để cho hàng ngàn năm, chúng sinh vẫn được nhờ ơn pháp thấm nhuần.
Ơn sâu thật chí lý. Nhưng ai có khả năng tuyển chọn pháp? Chỉ có Tôn giả A-nan mới có thể Kết tập mà thôi.
Ca-diếp tức thì đánh kiền chùy tập họp chúng. Bấy giờ, có tám vạn bốn ngàn A-la-hán v.v.. vâng mệnh đến tập họp. Các vị Vô-lậu ấy, đều là những người đã giải thoát.
Sở dĩ mời các vị Hiền- Thánh nầy là vì các vị ấy đều có thể nhập định Diệt tận. Các vị nhập định Diệt tận ấy, có khả năng khiến chúng sinh đời nầy được phước, cứu giúp khổ ách cho chúng sinh. Các bậc Vô trước v.v... của đại thiên thế giới, số ấy khó tính kể, trừ ba đạo, còn lại mỗi mỗi đều gấp đôi.
Nay, chỉ dựa vào căn nhạy bén tinh thông mà ghi chép; để tất cả đều có giải thoát, để có khả năng dùng định Diệt tận mà độ thoát chúng sinh.
Thế nên, mới khen đó là phước điền. Lấy gì để chứng minh sự kiện đó?
Ngày xưa, Thiên Đế Thích, phước hết, mạng chung. Bấy giờ, năm điềm ứng đến, lòng rất lo sợ, muốn cầu được cứu hộ, đang muốn đến chỗ Phật để cầu cứu giúp, nhớ nghĩ đến ơn Phật rộng lớn, sợ không giải cứu mạng khẩn cấp. Nghĩ đến Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên v.v.. cũng e không thể cứu giúp mạng, chỉ có Đại Ca-diếp, dùng sức của định Diệt tận mới có thể cứu giúp cơn nguy cấp, liền đến chỗ Ca-diếp. Khi đó, Tôn giả Ca-diếp chuẩn bị đến độ phước cho một nhà nghèo. Thiên Đế Thích bèn nghĩ: Muốn hiện ra thân trời, nhưng e Ca-diếp sẽ không nhận thí của mình bèn hóa ra túp lều tranh nơi giữa đường, có bệnh nhân đau ốm ở đó. Ca-diếp tới khất thực, bệnh nhân vội vói tay ra thí cho thức ăn, Ca-diếp đưa bát nhận, thức ăn biến thành cam lộ, Đế Thích liền hiện trở lại thân trời, đứng giữa hư không. Ca-diếp nói: “Vì sao nói dối, đánh lừa ta ư?” Đế Thích đáp: Không nói dối, Ta chí thành thí cho. TA-là Thiên đế, vì năm điềm ứng hiện sắp mạng chung, nên đến đây, để cầu nguyện, xin cứu giúp mạng ta.
Ca-diếp liền mặc nhiên chấp nhận. Đế Thích đến chỗ Phật nghe pháp, ít phút sau là ngủ, ngủ rồi thức dậy. Đức Phật nói với Đế Thích: “Trước đây, ông đã chết. Nay ông đã sống lại. Sẽ không mạng chung
nữa, trở lại thân cũ”.
Đấy là Đế Thích đã cảm được sức của định Diệt tận ở nơi Ca-diếp. Sở dĩ Ca-diếp dùng sức của định Diệt tận tối thắng, vì lẽ Ca-diếp vốn là Bích-chi-phật. Luận về pháp, thì Bích-chi-phật, không thuyết pháp, không giáo hóa, chuyên dùng thần túc cảm động, dùng tam- muội biến hiện. Đại Ca-diếp, tuy là A-la-hán thủ chứng, nhưng gốc của thức vẫn tồn tại. Trước kia đã ghi chép tám vạn bốn ngàn các công đức, chủ thể, đối tượng đức và cảm, ngang bằng với Ca-diếp.
Vấn nạn: “Vì Ca-diếp vốn là Bích-chi-phật, nên khen định Diệt tận kia là hơn cả. Vậy các A-la-hán nầy, là Bích-chi-phật ư ?”
Đáp: “Mặc dù không phải là Bích-chi-phật, nhưng luôn tập định Diệt tận, nên uy lực của họ là đồng. Chính vì thế, nên nói: “Ca-diếp là ruộng phước của chúng Tăng, chúng sinh”. Kệ: “Đều được A-la-hán, tâm giải thoát, đều cùng giải thoát”. Kệ: “Đã cởi mở chỗ trói buộc vướng mắc, là ruộng phước. Nghĩa là Ca-diếp đã tập hợp tám vạn bốn ngàn chúng, đều được cùng giải thoát, vì định Diệt tận có khả năng khiến cho chúng sinh, đời nầy thoát khổ, về sau còn giúp chứng được Niết-bàn, nên nói là chỗ ruộng phước”.
Kệ nói kết tập bốn bộ, là nói sơ lược. Về lý, lẽ ra bốn bộ, biểu hiện lại có tám bộ: Người, Trời, Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, Sa-môn, bốn Thiên vương, trời Ba mươi ba, Ma vương, Phạm vương, đấy là tám bộ. Gồm có mười hai bộ, nói bốn bộ, nghĩa là chỉ đơn cử chủ yếu của các bộ đó.
Các pháp rất thâm diệu: Như nghĩa của mười nhân duyên. Đức Phật vì Tôn giả A-nan, nói mười hai nhân duyên vi diệu sâu xa. A-nan nói: “Nhân duyên nầy có sâu xa, vi diệu gì đâu?
Đức Phật nói với Tôn giả A-nan:
- Chớ nói không sâu xa, vi diệu! Đời trước của ông, lúc ấy, cũng nói không sâu xa. Xưa, có A-tu-luân Vương, thân dài tám ngàn do tu- ần, tướng môi trên, dưới cách nhau ngàn do tuần. Vua có đứa con nhỏ, thương yêu đứa con nầy, ôm đặt lên đầu gối. Biển sâu ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. A-tu-luân đứng ở giữa, chỉ ngang bằng với rốn, bụng, đứa con thấy cha như vậy cho là biển cạn, muốn được lội xuống nước. Người cha nói không thể, vì biển sâu, sẽ nhận chìm mất con, nếu con muốn được vào, cha sẽ thả con xuống! Đứa con bị chìm tận đáy biển, hoảng sợ than thở, người cha vội duỗi tay nắm con lại, đưa lên khỏi mặt nước và nói: “Ta đã nói là con không thể, mà con không tin! Hôm nay chuyện
ấy giống ai? Vị vua bấy giờ, chính là thân ta, còn đứa con bé nhỏ kia là ông. Ngày xưa, ông không tin biển sâu; nay lại cố không tin. Ông chỉ tư duy Vô minh duyên Hành, mà còn không thể hiểu rõ, huống chi là hiểu rõ ba mươi bảy phẩm?
Đức Như Lai đã nói đến bốn điều không thể nghĩ bàn. Những gì là bốn? Chúng sinh là không thể nghĩ bàn, thế giới là không thể nghĩ bàn, Rồng không thể nghĩ bàn; Phật không thể nghĩ bàn.
Sở dĩ thế giới không thể nghĩ bàn, là vì khi xưa, Mãn Nguyện Tử cùng bàn luận chung với Phạm chí. Phạm chí tự nói: “Ta đã từng đến trên mặt nước ao để tư duy, thấy có bốn thứ chúng binh chủng tới, rồi vào trong lỗ hoa sen, tA-lấy làm kinh ngạc, không biết do bị hoa mắt hay là có thật. Ta đem chuyện này kể cho người khác nghe, họ đều không tin, ta bèn đến chỗ Phật thuật lại những gì mình đã trông thấy. Đức Phật nói như vầy: “Đấy là sự thật, không phải giả dối. Vì A-tu-luân khởi bốn binh chủng chiến đấu với chư thiên. A-tu-luân đấu không lại, rút lui vào trong lỗ hoa sen để ẩn núp. Đấy chẳng phải là việc tư duy mà đạt tới được. Vì vậy nên nói thế giới là không thể nghĩ bàn.
Hoặc nói thế giới là do Phạm Thiên tạo ra, hoặc nói do sáu trời tạo ra. Phạm chí lại nói: “Phạm Thiên do ai tạo ra? Hoặc nói, Phạm Thiên có cha, hoặc nói: “Tự tạo”.
Nói: Có cha, cha tức hoa sen. Có người nói: “Hoa sen từ đâu ra?”.
Đáp: “Từ trong rốn của Ưu-đà-diên phát ra”.
- Ưu-đà-diên từ đâu sinh ra?
- Từ Tán-ta Vương sinh ra. Lại nói:
- Tán-Ta Vương sinh ra, mang họ gì?
- Dòng Sát-đế-lợi. Lại nói:
- Phạm Thiên là dòng Bà-la-môn, nay lại nói do Sát-đế-lợi sinh ra, là nói gì vậy? Lại nói:
- Thời kỳ kiếp bị đốt, phần thô có thể được riêng.
- Vì sao nói thế? Đáp:
- Kiếp, khi bị đốt, từ mé đất trở lên, đến cõi trời mười lăm, đều cháy rụi hết, tương tự có thể biết như vậy. Tuy nhiên, từ cõi trời mười sáu lên đến cõi trời Ba mươi ba thì tồn tại.
Trong đấy dù bị đốt, thế giới khác vẫn tồn tại. Đem sự kiện nầy để nói, mà lại không thể biết hết là vì thế giới là không thể nghĩ bàn.
Vì sao cho chúng sinh là không thể nghĩ bàn? Hoặc nói: “Sau kiếp bị đốt, nước bổ sung chỗ lửa, theo gió thổi, tạo ra cung điện xong. Ở phía
dưới có đất phì nhiêu, là trời Quang Âm, phía trên là chúng Chư thiên, dạo chơi trên đất, dần dần mến vị phì nhiêu của đất, vì vậy thân trở nên nặng nề, không thể quay trở lại. Vì ăn nhiều hóA-làm người nữ. Chuyển biến giảm đến mức phải ăn bánh mỏng, gạo hẩm, mất hào quang sáng- thần túc, lại trở làm người, làm việc thiện, sinh lên trời, làm điều ác, thì bị đọa vào ba nẻo khổ, lưu chuyển trong năm đường, không có chút sai lệch. Giả sử muốn tra cứu cho tường tận gốc rễ của một con người do đâu có, hãy còn là điều khó có thể biết được, huống chi lại là tất cả chúng sinh, mà có thể tư duy lường tính! Chúng sinh không thể nghĩ bàn là vậy.
Rồng không thể nghĩ bàn là sao?
Phàm khởi mây, gây ra mưa, đều do ở Rồng làm. Mưa, từ mắt, tai, mũi, miệng Rồng phát ra, hay là từ thân phát ra? Hay từ tâm phát ra?
Dựa vào núi Tu-di, chỉ có năm hạng trời, cũng hay làm mưa, vậy lấy gì để phân biệt là rồng mưa hay trời mưa?
Trời mưa thì sương mù dầy đặc xuống thấp là trời mưa, sương mù thô, ào xuống thấp là rồng mưa.
Năm hạng trời đó là:
1- Khúc Cước thiên
2- Đảnh Thượng thiên 3- Phóng Dật thiên
4- Nhiêu Lực thiên 5- Tứ Vương thiên
Lúc A-tu-luân kéo binh lên trời chiến đấu, trước hết là chiến đấu với Khúc Cước thiên, được thắng, sau đó đến Đảnh Thượng thiên, tiếp đến là Phóng Dật thiên và với Tứ Vương thiên, cho đến trời Ba ba. Bốn trời dưới, khi muốn chiến đấu, chỉ dùng mưa để chống địch, lại không có binh và gậy.
Có hai thứ mưa: Mưa hoan hỷ, mưa giận dữ. Mưa xuống điều hòa là mưa hoan hỷ. Sấm chớp, sét đánh thình lình là mưa giận dữ.
A-tu-luân cũng mưa, Trời cũng mưa, Rồng cũng mưa. Vì mỗi bên đều gây mưa, về lý không thể phân định, nên nói rồng mưa không thể nghĩ bàn là vậy.
Phật không thể nghĩ bàn: “Khi xưa, Đức Phật ở Tĩnh thất, các Phạm thiên nhiều như số cát sông Hằng, đến chỗ Phật, muốn biết đức Phật đang ở trong tam-muội nào, thế mà không thể biết là đang ở nơi tam- muội trong định nào? Như thế, việc biến hiện bí mật của thần túc, mà
hàng nhị thừa đã không thể nghĩ bàn, huống chi là phàm phu! A-nan suy tôn Ca-diếp trước, rồi nói: “Trưởng lão là bậc kỳ niên nên chịu trách nhiệm vì chúng mà diễn nói pháp. Vì sao? Vì cái học của Tôn trưởng đạt đến chỗ cao tột, nhiều nhận thức, đã được Đức Thế Tôn ủy thác, vì chúng sinh trong đời vị lai, muốn cho chánh pháp được tồn tại lâu dài ở đời, vả lại có lần Như Lai nhường nửa tòa ngồi và nói: “Nhân tôn đã là Thượng tọa của chúng Tăng. Hơn nữa, trí tuệ rộng rãi, bao quát, mong Nhân tôn luôn rủ lòng xót thương tuyên nói pháp báu!”
Có sư nước ngoài nói: “Tôn giả Ca-diếp sở dĩ không thuyết pháp, là vì ở trong bốn biện tài, đã không có Từ biện”. Lại có người nói: “Ca- diếp vốn là Bích-chi-phật, chỉ dùng thần thông hóa hiện, nên đầu tiên là không diễn nói pháp”.
Ca-diếp khiêm nhường đáp: “Ta già cả, lòng tối tăm, phần nhiều hay quên”.
Đáp: “Pháp chân bốn đế, lẽ nào có thể mòn kém, quên mất ư ? Nó ví như kim cương, không thể hao hụt, chỉ bốn đại sinh, tử là có tăng giảm thôi”.
Tát-bà-đa-giA-lại nói: “Chín hạng La-hán có thoái chuyển. Do mấy việc thoái? Có bốn việc: Tuổi tác mòn kém, già cả; nỗi khổ bệnh tật bức bách; ưa đi dạo xa; uống thuốc không thuận, vì bốn việc nầy, mới có lầm lẫn, quên mất mà thôi. Diệu tuệ chân đế, lẽ nào có thể quên ư ?”
Ca-diếp khuyên A-nan: “Hiện nay, với tuổi tác ông đang ở vào thời kỳ thịnh vượng, thêm vào đó, còn có văn- trí- đẳng trí- tổng trì mãnh mẽ ghi nhận mọi thứ. Mỗi lần Phật nói kinh, thường căn dặn nhiều ở ông. Vì thế, nên ông phải tuyên bố kinh pháp”.
Vì sao biết A-nan có đẳng trí?
Xưa, phía Đông thành Xá-vệ, có cây to Ni câu- loại, tàng cây che mát năm trăm chiếc xe tải. Trong thành, có Phạm chí, rất sáng suốt về thuật bói toán, ông tA-là đệ nhất trong chín lăm thứ. Một hôm, ông ta gặp Tôn giả A-nan ở dưới tàng cây nầy, nói với A-nan: “Đệ tử của Cù- đàm trí tuệ là bậc nhất. Việc nầy có thật không?”
Đáp: “Có biết một ít thôi!”. Phạm chí nói:
- Tôi muốn hỏi một việc: “Cộng, lóng, cành, lá của đại thọ này, có bao nhiêu cái?”. A-nan ngẩng đầu lên nhìn cây, bèn đáp: “Cộng-lóng- cành- lá của cây nầy, đều có ngần ấy. Nói rồi liền bỏ đi. Sau đó, Phạm chí có cảm nghĩ: “Sa-môn nầy chắc chắn không biết về số, chỉ thấy rồi
đáp mà thôi. Nay ta sẽ thử nghiệm lần nữa, liền đến mỗi chỗ, nhặt lấy sáu mươi chiếc, đem chôn giấu trong đất. Khi A-nan đi khất thực rồi trở lại, ông tA-lại hỏi: “Trước đây, tôi quên mất số, vậy ông hãy nói cho tôi?”
A-nan ngẩng đầu lên nhìn cây, lại nhìn khắp, rồi đáp:
- Vì sao lá cây nầy lại ít ? Phạm chí nói:
- Ít là bao nhiêu chiếc? Đáp: “Ít sáu mươi chiếc”
Phạm chí vội vòng tay cảm tạ:
- Thật chưa từng có! Lại hỏi:
- Ông là La-hán ư ? Đáp:
- Không phải!
- Là A- na- hàm, Tư- đà- hàm ư ? Đáp:
- Chẳng phải!
- Là Tu-đà-hoàn ư ? Đáp:
- Vì sao lại hỏi? Đáp:
- Có thầy ư ?
Đáp: - “Có. Vương tử Chân Tịnh, xuất gia đã được thành Phật, tức là thầy ta”. Phạm chí cảm nghĩ: “Trí của sư giả nầy, không phải là sở tri của mình”. Tức thì đi theo đến chỗ Phật để mong cầu làm Sa-môn, liền được A-la-hán.
Do vậy mà biết được Tôn giả A-nan có đẳng trí.
Sở dĩ A-nan suy tôn Ca-diếp trước, là vì Ca-diếp đã là Thượng tọa, lại là bậc được Tôn quý. Xưa, đã năm trăm đời, Ca-diếp thường làm cha của A-nan. Nhận thức được đời trước, A-nan tôn kính, ngưỡng mộ, nhờ dựa vào tình thâm.
Sở dĩ Ca-diếp ân cần đối với A-nan, là vì xưa kia, Ca-diếp đã chứa duyên thuần hậu, để lại ơn kế thừa cuối cùng. Thêm vào đó, lại là người học rộng, đẳng trí, ghi nhớ mạnh mẽ trên hết trong đại chúng, người mà lần đầu đã kết tập để lại tám vạn sách. Hai người rất cần nhau, cũng như người mù- què nhờ vả nhau, hỗ tương làm lợi. Nếu hai người cùng chung sức sẽ như khối vàng ngàn cân khó đoạn, có muốn chia cắt thì sức không có chỗ hơn được, có muốn phân biệt cũng khó mà thêm công sức vào. Ở đây, cả hai cùng hợp tác sẽ gom về sức mạnh giữ gìn cho sau nầy được sử dụng thỏa thích. Có thể Ca-diếp, A-Nan-đều có trí, đúng như dụ kia,
hai người nhất tề kết hợp thì pháp báu chắc chắn trường tồn.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nói vô lượng kinh. Ai có khả năng kết tập đầy đủ sẽ thành một tụ, nên nói là mười sự. Hoặc nói mười sự, lại biện luận là hai sự. Hoặc nói là ba sự, lại bàn luận mười một sự, trên dưới không có trình tự, không được làm một tụ.
Hoặc có thuyết nói: “Như Lai nói pháp hoặc nói giáo giới, hoặc nói đoạn trừ kết sử, hoặc nói về sự sinh trong cõi người- Trời. Do lại không được làm một tụ, nên A-nan suy nghĩ: Một là từ một, hai là từ hai, ba bốn năm sáu cho đến mười, mỗi tụ cứ như vậy khiến cho mọi sự vướng mắc nhau”.
Hoặc có thuyết nói: “Về lý, không thể như thế, vì xét lời Phật nói, không thể có trình tự so sánh. A-nan lại suy nghĩ Kinh pháp rộng lớn, nên chia rA-làm ba tụ. Với lại, A-nan, một mình nẩy sinh ý niệm: “Thủ- đà-hội thiên đã bí mật bảo với A-nan: “Đúng là nên tạo ba phần”. Ví như trời đã mách bảo, liền quyết tạo ra ba phần:
1- Phần Khế Kinh 2- Phần Tỳ-ni
3- Phần A-tỳ-đàm
KHẾ KINH: Là những Pháp mà đức Phật đã giảng nói, hoặc cho hàng chư thiên, đế vương, hoặc cho những kẻ dị học ngoại đạo, để tùy thuộc vào sự việc mà phân biệt, mỗi người được mở mang chỗ thấy hiểu cho mình.
Khế: Cũng như sợi chỉ xâu liên tục những nghĩa lý, khiến cho thành pháp để hành, nên nói là Khế.
Tỳ-ni: Là Luật cấm. Vì hai bộ Tăng, Phật nói rA-là để kiểm điểm xấu ác, tra xét sai quấy, hoặc hai trăm năm chục hoặc năm trăm điều, chỉ dẫn pháp, đề phòng gian, cũng như kho tàng bí mật của nhà vua, không phải sở ty của các quan bên ngoài, nên nói là tàng nội. Tạng giới luật nầy, cũng như thế, chẳng phải Sa-di, thanh tín sĩ- nữ có thể nghe, thấy được, nên nói là Luật tạng.
A-tỳ-đàm: NghĩA-là pháp lớn. Sở dĩ nói lớn, là vì bao gồm các pháp Tứ Đế, đại trí tuệ, có khả năng đoạn trừ tà kiến- vô minh là cái ngu to tướng, nên nói là pháp lớn, cũng gọi là pháp Vô Tỷ.
Tám trí- mười tuệ- chánh kiến- Vô-lậu, vượt ngoài ba cõi, ngăn chận không có gì bằng, nên nói là pháp không thể so sánh (vô tỷ).
Ca-chiên-diên Tử soạn- tập các kinh, sao chép những phần chính yếu, trình Phật đồng ý, nên gọi là đại pháp tạng. A-nan lại suy nghĩ:
“Nghĩa của ba tạng nầy tương ưng với ba giải thoát. Khế kinh là gì mà sao lý diệu tuệ hợp với Không?” Luật cấm ngăn được ác, sự huyền diệu ngang bằng Vô tướng. Chánh kiến của pháp lớn lại giống với Vô nguyện, cho nên mới nói: “Ba tạng, ba thoát-khế hợp sâu xa với dấu vết huyền hội”. A-nan lại suy nghĩ: “Nghĩa gốc của khế kinh đã được chiA- làm bốn đoạn. Vì sao nghĩa, văn vẫn lẫn lộn? Cần phải dùng sự- lý phù hợp với lớn nhỏ để có.
Trình tự phù hợp. Thứ nhất là Tăng nhất; tiếp theo gọi là Trung, thứ ba, gọi là Trường, thứ tư gọi là Tạp. Lấy nhất làm gốc, theo trình tự đến mười. Vì một hai ba tùy vào sự tăng thượng, nên gọi là Tăng nhất.
Trung là không lớn, không nhỏ, không dài, không ngắn, nó vừa vặn trong chỗ của sự, nên nói là Trung.
Trường là thuyết minh về sự lâu xa; trải qua nhiều kiếp, không đứt mất nguyên do gốc- ngọn của các sự, lại trải qua bảy vị Phật, Thánh vương, bảy báu; nên nói là Trường.
Tạp là các kinh đoạn trừ kết, khó tụng, khó ghi nhớ. Về sự, thì phần nhiều xen tạp sự vui vẻ- vụn vặt, khiến người ta hay quên, nên nói là Tạp.
A-nan soạn ba tạng, ghi chép mười kinh làm một kệ. Vì sao thế? Vì sợ người tụng tập trong vị lai quên lầm kinh kia; thấy gọi là ghi nhớ lại những suy nghĩ xưa, tự mình tỏ ngộ, nên dùng mười kinh làm một kệ.
Gọi là Tạp tạng ấy, chẳng phải là một người nói, hoặc Phật đã nói, hoặc đệ tử đã nói, hoặc lời tụng ca của chư thiên, hoặc nói về nơi giáng sinh của Bồ-tát trong ba A-tăng-kỳ của duyên đời trước, và vì nghĩa văn không phải là một- nhiều trong ba tạng, nên nói là Tạp tạng.
Khi Phật còn tại thế, vua A-xà-thế hỏi Phật về sự nghiệp tu hành của Bồ-tát, đức Như Lai đã vì vua mà nói pháp cụ thể. Giả sử nhà vua hỏi Phật:
- Sao nói là pháp?
Phật đáp: Pháp tức là Bồ-tát tạng. Các chánh kinh Phương đẳng, đều là sự trong Bồ-tát tạng. Trước kia, khi Phật còn tại thế, cũng đã gọi là Bồ-tát tạng, người soạn thuật là Tôn giả A-nan, tức bốn tạng hiện nay, nói tổng hợp, là năm tạng.
Hoặc có nghĩa của một pháp, cũng sâu xa, khó trì, khó đọc tụng, không thể ghi nhớ, (Một pháp, tức là pháp không, không hình, không tượng, không thể hộ trì), yên lặng, không có tiếng, không âm vang, không có tâm, không có niệm, lắng bặt, không có tưởng. Có một nghĩA-
là không, không có nghĩa thứ hai. Không đong không lường nên khó hộ trì. Không có lời “Khả thù”nên khó đọc tụng. Không có ý để có thể suy nghĩ, nên nói ý chẳng phải nhớ lại. Gọi là nghĩa thâm diệu của các sự là như vậy.
Lại nữa, pháp một, là gốc của các số. Số một là bắt đầu, số mười là sau cùng. Sau số mười, lại khởi từ số một là chính, cho đến ngàn vạn, thường bắt đầu ở con số một. Như thế, các con số một không thể tận cùng.
Trong các kinh, hoặc một nghĩa, một pháp, một hành, một sự, mỗi thứ đều theo nhau và không mất đi manh mối của chúng, nên nói: “Mỗi mỗi theo nhau, không mất manh mối”.
Hai pháp căn cứ ở hai. Hoặc nói thiện-ác, hoặc nói chỉ-quán, hoặc nói danh-sắc. Chỉ, nghĩa là hư; quán, nghĩa là thật. Chỉ, nghĩa là định tam-muội, lắng bặt tưởng diệt, vì mờ mịt, mất ý như thế, nên nói là hư. Quán, sở dĩ nói là thật, là vì người kia phân biệt có hành, là không phải tốt- xấu, vì thức hiểu rõ sáng suốt riêng lẽ, ý không mê lầm- tán loạn, nên nói là thật.
Ba pháp thì căn cứ ở ba. Ba đó là bố thí, là công đức, là suy nghĩ. Ba pháp nầy là pháp tu hành của thế tục để sinh lên cõi trời. Ba môn giải thoát mới là pháp tu hành đến Niết-bàn. Lại có nhiều Ba pháp: ba hạnh, ba phước, ba phần pháp thân, ba và ba theo nhau, dụ như liên châu.
Bốn pháp thì căn cứ bốn. Năm cũng như thế. Tiếp theo năm pháp là sáu, tiếp theo sáu là bảy. Nghĩa tám pháp rộng; mười là tiếp theo chín. Pháp từ mười đến mười một.
Các số như thế, đều giống với hai, ba loại việc theo nhau.
A-nan liền lên tòa ngồi. Tòa là tòa sư tử. Sở dĩ kinh dụ cho tòa sư tử, vì sư tử là vua trong muôn thú, thường xuyên cư trú ở chỗ đất cao ráo, không ở nơi thấp trũng, nên dụ cho tòa cao. Vả lại, được nhận lấy vô úy của Phật, A-nan lại học rộng vô lượng, vì vô úy mà bước riêng một mình trong hàng Thanh văn, nên nói là tòa vô úy (A-nan bước lên tòa cao như thế đấy). Đức Di-lặckhen: “Lành thay, vui thay! Thuyết minh (Di-lặc sở dĩ hạ mình là vì sợ A-nan hợp với pháp Bồ-tát ở ba tạng, đại, tiểu không riêng lẻ) như vàng đồng xỏ một dây. Với lòng ân cần, khuyến thỉnh phân chia bộ.
Xưa, Đại thiên Thánh Vương có đủ bốn Phạm đường, lần lượt nối nghiệp nhau, cho đến bốn vạn tám ngàn vị vua đều có Phạm đường, chỉ Đại thiên mới có một người là Bồ-tát. Ngoài ra, đều là tiết nhỏ. Do cách
nói như vậy mà đại thừa khó biện biệt, vì đa số hướng theo nẻo Thanh văn. Bồ-tát Di-lặc cũng biết, bộ của A-nan cũng phân ra ba tạng. Tuy nhiên, cũng còn sợ hậu học chỉ chuyên tập pháp không, đoạn trừ kết, thủ chứng, dùng nó biểu dương sáng tỏ Đại thừa, nên phải chia làm tạng riêng. Vì vậy mới nói về hạnh của sáu độ là mục tiêu chính yếu của Bồ- tát.
Bố thí có hai thứ: Có tín thí, có khủng bố thí. Lập căn được nhẫn, thì nói là tín thí. Do oai lực bức bách, không do bản tâm, thì gọi khủng bố thí. Tín thí tất thành độ. Sợ tất cầu phước. Điểm khác biệt của đạo, tục. Không đợi nói mà tự biệt. Người kia nói: “Thí cho đầu mắt, là bảy trụ trở lên, thí của vật, là sáu trụ trở xuống. Từ đây lui lại, không rơi vào vòng sinh tử, chủ yếu đến Niết-bàn”.
Lấy gì để minh chứng?
Trong Đại phẩm Bản Vô, có nói: “Sáu mươi Bồ-tát được đạo La- hán”. Sự kiện nầy minh chứng điều đó.
Giới như Kim cương là giới đại thừa. Giới như bình sành, bình gỗ, là giới Tiểu thừa. Vậy là sao? Kim cương, nghĩa là không thể hủy hoại. Xưa, có vị Tỳ-kheo Bồ-tát đoan nghiêm không ai sánh bằng, ra đi để khất thực. Giữa đường, gặp một thiếu nữ đẹp đẽ. Thiếu nữ ngắm nhìn Bồ-tát ấy và khởi ý dục, muốn làm vợ chồng, tự suy nghĩ: “Đồng với người nầy, thì không thể được, chỉ ngồi chung thôi! Ấy là ta đã phát ý vô thượng!”
Biết được tâm thiếu nữ, Bồ-tát bèn ngồi trước thiếu nữ. Chỉ trong khoảnh khắc, thiếu nữ kéo Tỳ-kheo ngồi sát trước mình, Tỳ-kheo yên lặng không đáp. Thiếu nữ lại càng ngồi sát vào người Tỳ-kheo, nhưng cố giữ cho yên lặng. Vị Tỳ-kheo liền thuyết giảng cho thiếu nữa về pháp không.
Mắt ta vốn từ đâu đến? Sẽ đi đến chỗ nào? Muốn nói từ cha, mẹ đến ư ? Lúc chưa gặp nhau, cũng không có đôi mắt ấy; đến sau nầy, khi mắt đã hủy nát, lại đến nơi nào? Do đấy mà nói, mắt không có sở hữu, năm tình (căn) cũng như thế. Thiếu nữ liền thông suốt hiểu rõ không, chứng đắc Tu-đà-hoàn. Lẽ ra phải thuyết giảng cho thiếu nữ về Hữu, lại nói về pháp Không, pháp Bồ-tát phải nhập Hữu mà nói Không, là do bản ý không tròn.
Lúc đó, A-nan trông thấy vị Tỳ-kheo nầy ngồi với thiếu nữ, là vi phạm oai nghi của Tỳ-kheo, liền trở lại bạch Phật: Con vừa mới trông thấy Tỳ-kheo ngồi chung với thiếu nữ. Do đã biết trước việc nầy, nên
Đức Phật vẫn yên lặng. Vị Tỳ-kheo nọ cũng biết A-nan đã bạch với Đức Thế Tôn nên thưa: “Con nghĩ, đúng ra, không qua đó, e rằng người ta sẽ chê bai, phạm tội đọa, chính là con định biến hiện, nhưng Phật đã không cho, nên con bay thẳng đến chỗ Phật”. Phật nói với A-nan:
- “Chỗ ông thấy Tỳ-kheo phạm luật, bây giờ ở đây, ông hãy bay đến chỗ Tỳ-kheo kia, là ông đã trông thấy người phạm dục, có thể bay được không?”Vị Tỳ-kheo nầy, trước đó đã ngồi chung với người nữ. Bấy giờ, vì người thiếu nữ tâm niệm: “Vị Tỳ-kheo ấy ngồi chung với ta, ta phải phát ý Vô thượng!”Vị Tỳ-kheo, biết được ý của người thiếu nữ, liền cho ngồi chung, rồi còn thuyết giảng cho thiếu nữ về pháp Không, phân biệt đôi mắt Không, năm tình (căn) cũng như thế. Thiếu nữ vội e sợ, đó là đã được dấu ấn Đạo. Do tâm e sợ ấy, nên nẩy sinh ý sợ sinh, tử, tức đạt được Tiểu thừa. Nếu vị Tỳ-kheo nầy, trước đó, giảng nói cho thiếu nữ về hạnh Hữu thì sẽ trở lại thành bản tâm. Do sự kiện nầy nên biết Bồ-tát ấy, chưa thành bất thoái, đối với quán tâm người chưa thật khéo léo, cái đó được gọi là giới Kim cương.
Gọi là nhẫn độ: Thấy mắng, thấy chê bai, vẫn yên lặng tiếp nhận, không đáp trả, Bồ-tát thực hành nhẫn, thường dùng lòng từ bình đẳng như nhau đối với người kia và ta. Người kia, với ta đã ngang bằng nhau, không còn oán hay thân, nên kinh nói: “Lòng từ của Tiểu thừa, cũng như bên ngoài da, lòng từ của Bồ-tát thấu suốt xương tủy”.
Lấy gì để chứng minh sự kiện đó?
Nếu người cắt đứt tay chân của Bồ-tát, thì sẽ biến thành sữa. Tức là chứng minh về tâm từ. Tỳ-kheo nhẫn nhục là người đã thực hiện được sự việc đó. Dụ như người mẹ sinh con, ấy là có sữa chảy ra. Ý niệm về lòng từ nầy đã có sự cảm nhận, tự nhiên biến thành. Bồ-tát như thế, vì nhập tam-muội của lòng từ, nên có công năng chiêu cảm sữa, đó là hành từ bi đến nơi đến chốn, nên mặc dù tay cầm cung, tên, nhưng trái lại chúng sinh đến nương tựa mình! Hành từ không triệt để, dù không cầm gậy, nhưng hễ chúng sinh trông thấy đều bỏ chạy.
Do chứng cớ nầy, nên điểm khác biệt của Đại thừa- Tiểu thừa có được cũng tự đến.
Người tạo ra hành vi thiện, ác, nghĩa là tinh tấn thì sẽ tạo ra các công đức thiện. Kẻ hành động ác: Cũng như xưa, Đồng tử Hỏa Mạn chê bai Phật Ca-diếp: “Sa-môn đầu trọc có đạo gì? Đạo khó được, vậy có thể được đạo?”Do đấy mà về sau phải chịu khổ nhọc suốt sáu năm mới có thể đắc đạo. Trong pháp di chúc, các Tỳ-kheo thường tranh luận về giai
thoại nầy: “Cũng như quả báo của miệng không đáng nói, mà nói sáu năm khổ hạnh, nghĩA-là quả báo không đáng tu hành mà tu hành. Đây là hành vi ác nơi thân, miệng của Bồ-tát”.
Thiền định, nhập tịch, lặng bặt, không lay động. Trí tuệ nhận biết số vi trần và số cát sông Hằng, hồi ức về năm tháng không thể tính kể, tuệ sáng suốt đã hiểu rõ là không thể cùng tận. Sáu độ không cùng cực nầy là tận cùng ở tạng Bồ-tát, không hợp với ba tạng. Tôn giả A-nan muốn cho nhân duyên đặc thù của Đại-Tiểu thừa, mà họ cũng không cùng biết nhau, lý là tự Không, khó có thể hiểu rõ một cách sáng suốt. Bồ-tát nghi không ấy, vì Không thủ chứng, nên nói là hồ nghi.
Luận quyển thứ nhất Phân biệt công đức
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Mất tên người dịch –Dựa theo sự sao chép đời Hậu Hán
QUYỂN 2
Bồ-tát Di-lặc khen ngợi về thiện: Vì đã kết tập pháp lớn sáu độ ấy làm một phần, đấy tức là Bồ-tát tạng.
Đoạn kết: NghĩA-là dứt trừ các kết sử do vọng kiến. Sự việc thành đạo quả Đại thừA-là Nhất thiết trí. Tôn giả A-nan chỉ nói nghe, không nói thấy, chả lẽ không thể thấy Như Lai thuyết pháp sao? Sở dĩ nói thấy là vì chẳng phải vậy, là vì bốn bộ trong vị lai mà không được nói thấy. Giả thiết nói là thấy, thì bốn bộ chúng sau nầy, lại vâng mạng A-nan, nói thấy thì là giả dối. Do vậy, nên chỉ nói là nghe mà không nói thấy là như thế.
Đầu tiên, Phật thuyết pháp, hóa độ năm người như A-nhã-câu-lân v.v.. Ở nước Ma-kiệt-đà, thu phục ba anh em Ca-diếp. Thích Sí tức Ca- tỳ-la-vệ. Nếu không được nêu nơi chốn nói kinh thì chỉ xưng tại Xá-vệ vì Phật ở Xá-vệ trải hơn hai mươi lăm năm. So sánh với các nước, thì Phật ở đấy rất lâu. Sở dĩ ở lâu, là vì nước ấy tươi đẹp, với nhiều loại châu báu, dân chúng đông đúc thịnh vượng, rất có nghĩa lý.
Tinh- xá Kỳ Thọ, có thần nghiệm khác thường. Ngay khi chúng Tăng đang tụ tập ở giảng đường, các khỉ vượn, có đến vài ngàn con tụ tập ở bên trái, phải để xem, nghe. Cảnh trí tịch mịch, không có tiếng động, các loài chim khắp mọi nơi đều tụ tập về đây. Đúng giờ nghỉ, chúng Tăng đều trở lại chỗ nghỉ của mình, khi có tiếng kiền chùy thì lại đến tập họp.
Ở đây, do đất nước có nhiều người nhân từ, nên đủ các loài đến nương tựa Phật, hoặc là nơi tạm dừng để thọ thỉnh, hoặc là chỗ ở gốc, để từ đấy dùng thần lực đến các nơi khác hóa độ, rồi có chỗ trở về. Do vậy chỉ xưng Xá-vệ, là đủ biết sự quan trọng của chỗ nầy. Tại trú xứ này
có tên của hai người: Kỳ Hoàn và Cô Độc, được gọi rất riêng biệt vì hai người ấy, nay đang ở trên cõi trời; trước khi mất cũng tập họp chư Thiên, thuyết pháp, giáo hóa. Bấy giờ, có tâm niệm: “Chúng ta vốn là đàn- việt đầu tiên của chúng Tăng, tên gọi của chúng ta lẽ đâu không được khen ngợi ư? Vì muốn thích hợp với tâm niệm kia, nên mới gọi riêng tên hai người.
Nói sẽ tu một pháp... Nghĩa là cũng chẳng phải thuyết pháp theo trình tự. Xét về việc Phật thuyết pháp, khi đầu tiên thành đạo, phải từ vườn Lộc Dã, ở thành Ba-la-nại, nói bốn đế là bắt đầu. Tiếp theo, đến Ma-kiệt, thâu phục ba anh em Ca-diếp, nhân đó mà gọi tên của chủ tinh xá kia, lại nói sẽ tu một pháp, nghĩa là dùng một pháp nầy cùng với bốn pháp, thì nghĩa vị ấy cũng không khác, vì một pháp cũng đoạn kết, bốn pháp cũng đoạn kết, tất cả đều cùng tiến đến Niết-bàn, nẻo đường thì khác mà vẫn quy về một chỗ.
Tổng số kết là hai mươi mốt, diễn nói thành ba mươi sáu, về số dù có đầy-vơi, nhưng đều là kết. Thông thường thì sự có một trăm, một khi mở ra, lại là tám vạn bốn ngàn, là vì một pháp thì dù với ngàn- vạn cũng đều thẳng tiến tới đạo mà thôi; cũng như sư tử giết voi, voi giết thỏ, đều cùng là cái chết. Do nghĩa lý không khác biệt, cho nên đều khởi đầu từ một pháp. Không phóng dật, là tôn chỉ của một pháp.
Hoặc có ý hỏi: “Giới lẽ ra phải ở trước, vì trước hết là phải vâng giữ giới, sau đó mới nhớ nghĩ đến ba Tôn”?
Hoặc có ý nói: “Đấy chỉ là người mới học; trước nghĩ đến ba ngôi, tức ba tự quy, vận dụng ý ở Phật- Pháp- Chúng, để tiếp theo thọ giới, do đấy mà nói đến giới. Giới nên ở sau dứt niệm thứ tư, giải thích: “Nghĩ đến nỗi khổ của thân nhàn tĩnh, nghĩa là quán thân với ba mươi sáu vật bất tịnh mà phát lồ việc xấu ác của mình, để tự giác ngộ, có thể nhờ vậy mà thành đạo”.
Lấy gì để chứng minh?
Xưa, có Tỳ-kheo ở A-luyện-nhã, đi khất thực, gặp con gái của một trưởng giả cùng khất thực. Người nữ và Tỳ-kheo, thảy đều đoan nghiêm. Người con gái khi thấy Tỳ-kheo, bèn khởi tưởng dục. Tỳ-kheo trông thấy cô gái, cũng khởi ý dục, ý động mà tay run, nên trút cơm vào bát, làm rơi vãi xuống đất, cô gái tự cười tinh quái. Tỳ-kheo thấy răng cô gái trắng quá, liền tự giác ngộ: “Trong miệng cô gái chỉ là xương thô xấu, như lời Phật đã nói: “Trong thân người có ba trăm hai mươi xương, có sáu trăm lóng, bảy mươi vạn mạch, chín mươi vạn lỗ lông, một lỗ vào,
chín lỗ xuất, tiết ra những thứ nhơ, không có một thứ nào đáng tham. Quán sát kỹ thật đúng thân cô gái có ba sáu vật thảm thương mà rùng mình, chuyển sự suy xét nầy tự biết thân Không, liền được đạo Tu-đà- hoàn”. Lại tự cảm thấy: “Ta nhân có cô gái mà thấy pháp, như vậy cô tA-là thiện tri thức của ta, nay ta phải trả ơn. Liền vì cô gái mà giải thích pháp thân. Tâm cô gái lập tức được mở và cũng được đạo Tu-đà-hoàn. Do đấy, mới nói niệm thân là trội hơn”.
Niệm tử. Nghĩa là nghĩ đến phước của người chết. Khi mạng chung, thấy điềm địa ngục, kinh sợ quá, té phân. Hoặc thấy ngạ qủy, hoặc thấy súc sinh, tùy thuộc vào hành vi bị đọa mà thấy, đều sợ hãi, với ý muốn bỏ đi. Hoặc vì bị đối tượng lôi kéo, hoặc sẽ sinh trong cõi người, duyên vào sự giao hợp của cha mẹ. Nếu tiếp nhận thai nam, thì sẽ yêu người nữ kia, nếu thọ thai nữ, thì sẽ yêu người nam kia, trừ người nữ kia bệnh, ba việc khó không sai khác, ấy là được vào thai. Đã thọ thai, lại nhìn nhận cho là cái mình có. Cứ bảy ngày, một lần biến đổi khéo léo, gió cắt từng khắc, đến ba tháng, mười bảy, mười tám ngày, thai mới hình thành.
Nếu sinh nơi cõi Trời, thì có nhạc trời đến đón, nỗi vui mừng không gì hơn, tức thì mất tiểu tiện. Điềm lành của năm đạo nầy đều có chỗ để trông thấy.
Cái chết nầy ứng với người tu hành, dùng nó như sự răn dạy sáng suốt- sâu xa, chỉ sự vô thường, mạng chuyển mau chóng như ánh chớp, như vầng mây bay qua nóc nhà. Lão- bệnh- tử đến, đều không tránh khỏi. Thường xuyên nghĩ đến trạng thái biến đổi nầy để tự giác ngộ, nên nói là nghĩ đến cái chết. Mười niệm trước, đức Phật tự nói vì chưa có người nào hỏi, nên Phật không giải thích. Mười niệm sau, Tỳ-kheo hỏi, Phật lại vì họ mà diễn nói, mỗi mỗi đều giải thích rõ ràng.
Đệ tử của Thế Tôn, nghĩa là năm trăm A-la-hán, mỗi vị đều có phương tiện, hoặc trí tuệ bậc nhất, hoặc thần túc, hoặc biện tài, hoặc phước đức, hoặc giữ giới, hoặc tri túc, hoặc thuyết pháp, mỗi vị đều chiếm lấy vị trí thứ nhất.
Muốn luận bàn trước là anh, sau là em, thì A-nhã-câu-lân, lớn hơn hết, vì Tu-bạt là nhỏ nhất. Đây chủ yếu lớn nhất là chỉ ra bậc thềm trình tự của Phật pháp. Nếu dựa vào thông minh- hiền trí- rộng suốt, để làm bậc đứng đầu, thì đấy chính là pháp của Bà-la-môn.
Nói một ngàn hai trăm năm chục người, là đơn cử con số những người thường xuyên theo hầu Phật. Hoặc nói: “Năm trăm người, ấy là khi đức Phật tiếp nhận lời thỉnh cầu của A-nậu-đạt, nói gọn là năm trăm
người có thể cùng đi theo Phật đến cung Long Vương”. Vì sao? Vì suối A-nậu-đạt nầy chẳng phải mang hình dáng kẻ hữu lậu mà có thể vượt qua an toàn.
Khi A-nan xuất kinh, đã tập họp tám vạn bốn ngàn La-hán. Do đấy, nói không thể kể đếm là vậy.
Kinh nầy, lúc mới xuất, có một trăm người, đứng đầu về sự thông suốt bốn bộ. Mỗi vị đứng đầu lại có hai trăm hai mươi vị. Ngoài ra, há có thể kể?! Có người lại nói: “Kinh nầy vốn có trăm sự, A-nan phó thác Ưu-đa-la, mười hai năm sau, kinh Tăng- Nhất A- hàm xuất hiện, là thời điểm A-nan đã vui Niết-bàn. Các Tỳ-kheo đều lo tập ngồi thiền, không tụng, tập. Lại còn nói: Phật có ba nghiệp mà tọa thiền là thứ nhất, thế là các Tỳ-kheo đều bỏ dở đọc tụng kinh suốt mười hai năm”.
Tỳ-kheo Ưu đà- lA-lại bát Niết-bàn. Đó là lý do kinh nầy mất đi chín mươi sự.
Pháp sư nước ngoài lại tương truyền, vì chỉ truyền trao miệng, phó thác cho nhau, không cho biên chép thành văn. Bấy giờ, họ đã truyền khẩu đến mười một sự là hết, và kể từ thời điểm ấy, các sư chính thức lần lượt kế thừa nhau, nên mới có văn hiện nay. Tuy nhiên, nhà Tát-bà- đa không có đề tựa. Về sau, mười một sự nầy, được lưu truyền lần lượt, trải qua thời gian lâu, vì truyền đi nhiều, nên bị sót mất gần hết. Sở dĩ sự phó chúc nghiêng về đệ tử Tăng nhất nầy, vì người ấy từ đó đến nay đã theo bảy vị Phật, và đã tập họp tất cả lại thành bộ Tăng Nhất A hàm. Các Thánh, trước cũng đã phó chúc đến kinh nầy, thời kỳ đấng Năng Nhân chuyển pháp luân, cũng thường khuyên và đề cập đến Tỳ-kheo ấy.
Bấy giờ, đệ tử của Ưu-đa-la tên là Thiện Giác, theo thầy thọ lãnh, tụng Tăng Nhất, đúng là có mười một sự. Sau đó, Ưu-đa-la bát Niết- bàn.
Các luận sư nước ngoài đều cho rằng, ba tạng hiện nay, tất cả được
truyền thừa do Thiện Giác, và thầy trò đã truyền trao nhau cho đến nay, không ai thay thế. Sở dĩ Ca-diếp thường cho A-nan là trẻ con, nên nhiều đời đến nay, cứ tương gia ý của cha. Lúc ấy, em gái của A-nan là Tỳ- kheo- ni, nghe Tôn giả Ca-diếp nói lời như vậy, nên tỏ vẻ hờn dỗi không thích, nói: “A-nan, anh tôi rất thông minh, hoạt bát, thông đạt, mọi người ai cũng ngưỡng mộ, trọng vọng, mà Tôn giả lại cho là trẻ con!?”
Tôn giả Ca-diếp nói với Tỳ-kheo ni: “Em cả à! A-nan có hai việc đáng xấu hổ, sao em lại hờn dỗi? Chánh tọa A-nan khuyên Phật độ cho người mẹ, đã khiến cho Phật pháp bị giảm đi ngàn năm, là một. A-nan
có tất cả sáu mươi đệ tử. Ngày gần đây, có ba mươi Tỳ-kheo trở lại đời sống thế tục, Phật dạy pháp độ đệ tử, nếu là người tại gia thì phải có niềm tin tự tìm đến cầu đạo, phải thử thách bảy ngày; còn nếu là người ngoại học đến cầu đạo, cần trải qua bốn tháng thử thách. Vì sao không bằng nhau? Vì nhà ngoại đạo, hoặc do lòng dạ xấu ác, muốn tìm tòi sở trường, sở đoản. Chính vì lẽ đó, nên trước hết phải thử thách xem để biết là họ có chí thành hay không? Tuy nhiên, A-nan lại tùy tiện, hễ có ai đến cầu đạo, ấy là độ ngay, là hai việc đáng xấu hổ.
Ba mươi Tỳ-kheo nầy, sở dĩ hoàn tục, là vì nghe nói trong chín mươi sáu đạo, A-nan là Đẳng trí bậc nhất, nên theo A-nan là để cầu độ, nghĩA-là muốn thỉnh thọ Đẳng trí, nhưng A-nan không nói cho Đẳng trí, vì không hợp với bản tâm. Đấy là lý do khiến họ trở lại thế tục. Đã trở lại thì tất nhiên, họ chê bai A-nan, cho A-nan không có Đẳng trí. Độ đệ tử, ví như cá đẻ con, hằng ngàn, ức, vạn, nếu để tâm giáo hóa nối nghiệp thì sẽ thành tựu, ngược lại nếu không để tâm, tức sẽ thoái lùi. Vụ việc nầy lẽ nào không phải đáng xấu hổ ư ?!
Tỳ-kheo- ni nầy, do tâm giận dữ hướng về Ca-diếp, tức thì hiện thân vào địa ngục, còn A-nan do có khuyết điểm ấy, nên Ca-diếp mới cho là trẻ con.
A-nan lại dẫn chuyện xa xưa. Đó là Chuyển Luân Thánh vương, tên là Trường Thọ. Tiếp nhận giáo huấn để lại của Đại Vương cha, lên ngôi cai trị, giáo hóa. Khi sắp xuất gia, lại căn dặn và ủy thác cho thái tử Thiện Quán, phải dùng chánh pháp trị nước, sự trị nước lần lượt truyền trao cho nhau, chưa từng cho ai tạm thay thế. Xưa, do cha con nối tiếp nhau, nay do thầy trò truyền thừa nhau. Xưa, còn không mất giáo hữu lậu, huống chi ngày nay, lẽ nào phải mất đi diệu pháp chí chân hay sao?, cho nên dẫn ra để chứng minh, nhằm chứng tỏ Thiện Quán kia, tất nhiên có khả năng tiếp nhận được ý nghĩa của sự di chúc.
Đối với pháp, phải nghĩ nhớ và cung kính. NghĩA-là trong kệ trên, đã phán quyết Tứ A- hàm là của ba tạng. Trong trường hàng, lại nói: “Trong một kệ là có thể đủ các pháp của ba tạng, huống chi là Tăng Nhất, mà không hội đủ các pháp ư ?
Sở dĩ như vậy là có một đoạn kệ nói: Trong tâm các thiên tử, sinh ý nghĩ: A-nan không có khả năng tác kệ nói pháp. Vậy sao lại tạo ra sự lừa dối làm gì?!
A-nan biết cảm nghĩ trong tâm của các thiên tử, nên nói với các thiên tử: “Giả sử kinh mà tám vạn bốn ngàn con voi đã chở đó, đều là
kệ- tụng, thì ta cũng có đủ khả năng trong số kệ tụng như vậy, huống chi với một ít pháp nầy, mà A-nan lại không có khả năng sáng tác hay sao? Vì muốn làm vừa ý chư thiên, nên A-nan lại dùng kệ tụng các pháp,
để khuyến dụ chư thiên và những chúng sinh lanh lợi, nên nghe kệ để được giải thoát!
Pháp, tức chương trên:
“Các ác, chớ làm ! Các thiện, vâng làm ! Tư tịnh ý mình,
Là pháp chư Phật”.
Nói đó là pháp, do nó có công năng hoàn thành ba thừa, dứt trừ ba nẻo ác, đủ các thật quả, tiếp nhận quả báo của hai đời, rồi tùy của tài có hơn, kém, mà thiết lập sự khuyến dụ tu hành tinh tấn.
Tụng nói:
“Trên, duy trì ba tạng, Tiếp theo, bốn A- hàm, Hoặc hay thọ luật tạng, Tức báu của Như Lai”.
Sở dĩ nói báu, vì nghĩa là dụ. Nếu vua có kho báu thì không thể cho người ngoài biết được, chỉ có quan nội, người đồng tâm với vua, mới cho nắm giữ nó mà thôi. Giới, luật cũng như thế. Nếu người nào có khả năng vâng giữ hai trăm năm mươi giới cùng với năm trăm sự, thì mới truyền trao cho người đó, không thể để cho người bộ ngoài, thanh-tín-nữ-sĩ có thể chiêm ngưỡng, hay thưởng ngoạn; nên mới ví dụ là báu của vua. Giả sử sức không theo kịp hai tạng, thì chỉ người vâng giữ A-tỳ-đàm mới có thể hàng phục chín mươi sáu lối hẹp của ngoại đạo, khiến họ không còn quay lại. Vì sao? Vì diệu tuệ nầy là không có sự so sánh, có khả năng quyết định sự trì trệ vi tế nói trên, khiến cho thông suốt như thế, ngang bằng với chân. Tuy năm thông ở kiếp trụ, nhưng chưa khỏi bị chế phục do bốn ngựa chạy nhanh. Thế nên, học ngoại chớ dám dòm ngó. A-nan, người khuyến dụ tốt đẹp, đã xướng lên mười kệ ấy, đúng là vì ba vạn Trời- người nầy.
Khi xưa, lúc Phật mới thành đạo, ở vườn Lộc Dã, thuộc thành Ba- la-nại, vì năm người A-nhã-câu-lân v.v.., chuyển xe pháp bốn đế. Đức Phật nói: “Câu-lân phải biết khổ đế, khổ tập đế, khổ Tận đế, khổ xuất yếu đế.
Trực tiếp nói về bốn đế nầy, Câu-lân do còn bị trở ngại, nên nghe
nói đã lâu mà trí tuệ ý không giác ngộ, bèn phải giảng nói về không. Câu-lân phải biết, bốn tuệ đã ngưng động, tất cả đều không, cũng lại vô thường, ví như trò ảo thuật biến hóa, không phải thật, không phải là có. Câu-lân liền có được dấu ấn Kiến đạo, còn bốn người chưa hiểu,
Như Lai lại quán Bản tâm, có hai người bệnh vướng mắc ở tưởng, lại ưa lo lắng, tự ý đều để ở nhà. Với năm dục tự ý phóng túng, tham luyến, vướng mắc, không bỏ, sinh bệnh phải cần đến thuốc, ấy là phải giảng nói tam-muội Vô tướng. Vì đối tượng mà ông tưởng, đều quy về diệt tận, nên tâm giong ruổi, buông thả ở những chỗ vui. Từ đối tượng tưởng, liền hiểu, hai người lại được dấu ấn đạo. Còn tâm của hai người còn lại, thường nguyện được sinh vào trời Phạm. Ở trời Phạm và được làm vua, nhưng bị ngăn ngại, lại không trừ bỏ đi, trở thành hệ lụy! Như Lai thấy được tâm họ như vậy, liền giảng nói Vô nguyện: “Vì sở nguyện của ông là mong cầu được làm Phạm thiên vương, không thể xuất yếu, nên phải trở về với mài mòn- tiêu diệt- tồn tại- vô thường, đáng bỏ điều đã cầu, lấy xuất yếu làm ưu tiên, tức lại được giải, và đạt được dấu ấn đạo”.
Năm người đều có những trì trệ khác nhau, nên cách làm cho về nơi đối tượng Kiến giải không giống.
Gọi là ba chuyển bốn đế, nghĩa là trong Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, đều có bốn đế, đế tức quán, định tức chỉ. Thật hành song song chỉ-quán, nhằm đối trị chứng bệnh si-ái trong ấm-trì-nhập.
Mười hai, nghĩa là phá mười hai nhân duyên.
Xưa, khi còn tại thế, Đức Phật đã vì bốn bộ thuyết pháp. Hoặc hoặc nói về bốn đế, hoặc thuyết giảng về sáu độ, trước hết là tùy thuận chúng sinh có ưng nghe, Phật đều vì họ diễn nói rộng ra, thường không tính số lượng. Hoặc Quốc vương, Trưởng giả, Phạm chí, Cư sĩ; đến thỉnh cúng dường, hoặc đến thỉnh hỏi, phần nhiều họ là những đối tượng để nói pháp. A-nan hỏi: “Sao gọi là phải nói, nghe ư ? Phải nói thấy ư ? »
Phật bảo A-nan: “Ở vị lai về sau, khi thuyết pháp về bốn bộ nầy, phải nói nghe, không được nói là thấy. Nếu nói thấy, thì là giả dối. Vì sao? Vì nghe đã là quá khứ, thấy có nghĩa là hiện tại. Như bảy Phật ở quá khứ, đúng phải nói là nghe, không được nói thấy. Ông đối với vị lai, cũng lại như thế, nên nói: “Nghe như vầy”. Sở dĩ ta ân cần căn dặn A-nan nhiều, là vì chư Phật quá khứ dù có người hầu cận, nhưng không có ai bằng A-nan biết rõ ý Phật. Từ nhiều kiếp xa xưa, A-nan đã từng cúng dường hai mươi ức Phật, thường xuyên làm người hầu, không cầu dứt hết lậu, thường xuyên nguyện được Đẳng trí, biết được ý nghĩ sâu xa
của Phật, do vậy nay được quả báo đạt Đẳng trí. Mắt xem, ý vận dụng, không mất quy tắc thích nghi, tinh tấn dũng mãnh ở trong chư Phật, không có vị Phật nào vượt qua Thích-ca-văn. Trong anh em, Di-lặc lẽ ra phải ở trước. Nay trái lại ở sau là sao?
Thuở xa xưa, trước đây ba mươi kiếp, có ba Bồ-tát ở chung trên núi. Khi đi dạo, trông thấy có con cọp đói muốn ăn thịt con mình, một người có cảm nghĩ: “Con cọp nầy đã là súc sinh, lại ăn thịt con của nó, khi chết sẽ chịu mọi thống khổ, vì làm mẹ lại không có lòng lành. Thân hiện nay của ta, do bốn đại hợp thành. Sự hội họp rồi cũng sẽ trở về với cái chết, ấy là phải dùng thân để cứu mạng đứa con kia”. Người thứ hai không chịu vậy, mới định đến chợ mua thịt, dùng thay cho mạng cọp con. Người kia lại nghĩ: “Nếu người nầy đi mua rồi trở lại, thì mạng cọp con sẽ không bảo toàn”. Vả lại, cũng phải gieo mình từ núi xuống, mới cứu vớt được mạng cọp con kia, liền từ núi gieo mình xuống dưới, đúng ngay miệng cọp mẹ. Thân được yên ổn, vì cọp mẹ không dám ăn. Lý do vì sao? Vì luận về người nhập tam-muội từ, thì đối với động vật, khó có thể hại, nên người ấy phải dùng thanh tre đâm mình chảy máu, khiến cho cọp ăn được.
Do sự dũng mãnh nầy, tức đã vượt qua tới chín kiếp. Nay, ta ở trước Bồ-tát Di-lặc là vậy. Đã nói là đạo thì không có trước- sau, ý quyết định làm ưu tiên, thế nên nay ta thành Phật trước. Vì thế, ta để lại những sách nầy, ủy thác cho A-nan: “Ở đương lai, ông sẽ nói là: Nghe như vầy:”.
Vì sao lại nói một thuở nọ? Vì là số mặt trời, mặt trăng, hay vì là tên người?
- Cũng là số thời tiết, cũng là ở tên con người.
Hoặc nói: “Lại có hai danh; hoặc Sát-đế-lợi; hoặc Bà-la-môn”. Lại có hai danh: Hoặc dòng Trưởng giả; hoặc dòng cư sĩ. Hoặc ở trên cõi trời, hoặc ở trong cõi người. Như thế, phần nhiều, hoặc chẳng phải là một xứ, nên nói là một thuở nọ.
Bà-già-phạm, là danh xưng của Thế Tôn. Kết sử đều tận, không ai có thể vượt qua, nên xưng là Tôn. Chư Thiên ba cõi đều quay về kính ngưỡng, tám bộ quỷ thần cũng đều tôn kính, hàng phục các ma, nên gọi Thế Tôn. Danh xưng như thế, không thể tính đếm, đo lường, nên có hiệu Thế Tôn.
Kỳ thọ-vườn Cấp Cô Độc: Thái tử Kỳ-đà là con của vợ cả vua Ba- tư-nặc, có tám mươi thửa vườn, ruộng, đất bằng phẳng, cây cỏ tốt tươi, có đủ các loài cầm thú, ban ngày chúng thường cùng nhau đến tụ tập.
Tâm của Kỳ chỉ có mỗi hình bóng Phật, luôn có ý định xây cất tinh xá cho Phật trên khắp thửa ruộng ấy. Trưởng giả Tu-đạt lại đến xin mua. Kỳ ít thân thiện với Trưởng giả, mỗi khi vui đùa, hay nói chơi là bằng lòng bán.
Tu-đạt được ý quyết định của Kỳ, nên rất hài lòng, hớn hở, lập tức nói với người hầu cận: “Ngươi hãy nhanh chóng trang bị cỗ xe voi, để ta chở vàng ròng đến trải dưới đất; tức thì vác vàng ra, tập họp trải trên mặt đất, chỉ trong khoảng chốc lát, vàng ròng đã được lót đầy bốn mươi thửa”. Kỳ lại nói: “Thôi thôi! Ta nói chơi với nhau thế, đừng trải vàng khắp nữa! Lập tức Tu-đạt với Thái tử cùng đến chỗ vua, tâu lên ý nầy. Vua nói: “Pháp không có hai lời nói. Đã hứa quyết tâm rồi, thì nhất định về lý, không chấp nhận có sự ăn năn!” Kỳ nói: “Ta nhận lấy phần cây, còn khanh lấy đất. Hai người hợp tác, có thể lập chung tinh xá, gồm có bảy mươi hai giảng đường, một ngàn hai trăm năm chục phòng nhà, trong đó đất bằng phẳng, với rừng cây ăn quả sum sê- tươi tốt, suối chảy róc rách; ao tắm được điều hòa lạnh-ấm, bốn phía trong sạch, sáng sủa, mùa Đông, mùa Hạ không thay đổi”.
Trang nghiêm xong, cùng cung thỉnh Đức Thế Tôn đến xem. Đức Thế Tôn cùng với một ngàn hai trăm năm chục Tỳ-kheo đi dạo và nghỉ ngơi trong khu vườn đó. Đàn- việt cúng dường bốn thứ cần dùng không thiếu. Các phủ của vương hầu, các quan cựu trào, cao niên, được nhường ở trước. Thế nên, các kinh thường xưng Kỳ là người đứng hàng đầu, vì lẽ công đức liên tục nhau, cho nên tên gọi cũng không được rời nhau, phải thường xuyên kết hợp dùng làm danh xưng.
Phật bảo các Tỳ-kheo: “Vì sao không bảo thanh tín sĩ-nữ, mà chỉ bảo với Tỳ-kheo? Vì lẽ chúng Tỳ-kheo ở bốn bộ đều là người đứng đầu. Hơn nữa, lại là chủ phá ác, dùng pháp Vô-lậu để đoạn trừ các hữu lậu. Vì lý do nầy, nên trước hết, bảo Tỳ-kheo, cũng gọi Sa-môn. Sa-môn, tâm được thôi dứt, chấm dứt sự dời đổi, dục cũng lặng bặt, không có vướng mắc, cũng gọi là Trừ cận. Người đời đói khát về sắc dục, người Tỳ-kheo loại trừ tưởng đói của sự đói khát về ái ấy”.
Đức Thế Tôn thuyết pháp, Tỳ-kheo có khả năng tiếp nhận, đoạn trừ sinh tử, tiến đến cổng Niết-bàn, thế nên, Phật bảo Tỳ-kheo mà thôi.
Phải tu hành một pháp. Nghĩa là niệm Phật. Niệm sự nào của Phật? Thân kim cang của Phật, không có các lậu. Nếu bước đi, chân Phật rời khỏi mặt đất bốn tấc, dấu vết về tướng hoa văn như ngàn căm xe hiện trên mặt đất. Các trùng, kiến dưới chân Phật đều được yên ổn suốt bảy
ngày, nếu đến lúc mạng chung, đều được sinh lên cõi Trời.
Xưa, có một Tỳ-kheo ác, vốn là ngoại đạo, muốn giả trang phục để chê bai, đuổi theo Như Lai đang đi, giết nhiều trùng bay, đem nhét dính chỗ dấu chân Phật, rồi nói là Đức Phật đạp, sát hại trùng. Nhưng dù trùng đã chết mà gặp ngay chỗ dấu chân Phật, lập tức được sống lại. Nếu Như Lai đi vào thành- ấp, chân đạp lên ngưỡng cửa, là trời đất sẽ chấn động, hằng trăm thứ nhạc cụ không vỗ đánh mà tự kêu, các người mù, khiếm thính, câm, ngọng, lưng gù, tàn tật, một trăm bệnh tật đều tự nhiên khỏi hẳn.
Với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật, nếu có người nào trông thấy, rồi đi theo, đều được Phật độ, công đức của Như Lai đã cứu giúp, thật sự không thể tính kể. Tuệ sáng suốt của Phật đã soi rọi, lẽ đâu có thể chê bai được ư ?!
Phật, chủ của các pháp, đều hội đủ vạn hạnh, lấy sự hóa độ làm ưu tiên. Gọi là niệm Phật, nghĩa ấy là như vậy. Còn niệm Pháp là thế nào?
- Pháp, nghĩa là gồm pháp Vô-lậu, pháp không có dục, pháp đạo, pháp vô vi, từ dục cho đến không có dục.
Phật là chủ của các pháp. Pháp là chủ của Kết, sử. Hoặc có người hỏi: “Phật ở trước hay pháp ở trước?”
Đáp: Pháp ở trước. Vì sao biết thế?
- Vì kinh nói: “Pháp sinh ra chư Phật, pháp sinh đạo Phật. Do đây mà nói, thì pháp ở trước”. Lại nói: “Nếu như vậy thì vì lẽ gì không niệm pháp trước, mà niệm Phật trước?”
Đáp: “Pháp dù vi diệu mà không có mấy ai có thể biết, cũng như ngọc báu chôn giấu trong đất, không có chỗ nào không có, mà người nghèo thì vẫn khốn khổ, thiếu thốn về vật dụng-tiền của, phải nhờ người có thần thông, chỉ cho họ biết chỗ chôn giấu của báu, để họ được dùng, để tự họ cung cấp, hoặc để cứu giúp kẻ nghèo thiếu”.
Hoặc hỏi: “Vậy quý báu là trội hơn hay con người là trội hơn ư ?
- Đáp: “Con người vượt trội hơn”. Vì lẽ gì mà nói trội hơn?
- Sự chôn giấu vật quý báu dù có nhiều, nhưng nếu không phải người có thần thông thì sẽ không xem thấy. Chỉ con người mới cần tiền củA-làm vật riêng tư. Chả lẽ kho báu tự nó quý ở trong đất ư ? Pháp cũng như thế. Về lý, Pháp dù huyền diệu, nhưng không phải Như Lai thì không có biện minh, không phải Đức Thế Tôn thì không có sự thông
suốt; vì thế, nên niệm Phật ở trước, lấy pháp làm thứ yếu.
Niệm Tăng là sao?
Tăng, nghĩa là bốn hướng-bốn quả-mười hai Hiền sĩ, từ bỏ thói tham lam, thói tranh chấp của đời, triển khai phước làm con đường đầu, đi suốt qua con đường Trời-người, đều do phước nầy.
Lấy gì để minh chứng, Tăng là ruộng phước tốt quý?
- Xưa, có Tỳ-kheo phước mỏng, tên là Phạm-ma-đạt, ở trong chúng gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, khiến cho chúng Tăng không được ăn, mà chẳng biết là lỗi của ai? Do vậy, Đức Phật bèn chia ra hai bộ. Trong một bộ, lại khiến một bộ không được ăn. Lại chia một bộ nầy làm nửa bộ; lại khiến phân nửa bộ nầy không được ăn.
Như thế, lần lượt phân nửa, cho đến hai người, cũng không được ăn, bèn đến độc thân, mới biết là mình không có phước. Đi khất thực tại chỗ, tuần tự đến ở bát, tự nhiên tiêu hóa. Đức Phật thương xót tai ách của họ, nên tự tay trao thức ăn ngay trong bát. Vì bị thần lực ngăn, nên lại không tiêu hóa được, Phật muốn khiến thân nầy được phước, nên cho hai Tỳ-kheo diệt Tận đứng ở bên trái- phải, dùng thức ăn thí cho hai Tỳ- kheo diệt tận ấy.
Thông thường, hành tam-muội diệt tận, tức thì được phước. Tiếp theo, lại khiến nhập tam-muội Từ, Tỳ-kheo ở bên trái, phải. Tiếp theo, dùng hai bi, tiếp theo, dùng hai hỷ, tiếp theo dùng hai hộ (xả), mỗi pháp đều thay thế khắp, khiến tu được bốn đẳng.
Bấy giờ, Vua Ba-tư-nặc nghe nói Phật xót thương cho Tỳ-kheo phước mỏng về cái ăn, liền nói: “Nay, trẫm cũng vì lập phước, sẽ phân phát sai sứ đem gạo đến cung cấp. Lúc ấy, có một con chim bay tới ngậm một hạt gạo bay đi. Sứ giả quở: “Vua vì Phạm-ma-đạt mà thiết lập phước, sao ngươi lấy đem đi? Con chim vội vàng đem hạt gạo trả lại chỗ cũ”.
Vì sao thế?
- Vì Tỳ-kheo nầy, nhờ sức phước của chúng Tăng, cho nên chim, thú đã không thể xâm hại. Vì dụng là chứng, nên biết được chúng Tăng là ruộng phước tốt quý.
Đã độ mình, lại có khả năng độ người, tiến đến đạo ba thừa. Pháp niệm Chúng, nghĩa ấy là như vậy.
Tiếp theo, niệm Giới: “Nghĩa ấy là thế nào?”
Từ năm giới, mười giới, hai trăm năm chục giới, đến năm trăm giới, đều dùng để cấm, để chế phục thân, miệng, chế phục những nguy hiểm
tà quấy. Chế ngự những nguy hiểm của sáu tình (căn), dứt trừ các niệm dục, trong ngoài thanh-tịnh là hợp với tánh giới.
Xưa, có hai Tỳ-kheo, cùng đi đến chỗ Phật. Con đường đi nằm vắt qua đầm rộng, thiếu nước uống. Lúc ấy, có nước uống nơi ao nhỏ, các trùng đầy dẫy trong đó. Một Tỳ-kheo suy nghĩ kỹ về luật cấm, quyết không vi phạm làm hàng đầu. Nếu uống nước nầy, thì sát sinh rất nhiều, thà ta vâng giữ giới hoàn toàn dù mất mạng, chớ không để phải ân hận. Ở đấy mạng chung, người nầy liền sinh lên cõi Trời.
Một Tỳ-kheo tự suy nghĩ: “Cần phải uống nước để bảo toàn mạng sống, mới có thể đến chỗ Phật, đâu biết sau khi chết, sẽ sinh cõi nào? Liền uống nước, tức đã sát hại rất nhiều trùng và đã đến chỗ Phật. Mặc dù được thấy Phật, nhưng lại cách rất xa lời chỉ dạy, khóc lóc hướng về Đức Phật tự nói: “Đồng bạn mạng chung”. Phật liền chỉ lên trời nói: “Ông có biết vị trời nầy không? Đây là bạn ông, do công đức giữ giới hoàn toàn, liền sinh lên cõi trời, nay đến ở đây. Dù ông thấy ta, nhưng cách ta rất xa, còn người kia dù mất mạng, nhưng vẫn thường xuyên ở chỗ ta. Nay ông đến thấy ta, chỉ có thể xem là đã thấy hình sắc của ta thôi, đâu có nhận thức được giới chí chân cao đẹp?”
Do đấy mà nói, vâng giữ giới không vi phạm, thì mong muốn là được. Trong mười niệm, giới ở trước, trong sáu độ thì thí ở trước. Sở dĩ trước, tức đã không bằng nhau. Mười niệm giới, là giới của nhà Thanh- văn. Với đệ tử, trước tiên là dùng pháp kiểm soát thân, cho nên nói ở trước. Pháp của Bồ-tát lấy tuệ Thí-làm trọng. Vì sao? Luận về Bồ-tát, đã sinh trong Trời- người, thì tâm luôn giúp ích. Cốt yếu của sự giúp ích không phải chỉ cho mà không cứu. Luận về chúng sinh, hiện thọ mạng, nghĩA-là phải dùng áo- cơm- tài thí, để trước nhằm cứu giúp hình hài chúng, sau đó sẽ đem pháp để gom thu, chế ngự tâm thức họ, cho nên Bồ-tát dùng Thí-làm trước.
Luận về giới, có hai: Có giới thế tục, giới của đạo. Năm giới, mười thiện là giới thế tục, ba tam-muội là giới đạo. Hai trăm năm chục đến năm trăm giới, cũng là giới thế tục, diệu tuệ bốn đế là giới đạo. Chỉ thực hành giới an, không ra khỏi ba cõi, dùng tuệ chế ngự giới, sao cho trở thành Vô-lậu, mới là hợp với giới đạo. Giới của nhà Thanh-văn, ví như đóa hoa trên đầu gối, hễ cử động thì hoa rã rời tan tát. Giới của Bồ-tát, ví như đóa hoa cài trên đầu, đi, đứng không lay động. Nghĩa là sao? Tiểu thừa kiểm soát hình, hễ lay động thì vượt oai nghi. Bồ-tát lãnh hội tâm, không câu nệ phép tắc bên ngoài. Về mô phạm dù lớn nhỏ mà Bồ-tát,
Tiểu thừa đều khác nhau, hình, tâm là điểm khác biệt, trong-ngoài dù đặc thù, nhưng cũng đều cùng tiến đến Niết-bàn, cho nên nói là Niệm giới.
Niệm Thí sở dĩ được đến Niết-bàn, là vì thí có thí của-thí pháp. Có thể từ nhân thí của cải mà đạt được pháp thí, để trở thành bố thí Ba-la- mật, được đến Niết-bàn.
Niệm Thiên là từ cõi Dục, cõi Sắc, đến trời cõi Vô sắc. Trời có hai hạng: Có trời thọ hưởng phước, có trời đạo đức. Các trời Tu-đà-hoàn ở cõi dục, ly khai vĩnh viễn ba nẻo ác, tiến lên nhà đạo. Cõi Sắc, cõi Không, có tám Tịnh cư thiên, tăng thêm việc tu chỉ, quán, tiến lên thành Vô-lậu, tức Niết-bàn, không trở lại thế gian.
Trời phàm phu: Nghĩa là tu hành mười thiện-bốn thiền-bốn không, sẽ được sinh vào cõi trời nầy thọ hưởng phước, khi phước hết, sẽ đọa trở lại, lưu chuyển không dứt.
Sở dĩ gọi niệm Thiên, vì những điều đó đều đắc đạo. Họ chuyên tâm, không buông thả, mến mộ những việc mình làm, ý không phân tán, giong ruổi, vì cũng đến Niết-bàn, nên nói là Niệm thiên.
Niệm thôi dứt: Nghĩa là tâm-ý-tưởng dứt, năm dục không khởi, vắng bặt, định vĩnh viễn, nên nói là thôi dứt.
Thông thường dứt cũng có hai thứ: Ngoại đạo, Phạm chí hiện hình để cầu phước, cũng nói là dứt. Bốn quả Sa-môn, tiêu diệt vĩnh viễn các kết, mới chính là dứt đúng nghĩa.
Do đâu biết như thế?
Xưa, có Tỳ-kheo tên là Tu-la-đà, đến thành Xá-vệ, đi giáo hóa khắp nơi. Lúc ấy, ở phía Tây thành này, có xứ Ương- quật- ma, là chỗ có thể giết người. Đất ở đó bằng phẳng rộng rãi có nhiều cây cối. Khi đó, có một Phạm chí đang ngồi thiền dưới tàng cây, ông ta không ăn năm thứ lúa thóc; chỉ ăn quả của loài cỏ, nếu không có quả, thì ăn rau, cỏ, để nối tiếp tinh khí. Thân mặc áo bằng lá cây, hình thể ốm yếu, đi phải chống gậy.
Bấy giờ, Tu-la-đà đi từ xa đã trông thấy, cho là đạo sĩ, liền ngồi thiền xem thử tâm người kia để biết là có định hay không? Nhận thấy tâm người ấy, vốn có mưu cầu lên làm vua nước này, nên suy nghĩ: “Người ấy chính là giặc lớn đấy! Lúc đầu ý định bỏ đi, nhưng sợ về sau, sẽ đọa vào tội, đồng thời cũng muốn giáo hóa, tất nhiên, ông ta sẽ không theo lời ta nói. Cần phải tìm phương tiện để độ ông ta mà thôi”. Tính toán rồi, liền đến bên một cội cây ngồi thiền, cách chỗ người đó
không xa. Trải qua bảy ngày không lay động. Sau bảy ngày mới đứng dậy, Tu-la-đà đến trước vị Phạm chí ấy, gảy ngón tay cho biết và nói: “Trong cơ thể ông bạn như thế nào?”. Một hồi lâu, Phạm-chí thong thả ngẩng đầu, đáp: “Tôi nghèo, tằn tiện cũng không lấy gì để lại cho nhau, thì làm sao?”.
Tỳ-kheo lại nói:
- Nay ta sẽ để lại cho ông một vật.
Tức thì hóa ra một con gà, và nói: “Ông có thể giết con gà nầy để ăn”. Tỏ vẻ sợ hãi, Phạm-chí nói:
- Ta còn không giết kiến-rận, huống chi là giết gà? Tỳ-kheo nói:
- Bản tâm ông là muốn giết vô số người. Nay giết con gà nầy, đâu đủ để nói.
Phạm-chí lại nói:
- Thế nào là giết vô số người? Tỳ-kheo bảo:
- Ông vốn ngồi thiền ở đây, chính vì mưu cầu được làm vua nước nầy. Vua trị vì, giáo hóa một ngày, có thể giết mấy người? Mà nói không giết? Con gà nầy tức là “con gà thức” trong tâm ông, là có thể được đạo vô vi, đâu dùng đến Quốc vương làm gì?.
Phạm- chí kia liền suy nghĩ: “Tỳ-kheo nầy đã biết rõ ý nghĩ trong tâm ta, tất nhiên là Thánh nhân? Vậy ta phải theo lời giáo hóa của người ấy”.
Tỳ-kheo Tu-la-đà lại vì ông ta mà thuyết pháp, làm cho Phạm chí kia được dấu ấn đạo.
Thân hình Phạm- chí nầy dù tĩnh lặng, nhưng vì tâm không thôi dứt.
Về sau sẽ giải thích: “Tâm- ý- tưởng- kiến” dứt.
Niệm Thân. Quán ba mươi sáu vật xấu, biểu lộ sự bất tịnh của thân, nhớ nghĩ chắc chắn, không tán loạn, cũng được Niết-bàn.
Do đâu biết được?
Xưa có Tỳ-kheo ở A-luyện-nhã, thường đi khất thực, ăn bên bờ sông, ăn xong, rửa bát. Lúc ấy, tại gò mả bên bờ sông ở thượng lưu, có thi thể của người nữ mới chết. Gió thổi, tóc thiếu nữ bỗng nhiên rớt ngay vào trong bát. Tỳ-kheo tay cầm mớ tóc nầy, nhìn kỹ thấy rất tốt đẹp, tâm- miệng đều một lời: Không thể là đuôi ngựa, tóc nầy lại rất nhuyễn, không thể là tóc của con trai, vì rất mềm, buộc lại, không chi tách ra, tất nhiên là tóc của thiếu nữ, đúng là trói buộc lại, không thể tách rời ra; bèn nảy sinh ý nghĩ: “Người như thế, với tóc nầy tất nhiên là tuyệt đẹp, gương mặt như sắc hoa đào; mắt như minh châu, mũi như ống trúc
cắt; miệng như ngậm hồng đơn, mày như nét ngài. Tư ý diễn tả như thế xong, liền khởi tâm dục, xuôi theo dòng nước, tìm kiếm cái nhan sắc mà mình tưởng tượng ra đó, đeo đuổi tìm kiếm mãi không thôi. Chợt thấy một người nữ bị chồn- sói ăn thịt đã hết một nửa, thân hình thoái rữa, nhưng tóc cô ta vẫn còn. Tỳ-kheo cầm mớ tóc so sánh, giống nhau về dài, ngắn. Từ đó, ý tưởng dục tự nhiên được giải. Lại quán sát, để phân biệt, suy nghĩ về người nữ nầy, lúc còn sống chắc chắn vóc dáng- dung mạo xinh đẹp, nay hư hoại, khiến người ta được chứng kiến. Trước đây đã khởi tưởng dục chỉ vì thân tham ái dục, nên mới nẩy sinh ý nghĩ như thế. Thân người nữ kia đã như vậy, thì thân ta cũng đâu có khác gì!? Như thế chắc chắn thân ta là do bốn đại hợp thành, khi phước hết, duyên lìa thì tự nhiên giải tán. Quán xét tâm biến động xong, tức thì đạt được dấu ấn đạo.
Niệm Thân. Nghĩa là được quả Sa-môn.
Niệm Tử. Nghĩa là nghĩ đến người đang sống, thọ mạng không ngừng bị mất đi nên các căn tan rã, như cây hư mục, cho đến khi mạng căn đoạn tuyệt, phải luôn nhớ nghĩ chẳng có gì là thường còn, để tự giác ngộ.
Xưa, có Tỳ-kheo tên Bà-kết-lê, ngồi thiền- hành đạo, kinh qua nhiều năm, mà hữu lậu không dứt trừ, bệnh hoạn đến với thân mình làm lụy hại thêm lớn, thường nghĩ tới việc tự sát. Sở dĩ con người không được chí đạo, là vì hình dáng có ngồi ngay thẳng, nhưng thân nầy lưu chuyển triền miên, biết đến lúc nào mới có thể dứt, chỉ có thể dùng tay cầm dao tự sát cho xong. Nhưng suy nghĩ lại, nhớ Đức Thế Tôn có răn dạy: Các đệ tử không được tự hại.
- Mặc dù như thế, nhưng nay ta muốn cầu Niết-bàn, trong Niết-bàn đâu cần có thân, thế nên trước hết ta trừ bỏ thân, để nhận lấy chánh vô
vi. Liền cầm dao tự hại. Đầu vừa rơi, tâm cũng liền thấu suốt, tức được A-la-hán.
Đức Phật biết là đã được đạo, bèn ra lệnh cho các Tỳ-kheo Xà-duy (thiêu đốt) thi thể ấy. Thế nên, niệm Tử cũng được Niết-bàn là vậy.
Mười niệm, trước kia Phật nói tổng quát, vì chúng sinh căn nhạy bén, về sau Phật lại nói, là vì chúng sinh căn chậm lụt, phải phân tích, giải thích nghĩa các căn ấy.
Danh dự: Về sau, được Chuyển Luân Thánh Vương. Được quả báo lớn, nghĩa là về sau sẽ được Thiên Đế Thích.
Các điều thiện khắp đến. Nghĩa là về sau, sẽ thu được quả báo ở
cõi Phạm Thiên.
Được vị cam lồ: Nghĩa là về sau, sẽ được quả Bích-chi-phật. Đến xứ vô vi. Nghĩa là về sau, thu được quả A-la-hán.
Mười niệm nói ở trên, không có năm luận chứng (câu) nầy. Nay, sở dĩ vì lợi ích của quả báo, vì muốn chứng minh về nghĩa của niệm Phật, mà lý ấy thì rất thâm diệu.
Phật nói: “Các đệ tử bát Niết-bàn, đều dùng duyên đời trước, đền bù đối với nhân thọ nhận Niết-bàn...”
Năm trăm đệ tử như thế, mỗi vị đều dùng duyên đời trước, nhận lấy sự diệt độ, chỉ có A-nan là rất khéo trong việc thọ nhận Niết-bàn: Khi sắp muốn Niết-bàn, trước hết thể hiện điềm lành ánh sáng.
Có Phạm- chí theo A-nan để học về thuật toán số, thấy sắc diện của A-nan phát sáng, liền báo với nhà vua: “Sắc diện của Tôn giả A-nan trông có vẻ khác thường, sắp muốn thọ nhận Niết-bàn”. Nhà vua vội sai người tìm và theo dõi A-nan.
A-nan đem theo năm trăm đệ tử, đến giữa đường, trên bờ sông Hằng, đang muốn vượt qua, vừa ra tới giữa sông thì vua cũng đã đến tới bờ. Tỳ-xá-ly vâng mạng A-nan đến, cũng sai năm trăm đồng tử đón tiếp, vì muốn vừa ý của hai nước, nên dùng thần lực ngăn chận chiếc thuyền, khiến cho thuyền dừng lại ngay chính giữa dòng.
Bấy giờ, A-nan độ đệ tử, một là Ma-thiền-đề, hai là Ma-thân-đề; rồi bảo Ma-thiền-đề: “Ông hãy đến Yết-tân, để chấn hưng Phật pháp, vì ở cõi nước đó chưa có Phật, pháp, nên truyền bá cho tốt!”. Bảo Ma- thân-đề: “Ông hãy đến nước Sư Tử để chấn hưng Phật pháp, sao cho thịnh vượng”.
Phó chúc xong, tạo ra mười tám biến hóa, phát lửa đốt thân. Phân nửa ngọc xá lợi để cho hai nhà, mỗi nhà đều được cúng dường. Đây là do sức của niệm Phật, nên được tự tại.
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Mất tên người dịch – Dựa theo sự sao chép đời Hậu Hán
QUYỂN 3
Phật bảo các Tỳ-kheo: “Với lòng đại từ của Phật, mong muốn sao cho đệ tử, biết đủ về nghĩa niệm Phật, cũng như người cha, đặt ra điều ước răn bảo con cháu, muốn cho chúng được thành tựu, không có không được. Để chuyên cần, tinh tấn niệm Phật, nên quán Như Lai, sao cho hình thể và mắt mình chưa từng xa rời, như A-nan quán Phật không biết nhàm chán, tâm niệm không bao giờ hết.”
Bấy giờ, trên lưng A-nan nổi lên mụt nhọt sưng đỏ. Đức Phật sai Kỳ-bà chữa trị cho A-nan. Kỳ-bà bạch Phật: “Con không dám dùng tay tiếp cận lưng A-nan”. Phật bảo Kỳ-bà:
- Chỉ chữa trị, chớ hoài nghi! Ta sẽ thuyết pháp cho A-nan nghe, để cho A-nan không có cảm giác đau nhức.
Như Lai bảo A-nan, hãy nhìn cho thật kỹ tướng tốt của Phật. Phật vì A-nan nói: “Thân Như Lai là vô số kim cương, không thể hư hoại, vì được hình thành do ba ngàn hai trăm công đức phước”.
A-nan chăm chú nhìn ngắm đức Phật, không mỏi, tai nghe Phật thuyết pháp không chán, với tâm niệm không phân tán. Lúc ấy, mụt nhọt trên lưng A-nan vỡ mủ ra, Kỳ-bà dùng cao thoa xức.
Phật hỏi A-nan: “Ông có cảm giác đau nhức trên lưng không? A-nan đáp: Bạch Thế Tôn! Không có cảm giác.
Phật nói:
- Không có cảm giác đau nhức, ấy là do niệm Phật, mà bốn vô sở úy, và mười lực được thành.
Xưa có Trưởng giả, dẫn đứa ở đến lễ Thâu- bà và nói: “Nam mô Thập lực Thế Tôn”; đứa tớ đứng sau lễ nói: “Nam mô Thập nhất lực Như Lai”. Trưởng giả nói:
- Đức Như Lai có mười lực, sao lại có mười một lực?
Đứa tớ thưa: “Nói mười một lực đâu có sao, đừng nói chín lực là được. Nói mười một lực, lại có thêm một lực, nào có lỗi lầm gì?” Đại gia yên lặng ra về.
Hỏi: Các Pháp sư: “Như Lai có bao nhiêu lực?”
Đáp: “Hoặc có ba lực, hoặc có mười lực, hoặc nói có vô số.” Nếu vậy, nói là lực thì không giới hạn ở số mười sao?
Trưởng giả liền xuất gia học đạo, miễn tôi tớ vì chủ nhà nói bốn chăng phải là không đủ, nói vô số chẳng phải là có thừa; vào thời điểm thích hợp, ứng vật sẽ không có lượng thường.
Niệm pháp. Nghĩa là từ dục cho đến không dục, từ dục cho đến đạo, từ lậu đến Vô-lậu, từ hữu vi đến vô vi…
Vì sao biết như thế?
Xưa, Đức Thế Tôn thuyết pháp, giáo hóa tại nước của vua Ưu-điền. Đức Phật đã nói như thế nầy: Khi còn ở cõi trời Ba mươi ba, Phật vì mẹ Ma-da thuyết pháp, ròng rã chín mươi ngày, rồi mới trở lại.
Lúc ấy, ở dưới phía Bắc thành Ca-thi, có Tỳ-kheo-ni Ưu-bát Liên Hoa, với tâm niệm chỉ muốn một mình gặp Phật trước tiên.
Bấy giờ, các quốc vương cũng không thấy Phật đã ngót chín mươi ngày, nên đều có tâm tình khao khát và ngưỡng mộ, đều tập họp đến để gặp.
Phật suy nghĩ: “Ta sẽ vì Tỳ-kheo- ni, không nên ở trong chúng đông đảo nầy, mà sẽ tạo phương tiện để cho Tỳ-kheo ni ấy được ở trước”, tức thì Phật hóa Tỳ-kheo ni làm Chuyển Luân Thánh Vương. Theo như pháp của Thánh Vương, các tiểu quốc vương vừa trông thấy vua Thánh, đều tự giải tán để nhường chỗ. Tỳ-kheo- ni liền trở lại hình cũ, đến gặp Phật, lễ bái, hỏi han. Các quốc vương tiếp tục đến yết kiến Phật, không còn thấy Thánh Vương nữa, mới biết vua Thánh vừa rồi là do Tỳ-kheo ni hóa ra, bèn nói với Tỳ-kheo ni: “Chỗ thấy vừa rồi là dối gạt như thế sao?
Khi đó, Ưu-bát Liên Hoa với tâm niệm tự cho mình là người được thấy Phật trước hết! Phật bảo Ưu-bát Liên Hoa: “Cô tự cho mình là yết kiến Phật trước hết, trong khi lại có người trước cả cô, sao không xem kỹ là ai?” Phật nói: “Chính là Tu-bồ-đề ở trong núi phía Đông thành La- duyệt đang ở đó vá y.” Vị Trời nói: “Phật đã về cõi dưới rồi!”
Tu-bồ-đề bảo: “Tôi vì pháp đệ tử, sẽ phải qua đó lễ Phật và hỏi han, cố che giấu suy nghĩ của mình”. Phật đang ở đấy, hoặc sắc vàng ròng là Phật ư ? Vàng ròng mà lại có giới hạn?
Phật nói: “Tất cả các pháp là Không, không thật có. Nếu hiểu mười hai nhân duyên là Không, chẳng tạo, chẳng tác, chẳng người, chẳng phải sĩ phu, không thọ mạng. Chẳng phải là thọ mạng, tức là thấy pháp. Thấy pháp không thọ mạng, chẳng phải thọ mạng là thấy”.
Tôi liền chấp tay nói lớn: “Cung kính đảnh lễ, đúng vậy”. Rồi trở lại vá y. Do vậy, mới nói Tu-bồ-đề là người thấy Phật trước nhất!.
Phật là chủ của các pháp. Hiểu rõ pháp không, tức là niệm Pháp.
Niệm chúng, nghĩA-là chúng Hiền, Thánh. Thông thường, chúng có nhiều thứ hạng. Ngoại đạo thì có chín mươi lăm thứ, mỗi chỗ mỗi nơi đều có chúng. Hoặc đó là những người hòa hợp, hoặc cũng có thể không đồng, cũng dùng giới luật, tự đề phòng, cũng thực hành thiền định, hoặc lấy vô tưởng làm cái đẹp tận cùng, đều tin ở việc mình làm và tự cho là chân chánh, chỉ không được tám phẩm Thánh đạo chân thật, chính vì thế, không thể đến Niết-bàn! Mặc dù có năm thông trụ nơi sự sống lâu và vô tưởng kéo dài kiếp, nhưng đều không tránh khỏi sinh tử, chỉ có người thuộc bốn hướng, bốn Quả là Thánh chúng của Như Lai, mới không bị bốn ngựa chạy nhanh làm cho trôi nổi, bị tan tác vì chín chỉ. Nên kinh nói: “Chín mươi sáu thứ Tăng, Tăng của Phật là chân chánh hơn hết.” Bốn bộ Chúng của Như Lai đều đồng là dòng họ Thích, ví như nước của bốn sông Hằng, dù mỗi sông đều có riêng năm trăm nhánh, nhưng cùng hợp vào biển cả, và đồng một vị. Chúng cũng như thế, hoặc có dòng Sát-đế-lợi, họăc dòng Bà-la-môn, hoặc dòng Trưởng giả, hoặc dòng Cư sĩ. Trong bốn dòng đó, đã là người học xuất gia thì đều là dòng họ Thích, không còn ngần ấy tên riêng, vì đã được chung gọp lại nên nghĩa ấy càng sâu.
Chúng Tăng: Là hợp lại tiếp nhận nơi ba thừa. La-hán Tăng cũng xuất hiện ở đấy, Duyên- giác, cũng xuất hiện ở đó. Đại thừa tăng cũng ở trong ấy; thế nên gọi là ruộng phước tốt quý; giúp ích cho chúng sinh trong ba cõi, không có gì vượt qua được lãnh vực tốt đẹp nầy. Như Lai dù đã thành chánh giác, thường trở lại hướng đến chúng Tăng.
Sám hối: NghĩA-là do điều sâu dày ở lãnh vực Tăng, ba đời chư Phật, Thanh văn Duyên giác, đều do Tăng mà được diệt độ, cũng như Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt, nương tựa Thánh chúng mà được cứu giúp toàn vẹn.
Niệm Giới: NghĩA-là thực hành giới thanh tịnh, đủ các luật nghi,
cũng như thợ gốm điều chỉnh, sữa chữa đất thó, làm ra các đồ đựng theo yêu cầu lớn, nhỏ, vuông, tròn, mỗi vật dụng đều vừa ý mình mong muốn.
Giới cũng như thế, nếu người giữ giới thanh tịnh, mong muốn sinh lên cõi trời, để thọ hưởng phước ba cõi, hoặc có người muốn dứt trừ Kết sử để cầu đạo, thì đối tượng nguyện cầu sẽ thích hợp với ý. Cũng như chiếc bình đẹp đẽ, tùy thuộc ý muốn người làm ra, tức sẽ được ngay. Vì giới là gốc, kiêm thực hành ba mươi bảy phẩm và các định, tam-muội, dứt trừ bảy sử, chín kết, tiến tới thành trì Niết-bàn, ví như đất thó đã thành đồ đựng, không còn vụn nát nữa.
Niệm Thí: Nghĩa là thí có hai sự: hoặc thí có chủ, hoặc thí không có chủ. Lại có hai cách thí:
1- Gọi là cho. 2- Gọi là bỏ.
Lại có hai loại thí: 1- Thí của.
2- Thí pháp.
Cho tức là thí có chủ. Bỏ tức là thí không có chủ. Bỏ, thì bỏ kết. Cho, tức là trước kia người đã thọ lãnh của và pháp. Sở dĩ thí đến Niết- bàn là vì: Nếu khi cho người ta của cải và pháp mà tâm không mong cầu được đền trả, không chấp của, không chấp pháp kia, ba sự không có trở ngại, tức đồng với vô vi. Nếu có khả năng bỏ kết, cũng là Niết-bàn. Bỏ hay cho đều cùng đến Niết-bàn, cũng như voi chạy theo đứa trẻ tráng kiện, đang chạy tới chạy lui, nếu tiến thì sẽ phá tan quân được thịt, lùi lại thì sẽ tự mất ăn thịt, là lẽ tất nhiên.
Niệm thiên. Có ba hạng trời: Có Trời đề cử, có Trời được sinh, có Trời thanh tịnh.
Trời đề cử là sao?
Đó là Chuyển Luân Thánh Vương, vì mọi người đã đề cử. Sở dĩ gọi là Trời, vì Thánh vương có mười việc thiện giáo hóa đời, khiến cho người đời đều sinh lên cõi trời, và vì ở trên con người, nên gọi là trời.
Hoặc có thuyết nói: “Thánh Vương trội hơn Phật”. Vì sao nói thế?.
Vì lẽ Thánh Vương cai trị người đời, làm cho con người không còn đọa vào ba đường ác. Thời kỳ Phật ra đời, ba ác không đoạn, do đấy là trội hơn.
Hoặc giả có thuyết nói: “Đức Phật trội hơn Thánh Vương. Sở dĩ nói trội hơn, là vì Thánh Vương dùng mười điều thiện giáo hóa đời, nhưng không vượt qua cõi người- Trời, Phật xuất hiện giáo hóa người đời, khiến họ được đến Niết-bàn, do đấy là trội hơn”.
Trời được sinh là sao?
Từ bốn Thiên vương, cho đến hai mươi tám cõi trời, những người thọ hưởng phước, thảy đều là Trời được sinh. Sở dĩ nói Trời được sinh, là vì còn lưu chuyển không dừng nghỉ, không lìa sinh tử, nên nói là Trời được sinh.
Thế nào là Trời thanh tịnh? Nghĩa là ba người: Phật, Duyên giác, Thanh-văn, đều dứt hết kết sử, ra khỏi ba cõi, thanh tịnh không dục, nên nói là trời thanh tịnh.
Tám trời Tịnh Cư: Nghĩa là vượt qua hai loại sinh, cử, nhưng không theo kịp xứ thanh tịnh, trong khoảng đó, nó là chỗ hâm mộ của người niệm Thiên. Nhân niệm về sinh- tử, cũng có lý để đến Niết-bàn.
Làm sao biết được như thế?
Trong thành Xá-vệ, có vợ chồng người thanh tín sĩ (Ưu- bà- tắc). Hai người không có con cháu, đều tinh tấn, tâm luôn có Tam bảo. Bấy giờ, người vợ mất sớm, được sinh lên cõi trời Ba mươi ba làm Thiên nữ, đoan nghiêm vô song, trong cõi trời ít ai sánh bằng. Thiên nữ tự nghĩ: “Ai gánh vác cho chồng ta?” Nên dùng thiên nhãn quan sát thế gian, thấy chồng của mình nay đã xuất gia học đạo, đã cao tuổi, lại tối tăm- kém cỏi, chỉ chuyên tin tưởng mà thôi, thường quét dọn sạch sẽ tháp- miếu, làm công hạnh. Thấy ông ta tinh tấn- siêng năng, về lý, lẽ ra được sinh lên cõi trời, tất nhiên sẽ trở lại làm chồng mình. Lúc đó, ở trong tĩnh thất, đêm ngồi tư duy, đột nhiên thấy ánh sáng, ông ta ngạc nhiên vì có điều gì lạ, bèn ngẩng đầu ngước nhìn, thấy có thiên nữ, bèn hỏi nguyên do từ đâu đến đây? Thiên nữ đáp:
- Tôi từ trên cõi trời Ba mươi ba đến. Tôi vốn là vợ ông, nay đã làm thiên nữ trên trời, vì thấy không ai gánh vác cho chồng mình, nay xem ra ông đã tinh tấn, đúng ra phải trở lại làm chồng tôi. Chính vì lẽ đó, nên tôi đến đây để nói rõ ý muốn của mình! Nói xong, bổng nhiên không thấy nữa! Vì đã trở về trời.
Lúc ấy, Tỳ-kheo cao tuổi, từ đấy về sau, gia công tinh tấn gấp bội, lại càng siêng năng tu bổ, sửa sang tháp miếu cũ, sớm chiều không lười biếng, tích lũy công phu, được nhiều phước đức, chuyển biến vượt trội hơn, bèn ứng sinh ở cõi trời Đâu-suất thứ tư.
Thiên nữ lại dùng thiên nhãn quan sát, thấy Tỳ-kheo già kia lại ứng sinh lên cõi trời thứ tư, lại đến nói: “Ông đã chứa góp tinh tấn nhiều, nên đã vượt qua cõi của tôi, do vậy tôi lại không được ông làm chồng!”. Nói xong, quay đi.
Tỳ-kheo lại tỏ ra tinh tấn gấp bội, vượt trội hơn khi trước nhiều. Ban đêm thì kinh hành, ngày lại tư duy thiền, tâm ý chuyển biến sáng suốt, nghĩ suy bốn đế. Như thế không bao lâu, bèn chứng được quả vị A-la- hán; đều gọi là nhân của niệm Thiên, đạt được đến Niết-bàn là vậy.
Niệm Thôi dứt: Nghĩa là được định. Sự thôi dứt có hai: Có thôi dứt tục, có thôi dứt đạo.
Sự thôi dứt tục: Nghĩa là thực hành, làm việc quên mệt mỏi, rất ít dừng nghỉ, lười biếng, nên gọi là thôi dứt tục.
Sự thôi dứt đạo: Nghĩa là người của định. Lấy gì để biết như thế?
Xưa có Tỳ-kheo tên Đẳng Hội, ngồi thiền gần bên đường cái. Lúc đó có năm trăm chiếc xe tải chạy qua, tiếng động vang dội ầm ầm, Tỳ- kheo vẫn yên lặng không nghe. Lúc ấy, trời nổi sấm chớp, sét đánh thình lình, trong khoảnh khắc, đại địa lại chấn động, vẫn không có nghe thấy gì. Những người đi qua- lại, làm bụi-đất bay tấp vào áo Tỳ-kheo. Lúc đó, có một người đến gần, thấy vị Tỳ-kheo nầy đang ngồi ngay ngắn, không lay động, mà bụi đất bám đầy áo, chẳng hay biết gì. Rồi Tỳ-kheo định giác, phủi bụi- đất, đứng dậy.
Người kia hỏi: “Từ trước đến giờ, Thầy ngủ ư ?”. Đáp: “Không!”
Lại hỏi: Nếu không ngủ thì vừa rồi, có đoàn xe chạy qua, và sấm sét, đất rung động, sao vẫn yên lặng, không kinh hãi? Do đâu mà được như vậy?.
Đáp: Lúc tôi nhập tam-muội thôi dứt, thì hoàn toàn không còn nghe thấy gì cả.
Do vậy, nói là người được định thôi dứt, thì dù trời đất che lấp, rơi rớt, cũng không thay đổi chí mình, nên mới gọi là định thôi dứt.
Niệm an ban (Niệm sổ tức): Nghĩa là thôi dứt các cử chỉ ngồi, giong ruổi, tập trung thẳng vào đạo, chẳng phải phương tiện tỏ ngộ chỉ có một đường, mà mỗi nẻo đều hiện có.
Do đâu biết được như thế?.
Xưa, Thân Tử đã từng cúng dường mười bốn ức Đức Phật, theo Phật nghe pháp, chưa từng hợp tátcả lại để tập sổ tức; đến đời Phật Thích- ca- văn, từ Tỳ-kheo Mã Sư bắt đầu đạt được pháp Không, tức có dấu ấn Kiến đạo. Đức Phật mới diễn nói về Tuệ, Lậu dứt, Kết hết. Nay là trí tuệ bậc nhất, không do quán sổ tức mà được Niết-bàn. Mục-kiền-liên, xưa đã cúng dường chư Phật suốt trong ba mươi kiếp, tu hạnh đại thừa,
mà sau cùng cũng không xong, gặp Đức Thế Tôn, lui nhận lậu tận, từ xưa đến nay, chưa từng tập sổ tức. Tỳ-kheo Ca-diếp, thuở xưa, cũng đã từng cúng dường ba vạn Như Lai, cũng chưa từng tập sổ tức, đã đạt được Bích-chi-phật, nay lui làm La-hán. Tỳ-kheo Mã Sư, ngày xưa cũng đã từng cúng dường bảy vị Phật, cũng không tập sổ tức, nay cũng lậu tận. Xưa, A-nan đã từng cúng dường hai vạn Như Lai, đã từng theo chư Phật thăm hỏi, thọ nhận giáo pháp, cũng không tập sổ tức. Chỉ có La- vân- ma- kha- kiếp- thất- la, từ nhiều kiếp xa xưa đến nay, đã thường tập an ban (sổ tức), nay cũng đến với đạo. Do đấy, nói tập trung hướng thẳng vào đạo, chẳng phải chỉ có một đường.
An ban (sổ tức): Nghĩa là biết hơi thở dài- ngắn- lạnh- nóng, chậm- nhanh, từ thô đến tế, dần dần chế ngự được tưởng tán loạn, tức là đạt được sự vi diệu. Hoặc nhờ vào hơi thở để giác ngộ. Hoặc phân biệt để hiểu rõ. Hoặc hành Đầu đà giữ hạnh. Hoặc học rộng, ghi nhận mạnh mẽ. Hoặc thần túc hiện bày nhận thức vi tế. Hoặc tự làm thanh tịnh, hoặc giáo huấn để giác ngộ. Những cái đó gọi là nẻo đường khác nhau mà vẫn đồng quy.
Niệm Thân? Nghĩa là phân biệt bốn đại, nhận hiểu rõ năm ấm, giống như trò ảo thuật, như chiêm bao.
Do đâu biết được niệm thân sẽ được đến Niết-bàn?.
Xưa, sau khi Phật nhập diệt khoảng trăm năm, có vua A-dục, làm chủ cõi Diêm-phù-đề, quần thần- phu nhân- voi- ngựa, mỗi thứ đều có tám vạn bốn ngàn. Bấy giờ, vua hay đi tuần tra khắp nước, gặp vua Diêm-la, có mười tám địa ngục, cũng có quan lại tra hỏi tù tội.
Vua hỏi các quan tả hữu: “Đây là những người nào?”
Đáp: Người nầy là vua của người chết; chủ phân biệt việc thiện,
ác”.
Vua nói: Vua của người chết mà còn có thể tạo ra địa ngục để trừng
trị tội nhân, ta là vua của người sống mà không thể tạo ra địa ngục ư ?
Hỏi: Ai có thể tạo ra địa ngục?
Các quan tâu: Muôn tâu! Chỉ có người ác cùng cực, mới có khả năng tạo ra địa ngục mà thôi.
Vua hạ lệnh cho các quan hỏi han, tìm kiếm người ác. Các quan vội đi tìm kiếm, thấy một người đang ngồi dưới đất, dệt bông, bên cạnh có cung- tên- kiếm, có cần câu để câu cá. Lại còn dùng thuốc độc trộn cơm làm thức ăn cho chim sẻ. Quan trở lại, đem trường hợp nầy tâu với vua, có người ác như thế.
Vua nói: Người ấy rất ác, tất nhiên hắn ta có khả năng làm được các việc ở địa ngục. Vua sai người gọi: “Nhà vua muốn gặp ông”. Người ác nói:
- Ta là tiểu nhân, không có hiểu biết chi, vua dùng ta làm gì? Vị quan nói:
- Chính nhà vua muốn được ông cai trị việc địa ngục! Người ác kia, lập tức đi về nhà. Ở nhà có mẹ già, bèn nói với mẹ: “Nhà vua cho gọi con, mẹ ạ!”. Người mẹ nói: “Vua gọi con làm gì?”. Người con nói:
- Vua muốn sai con cai trị việc địa ngục. Người mẹ nói:
- Con đi, mẹ làm sao sống? Người mẹ liền ôm chặt chân con, không buông ra. Ý người con quyết đi, liền rút dao chém mẹ. Giết mẹ xong, rồi đi đến chỗ vua. Vua hỏi:
- Mẹ không buông thả, do đâu ngươi đến đây được?. Hắn ta đáp:
- Tôi giết mẹ mà đến! Vua nói:
- Thật là người ác, tất nhiên có khả năng lo các vụ việc địa ngục. Vua liền ủy thác người nầy tạo dựng địa ngục. Thiết lập vạc nước sôi- cây rừng gươm, vua liền phong người nầy làm vua địa ngục, cho lập quan phụ tá, tất cả đều có sổ sách, như vua Diêm-la. Vua hạ lịnh: “Nếu có người nào vào thành nầy, thì bất luận sang- hèn, đều sẽ bị trị tội. Vua nói: “Giả sử, chính ta mà bị vào trong nầy, cũng chớ cho đi ra”.
Lúc ấy, có vị Tỳ-kheo già tên là Thiện Giác, thường đi khất thực, khi đến bên ngoài cổng thành nầy, thấy có hương hoa đẹp, nghĩ bên trong chắc có người, tức thì vào thành, nhưng chỉ thấy cảnh trị phạt tội nhân. Tỳ-kheo quá kinh hãi muốn ra trở lại, nhưng lính ngục không cho, và muốn dẫn đến vạc nước sôi. Vì Tỳ-kheo khẩn cầu:
- Hãy rộng lượng một chút cho tôi, để đến giữa trưa.
Trong khoảnh khắc có đôi nam nữ phạm tội dâm, được đem đến ngồi đó để chờ trị tội, cai ngục đặt cối giã gạo, để giã hai tội nhân nầy thành đống nước bọt”.
Vị đạo nhân nhìn thấy thảm trạng nầy xong, bắt đầu nghĩ đến lời Phật dạy: “Thân người như bọt nước tụ họp”, chí lý thay, lời nói ấy! Thế là trong khoảnh khắc, nhóm bọt nầy lại biến đổi thành màu trắng. Vị đạo nhân lại nghĩ đến câu: “Thân người như đống tro tàn, đổi thay- xê dịch không nhất định, như trò ảo thuật, như biến hóa”.
Rõ ràng đấy chẳng có gì chắc chắn cả! Tức thì ý tỏ ngộ, lậu tận, kết
sử đều được giải trừ. Bấy giờ, ngục tốt đẩy Thiện Giác vào vạc nước sôi, Tỳ-kheo cười! Lính ngục nổi cơn giận dữ, sai bốn người xốc hai nách, đặt lộn ngược vào trong vạc, tức thì nước nóng hóa ra mát lạnh. Tỳ-kheo liền biến hóa thành ngàn lá sen, và ngồi kết già ở trong hoa sen”. Lính ngục ngạc nhiên sợ hãi, tâu với vua A-dục: “Trong ngục hôm nay, có sự kiện quái lạ, xin đại vương tạm rút lại lịnh để đến xem!”. Vua A-dục phán:
- “Trước kia, ta đã có một yêu cầu thích đáng là: Nếu ta vào trong ngục cũng không cho ra. Nay ta lại vào đó ư?” Quan lại tâu vua:
- Đại vương chỉ vào không sao cả.
Vua liền vào theo. Nhìn thấy đạo nhân đang ngồi trên hoa sen; liền
kiệt, rỗng không tài sản của nước, đâu dùng những đạo sĩ nầy làm gì?”.
Vua A-dục nói:
- Ông nên giữ mồm giữ miệng cho tốt. Vì luận về cách xử sự của kẻ sĩ, sở dĩ thân bị chém, là do lời nói ác của họ. Tu-già-đố-lộ lại tâu với vua:
- Các Đạo sĩ nầy đều là những người trẻ tuổi, miệng tha hồ nhấm nháp thức ăn ngon, độ tuổi mà dục tình đang sung mãn, nếu để ở hậu cung lâu với phụ nữ, lẽ nào có thể tin được ư ?
Vua đáp:
- Đạo sĩ chế ra luật hình phạt, dùng pháp tự đề phòng, tiết thân, giữ gìn giới cấm, không bị khuất phục do sắc dục đâu!
Về sau, Tu-già-đố-lộ ra ngoài đi săn, trông thấy một người lẫn lộn trong đàn nai, liền ra lệnh bao vây bắt được người ấy, rồi hỏi:
- Ông là ai? Người nầy đáp:
- Lúc lên tám tuổi, cha mẹ tôi đã ở trong núi nầy, tôi được uống sữa nai, nên mới sống cho đến hôm nay.
Lại hỏi:
- Lúc nai không có sữa thì cha mẹ ông ăn những gì? Người ấy đáp:
- Lúc đó tôi đi theo nai, ăn cỏ, lá để tự cứu mạng mình. Lại hỏi:
- Và như vậy có ý dục không? Đáp:
- Có!
Tu-già-đố-lộ bèn dẫn người ấy về cung, đem chuyện nầy thưa với
vua:
- Đây là người ăn cỏ, với thân hình ốm yếu, mà vẫn có tình dục,
huống chi các đạo sĩ, miệng tự tại uống ăn, thân thể khỏe mạnh, mập mạp, lẽ nào không có tình dục ư ?. Nhà vua liền tâm niệm: “Phải tìm cách nào để hóa độ đứa em nầy?”. Liền đặt ra cách lừa dối tạm, là muốn ra ngoài đi dạo. Binh sĩ tập họp, nghiêm chỉnh chuẩn bị cho vua ra ngoài. Vua vào cung trở lại, ẩn náu, không xuất hiện. Trước đó, vua đã bàn với các quan: “Nếu sau khi ta đi rồi, và đã xuất hiện lại trong cung thì các khanh sẽ đề cử người làm vua ». Các quan liền khuyên người em thử mặc vương phục, giả vờ thôi! Các quan nói:
- Chúng tôi sẽ lo hết, hoàng đệ chỉ đội mão trời, mặc vương phục,
để được tung hô! Sẽ có các quan đứng hầu bên trái, phải, như pháp của Thánh Vương.
Vua A-dục thấy em mình đã quyết định, bèn từ ngoài đi vào và
nói:
- Như thế nào là đại vương? Người em tỏ ra rất xấu hổ khi thấy vua,
xin vua ân xá, biết như vậy là tội lớn. Vua A-dục nói:
- Trẫm tạm ra ngoài đi dạo, khanh v.v.. làm sao tạo ra sự việc nầy? Thiết luân của trẫm không tồn tại ư ? Sao lại ngang ngược như thế được!? Ta giết ông, điều nầy ông phải nghe thôi. Vua liền sai các quan bắt giam, đồng thời bí mật sai người đưa tin cho đạo nhân hay, rồi khéo nói lên ý mình như vầy: “Đương lai, ta sẽ giết ông, nhưng nghĩ đến ông mới làm vua chưa đầy ngày, ý chưa được thỏa thích. Nay tạm nhờ ông làm vua bảy ngày, cứ như pháp vua của Trẫm: Cũng có các quan theo hầu, cũng đủ cung nhân, kỹ nữ, uống ăn tiến ngự đầy đủ. Sau bảy ngày, sẽ căn cứ nơi pháp, tích cực như giáo mà thi hành”. Mặc dù đầy đủ bảy ngày, nhưng tự trong tâm người em không có chút sướng vui nào!
Lúc này, đạo nhân lại đến, mang bát- cầm tích trượng tới thẳng trước cửa cung vua. Vua hỏi:
- Đạo nhân muốn gì ? Đạo nhân đáp:
- Muốn xin người chết! Vua nói:
- Tội nhân nầy phải chết, đạo nhân không xin được đâu! Đạo nhân lại nói:
- Chỉ xin để làm đạo nhân, sẽ khiến cho học đạo. Vua nói:
- Thử hỏi xem người nầy có khả năng học đạo được hay không?
Đạo nhân liền hỏi:
- Nay ta xin ông để làm Sa-di. Ông đồng ý không? Đáp:
- Thành thật mà nói, nếu có sai khiến làm tôi tớ, tôi cũng sẽ không chối từ, huống chi lại được làm Sa-di?
Vua nói:
- Làm đạo nhân khó, phải thẩm tra xem có thể làm được không? Pháp của đạo nhân là phải mặc áo xấu- ăn dở, một lòng đem hình,
mạng, hướng đến việc hành đạo mà thôi. Ông đã quen với thú vui riêng, có khả năng cam chịu khổ hạnh nầy không?.
Đáp: So với phải chết, khổ hạnh nầy không kham nổi sao? Vua bảo:
- Nếu kham nổi ấy là đã hiểu ra, vậy phải khất thực bảy ngày.
Vua hạ lịnh cho nội cung, lúc Tu-già-đố-lộ đến khất thực, phải cho thức ăn rất dở.
Liền khiến mặc áo cũ xấu, tạo ra các phòng khất thực, chỗ nào cũng cho đồ ăn dở, Tu-già-đố-lộ cảm nhận tình sâu về tội miễn chết, nên cam tâm ăn thức ăn dở. Đủ bảy ngày, vua thấy tấm lòng của Tu-già-đố-lộ vẫn không có gì thay đổi, vẫn vững tâm, liền cho làm đạo, bảo:
- Ông thường nói: “Đạo nhân nhàn nhã, nhiều tình, khó tin. Chỗ khất thực của ông nên cứ ở trong cung của ta, do cũng còn chút tinh tế. đạo nhân khất thực, ở đây đã có nhiều, họ sống ở như thế, lẽ nào có thể có dục tình ư? Liền giao phó Thiện Giác làm Sa-môn. Vua sai sứ đến thành Thạch Thất. Trong thành ấy, sư Thiện Giác thực hành các thiền quán, hoặc ở nơi gò mả, hoặc ở bên cội cây. Bấy giờ, Sa-môn Thiện Giác đang ở trong chốn gò mả để quán tử thi. Ban đêm, trông thấy có ngạ quỷ đánh một tử thi, đạo nhân liền hỏi:
- Vì lý do gì đánh tử thi nầy? Ngạ quỷ nói:
- Ta ngồi ở đây, tử thi làm khổ ta như thế, do đấy ta mới đánh. Đạo nhân nói:
- Vì sao không đánh tâm ông? Đánh tử thi nầy phỏng có ích gì? Trong khoảnh khắc, lại có vị trời dùng hoa trời Văn Đà La rải lên trên tử thi.
Đạo nhân lại hỏi:
- Vì lẽ gì rải hoa trên tử thi hôi thoái nầy?.
Đáp: - Ta do tử thi nầy mà được sinh lên cõi trời. Tử thi ấy là bạn lành nên ta đến rải hoa để đền đáp lại ơn xưa!
Đạo nhân nói:
- Vì lẽ gì không rải hoa trong tâm ông, lại rải hoa trên tử thi hôi thoái ấy?
Luận về căn bản của thiện, ác đều do tâm tạo ra. Các ông sao lại bỏ gốc lấy ngọn kia?.
Lúc ấy, Tu-già-đố-lộ tự mình suy nghĩ: “Ta từ chết lại được sống, do nhân duyên nầy sẽ được giải thoát. Bèn quán thân niệm tử, suy nghĩ phân biệt, hiểu rõ lẽ vô thường- khổ- không- vô ngã, liền đạt được A-la- hán. Do đấy, mới nói: “Người niệm Tử, cũng đạt đến Niết-bàn là vậy”.
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Mất tên người dịch bản chữ Hán– Dựa theo sự sao chép đời Hậu Hán
QUYỂN 4
Sở dĩ Như Lai nói rộng về bốn bộ, mỗi bộ đều nói là thứ nhất, là vì trong các pháp để lại cho mạt thế ở vị lai, nếu có Phạm- chí ngoại đạo bốn họ và bốn bộ đệ tử, mà chuyện phải trái cứ lẫn lộn, kẻ thì xưng tôn quý, người khác cho là thấp hèn…
Những bọn như thế, không thể kể hết, nên vì dự phòng việc đó khi chưa xảy ra, nên mới mở ra con đường tự túc.
Nay gọi Câu-lân là người thứ nhất, vì đó là người hào quý của dòng họ Thích. Cũng như Vua lựa chọn người tùy tùng phải là người chịu bỏ công khó nhọc nên phải chọn họ là thứ nhất.
Lại nữa, pháp thọ nhận sự giáo hóa đầu tiên, không thể không có sự ưu tiên, cũng là thứ nhất. Khéo léo có thể khuyến dụ- dẫn dắt, đem nuôi dưỡng Thánh chúng, trước chấp nhận danh xưng Thiện Lai, lại là thứ nhất. Ở trong cõi người được quy ngưỡng sự ngăn ngừa thêm, vượt lên trên là hơn hết. Trong ánh sáng, mặt trời là hơn hết. Nơi các vì tinh tú, mặt trăng là hơn hết. Trong vạn sông, biển là hơn hết. Trong Tứ Thiên Vương, Đề-đầu-lại-trá là hơn hết. Trong trời Ba mươi ba, Thích Đề Hoàn là hơn hết. Nơi sáu trời cõi dục, Ba-tuần được cho là hơn hết. Trong mười tám trời cõi sắc, Tịnh Cư là hơn hết. Trong chín sáu bộ tăng, Thích Tăng là hơn hết. Nơi chín mươi sáu thứ đạo, Phật đạo là trên hết. Trong năm người Tỳ-kheo v.v., Câu-lân là hơn hết.
Do đấy mà nói Câu-lân là bậc nhất.
Tỳ-kheo Ưu-đà-di là người khuyến dụ- dẫn dắt hơn hết. Tỳ-kheo hành khuyến dụ, dẫn đạo, sở dĩ gọi hơn hết là vì Đức Phật sắp trở lại hóa độ bản quốc, trước hết là thể hiện thần biến, nhằm đối đáp với nhà vua nên mỗi mỗi đều được giải thích, số người đã được hóa độ không thể kể
hết, nên gọi trong việc khuyến dụ, dẫn đạo là hơn hết. Tỳ-kheo Ma- ha- đàm, thì căn nhạy bén, mẫn tiệp. Tỳ-kheo khác đều lậu tận, thành tựu thần thông. Tỳ-kheo nầy, lậu chưa tận mà đã thành tựu thần thông nên xưng là bậc nhất.
Thông thường người cỡi hư không đều dùng thần túc, còn Tỳ-kheo nầy có thể đi trên không như bước đi trên đất liền, đó là khả năng có được của Tỳ-kheo Thiện Trửu, nên gọi là bậc nhất.
Thần túc của Mục-liên, là lặng lẽ đi qua cõi nước khác. Thần túc của Tỳ-kheo Bà- phá, lấn vào hư không, tiếng chấn động gần xa, vì có năng lực thâu phục ngoại đạo, nên gọi là bậc nhất.
Tỳ-kheo Ngưu Cước, do hai sự nên không được ở thế gian. Hai sự đó là gì? Chân của Tỳ-kheo nầy trông giống như chân bò, hễ ăn no là hà hơi nóng. Do hai việc nầy, nên không được ở thế gian. Nếu, Phạm chí ngoại đạo, thấy Tỳ-kheo kia hà hơi, thì cho Sa-môn ăn không có thời, sinh tâm chê bai. Do đấy, Đức Phật khiến lên cõi trời; ở nơi giảng đường Thiện Pháp ngồi thiền, định ý. Tỳ-kheo Thiện Giác thường vì chúng Tăng nên cũng lại đến cõi trời.
Sau khi Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả Ca-diếp đánh kiền chùy, tập họp chúng Tăng rộng rãi, lịnh cho A-na-luật quán sát khắp thế giới, để xem ai không đến họp. A-na-luật, liền quan sát hết thế giới, chỉ có Tỳ- kheo Kiều-tu-hoàn, hiện nay đang ở trên trời, liền sai Thiện Giác, lệnh cho mời đến. Thiện Giác đến cõi trời Ba mươi ba, thấy Tỳ-kheo nầy đang nhập Định Diệt tận tại giảng đường Thiện pháp, ông liền khảy móng tay đánh thức và nói: Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn đã mười bốn ngày. Ca-diếp tập họp chúng, sai ta lịnh cho ông có thể xuống thế gian, đến chỗ chúng tập họp.
Kiều-tu-hoàn đáp:
- Thế gian đã không, ta đi làm gì? Ta không chịu trở lại đời, mà muốn nhận lấy Niết-bàn. Liền đem y, bát phó thác cho Thiện Giác trở lại với chúng Tăng, mà thủ chứng Niết-bàn. Do nhân duyên nầy, khéo ở nơi cõi Trời; nên gọi là bậc nhất.
Tỳ-kheo Thiện Thắng, vốn là con của qúy tộc, lúc mới sinh ra, đã có giày vàng tự nhiên mang vào chân, cha mẹ rất quý trọng, nên xây cất cung điện ba thời, kỹ nữ vui vẻ, luôn ở bên cạnh. Lúc đó, vợ đang nằm ngủ, nhìn răng trắng của nàng, thân hình dù đẹp, nhưng chỉ là xương thôi. Quán khắp thân, thấy toàn xấu xa, đáng sợ, bất giác rùng mình. Ngoảnh lại nhìn nhà cửa, cũng giống như mồ mả, quá sợ hãi, bỏ chạy ra
cửa, được hai vị thần đón tiếp, bèn hỏi hai vị thần:
- Hiện nay, ách nạn chồng chất, ai có khả năng cứu vớt tội? Hai vị thần đáp:
- Chỉ có Đức Thế Tôn là khéo có khả năng cứu vớt tai ách. Hỏi: - Nay Đức Thế Tôn ở đâu?
Đáp:
- Ở gần Kỳ Hoàn. Có thể đến thưa thỉnh.
Tức theo ánh sáng mà đến chỗ Phật, đến nơi đầu, mặt lễ sát chân Phật. Phật dựa vào bản tâm để giảng nói diệu pháp, tức thì tâm mở mang, lậu tận, kết dứt hết. Do nhân duyên nầy, Tỳ-kheo Thiện Thắng, quán xét điều xấu ác phơi bày là bậc nhất.
Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp, sở dĩ gọi là thứ nhất, là vì từ đời trước đến nay, anh em có ba người, thường có ngàn đệ tử theo nhau, nay gặp Phật Thích-ca-văn ra đời, Phật dùng mười tám pháp biến đổi, độ cho ngàn người của Ca-diếp, chúng của Phật được thành, bốn sự cúng dường cũng từ đây mà hưng thịnh. Do đấy mới nói Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp có khả năng bảo vệ Thánh chúng, cúng dường là bậc nhất.
Giang Ca-diếp, sở dĩ gọi là thứ nhất, vì khi Phật thuyết pháp, đều một lòng lắng nghe, định thần và tiếp nhận nghĩa tinh túy, các kết tiêu tận, bên trong đầy đủ thật đức, thấu đến xương tủy, khiến tủy mỡ hiện ra ngoài, hình trạng giống như mồ hôi. Do đấy mới nói là tâm ý lặng yên, có khả năng hàng phục các kết, nên gọi là bậc nhất.
Tỳ-kheo Mã Sư theo Phật thọ học, vừa trải qua bảy ngày, đã gồm đủ oai nghi, vào thành Tỳ-xá-ly khất thực. Khi đến trước cổng thành, từ xa Ưu-ba-để-xá thoáng thấy Mã Sư, oai nghi đĩnh đạc, pháp phục chỉnh tề, trong lòng hết sức vui vẻ, gặp nhau, liền hỏi:
Hỏi: - Ông là ai? Đáp: - Tôi là Sa-môn.
Hỏi: Ông tự mình biết hay là có Tông sư? Đáp: Có thầy.
Hỏi: Thầy là ai? Thuyết pháp như thế nào?
Đáp: Thầy tôi danh hiệu Thích-ca-văn, là trời trong các cõi trời, là bậc chí tôn trong ba cõi. Lời dạy bảo của ngài là dùng “Không”, “Vô vi” làm chủ, vì dứt tâm, đạt bản, nên hiệu là Sa-môn.
Ưu-ba-để-xá nghe diệu ngữ nầy, liền đạt được dấu ấn Đạo (Tu-đà- hoàn). Đồng học của Để-xá, hai người vốn có lời thề quan trọng: Nếu người nào được cam lộ trước, người đó phải bảo cho nhau biết, nên Để-
xá liền từ giã Mã Sư, tới chỗ Câu- luật- đà. Thấy Để-xá đến với vẻ mặt khác thường, ngờ là đã được cam lộ, bèn hỏi:
- Ông đã được cam lộ ư ? Đáp: - Đã được.
- Vậy, cam lộ ra sao?.
- Cam lộ, nghĩa là đã hiểu rõ các pháp là Không là Vô vi. Câu-luật đà liền suy nghĩ và đạt được dấu ấn Đạo.
Sở dĩ Mã Sư đạt oai nghi thứ nhất, là vì đời trước đã từng làm khỉ vượn trong năm trăm năm. Nay được làm người, tánh cũng còn vội vã, quấy nhiễu. Xuất gia bảy ngày, tức thì đổi thay ngay dấu vết cũ. Học dù đầu tiên còn nông cạn, nhưng khéo tuyên nói giáo pháp, khiến cho người xem thấy được dung mạo vui vẻ, mà thông đạt giáo nghĩa, vì nhờ vào oai nghi khiến cho cảm ngộ, nên gọi là bậc nhất.
Thân Tử sở dĩ xưng là trí tuệ thứ nhất, là vì đức Thế Tôn có nói: “Muốn biết Thân Tử là người có trí tuệ ít hay nhiều, thì hãy dùng núi Tu-di làm nghiên, lấy nước nơi bốn biển lớn làm mực để viết, lấy gỗ tre trong bốn cõi thiên hạ làm bút, người đều đầy tràn làm thầy dạy chữ muốn chép trí tuệ của Thân Tử hãy còn không thể chép hết, huống chi là hạng năm thông của phàm phu mà có thể lường tính được ư ? Vì thế, nên gọi là trí tuệ bậc nhất”.
Mục-kiền-liên sở dĩ gọi thần túc bậc nhất, là vì Đức Thế Tôn cũng thuyết minh có chứng cứ: “Ngày xưa, vào thời kỳ ba tai họa lưu hành, dân chúng bị đói khổ, Tôn giả Mục-kiền-liên tâm niệm: “Lớp dưới của đất nầy đã cũ, vì có nhiều ngày, lớp đất phì nhiêu, màu mỡ ở giữa. Nay, dân chúng đói khổ, muốn lật trái lớp đất nầy để lấy lớp đất dưới phì nhiêu, hầu cung cấp cho sự sống của dân chúng”. Nghĩ như thế xong, bạch Phật: “Nay con muốn dùng bốn thần túc, lật trái mặt đất, lấy lớp đất phì nhiêu, để đem lại sự sống cho người dân, như thế có thể được chăng?” Đức Phật nói:
- Thôi đi Mục-liên! Thần túc của ông, tuy có năng lực lật lớp đất nầy là không khó, nhưng chúng sinh ở trong đấy đâu có thể dùng một tay nắm bắt côn trùng, một tay lật mặt đất. Phật nói không thể. Vì sao thế? Vì Tỳ-kheo của những đời sau, phần nhiều không có thần túc. Giả như đời vị lai, khi có nạn đói lan tràn, quốc vương- quan- dân ra lệnh cho Sa- môn cuốc lật đất lên, nếu không làm được, thì chẳng phải là Sa-môn. Vì lấy thần túc nầy để chứng minh, nên gọi Mục-liên là bậc nhất.
Tỳ-kheo Nhị thập ức nhĩ sở dĩ xưng là khổ hạnh thứ nhất, vì thuở
trước ở nước Chiêm-ba có vị đại trưởng giả, sinh một đứa con đoan ng- hiêm-đẹp đẽ, dưới bàn chân mọc ra sợi lông dài khoảng bốn tấc, vì chưa từng bước xuống đất, nên phía dưới bàn chân mọc lông.
Xưa, thời Phật Ca-diếp, làm đại trưởng giả, có của báu vô tận, vì chúng Tăng xây cất tinh xá- giảng đường xong, dùng thảm lông cừu trắng trải dưới đất, để chúng Tăng giẫm đạp lên. Do nhân duyên nầy, nên được sợi lông mọc ra dưới bàn chân.
Sở dĩ có tên Nhi thập ức nhĩ là vì lúc sinh, tự nhiên trong lỗ tai sinh ra ngọc báu, trị giá hai mươi ức, tức dùng điều ấy làm tên gọi.
Bấy giờ, vua Bình-sa nghe chuyện lạ kỳ ấy, muốn được thấy tận mắt, nên hạ lịnh khiến người đó đến. Tính dặm đường, phải mất mười lăm ngày đi xe mới tới. Sắp xuống xe, liền cho trải thảm lông cừu trên đất, sau mới đi trên đấy.
Nhị thập ức nhĩ đã đến chỗ vua, vua bảo ngồi. Sau khi hỏi qua sức khỏe xong, nghe đồn người ấy có thể đánh đàn cầm, tức thì vua lịnh cho chơi đàn cầm. Vui vẻ với nhau xong, cùng đi đến chỗ Phật. Bấy giờ, đức Phật đang thuyết giảng rộng rãi pháp diệu cho đại chúng. Người ấy trông thấy Phật, hoan hỷ, đầu mặt lễ sát chân Phật, Phật cho phép ngồi, nghe pháp, lòng hết sức vui vẻ, cầu xin xuất gia, liền cho làm Sa-môn.
Sa-môn nầy rất tinh tấn, dũng mãnh kinh hành không trễ nãi. Vì da thịt mềm mại, nên dưới bàn chân bị rách nát, chỗ kinh hành máu tụ thành bùn đất. Rất lâu mà lậu chưa dứt trừ. Quá mệt mõi và thấy có phần trễ nãi, nên tâm ông ta nảy sinh ý định muốn trở lại thế tục: “Nhà ta của tiền dồi dào tự ý tiêu dùng, rộng làm việc phước đức, cũng tránh khỏi được ba cõi ác”. Đức Phật biết ý nghĩ của Sa-môn, nên hốt nhiên, ở trước mặt Tỳ-kheo, từ dưới đất vọt lên, hỏi:
- Ông vốn biết đánh đàn cầm, nếu gấp vội thì với mọi dây đàn thì có trở thành khúc nhạc hay không?.
Đáp: Không thành!
- Nếu mọi dây đàn đều dùng, thì có thành không? Đáp: Không thành! Bạch Thế Tôn!
- Nếu thong thả, không gấp, thì dây đàn và cây đàn sẽ tương ưng, có thành âm thanh hay đẹp không?
Đáp: Bạch Thế Tôn, được thành!
Phật nói: “Việc tu hành cũng như thế. Không gấp vội, không quá thong thả, trung bình, thích hợp, điều hòa thì mới có thể thành đạo”.
Tỳ-kheo suy nghĩ lời Phật nói, tâm mở ra sáng suốt, ý thông tỏ, bèn
thành A-la-hán. Do nhân duyên nầy, nên gọi là khổ hạnh bậc nhất.
A-na-luật sở dĩ gọi thiên nhãn bậc nhất, là vì trong khi Đức Phật vì đại hội thuyết pháp, thì A-na-luật ngủ ngồi trên tòa. Đức Phật thấy A- na-luật ngủ, bèn nói:
- “Nay Như Lai thuyết pháp, vì lẽ gì ông lại ngủ?
Luận về người ngủ thì tâm ý bế tắc, đâu có khác gì người chết?” A-na-luật cảm thấy hổ thẹn, khắc ghi vào tâm và tự phát lời thệ:
“Từ nay về sau, không dám ngủ nữa!” Vì không ngủ quá lâu, nên đôi mắt phải mất đi ánh sáng. Vì sao? Vì thông thường trong sáu cái ăn, mắt có hai cái:
1- Nhìn sắc.
2- Ngủ nghỉ.
Năm tình (căn) mỗi cái cũng đều có hai cái ăn: Người được ăn, sáu căn đều trọn vẹn. Vì do mắt mất ngủ, mất ăn, nên mất đi nhãn căn. Phật sai Kỳ- vức chữa trị cho A-na-luật. Kỳ-vức nói:
- Không ngủ thì không thể chữa trị. Đã mất nhục nhãn thì không có cách gì nhìn thấy lại.
Năm trăm đệ tử của A-na-luật đều phân tán bỏ đi. Người giúp việc xỏ kim, giặt giũ, may vá y cũng bỏ đi. Chỉ hết, lại xỏ kim, không có người để có thể nhờ cậy, giúp đỡ, ông la lớn: “Ai là người muốn cầu phước, hãy xỏ kim giùm cho tôi!”. Bỗng nhiên, Đức Thế Tôn bước đến trước mặt Na Luật, lấy kim chỉ rồi nói:
- “Có ta xỏ kim cho ông”. Hỏi: Là ai?
Đáp: “Ta là Phật”. Na Luật nói:
- Đức Phật đã có đủ phước, sao còn muốn cầu phước? Phật đáp: Phước đức có thêm là nhàm chán ư?
A-na-luật ngẫm nghĩ:
- “Phật còn cầu phước, huống chi là với phàm phu?”.
Cảm kích trong tâm, một lòng hướng về Phật, nhìn thật kỹ. Vì tâm chí thành, nên bỗng nhiên được thiên nhãn. Do được thiên nhãn, nên A- na-luật suy nghĩ trở lại, liền đắc A-la-hán. Thông thường La-hán đều có ba nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn. A-na-luật đúng là chỉ có hai nhãn: Tuệ nhãn, Thiên nhãn. Cho ba nhãn cùng nhìn là loạn nhãn nhục và thiên nhãn tranh công. Vì quan sát thô tế lẫn lộn, nên gọi là loạn. Na- luật tập trung sử dụng thiên nhãn, quán sát đại thiên thế giới, tinh hay thô đều ngắm nhìn trong hình chất riêng lẻ, có thức, vô thức, đều biết
rất rõ ràng.
Chỗ thấy của trời-người, có tịnh, bất tịnh, người quán tịnh cùng cực, thấy các thứ có hình loại trong thế giới vô thức, hữu thức, thảy đều lay động, nghi cho là trùng mà không phải trùng”.
Người quán bất tịnh, thấy hạt cơm động đậy đều cho là trùng. Sự hơn, kém khác nhau do đấy mà có. Vì vậy, nói là thiên nhãn bậc nhất.
Tỳ-kheo Ly-việt ngồi thiền, nhập định, sở dĩ gọi bậc nhất, là vì:
Xưa, vua Ba-tư-nặc ra lệnh thỉnh Tỳ-kheo Ly-việt đang ngồi thiền ở dưới một tàng cây vào cung dự bữa ăn. Trải qua sáu năm, không giao tiếp với người nào, chính vì muốn di chuyển đến nơi cây khác, nhưng thần cây không cho. Lấy gì làm chứng?.
Vì khi sắp dời đổi chỗ ở, thì thần cây rải hoa cúng dường, lấy đấy làm chứng, biết là thần cây kia không cho.
Lấy gì để biết ý thần cây kia, không nghĩ đến người khác?.
Lúc ấy, Câu-hi-la đến chỗ Tỳ-kheo Ly-việt, nói: Sao không ngồi dưới, tàng cây xanh tốt, ngồi ở tàng cây khô nầy làm gì?.
Đáp: Gọi là bậc nhân, thì bốn biện tài là thứ nhất, có khả năng phân biệt nghĩa pháp, kể cả sự ứng từ. Không thẩm tra, phân biệt cây khô là ở trong biện nào? Tôi đã tự ngồi ở đây ngót sáu năm về trước, đâu có phân biệt tươi, khô. Nhân giả mới đến mà đã phân biệt rồi sao?
Tỳ-kheo Ly-việt được nhà vua thỉnh vào cung, ngày ngày cúng dường, khiến các phu nhân đều tự mình phải ngay thẳng. Sáu năm do bố thí phân phát viên mãn, khi đã đạt được điều mình làm thì không còn nhận biết chữ người chủ. Vua nói: “Sáu năm thọ thỉnh, không nhận biết tên người, sao phải nhất định như thế?”
Đáp: “Tôi ngồi dưới tàng cây, còn không biết cây khô- cây sống, huống chi là nhận thức chữ của con người!? Phước cúng dường thiền, những cái đó là đức thuần thục của đại vương, tùy sở nguyện của vua có thể tiến đến Niết-bàn. Là ruộng phước tốt, nên gọi là ưa vui thiền bậc nhất”.
Tỳ-kheo Tha-la-bà-ma, khuyên tuân theo cách thức thí, lập trai giảng. Phật ủy thác tăng sự cho Tỳ-kheo, chia các bộ cho dễ thích nghi: Một chỗ khế kinh theo khế kinh, một chỗ Tỳ-ni theo Tỳ-ni, một chỗ pháp đại theo, pháp đại, một chỗ ngồi thiền theo ngồi thiền, một chỗ tòa cao theo tòa cao, một chỗ khất thực theo khất thực, một chỗ giáo hóa theo giáo hóa, tùy từng việc, từng bộ phận mà chia đều cho nhau.
Nếu có đàn việt đến thỉnh, thì theo thứ lớp mà sai khiến, bất luận
cao thấp. Nếu có thỉnh riêng, thì không có thể lệ nầy.
Bấy giờ, đàn việt thỉnh hết, nhóm sáu Tỳ-kheo cũng theo thứ lớp, nhưng gặp nhà nghèo, ôm hận trở lại, hướng về Đức Phật, oán trách: “Ma-la thấy rõ là đã lừa dối, tự mình tiếp nhận chỗ tốt, đem nhà nghèo phân phát, như vậy là bình đẳng sao?” Phật hỏi Ma-la:
- Ông có thật sự như thế không?. Đáp: Không, bạch Thế Tôn!
Thế là đến giờ, Ma-la không có ăn, giờ ngọ sắp trôi qua, bèn dùng phân bò hòa với nước uống để đúng trai. Nghe nhóm lục quần nói, Ma-la không có lý do để tự biện minh, liền đến trước Phật, mửa ra nước phân nầy. Lục quần hổ thẹn, hai người cảm kích khiến kết lậu tận, hai người trở lại làm bạch y, hai người thì từ lỗ chân lông trên mặt chảy ra máu sôi, mạng chung mà đọa ngục A-tỳ.
Trai giảng: Chúng bộ tập họp cả lại, để thọ trai, tập học chung; vì khéo có khả năng khuyến thỉnh thành tựu, nên xưng là thứ nhất.
Tiểu Đà-la-Bà-là chủ xây dựng phòng nhà cho Tăng bốn phương.
Công sức của họ được thành tựu chung, nên không gọi riêng lẻ.
Tỳ-kheo Lại-trá-bà-la, sở dĩ được gọi hào quý, là vì thuộc dòng dõi vua, là người thông tuệ hiểu rộng, ít ưa theo đuổi việc học. Nghe Phật xuất thế, khai hóa những kẻ ngu si mê tối, liền đến Tinh xá Kỳ Hoàn, nghe thâu lượm lời pháp, nghe lời dạy mà nhập thần, suy nghĩ rồi muốn xuất gia, quay về thưa với cha mẹ, cha mẹ không cho. Tâm tự suy nghĩ: “Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ mình, lẽ nào riêng chỉ hai người là cha mẹ hay sao?”. Nghĩ như thế xong, bèn đến chỗ Phật, xin được làm Sa-môn. Phật hỏi:
- Cha mẹ ông có cho hay không? Bà-la bạch:
- Không cho! Bạch Thế Tôn.
Anh của ông ấy là Quốc Vương. Bà-la lại đến tâu vua, xin cầu đạo, Vua cũng không cho.
Suy nghĩ: Chủ yếu là tạo ra phương tiện để xuất gia vì đạo. Chính vì cha mẹ chỉ có một con, nên không muốn lìa xa nửa bước!
Trong khoảng thời gian cần thiết nầy, Bà-la chỉ xin một mình được ngồi trên chiếc giường hẹp, dài trước cha mẹ, không uống, không ăn. Trải qua sáu ngày, cha mẹ hoảng sợ, vì e con mình sẽ chết mất. Nếu đứa con nầy chết đi thì còn ai thay thế nó? Bà-la thưa với cha mẹ xin cho con một yêu cầu: “Nay, xin cha mẹ cho con vì đạo, con sẽ thường xuyên trở
về nhà thăm.”
Cha mẹ đã đồng ý, Bà-la liền đến chỗ Phật. Đức Phật hỏi:
- Cha mẹ đã cho ông xuất gia rồi ư ?
- Dạ đã cho, bạch Thế Tôn! Phật bèn dạy:
- “Thiện lai Tỳ-kheo! Rồi Phật dùng tay xoa đầu Bà-la, râu tóc tự rụng, sạch như mới cạo được bảy ngày, ca sa đắp vào thân, trở thành Sa- môn. Phật thuyết giảng bốn đế, Bà-la nghe pháp chứng đắc La-hán”.
Do yêu cầu từ trước, nên Bà-la được trở về nhà, đắp y- bưng bình bát đứng trước cổng. Lúc ấy, người giúp việc đem thức ăn ra cúng dường. Bà-la giở nắp bát xin nước uống, sắp đổ nước vào, người giúp việc ngẩng đầu lên nhìn, biết là đại gia, bèn vào thưa: “Công tử đang ở bên ngoài”. Cha, mẹ nghe nói đều mừng vui chính xác là người con cha mẹ đã đồng ý cho làm người Hiền, liền bước ra đón vào nhà, cùng lo sửa soạn các thức ăn ngon.
Bà-la thưa: “Ngày giờ đã qua, đúng pháp nên con không ăn”. Cha mẹ nói:
- Ngày nay đã như thế, ngày mai con hãy đến sớm! Bà-la vội trở lại chỗ đã nghỉ.
Sau khi Bà-la trở về, ở nhà cha mẹ căn dặn các phụ nữ hãy nhớ: “Ngày mai con ta sẽ đến, các ngươi phải tự trang điểm, ăn mặc cho thật đẹp, khả dĩ khiến con ta trở lại làm bạch y, đối với các người ấy là điều tốt đẹp nhất.” Lại lịnh cho quan lại giữ kho báu xuất các ngọc báu- vàng- bạc, mỗi thứ đều để từng nhóm riêng, với ý mong muốn con sẽ bị xao động, để rồi nhiễm tục mà trở lại gia đình.
Sáng hôm sau, đến giờ ăn, Bà-la bưng bát trở lại nhà mình; đến tòa ngồi xong, các phụ nữ, kẻ hầu với dáng vẻ thùy mị, hoặc rải hoa- hương; hoặc phủi y, dũ nệm cỏ, cử chỉ luôn dịu dàng khả ái.
Bà-la nói:
- Các em đâu phải phiền hà khổ nhọc như vậy! Các phụ nữ có cảm nghĩ:
- “Giữ lấy chúng em làm em gái, sẽ không có lý để trở lại làm Sa- môn”.
Bà-la nói với cha mẹ:
- Cha mẹ dùng vật báu này làm gì? Những thứ ấy chỉ mê hoặc con người, chúng sẽ gây ra nhiều tai họa, sao không vứt chúng xuống đầm lầy, dưới chân núi cho rồi!?
Cha mẹ can gián:
- Đạo đức ở tâm, đâu cần phải xuất gia. Trưởng giả Chất-đa, cũng là tại gia mà đắc đạo!
Bà-la nói:
- Thưa cha mẹ! Con chưa nghe người tại gia nào mà được dứt hết các lậu. Sở dĩ Trưởng giả Chất-đa đắc đạo, là vì có phần của một đời còn lại, đâu đủ là cao quý? Dù là châu báu, ngọc quý, cũng nên dứt bỏ. Vì đã trừ bỏ hết, nên gọi là xuất gia thứ nhất.
Tôn giả Ca-chiên-diên, sở dĩ được xưng là người khéo phân biệt nghĩa, là vì sắp nêu bày giáo pháp, trong tâm Tôn giả thường suy nghĩ: “Nhân gian luôn ồn tạp, huyên náo như thế thì tư duy tinh tấn sẽ không chuyên nhất, nên phải ẩn náu trong vùng tĩnh bảy ngày để nêu, soạn”. Kết tập pháp Đại thừa xong, đệ trình lên Phật. Phật khen:
- Lành thay!
Thánh đã chấp thuận dùng làm một tạng. Nghĩa nầy vi diệu, hàng phục được ngoại đạo, nên gọi là thứ nhất.
Lại nữa, gọi là thứ nhất, vì đức Thế Tôn đến nước Thích-sí, ngồi bên một cội cây, tay cầm cây gậy. Dòng họ Thích đều đến xem Phật, có người nói:
- Trước đây đã từng lìa bỏ con gái tôi, vốn rất xinh đẹp hơn hết. Ý hiện nay ra sao?
Đáp: “Về ý, nghĩalà không vướng mắc thế gian, không nhiễm nơi đời”.
Phạm-chí nói: “Lành thay! Nhận hiểu, rồi lại bỏ đi!”. Về sau, các Tỳ-kheo không hiểu lời nói này, hỏi Tôn giả Ca-chiên-diên: Phật khen Nhân giả là biện tài, phân tích lý, giải nghĩa thứ nhất, là sao?
Đức Thế Tôn đã đáp:
- Phạm chí không nhiễm, không vướng mắc, nghĩa ấy thế nào?. Bấy giờ, Tôn giả Ca-chiên-diên liền giải thích: Tỳ-kheo nên biết:
Mắt duyên Sắc khởi Thọ, duyên Thọ khởi Tưởng, duyên tưởng đến Hành; sinh Thức phân biệt, khởi tâm vướng mắc. Đối với sự vướng mắc ấy, vĩnh viễn đã lìa bỏ. Các Tỳ-kheo nghe nói lời nói nầy, ý cảm thấy khoan khoái.
Tôn giả Ca-chiên-diên quán sát ý của các Tỳ-kheo, biết không hiểu rõ, liền dẫn dụ: “Có người đối với vấn đề nầy, muốn cầu vật bền chắc, mà lại bỏ gốc rễ, lấy cành lá, thử hỏi có được vững chắc không?”
Đáp: Không được.
Các ông v.v.. cũng như vậy. Đức Phật ở gần nơi đây mà lại chẳng thấy nghe, lẽ nào không phải là bỏ gốc, lấy ngọn đó sao?.
Các Tỳ-kheo liền đến thưa hỏi Phật: “Điều Tôn giả Ca-chiên-diên đã giải thích, mà không xét kỹ về lý, như thế có đúng không?”
Phật đáp:
- Như pháp Ca-chiên-diên đã giảng nói, là như nhau, không có gì khác.
Do nhân duyên này nên gọi là bậc nhất.
Quân Đầu-ba-thán sở dĩ gọi hành trù ( người phát thẻ) bậc nhất, là vì thông thường, người phát thẻ phải ghi chép số người để biết là có thành thật hay không? Nếu thành thật thì sẽ nhận lãnh phước. Người tiếp nhận giả dối thì tội chồng chất ngày càng lớn.
Hán nói là trù (thẻ), Thiên trúc gọi là Xá-la. Xá-la cũng gọi hoại tận: Có phước thì tội tận, có tội thì phước tận.
Do đâu mà biết được như thế?
Xưa, con gái của A-nan Bân-kỳ, ở nước Ni-kiền là họ ngoại hỏi Phật:
- Có thể như thế để gặp Phật không? Đức Phật bảo:
- Nên biết đến đúng lúc, tất nhiên có ích.
Cô gái đã đến, từ xa thỉnh đức Thế Tôn. Phật biết ý cô gái, liền mặc nhiên thọ thỉnh, bảo Tôn giả A-nan:
- Ngày mai sẽ thọ thỉnh của Thích Ma-nam. Tôn giả A-nan bèn đánh kiền chùy tập họp chúng để vận hành thần thông. Khi đưa thẻ lên tòa, Quân-đầu-ba-thán chưa được thần thông. Nghe người phát thẻ thỉnh, tự thấy mình còn thấp kém chưa được thần thông, chỉ nhìn hình ảnh vị thủ tọa ở trong chúng, trông như con chồn hoang ở núi Vàng ròng, chỉ biết lo lắng tới- lui, chính vì muốn nhận thẻ không theo thông lệ, chính vì muốn không thọ cư làm Thượng tọa. Sa-di tám tuổi hãy còn được thần thông, huống chi là công sức bỏ ra nhiều năm mà không đạt được gì, tính kể chỉ như thế, thì tồn tại làm gì! Cảm kích từ sự tiếp nhận thẻ, trong lúc chờ trao lại thì bỗng nhiên lậu tận. Nếu người nói dối để nhận lãnh thẻ, thì thân người có chín mươi vạn lỗ chân lông, lấy đấy làm số, tức không được tiếp nhận thân người với số lượng như vậy. Nếu là người chân thành tiếp nhận thẻ thì có thể chứng được lậu tận. Lấy việc Thượng tọa nầy, có thể minh chứng, sở dĩ lại làm Thượng tọa, là vì khéo có thể thuyết pháp thích hợp với mọi người, và được chúng đề cử làm Thượng
tọa. Do nhân duyên nầy, nên gọi là Thượng tọa tiếp nhận thẻ bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tân-đầu-lô có khả năng hàng phục ngoại đạo, là vì:
Xưa, trong thành Tỳ-xá-ly có Trưởng giả Chất-đa, thường gặp phải tình huống lục sư ngoại đạo cao ngạo tự đại, nói:
- Sa-môn Cù-đàm tự xưng là tôn quý, ta sẽ so tài với ông ấy. Nếu ông ta hiện một, ta sẽ hiện hai. Cứ như thế, chuyển biến gấp bội đến ba mươi hai.
Bấy giờ, Trưởng giả thỉnh khắp chư Tăng trong-ngoài đến để cúng dường, xong lại cho dựng một trụ cờ lớn, cao bốn trượng chín thước, đặt chiếc bát Chiên- đàn ở trên, rồi xướng: “Ai có thể đưa tay lấy chiếc bát nầy thì người ấy sẽ được tôn là đệ nhất!”
Khi ấy, Tân-đầu-lô, trong lòng tự nghĩ: “Nay ta nên thể hiện thần túc, để cho lục sư ngoại đạo v.v. đều mặc nhiên hàng phục. Rồi lại nghĩ: “Đức Thế Tôn thường khuyên các đệ tử không được hiện bày thần túc. Nếu hôm nay ta không thể hiện thì sợ họ sẽ vĩnh viễn đắc tội, còn nếu như ta hiện, thì sợ trái với lời giáo huấn của Đức Thế Tôn. Chần chừ, đắn đo mãi không thôi, bèn hiện thần túc, duỗi tay lấy chiếc bát chiên đàn ấy, rồi bay lên hư không, đi nhiễu quanh thành bảy vòng, đoạn trở xuống, ngồi trên tòa, nói với các Phạm-chí:
- “Các ông lại hiện lần thứ hai đi!”. Sáu sư đứng yên lặng. Lúc đó, Đại quỷ tướng quân tên là Bán Sư nói với sáu sư: “Rút lại việc hiện lần thứ hai kia đi!”. Đồ chúng của sáu sư đâu biết gì về cuộc hội họp nầy. Do đấy, nói Tân-đầu-lô hàng phục ngoại đạo thuộc bậc nhất là vậy.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Sấm xem bệnh là bậc nhất, vì:
Lúc ấy, ở tinh xá Kỳ Hoàn, có một Tỳ-kheo bệnh nặng rất khốn khổ, trùng bò ra dưới xương sống, rên rỉ suốt ngày. Đức Phật và các Tỳ- kheo đi xem xét khắp phòng nhà, thấy Tỳ-kheo nầy bị bệnh nặng khốn khổ như thế, mới hỏi:
- Đã có người nào xem bệnh cho ông chưa? Tỳ-kheo đáp:
- Không, bạch Thế Tôn! Phật nói:
- Trước kia ông đã từng xem bệnh cho người khác không? Đáp:
- Không.
Lại hỏi:
- Ông không xem bệnh cho người khác, làm sao trông mong người
khác xem bệnh cho ông?
Nói rồi Như Lai vén y Tăng-già-lê, tự tay tiếp xúc nơi thân người bệnh, gột rửa cho Tỳ-kheo. Khi đó, Thiên Đế Thích cũng hiện đến trợ giúp. Đức Thế Tôn chẩn đoán bệnh nhân. Tỳ-kheo bị bệnh ấy đã nhờ ơn đức của Thế Tôn, tức thì được lành hẳn.
Phật bảo các Tỳ-kheo: “Kể từ nay về sau, nếu ai có bệnh, đại chúng phải xem coi săn sóc cho nhau’.
Đức Thế Tôn còn chiếu cố, nói thêm: “Này các Tỳ-kheo! Ai có khả năng biết xem coi người bệnh?” Chỉ có Tỳ-kheo Sấm mà thôi. Tỳ-kheo Sấm thường dùng năm sự để xem coi người bệnh. Năm sự đó là:
1- Phân biệt thuốc hay.
2- Không hề lười biếng, dậy trước, ngủ sau. 3- Luôn nói năng vui vẻ, rất ít ngủ nghỉ.
4- Dùng pháp cúng dường, không tham ăn uống.
5- Nhận lãnh việc thuyết pháp cho bệnh nhân nghe.
Trên đây là năm pháp mà Tỳ-kheo Sấm đã sử dụng để xem coi người bệnh nên chưa từng có ai không lành bệnh. Vì sao? Vì Tỳ-kheo nầy chính là người nơi các đời trước, đã từng trải qua năm trăm đời, làm y sư, khéo hiểu biết tường tận các phương thuốc. Nghe tiếng nói, xem xét sắc mặt là biết căn nguyên bệnh, lại khéo dùng bốn sự xem, nuôi người bệnh.
Do nhân duyên nầy, nên gọi Tỳ-kheo Sấm xem bệnh là bậc nhất. Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bằng-kỳ-xa có khả năng tạo ra kệ tụng, là vì
Tỳ-kheo nầy, trước kia vào lúc làm con của Trưởng giả, vì hàng người- trời thể hiện sự thông tuệ, sáng suốt, hễ tiếp xúc sự vật nào, là làm tụng khen ngợi.
Lúc ấy, con của Trưởng giả xuất hành đi dạo, gặp một cô gái thuộc gia đình có tài nghệ, hình dung đẹp đẽ, hiếm có ở trong đời. Vừa ngắm nhìn, lòng cảm thấy hớn hở, bèn muốn cưới làm vợ.
Về nhà, thưa với cha mẹ về chuyện mình đã gặp cô gái ấy, và xin song thân đem sính lễ, hỏi cưới cho mình được chăng?
Cha mẹ không hài lòng, vì dòng họ của con làm sao sửa đổi việc giá thú, vì sẽ hủy hoại phong tục của tiên nhân. Ý của người con rất mạnh mẽ, nên thưa lần nữa:
- Nếu cha mẹ không vì con mà cưới nàng, thì con không thể nào sống trên cõi đời nầy!
Thấy con nói như vậy, cha mẹ không nhẫn tâm quở mắng, ngăn
cấm, bèn nói: “Thôi được, tùy ở con, đó không phải là điều cha mẹ mong muốn”. Tức thì sai người đến đàng gái bày tỏ việc xin hỏi cưới cho con.
Nhà gái nói:
- Gia nữ là dòng giống tài nghệ, chỉ lấy tài nghệ làm đầu, bèn đáp lời sứ giả:
- Không tham của cải của ông, chỉ cần có đầy đủ tài nghệ, ấy là chỗ trao gởi cho nhau.
Bằng-kỳ-xa nghe qua, liền đến những vị thợ có tài nghệ để học về các kỹ năng. Không đầy vài tuần, mọi kỹ năng, tài nghệ đều lãnh hội đủ. Lại sai người đưa tin: việc học tài nghệ đã mãn, vậy có thể gặp gỡ được chưa?
Chủ nhân đáp:
- Nếu người hội đủ tài nghệ, thì phải đến chỗ vua để khảo thí. Bấy giờ là tiết tháng giêng, nhà vua ra lịnh tập họp mọi người có tài nghệ khắp mọi nơi đến để tỉ thí. Nếu người nào hơn hết, sẽ được vua ban cho ngàn lượng vàng. Nhà vua cũng nghe việc tỉ thí có liên hệ với người nữ xinh đẹp, nên muốn thu nạp về trong cung cho mình.
Pháp tỉ thí về tài nghệ dựa vào trụ cao làm chuẩn: Trụ được dựng đứng, cao bốn trượng chín mét, phía dưới đặt đầy gươm đao, mũi nhọn đều hướng lên trên khoảng cách chỉ đủ chân đi. Bấy giờ Bằng-kỳ-xa dựa theo trụ nhảy vụt lên hư không xoay quanh bảy vòng, rồi nhào xuống trên khoảng đất trống.
Nhà vua sợ mất cô gái, giả vờ nói không nhìn thấy. Mọi người đều nói giỏi. Vua thì nói: “Trẫm không thấy!”. Vì nếu xác nhận là giỏi, thì phải nhận Bằng-kỳ thắng.
Bằng-kỳ suy nghĩ: “Nếu không thuận theo lời của vua, tất nhiên sẽ mất cô gái kia, vì quy định quả nhất mới được tính. Bằng-kỳđã liều chết, leo lên đầu trụ, cố nhìn tận mặt cô gái, trong lòng tự nghĩ: “Ngồi trên người nầy làm gì đến nỗi khốn khổ như thế. Tâm thì sợ sệt, thân hình run rẩy, e không tự bảo toàn!”
Người thiếu nữ giả dối nói: “Đâu dùng người ấy làm gì!”
Đức Phật biết người nầy tất đáng được cứu độ. Nếu không cứu, người ấy sẽ bị đọa nơi ba đường dữ, Phật liền bảo Tôn giả Mục-liên:
- Ông hãy dùng thần túc, để cứu giúp người kia đang bị nguy ách! Mục-liên vâng lời Phật dạy, tức thì biến hiện đến chỗ cây trụ, ngồi kết già giữa hư không, lại hiện ra bậc thang bảy báu ở phía dưới cây trụ,
người khác không trông thấy, chỉ riêng Bằng-kỳ được thấy, nên từ từ xoay bảy vòng trong thềm thang rồi xuống. Thần lực đã được giao tiếp bình an, trong ngoài hết nguy hiểm.
Vua và mọi người rất lấy làm lạ. Vua tự tay dẫn người con gái đẹp để giao cho Bằng-kỳ.
Bằng-kỳ nói: “Tôi không dùng vật xảo trá, hư giả này. Nó lừa dối mê hoặc người đời, tạo sự lầm lạc cho người thanh tịnh chân chánh, khiến nước mất, nhà tan.” Lập tức, Bằng-kỳ theo Tôn giả Mục-liên về chỗ đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo: “Thiện lai Tỳ-kheo, (tức) thành Sa-môn”. Phật giảng nói Tứ đế, liền đạt được Ứng-chân (A-la-hán). Bên trong phát ra những tình cảm vui mừng, hình thành nên lời nói, bèn làm kệ tụng ca ngợi Đức Thế Tôn:
“Ngày mười lăm thanh tịnh, Năm trăm Tỳ-kheo họp,
Đã đoạn các kết, sử, Người Tiên không thọ tập,
Cũng như Chuyển Luân vương, Các quan vây quanh khắp, Bốn biển và đất liền.
Sử sách không bày tỏ, Hàng phục người như thế, Đạo sư không ai hơn, Cũng giúp các Thinh-văn, Ba minh trừ tánh kết,
Tất cả con Thế Tôn, Không có bụi cấu uế, Đã diệt lưới ái dục,
Nay lễ trăng trong sao”.
Do nhân duyên nầy, nên gọi Bằng-kỳ-xa có thể tạo kệ tụng, ca ngợi công đức của Như Lai là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Câu-hi-la là bậc nhất trong bốn biện tài là vì: Thông thường, hàng Thinh-văn có bốn biện tài không hẳn phải đầy đủ. Hoặc có pháp biện tài mà không có nghĩa biện tài. Hoặc có nghĩa biện tài mà không có pháp biện tài. Hoặc có ứng biện tài mà không có Từ biện tài. Hoặc có Từ biện tài mà không có Ứng biện tài.
Câu-hi-la đủ hết bốn biện tài này. Các Tôn giả Xá-lợi-phất, Ca- chiên-diên cũng có đủ bốn biện tài, sở dĩ không gọi là hơn hết, vì Thân
tử tự lấy trí tuệ làm chủ, Ca-chiên-diên tự dùng việc soạn tập làm chủ, nên đều không gọi là bậc nhất về bốn biện tài. Hoặc dù có đủ bốn biện tài, nhưng cũng không theo kịp Câu-hi-la. Câu-hi-la chỉ biện minh về ý nghĩa của một câu mà bảy ngày không hết, huống chi là bốn biện tài, làm sao có thể tính kể lường xét?
Do việc nầy, nên gọi là bậc nhất trong bốn biện tài.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nan-đề là khất thực bậc nhất, là vì các Tỳ-kheo khác cũng khất thực, nhưng hoặc giới không đủ, hoặc có tâm tham, hoặc đoái nhìn trái, phải, tâm không chuyên nhất, hoặc tránh xa mùa lạnh- mùa nắng. Còn khi Tỳ-kheo ấy khất thực thì không có những việc như vậy.
Việc khất thực đã tinh tế, người thí sẽ được nhiều phước. Vì thế, nên nay dẫn dụ để so sánh cái lớn, nhỏ:
Có người hỏi về phương pháp bắn: “Một người bắn sợi lông treo lơ lửng cách trăm bước, với một người bắn bụi đất bay ra, người nào là khó?”
Đáp: “Sợi lông treo lơ lửng là khó, vì cho dù bắn được mà không rơi xuống đất”.
Đấy là lời nói không đủ. Nếu bố thí cho người khất thực, hoặc bố thí cho chúng Tăng, thì người nào là bố thí lớn là chân A-luyện-nhã?.
Trong dụ sợi lông treo lơ lửng là chỉ cho thí không được chân, dụ cho người bắn lên hư không, việc ấy dù khó, nhưng có được, có mất. Mũi tên ghim dính dưới đất, là dụ cho việc bố thí chúng Tăng. Bắn rơi sợi lông là tinh tế, có mất, là nhiều. Bắn rơi xuống đất dù dễ, nhưng chưa từng mất đất, vì đất của ruộng phước rất dày, nên không có thêm, bớt. A-luyện-nhã tinh, thô, nên có được, mất. Vì Nan-đề được cái tinh tế, nên gọi là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Thí-la là ngồi một chỗ, ăn một bữa, đó là một hạnh Đầu
đà.
Luận về pháp A-luyện-nhã, hoặc khất thực, hoặc ngồi dưới tàng
cây; hoặc ở chỗ thanh vắng riêng một mình. Nay ở đây, người ngồi một chỗ, ăn một bữa, nghĩA-là sáng sớm, thức dậy cho đến giữa trưa, nếu đàn việt cho thức ăn, bất luận ít nhiều, vẫn ngồi ở một chỗ ăn mà thôi. Nếu ăn chưa no, chỗ ngồi vẫn chưa dời đổi thì có thể được ăn lại, còn nếu đã đứng dậy thì không được ăn nữa. Thường xuyên ăn một chỗ mà không lìa bỏ, nên gọi Thí-la là bậc nhất.
Sở dĩ nói Tỳ-kheo Kim-tỳ-la thường đi bảy nhà để khất thực, không
được quá bảy. Vì sao thế? Vì đã lập lời thề có giới hạn là bảy. Khi khất thực, muốn chúc phước cho chúng sinh, thì phải chuyên tâm nghĩ đến đạo, không có tưởng tham. Nếu được thức ăn ngon-dở, cũng không viện cớ mà thêm, bớt. Tùy thuận mà khất thực theo trình tự, không lựa chọn nghèo, giàu. Nếu mới đi một hay hai nhà mà được thức ăn, lại có người bố thí nữa, đủ rồi thì thôi, không đủ thì nhận tiếp. Nếu trong trường hợp đã đến bảy nhà mà vẫn không được thức ăn, thì sẽ trở lại tinh xá nghỉ ngơi, suy nghĩ, hành đạo, không nghĩ là ngày mai, mình sẽ đến nhà đó hay không đến nhà đó nữa, vì không thể có tưởng phân biệt. Do vậy nên gọi là Sa-môn bảy nhà. Việc khất thực không có gì, trở lại tĩnh tọa, buộc tâm ở đạo, nên nói Tỳ-kheo Kim-tỳ-la khất thực nơi bảy nhà là bậc nhất.
Tỳ-kheo Kiên lao: Vì thường xuyên ở những nơi như núi, đầm, nơi vắng vẻ- tĩnh lặng, làm hạnh.
Tỳ-kheo Nan-đề, thường dùng khất thực, chịu nhục làm hạnh. Tỳ-kheo Kim-tỳ-la, dùng khất thực bảy nhà làm hạnh.
Thí-la, dùng ăn ngồi một chỗ làm hạnh.
Mười hai thứ Đầu đà, mỗi Đầu- đà đều ở một hạnh. Tỳ-kheo Phù Di gìn giữ ba y không rời khi ăn, khi nghỉ ngơi. Hoặc nói: “Tạo ba y, như là dùng ba lượt chuyển pháp luân”. Hoặc nói: “Vì ba đời”. Hoặc nói: “Vì ba mùa nên đặt ra ba y: Mùa Đông thì mặc y dày; mùa Hạ thì đắp y mỏng, mùa Xuân, Thu mang y trung bình.” Vì ba mùa như vậy ấy là đủ ba y. Dày thì năm điều, trung thì bảy điều, mỏng thì mười lăm điều. Nếu là mùa rất lạnh, mặc ba y khả dĩ ngăn được giá buốt. Hoặc nói: “Cũng vì muỗi-nhặng-ễnh ương, nên lập ra ba y. Do duyên thường xuyên gìn giữ không quên, nên nói là bậc nhất”.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Bà-sai, vì xưa kia khi còn tại gia, thường cho nhà cửA-là tai họa. Khi xuất gia cầu đạo, thường ngồi ở chỗ trống trải. Nếu vào phòng nhà thì cảm thấy khó thở, vì khí bị bế tắc giống như bịt miệng lại. Chính vì thế, nên Tỳ-kheo Bà-sai thường tìm nơi trống trải để ngồi, tư duy, hành đạo, nhân đó mà thân thể điều hòa, hơi thở thông suốt- sảng khoái, tu hành đạo nghiệp không bị trở ngại. Do nhân duyên nầy, nên gọi Bà-sai ngồi nơi chỗ trống trải là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Hồ-nghi-ly-việt, thường xuyên ở bên cội cây, là vì từ địa vị phàm phu muốn cầu Thiền định, tất nhiên phải ở bên cội cây để nương tựa thâu giữ tâm ý, loại trừ Kết trói buộc. Các Tỳ-kheo khác cũng ngồi thiền nơi cội cây, nhưng không được gọi như vậy, vì các Tỳ-kheo
ấy không có khả năng chỉ một lần nghe thì tự chuyên nhất tư duy, còn Tỳ-kheo nầy một khi được nghe lời Phật dạy, là lập tức có khả năng thực hành sự tập trung tâm ý, không bỏ. Sáu năm là dứt hết Kết.
Trước kia, Ly-việt vui thích nhập thiền định, hành chỉ không khác, vì ưa tu tập những việc đặc biệt, nên đều xưng là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Đà-đa-sách vui thích Không, là vì Tỳ-kheo nầy vào nhà là hiểu nội Không, ra khỏi nhà là hiểu ngoại Không. Nội không dụ cho Thức, ngoại Không dụ cho Thân. Vào nhà, là thấu đạt Thức Không, ra khỏi nhà là hiểu Thân Không. Đã thấu đạt trong, ngoài Không, thì các pháp cũng như thế.
Tỳ-kheo nầy, nghe thuyết minh về giáo Không thì thâu giữ ở tâm nên vào nhà là nhận thấy Không, tức đạt Thân Thức. Tỳ-kheo khác phải dứt hết kết, sau đó mới đạt Không. Tâm khó thu giữ Không, quý ở chỗ Tỳ-kheo kia đã đạt được trước, nên gọi là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ni-bà mặc năm nạp trên hết, là vì Tỳ-kheo nầy quán thân thấy rõ ba mươi sáu vật đều là cấu uế, chẳng có gì đáng tham, đáng quý! Nhàm chán thân nầy hèn kém, nên phải dùng vật hèn kém để tự che lấp.
Hoặc có thuyết nói: “Luận về y phục, có y phục đáng gần gũi, có y phục không đáng gần gũi”.
Đáng gần gũi là sao?
Mặc y phục xấu, khiến người ta xấu hổ, tự thẹn, đó là người đáng gần gũi. Mặc y phục tốt đẹp, khiến người ta tự thêu dệt cho mình là lớn, là kẻ không đáng thân cận. Mặc y phục rách, hỗ trợ hạnh, là vì mặc năm nạp. Tỳ-kheo nầy, vì khéo có thể so sánh tướng trong- ngoài, nên gọi là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-đa-la thường ưa thích ở nơi chốn gò mả, vì Tỳ-kheo nầy là đệ tử của Tôn giả A-nan. Bậc thầy đắc đạo, tâm tự nhớ nghĩ: “Thân nầy lưu chuyển, không chỗ nào là không trải qua: Lúc ở trên cõi trời thì ăn- mặc- sai bảo tự nhiên, nay, đều từ bỏ hết. Nếu ở trong loài người, làm Chuyển Luân Vương, bảy báu luôn theo, cũng đã qua rồi. Hoặc ở loài súc sinh, luôn ăn cỏ gai, thì đấy cũng là quá khứ. Nếu ở cõi ngạ quỷ thì lấy đồng nung chảy làm thức ăn. Hoặc ở địa ngục, thì bị đao- gươm xử trị. Các hình tội nầy cũng đều là quá khứ”.
“Nay được thân người, hoàn toàn đủ các phần, những gì của xưa để lại nay đều là vật cần dứt bỏ. Hình-sắc như trò ảo thuật, không có gì là đáng tham, tất cả đều sẽ từ bỏ nên dừng lại trong chốn gò mả nầy.”
Lại suy niệm: “Chính vì có ý muốn ở nơi cội cây, trong đầm, trong núi mới nảy sinh lòng tham nơi đông người; chỉ có ở chốn gò mả là nơi con người không ưa thích, vì nơi đây chỉ thuộc về quỷ và các loài chồn, sói, diều, quạ”…
Nay, Tỳ-kheo Ưu-đa-la sẽ nhập tam-muội Từ, để cứu giúp các loài ấy nên ở nơi gò mả. Do nhân duyên thường ưa thích ở chốn gò mả, không thích ở trong loài người, nên được gọi là bậc nhất.
Sở dĩ Tỳ-kheo Lô-hê-vinh luôn ngồi trên nệm cỏ là bậc nhất, vì Tỳ-kheo này nhằm trừ bỏ tâm ái. Trừ bỏ tâm ái là sao? Cho dù giường vàng, gối ngọc đi nữa, cũng đều không có tham ái vướng chấp. Hoặc lại thuyết minh: “Nếu có người thí cho tòa ngồi tuyệt đẹp thì cũng như thí cho tòa ngồi bằng cỏ, có gì khác! Khi tâm ái đã hết, các kết cũng dứt, ấy là lúc tay cầm nắm cỏ hướng về đám cỏ làm lễ.” Thấy cử chỉ kỳ lạ, có người hỏi:
- Vì sao hướng về đám cỏ làm lễ? Tỳ-kheo đáp:
- Ta nhờ đám cỏ nầy mà những trang sức hiển vinh trong tâm ta đã hết và đắc đạo cũng do nó, nó tức là thầy ta, nên ta hướng về đám cỏ để làm lễ.
Năm trăm khỉ vượn được sinh trên cõi trời, cũng do dùng hoa Thiên- văn-đà-la tung rải nơi tử thi cũ, vì do tử thi nên được sinh lên cõi trời, vì thế chư Thiên mới đến rải hoa! Luận về sự sang, tất phải dùng nghèo hèn làm gốc, vì nhân duyên nầy, nên gọi ngồi nơi nệm cỏ là bậc nhất.
Sở dĩ khen Tỳ-kheo Ưu-kiềm-ma không nói chuyện với người, chỉ nhìn xuống đất mà đi là bậc nhất, vì Tỳ-kheo nầy, thường lo sợ lỗi lầm ở miệng, nên mỗi khi sắp sửa đổi lời nói, trước hết phải tự suy nghĩ: chính từ nơi miệng này mà sinh trong cõi trời- người, hoặc nơi ba đường dữ thì địa ngục có mọi thứ, rên rỉ-kêu la-gào thét nhân đủ cho năm đường, lại càng khổ đau vô lượng.
Nay ta phải như Thái tử Mộ-phách, kết lời thề không nói năng. Bốn lỗi-ba tai họa do đâu mà sinh? Đã không nói thì cứ nhìn thẳng phía trước mà đi. Đức Phật cũng lấy làm lạ về khả năng ấy.
Bấy giờ, đức Phật thường hướng về các Tỳ-kheo ca ngợi đức của Kiềm-ma, nói với Tôn giả A-nan: “Như Tỳ-kheo nầy, nên ghi chép về sự nhận biết hiện có, vì nếu dựa theo đó lại khiến che lấp. Do nhân duyên ấy, gọi Tỳ-kheo Ưu-kiềm-ma-là bậc nhất”.
Sở dĩ khen Tỳ-kheo Nhất Tâm là hành trì tam-muội bậc nhất, vì
Tỳ-kheo này, khi xưa đã từng tập định, cứu xét từ thô, đến tế. Nay, công sức của định đã lập, nên khi hành trì như đi dạo nơi đường lớn; khi ngồi thì tự quên tưởng, quên tưởng mà lý đủ. Dụ đó như thế nào? Cũng như có người ăn trăm vị thức ăn, ý do đã no đầy nên không còn tưởng về ăn, tuy cũng đi đứng tới lui để che đậy cảm xúc nhưng về sau nên bày tỏ, lay động.
Vì dựa vào định mà lập tên, nên nói: Ngồi, đứng dậy, bước đi là vào tam-muội bậc nhất.
Sở dĩ khen Đàm-ma-lưu-chi vui thích đi xa là bậc nhất, vì sự ấy có nguyên do.
Lúc Phật còn tại thế, có một Trưởng giả, tự là Đàm-ma-lưu-chi, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ Phật và hỏi han xong Phật nói:
- Đàm-ma-lưu-chi! Từ ngày tạm biệt đến nay đã lâu lắm, chúng ta mới được gặp lại nhau.
Có người hỏi Phật:
- Phật không xét kỹ, sao lại nói: “Tạm biệt đến nay rất lâu?” Đức Thế Tôn đáp:
- Ông muốn biết điều ấy chăng? Thưa: Muốn biết. Phật lại nói:
- Ta ở A-tăng-kỳ kiếp xa xưa, bấy giờ có vị Phật hiệu là Định Quang, khi ấy tA-làm Phạm-chí, tự là Siêu Thuật.
Lúc này, Phật Định Quang vừa mới vào thành, ta liền gặp ở giữa đường. Thấy tướng hào quang của Phật rực rỡ, chiếu sáng khắp nơi, ta liền khen: “Tướng hào quang của đức Thế Tôn sáng rực, vượt hơn mặt trời, mặt trăng, uy đức của đức Thế Tôn dày hơn hai nghi. Tâm của đức Thế Tôn, là lòng nhân vượt quá từ mẫu. Chỉ nghĩ đến hình ảnh, chớ không có gì để cúng dường Thế Tôn. Nay chính là thời điểm gặp ruộng phước tốt quý, có thể gieo trồng căn lành”.
Nhận thấy đất có một ít bùn, e làm nhơ chân Phật, ta liền xỏa tóc trải lên trên bùn để Phật đạp mà đi qua. Phật liền thọ ký cho ta: “Ông thật dũng mãnh, mới làm được như thế. Vào A-tăng-kỳ kiếp sau, ông sẽ làm Phật, tự là Thích-ca-văn. Lúc ấy, gần bên đường cũng có một Phạm chí, khởi tâm giận dữ, nói: “Người nầy với súc sinh không khác, mới đạp lên trên tóc nơi đầu người ta mà đi qua!”Từ đấy về sau, Phạm chí ấy, trong A-tăng-kỳ kiếp, thường bị đọa trong hàng súc sinh, làm cá Ma- kiệt ở biển cả, thân dài bảy ngàn do diên. Bấy giờ, có năm trăm khách buôn, chèo thuyền vào biển tìm châu báu, gặp cá lớn nầy, nên bị nuốt cả
thuyền và người sắp chui vào miệng cá, năm trăm người vô cùng hoảng sợ. Lúc ấy, chủ khách buôn mới nói với mọi người: “Đời nay, có Phật hiệu là Thích-ca-văn, luôn cứu giúp con người trong cơn ách nạn, hiểm nguy, không gì vượt hơn ngài. Chúng ta hãy đồng thanh xưng niệm danh hiệu Phật Thích-ca, mong nhờ được cứu thoát!”Tức thì năm trăm người đồng thanh niệm danh hiệu Phật. Cá Ma-kiệt nghe danh hiệu Phật, bản thức vẫn còn, liền tự nghĩ: “Phật Thích-ca-văn đã xuất hiện ở thế gian, vì lẽ gì thân ta vẫn còn ở trong loài cá?”, bèn lặn trở lại xuống nước.
Năm trăm khách buôn được yên ổn trở về. Khi đó, con cá liền nằm bày phân nửa mình trên bãi cát ven biển, không uống, không ăn, trải qua hai mươi bảy ngày đêm thì chết, sinh làm con của nhà Trưởng giả, tự Đàm-ma-lưu-chi nay, mới được đến gặp ta. Đấy là lý do ta gọi lâu xa.
Lưu Chi nghe Phật kể gốc ngọn của sự việc ấy, liền hướng đến ven biển để tìm tử thi cũ, thấy bên bờ biển có xương của cá lớn, da thịt đã hết, liền bước đi trên xương hông của cá, suy nghĩ: “Đây là tử thi cũ của ta”. Rồi dùng hoa rải lên trên tử thi ấy, tìm tòi, suy nghĩ những việc đã qua bỗng nhiên chứng đạo”.
Do nhân duyên nầy, nên gọi đi xa là bậc nhất.
Sở dĩ khen Tỳ-kheo Ca Cừ tập họp chúng thuyết pháp là bậc nhất, vì âm, từ của Tỳ-kheo nầy trong sáng-thấu suốt, tiếng chấn động gần- xa. Người nghe âm thanh của Tỳ-kheo Ca-cừ, sẽ tập họp đông vô số, Tỳ-kheo liền vì họ diễn nói về nghiệp tốt đẹp sâu rộng của pháp. Các người phải biết, Đức Như Lai xuất thế, khó có thể gặp được, cam lộ bốn đế cũng không dễ gì được nghe. Các người phải luôn tư duy về chân đế, nhằm trừ bỏ sự ràng buộc của mười hai thứ lôi kéo liên tục; thì có thể đạt được Niết-bàn. Tỳ-kheo nầy luôn hỗ trợ Đức Phật, hoằng dương hóa độ, thường dùng lối giảng dạy nầy, chưa bị hạn chế. Vì nhân duyên ấy, nên gọi là tập họp chúng thuyết pháp, với âm thinh bậc nhất.
Sở dĩ khen Bà-câu-la có mạng sống lâu dài, là vì từ nhiều kiếp xa xưa, Bà-câu-la đã từng cúng dường sáu vạn Phật. Ở chỗ chư Phật, ông thường tu tâm từ đối với các loại sâu bọ bay nhảy, cưa động, loài có hình, có mạng, ông luôn gia tâm thương xót, không mảy may có ý tưởng sát hại. Do phước của lòng từ nầy, nên nay đã được quả báo tốt đẹp.
Phật bảo Tôn giả A-nan: Như ta ngày nay, da, thân thanh tịnh, không có ai vượt hơn ta, cũng như hoa sen không dính nước bùn, đang sống tuổi tám mươi, nhưng không bằng Bà-câu-la thọ tới một trăm sáu mươi tuổi. Như Lai tùy thuận đời, muốn thích hợp với chúng sinh, không
hiện bày chỗ dị biệt kia, nên chỉ sống tám mươi. Bà-câu-la nhờ tiếp nhận phước của tâm từ ở đời trước, nên được quả báo tuổi thọ gấp bội như thế. Hoặc có người hỏi: - Chỉ do tâm Từ nên được thọ mạng như thế, hay lại còn có cái gì khác nữa? Đáp: Có.
Xưa, Như Lai Tỳ-bà-thi xuất thế, bấy giờ, có mười sáu vạn tám ngàn Tỳ-kheo đang du hành, giáo hóa. Lúc đó, có Trưởng giả, ở nơi chốn sáng suốt, giữ vững lòng tu hành bẩm tánh hiền lương, khiêm tốn, không thích uống rượu. Do lễ hội trong năm ít tổ chức nên khi gặp thường khuyên nhau gắng uống ít nhiều, khi ấy do sức mạnh của rượu, ông đi đến chỗ Đức Thế Tôn lễ bái, hỏi han, rồi thỉnh Phật và các đệ tử đến nhà để ông được cúng dường chín mươi ngày. Các Tỳ-kheo bệnh tật cũng đến nhà ông nhận lấy thuốc thang, cũng như những vật cần dùng hằng ngày.
Thỉnh xong, Trưởng giả trở về thôi thúc người nhà, bảo: “Ta đã thỉnh Phật và các đệ tử đến nhà, bốn việc cúng dường đều phải sắm sửa cho đầy đủ.” Ra lệnh xong, bèn đi ngủ, ngủ hồi lâu lại thức.
Vợ Trưởng giả thưa: “Mới đây, ông ra lệnh phải nghiêm túc sắm sửa phẩm vật để cúng dường. Hôm nay, sao lại yên lặng, không thấy ông nói gì cả?” Trưởng giả kinh hãi nói:
- Vừa qua ta đã nói năng gì sao? Người vợ đáp:
- Lúc chưa ngủ ông không có nói gì sao? Trưởng giả bảo:
-“Ta không nhớ là mình đã nói gì?” Người vợ nói: Trước hết, ông đã nói:
- “Ta đã thỉnh Phật và các đệ tử đến nhà trong chín mươi ngày để được cúng dường và cung cấp những vật cần dùng. Ông không nói lời nầy sao?”
Trưởng giả suy nghĩ: “Con người vì rượu mà nhầm lẫn, nên mới xảy ra sự việc như vầy thật đáng hổ thẹn. Phải nên tức thì thỉnh lại! Ngày mai, sáng sớm ở nhà đốt hương, từ xa thỉnh đức Thế Tôn”.
Có một Tỳ-kheo đến xin thuốc. Trưởng giả hỏi:
- Thầy có bệnh khổ gì? Tỳ-kheo đáp:
- Bệnh đau đầu.
Trưởng giả nói:
- Bệnh nầy, tất nhiên là bên trên màng cách có nước, khi ngẩng lên, công kích đầu mình làm cho đau, Trưởng giả liền cho Tỳ-kheo một quả Ha-lê-lặc, chỉ uống một vị thuốc nầy, là đủ để tiêu tan chứng bệnh
ấy. Tỳ-kheo uống thuốc, bệnh đau đầu khỏi ngay! Do phước báo đó, mà suốt trong chín mươi mốt kiếp, chưa từng bệnh hoạn. Được sinh vào nhà Trưởng giả, đến năm tám mươi tuổi, xuất gia học đạo, trải qua tám mươi năm ở trong kỷ cương của đạo, hợp lại là một trăm sáu mươi năm. Lúc tại gia từng đấu sức, do vậy mà đau đầu, giờ đây thì đã lành hẳn. Cứ như thế, tự thân không có bệnh gì khởi lên.
Vì lý do nầy, nên Bà-câu-la sống lâu dài bậc nhất. Trong một trăm năm thọ mạng, có thêm sáu mươi năm nữa tức là mạng sống rất lâu, người trong đời năm trược mà thọ mạng như vậy quả là đặc biệt. Thí dụ nầy cũng như ở trong bùn nhơ, mà sinh hoa sen.
Tôn giả A-nan hỏi: “Vì sao Bà-câu-la không vì người thuyết pháp? Vì không có bốn biện tài hay vì thiếu trí tuệ mà không thuyết pháp?”
Đáp: Đối với bốn biện tài, trí đến rất nhanh chóng, không phải vì không đủ bốn biện tài, mà đúng ra là tự mình ưa tĩnh lặng, không thích ồn ào, nên không thuyết pháp.
Có vấn nạn: “Sự sống lâu dài của Bà-câu-la, vì sao không sinh ba phương?”
Đáp: “Sở dĩ chư Phật không sinh là vì người của các phương kia khó hóa độ. Chúng sinh nơi quốc độ nầy có căn nhạy bén-mẫn tiệp-rất ác nhưng dũng mãnh, nhận lấy đạo không khó. Thế nên, từ xa xưa, chư Phật đều sinh trong cõi nầy, không sinh ba phương khác”.
Sở dĩ khen Mãn Nguyện Tử thuyết pháp là bậc nhất, vì có ba việc nên được gọi là bậc nhất. Tỳ-kheo khác cũng thuyết pháp, nhưng vì không có ba việc có thể ghi nhận, nên không xưng là bậc nhất. Khi Mãn Nguyện Tử thuyết pháp, trước hết dùng biện tài xướng phát diệu âm, khiến chúng sinh hoan hỷ, tập trung ngưỡng mộ.
Tiếp theo, dùng lời nói khổ sở để trách cứ tâm mình, khiến tâm ý càng xót xa, cung kính, sợ sệt, khởi lên ý tưởng khó gặp.
Sau cùng, dùng trí tuệ sáng suốt giảng giải về Không, Vô tướng, người nghe được kết mở, khiến trí tỏ ngộ, cùng thêm lớn.
Đức Thế Tôn thuyết pháp đầu tiên-giữa-sau cuối, luôn là thiện. Mãn Nguyện Tử cũng thế, ba sự đều thiện. Tự lìa Như Lai, thì không gì có thể đạt được, Thân Tử tự thệ: “Từ sáng đến trưa, chủ yếu độ một người, sao cho đạt được dấu ấn đạo”.
Tỳ-kheo Mục-liên cũng thệ độ người, bài học ở trong bốn hướng, tiến tới một bậc, sau đó, mới ăn. Ngoài ra, các Tỳ-kheo khác đều cũng độ người. So sánh với Mãn Nguyện Tử, thì một trăm phần không tới một.
Mãn Nguyện Tử từ thành đạo đến Niết-bàn, đã độ chín vạn chín ngàn người. Vì độ người đối với bậc Thanh-văn là rất nhiều, nên gọi là thuyết pháp bậc nhất.
Sở dĩ khen Ưu-ba-ly vâng giữ luật bậc nhất, là vì:
Xưa, khi Đức Phật trở lại bản quốc, do nhận sự thỉnh cầu của phụ vương. Các Tỳ-kheo cùng đi tuy tâm ý đều thanh tịnh, nhưng không biểu lộ được diện mạo của người tu hành giải thoát.
Bấy giờ, nhà vua muốn khuyên con em của dòng họ Thích cao sang hãy xuất gia làm Tỳ-kheo, theo hầu Đức Thế Tôn. Tức thì ra lệnh cho các nhà họ Thích, nhà nào có hai người anh em, đều phải có một người xuất gia vì đạo, nếu không theo lệnh thì người đó sẽ bị phạt nặng. Lúc ấy, một người thuộc họ Thích, tên là Diện Vương, là người có vị trí lớn trong họ Thích, muốn xuống tóc trước tiên. Đức Phật bèn bảo Ưu-ba-ly vì những người ấy mà xuống tóc cho họ. Lại bảo: “Các người thuộc họ Thích nầy đều kiêu hãnh, ưa sự mềm mại, ông khéo léo nhẹ tay.
Ưu-ba-ly liền nhẹ tay, nhưng lại quá nhẹ nên không dính tóc. Khi đó, Ưu-ba-ly đổi ngược lưỡi dao, dùng sống dao để cạo. Đức Phật nói:
- Không thể dùng phần lưỡi dao sao? Đáp:
- Không thể. Tức thì tóc theo dao cạo từ trên đỉnh đầu, tự nhiên được trừ bỏ hết. Năm trăm Thích tử đều như thế.
Đức Phật dạy Ưu-ba-ly: “Thiện lai Tỳ-kheo! Tức liền trở thành Sa- môn. Phật truyền trao giới, bèn chứng được A-la-hán. Tiếp theo, truyền trao giới cho năm trăm Thích tử, Ưu-ba-ly làm Thượng tọa, lấy tay xoa đầu năm trăm người làm đệ tử. Thọ giới xong, tiếp theo, sẽ lễ Ưu-ba- ly”.
Các Thích Tử trước kia, vốn kiêu hãnh, không hạ mình khuất phục,
hơn nữa Ưu-ba-ly lại là con em thuộc người của mình, nên họ đều nói: “Người nầy là tôi tớ của nhà ta, duyên cớ gì phải lễ?
Phật dạy: “Không nên như thế, pháp không có sang, hèn, người đạt trước là anh, kẻ đạt sau là em, cúi, ngửa không thành vấn đề, vì cái lễ là tâm ý tạo ra.
Tức thì trời đất chấn động lớn, chư Thiên ở trên cõi trời ca ngợi: “Lành thay! Lành thay! Ngày nay, tánh kiêu mạn của các Thích tử đã được hàng phục. Vì điều nầy khó đạt được, nên đại địa chấn động. Khi năm trăm Thích Tử nầy hành đạo, cũng đã có chín vạn chín ngàn người xuất gia vì đạo”.
Ưu-ba-ly từ khi được Phật truyền trao giới đến nay, chưa từng vi phạm một mảy may. Do nhân duyên ấy, nên xưng là bậc nhất. Chỉ là chuyện nầy, hay lại có sự khác?.
Ở phía bắc tinh xá Kỳ Viên, có một Tỳ-kheo mắc bệnh đã hơn sáu năm, không lành.
Lúc ấy, Ưu-ba-ly đi đến hỏi Tỳ-kheo nầy:
- Ông bị bệnh khổ gì? Chỗ ông cần là gì, nên nói ra. Đáp: “Điều tôi cần thì không thể nói”
Lại hỏi:
- Ông cần vật gì? Nếu ở đây không có vật ấy, thì phải đi khắp bốn phương để tìm; nếu ở thế gian không có, thì phải lên cõi trời mà tìm?.
Đáp: “Thứ tôi cần dùng ấy, ở trong thành Xá-vệ có, vì trái với lời Phật dạy, nên không thể nói”.
Hỏi: “Chỉ nói ra thì không khổ”. Đáp: Vậy thì nói: “Tôi chỉ nghĩ đến rượu, được năm thăng rượu là bệnh sẽ lành”.
Ưu-ba-ly nói: “Được! Ông hãy ở đây, ta sẽ vì ông đi hỏi đức Phật, rồi sẽ trở lại”, liền đi hỏi Phật:
- Tỳ-kheo trị bệnh, phải cần rượu để làm thuốc, không cần xét có thể được uống thuốc có rượu đó không?
Đức Thế Tôn bảo:
- Pháp ta đã chế là để trừ bệnh.
Ưu-ba-ly liền trở lại, xin rượu để chữa bệnh, bệnh chữA-lành; lại còn thuyết pháp do đó bệnh nhân chứng được đạo A-la-hán”. Đức Phật khen Ưu-ba-ly:
- Ông vừa mới hỏi Như Lai về việc nầy, đã khiến cho Tỳ-kheo kia bệnh được lành, lại còn khiến chứng đắc đạo. Vị Tỳ-kheo ấy, nếu không được độ, thì về sau sẽ bị đọa ba đường ác, không có kỳ hạn ra khỏi. Ông nên vì tương lai của Tỳ-kheo nầy, thiết lập pháp cấm, sao cho họ biết khinh, trọng, để còn được cứu giúp khỏi ách nguy hiểm. Ông thật có khả năng trì luật, ta sẽ đem Tạng Luật phó thác cho ông, đừng để rơi rớt mất mát tạng nầy là hơn hết trong các tạng, ở đó không thể bảo cho Sa-di, kể cả người thế tục biết. Vì do duyên nầy, nên gọi là bậc nhất.
Sở dĩ khen Tỳ-kheo Bà-ca-lợi được Tín giải thoát, là vì Tỳ-kheo nầy mắc bệnh rất lâu, nằm mãi nơi giường suốt sáu năm. Các người xem bệnh, chăm sóc, đều bỏ đi hết! Tỳ-kheo tự nghĩ: “Bệnh tật kéo dài quá lâu, người xem bệnh, chăm sóc quá mỏi mệt, rất có thể chán bệnh. Vả lại, không thấy Như Lai rủ lòng thương. Ta nên tự hại, để loại trừ bệnh
khổ. Bèn xin con dao, hướng vào dao mà nói: “Chỉ nên giết ta, cũng là cách đoạn trừ Kết chăng!” Nói xong, dùng dao tự vẫn. Ngay khi Tỳ- kheo vừa đưa dao đến nửa cổ họng là đã được lậu tận, tiếp tục chặt đứt đầu là đã thọ nhận Niết-bàn”.
Bấy giờ, đại địa chấn động, lan đến chỗ Ma-ba-tuần. Ma-ba-tuần nghĩ:
- Điềm lành gì mà đại địa chấn động như thế? Liền dùng thiên nhãn quán sát thấy Tỳ-kheo tự hại thân hình họ nhưng không thấy thần thức ở đâu! Quán sát khắp chư thiên, không thấy thần thông của họ. Quán sát trong loài người cũng không thấy. Lại quán sát trong ba nẻo ác, cũng lại không thấy!
Lúc ấy, Phật cùng các Tỳ-kheo chuẩn bị thiêu đốt xác. Thấy lửa tử thi bốc lên, Ba-tuần phóng lửa để tìm kiếm thần thức của Tỳ-kheo, nhưng đều không biết ở đâu? Sở dĩ tìm kiếm vì muốn biết tiến tới cõi trên mà thân hủy hoại, có khiến không thành chăng? Các Tỳ-kheo đã thiêu đốt xác xong. Đức Phật khen các Tỳ-kheo nầy sẽ được tín giải thoát. Hoặc nói: “Luận về người hết sức tín, luôn uỷ thác mạng cho tự nhiên, hãy còn không biết cầm gậy để tự đề phòng, huống chi lại tự hại?”.
Đáp: “Nói đến Tín, sở dĩ cầm đao là vì đao chính là gươm tuệ. Vì có ý định muốn dứt trừ các Kết. Thân tức là gốc của Kết, gốc dứt trừ thì nhánh sẽ đoạn theo thân, tức kết bị trừ. Vì lý do nầy, nên người cầm dao không bị trở ngại, vì cầm dao tín là để chặt đứt cây nghi. Câu dưới nói: “Ý không có do dự, từ tín giải thoát đến giải thoát không có nghi, tức chuyển biến từ căn chậm lụt, thành căn nhạy bén. Do nghĩa nầy, nên gọi Tín giải thoát là bậc nhất”.
LUẬN PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Mất tên người dịch bản chữ Hán. Dựa theo sự sao chép đời Hậu Hán
QUYỂN 5
Sở dĩ Đức Phật khen Tỳ-kheo Nan-đà đoan nghiêm bậc nhất, là vì các Tỳ-kheo mỗi vị đều có các tướng tốt: Thân tử có bảy, Mục-liên có năm, A-nan có hai mươi, riêng Nan-đà có ba mươi tướng. Nan-đà sắc vàng ròng, A-nan sắc bạc, y phục bóng sáng, lấp lánh hào quang, giầy dép có viền chỉ tơ vàng, bưng bát lưu ly vào thành khất thực, ai thấy được đều cảm thấy vui vẻ-hớn hở, tự bỏ Như Lai, các đệ tử khác đều không thể theo kịp, nên được Phật khen là đoan nghiêm bậc nhất.
Cũng nên nói thêm, Nan-đà có các căn tĩnh lặng. Khi Đức Phật đem các đệ tử tới tinh xá Nại Nữ ở thành Tỳ-xá-ly, lúc ấy Nan-đà đang kinh hành ở bên ngoài, Nại Nữ nghe Đức Phật đến, hết sức mừng vui, tình cảm rộn lên trong lòng, muốn thiết lập sự cúng dường, liền đi thỉnh Phật. Trông ra bên ngoài, thấy Nan-đà đang kinh hành, vì sự yêu kính sâu đậm, nàng tiếp xúc chân Nan-đà làm lễ, dùng tay sờ nhẹ lên bàn chân. Mặc dù nhìn thấy dáng dấp xinh đẹp của Nại Nữ, nhưng Nan-đà vẫn không có tưởng tình, hình hình cảm nhau, bèn xuất bất tịnh, vị cam lộ thấm nhuần thân; mà nơi thân thì đầy tràn, tức tràn bất tịnh, há lại do tâm sao! Nại Nữ không thấu hiểu nghi là có tưởng dục.
Phật biết ý Nan-đà, bèn nói với Nại Nữ:
- “Cô chớ sinh lòng ngờ vực. Nan-đà sau bảy ngày, sẽ chứng được La-hán. Theo đấy mà nói nên biết tâm của Nan-đà không biến đổi”.
Sở dĩ Phật gọi Tỳ-kheo Bà Đà là người hiểu được tâm nghi ngại của người khác, là vì chư Phật ba đời đều dùng tám vạn bốn ngàn thứ làm pháp hạnh. Chúng sinh được đạo, bất tất phải dùng các hạnh đầy khắp. Mọi hạnh đều tùy thuộc vào chỗ mà mình đã giác ngộ, dùng làm tông chỉ.
Kết sử của chúng sinh không đồng là sao?
Vì lẽ bệnh thì có nhiều ít, vết bẩn thì có dày-mỏng. Thế nên Như Lai dựng nên nhiều giáo pháp. Hoặc có một thứ thuốc chữa trị được nhiều chứng bệnh. Hoặc có nhiều thứ thuốc chỉ chữa trị một chứng bệnh, cũng như sáu độ hợp lại với nhau, một hạnh làm chủ, mọi hạnh phải theo. Một hạnh nghĩA-là không chuyên một nơi mà thường gọi là tùy vào bệnh khởi, đối với thuốc nào thích ứng. Nếu khởi chấp thường thì dùng vô thường để đối trị. Nếu khởi chấp có tâm thì dùng tâm không để đối trị. Đang nhận lãnh hành vô thường, thì vạn hành đều vô thường. Cũng như thí cho để tạo nên tám vạn thì tám vạn đều là thí cho, đó gọi là nói đơn giản. Cũng như trong tám âm của Như Lai, tâm gồm thâu cả tám tiếng vang, một tiếng vang lại tiếp nối cả trăm giáo pháp; một giáo pháp nối tiếp cả trăm nghĩa. Mỗi một tướng lại tiếp nối đến cả ngàn, vạn ức, một âm đáp trả vạn ức. Sự biến đổi của việc thí cho kiA-là như thế. Nói tóm lại, sự nối tiếp không dứt về hành, thì dụ kia cũng như thế. Tỳ-kheo nầy vì chuyên dùng cách nói giản đơn làm chủ, nên gọi là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Tư-ni có khả năng thuyết pháp rộng, là vì Tỳ- kheo ấy đã ở trong địa vị phàm phu ba chục năm, vì hết thảy mọi người rộng nói các pháp, phân biệt các nghĩa-lý.
Rộng nói là sao?
Đáp: “Hoặc nhân một hạnh mà nuôi lớn nhiều hạnh. Chi nhánh đầy dẫy, nhiều đến vô số, cũng như bệnh có cùng nhân sinh ra, do đấy mà lập thành toa thuốc. Tỳ-kheo nầy chuyên dùng cách phê phán làm chủ, không lo dứt trừ lậu làm ưu tiên, do đấy phải kinh qua ba mươi năm, mới nhận lấy sự chứng đạo, lặng lẽ, quên lời, chỉ còn để lại vết chân trước kia, ghi chép gốc tích cũ, nên gọi rộng nói là bậc nhất”.
Sở dĩ gọi Thiên-Tu-bồ-đề đắp y tốt lành bậc nhất, là vì có hai Tu- bồ-đề trong năm trăm đệ tử của Phật: Một vị thuộc dòng vương giả; một vị thuộc dòng Trưởng giả. Thiên Tu-bồ-đề vốn sinh từ dòng Vương giả. Sở dĩ nói Thiên, ấy là vì trong năm trăm đời, thường sinh trên cõi trời Hóa ứng thanh, xuống dưới trần thì sinh nơi nhà Vương giả, nhận phước tự nhiên chưa từng thiếu thốn. Khi Đức Phật trở lại bản quốc, vua Chân Tịnh đã khuyên năm trăm người thuộc họ Thích xuất gia học đạo, theo hầu Đức Thế Tôn. Tỳ-kheo nầy là mẫu mực trong đợt xuất gia đó. Bấy giờ, Đức Phật răn dạy các Tỳ-kheo:
- “Luận về người vì đạo, đều phải buộc giữ thân tâm, bảo vệ và tiết chế, y thô, cơm hẩm, dùng nệm cỏ làm giường, lấy đại, tiểu tiện làm
thuốc.” Tỳ-kheo nầy nghe Đức Phật răn dạy như vậy; tâm tự suy nghĩ: “Ta sinh vào chốn cao sang hào quý, cơm áo tự nhiên có, cung điện thì nguy nga, nhà cửa chỗ nào cũng có chạm trổ, giường bằng vàng-bạc, đồ đựng thức ăn toàn bằng bảy báu, thân mặc toàn kim tuyến dệt thành vải, đủ thứ dép mỏng, giày đẹp, như thế, cũng không cùng tận ý của ta, sao lại phải mặc y phục năm nạp? Rồi ta cũng sẽ trở lại nhà, ở đó mới hợp với bản ý. Nghĩ như vậy xong, muốn trở lại”.
Bấy giờ, Đức Phật đang ngự tại tinh xá thuộc nước Xá-vệ, thọ thỉnh của vua Ba-tư-nặc. Tỳ-kheo nầy đi đến chỗ Phật, từ giã để trở lại nhà. Tôn giả A-nan nói: “Ông hãy thong thả ở lại một đêm!”.
Tu-bồ-đề nói:
- Nhà cửa, giường tòa chiếu ngồi của đạo nhân đâu có gì, làm sao có thể nghỉ ngơi? Xin đến nhà bạch y, nhờ tá túc một đêm, ngày mai sẽ trở về. Tôn giả A-nan nói:
- Chỉ cần ở lại, sẽ có ngay những gì ông cần.
Nói rồi Tôn giả A Nan liền đến chỗ vua, dùng đủ thứ tọa cụ- phướn- lọng- hương-hoa, cùng bốn chiếc đèn dầu, mỗi việc đều nghiêm túc, đầy đủ. Tỳ-kheo nầy nghỉ ngơi qua đêm ở đó, để cho vừa bản tâm, liền đạt được định, tư duy nơi bốn đế, cho đến đêm hôm sau, tức chứng được A- la-hán, liền bay thẳng lên hư không.
Tôn giả A-nan tâm niệm: “Nhóm Tỳ-kheo nầy đã bỏ phòng ốc ra đi, đồ vật mượn của vua, e có người đem theo, mình thử qua đó xem sao?” Vào phòng không thấy ai cả, ngước nhìn giữa khoảng không thấy Tỳ-kheo đang bay ở đó. A-nan bạch Phật:
- “Thiên Tu-bồ-đề đã chứng được A-la-hán, nay đang bay ở hư không”. Phật nói với A-nan:
- Luận về y có hai thứ: Có thứ có thể gần gũi, có thứ không thể gần
gũi.
Có thể gần gũi là sao?
Khi mặc y tốt, sẽ tạo lợi ích cho tâm đạo, đây là thứ có thể gần gũi.
Khi mặc y tốt, gây tổn hại tâm đạo, đây là thứ y không thể gần gũi. Thế nên, này A-nan! Hoặc từ y tốt được đạo, hoặc từ y xấu-rách-năm nạp mà đắc đạo, đối tượng giác ngộ là ở tâm, không câu nệ ở trang phục của hình tướng.
Do đấy, mà nói Thiên Tu-bồ-đề mặc y tốt là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Nan-đà-cA-là người truyền dạy bậc nhất, là vì vốn Tôn giả Xá-lợi-phất cũng truyền trao giáo pháp khắp cho bốn bộ đệ
tử, từ sáng đến trưa, chủ yếu là khiến cho một người đạt đến dấu ấn đạo. Còn Tỳ-kheo nầy, chuyên truyền trao, giáo hóa các Tỳ-kheo, sao cho họ đạt được A-la-hán. Ví như người bắn tên giỏi, chỉ bắn một phát, mũi tên đâm vào giặc, tức trúng chỗ hiểm yếu, khiến cho giặc không thể đứng dậy, dụ cho Tỳ-kheo này khuyên dạy giỏi, chủ yếu là tuệ, người nghe giáo huấn, kết sử được trừ, thẳng đến Vô vi. Người bắn không giỏi, dù dùng nhiều mũi tên, chỉ trúng một phát, dụ cho Thân tử, diễn nói rộng về tuệ, sau cùng thành một thềm bậc khác, phân rõ hơn, kém, nhưng lại thấy dễ dàng!
Vì thế, nên nói truyền trao cho hậu học, là bậc nhất.
Tỳ-kheo Tu-ma-na sở dĩ khéo dẫn dạy Tỳ-kheo Tăng Ni, là vì Tỳ- kheo nầy thường dùng lời nói khổ sở tha thiết nhằm dẫn dạy các Tăng Ni.
Luận về người nữ, đa số đều có những thái độ, dáng dấp ủy mị, thêu dệt, trang sức như trò ảo thuật, làm mê hoặc người đời. Thân hình đầy cấu uế với chín lỗ bất tịnh, ba mươi sáu thứ trên người không thứ nào đáng tham. Sở dĩ gọi Tu-ma-na (là tên của hoa); vì lúc Tỳ-kheo nầy vừa sinh ra, trên tai tự nhiên đã có hoa ấy rồi, liền dùng hoa làm tên gọi.
Bấy giờ, vua Tần-Bà-sa-la đến chỗ Phật, thấy trên tai Tỳ-kheo nầy có hoa, lấy làm ngạc nhiên, hỏi Phật:
- Pháp Tỳ-kheo được đeo hoa ư ? Phật bảo vua:
- Nhà vua hãy vứt bỏ đi!
Nhà vua tức thì dùng tay nắm lấy hoa bỏ đi, nhưng liên tục hoa vẫn sinh như cũ. Cứ thế, không dừng lại, trở thành đống hoa. Nhà vua càng vô cùng ngạc nhiên, hỏi Phật về lý do của sự việc. Phật nói:
Xưa, vào thời kỳ Như Lai Tỳ-bà-thi ra đời, Tỳ-kheo nầy làm con của vị Trưởng giả. Lễ hội trong năm được tổ chức, trưởng giả đánh đàn cầm, cùng nhau xướng ca-vui đùa, xong lại đến chỗ Phật, Trưởng giả nầy nhìn thấy Phật, lòng rất vui mừng, liền dùng hoa nơi tai mình đeo lên tai Phật. Đức Phật bèn dùng thần túc, hóa ra hoa nầy, ở trong hư không, biến thành đài có bốn cột, khi đóa hoa trên tai vẫn y như cũ.
Trưởng giả trông thấy Phật biến hóa, liền phát thệ nguyện: “Nguyện trong đời vị lai, đời đời cho con được gặp Phật thân tướng được đoan nghiêm, trên tai nảy sinh hoa”. Do nguyện của phước đời xưa, nay được báo của nguyện đó. Vua nghe Phật nói, tâm được khai mở, liền đảnh lễ sát chân Phật, lui ra và trở lại cung”.
Sở dĩ khéo dẫn dạy Tỳ-kheo ni, vì Tỳ-kheo ni v.v.., vốn là những người có nhiều tình cảm, trông thấy Tỳ-kheo nầy đoan nghiêm, trên tai lại luôn có hoa, nên tâm ý vui thích quý mến nhờ vào tình cảm nầy mà dẫn dạy bằng những lời khẩn thiết. Do những lời thống khổ nầy mà những vướng mắc về ái dục, liền được cởi mở.
Thế nên nói khéo dẫn dạy giới cấm cho Tỳ-kheo ni Tăng, là bậc nhất.
Sở dĩ gọi phước đức của Tỳ-kheo Thi-bà-la là bậc nhất; vì lúc Thi- bà-la mới sinh, tay cầm ngọc Ma-ni vô giá thả rơi xuống đất, liền nói: Thế gian có bảy báu như vàng, bạc v.v.., có thể đem bố thí chăng? Nay ta muốn bố thí lớn! Nói lời nầy xong, cha mẹ và cả nhà đều kinh sợ, vứt bỏ mọi thứ mà chạy, miệng kêu là quỷ la- sát, hoặc cho là thiên thần!
Luận về con trẻ mới sinh, chủ yếu cần đầy đủ ngày tháng, thì mới nói được. Nay vừa rơi xuống đất mà lại nói ngay, đúng là rất đáng kinh ngạc.
Tình mẹ thì không như thế. Bà trở lại xem kỹ. Đứa con làm dấu hiệu, nói với mẹ: “Mẹ đừng sợ! Vì con không phải là quỷ, con chính là con của mẹ.”
Cha của Thi-bà-la là Nguyệt Quang nói:
“Nay cha sẽ bồng con đến chỗ Ni-kiền-tử để hỏi xem, cha mẹ sinh con là lành hay dữ?” Tức thì cùng với vợ, ông bồng con đến chỗ Ni-kiền Tử, đem tình huống kia bạch với sư. Sư nói:
- Đứa trẻ nầy không có phước, về sau nó sẽ gây nên tai họa! Trưởng giả nói:
- Trong tay đứa trẻ này lúc mới sinh có ngọc báu Ma-ni, vì lẽ gì ông nói là không có phước?
Ni-kiền bảo:
- Đến năm trẻ lên tám tuổi, bấy giờ của báu nhà ông có bao nhiêu đều sẽ hết sạch. Sẽ do chính bàn tay của đứa trẻ nầy làm cho tiêu tan, do đó cả nhà sẽ chết đói.
Trưởng giả quá sợ hãi, nhưng cũng nghi hoặc. Nghe trên đời có bậc đại Sa-môn, có thể biết việc lành, dữ, ta sẽ đến chỗ ấy để hỏi xem việc nầy hư thực thế nào? Tức thì đi đến chỗ đức Thế Tôn, nửa đường lại nghĩ:
- “Đại Sa-môn là dòng Vương giả, sinh ra lớn lên ở cung sâu, lại không học vấn. Bà-la-môn v.v.., có học rộng dù là chút ít, nhưng cũng không thể biết lành, dữ thì Sa-môn lẽ nào có thể biết chăng?” Liền
muốn trở lại nhà. Bỗng nhiên có vị trời ở hư không bảo Trưởng giả:
- Chỉ nên tiến tới trước, sao lại quay về?. Như Lai Đại Thánh không có gì là không thấu đạt. Ông cứ qua đó, tất sẽ quyết đoán hoài nghi, là phải hay là quấy. Hãy nhanh chóng đi đến đó!
Trưởng giả tức thì đến trước chỗ Phật, lễ bái, hỏi han xong, liền thưa:
- Theo như lời Ni-kiền-tử đã nói, không rõ là lành, dữ thế nào. Phật bảo Trưởng giả:
Lành đều là lợi, mới sinh được đứa con phước đức ấy. Đứa trẻ nầy, đến năm hai mươi tuổi, sẽ xuất gia vì đạo, thường xuyên có năm trăm đồng tử là bạn, đều cùng đạt quả A-la-hán, và sẽ trở lại độ cho cha mẹ!.
Nghe Đức Phật nói rõ xong, Trưởng giả cảm thấy hoan hỷ, phấn khởi, không thể tự kìm chế, liền trở về nhà, sắm sửa thức ăn thịnh soạn, thỉnh Phật đến cúng dường nguyện Đức Thế Tôn ban cho đứa trẻ nầy tên gọi. Phật bảo Trưởng giả:
- Chính vì muốn mang tên là trời, thì người không hiểu. Chính vì muốn mang tên Hiền, Thánh thì hàng phàm phu không hiểu.
Thời Phật Ca-diếp gọi quỷ là Thi-bà-la. Nay đúng là nên đặt tên Thi-bà-la. Thi-bà-la nghĩA-là khai thông âm thanh, ngôn ngữ của quỷ thần. Thế nên, đặt tên là Thi-bà-la.
Khi Tôn giả A-nan sắp bát Niết-bàn, có độ hai đệ tử: 1- Tên là Ma-thiền-đề.
2- Tên là Ma-thân-đề-lợi.
Ma-thân-đề-lợi, nghĩa là vua đất. Nếu không làm đạo nhân, thì sẽ làm vua cõi Diêm-phù-đề này và ba cõi thiên hạ, nên gọi Ma-thân-đề- lợi. Tôn giả A-nan bảo đệ tử nầy:
- “Ông hãy đến nước Sư Tử để chấn hưng Phật pháp. Người nước ấy cùng ở chung với La-sát, chủ yếu là cần văn tự để sau đó giao tiếp. Chợ giao dịch có sáu mươi thứ sách, trong số đó có sách quỷ gọi là A- phù, sách người đọc gọi là A-la. Ma-thân-đề-lợi vâng mệnh, đến nước Sư Tử kia, nhằm hoằng dương Phật pháp”.
Từ dấu ấn của giáo pháp nầy, ngày nay vẫn còn. Thi-bà-la là khai thông quỷ thần, vụ việc kia cũng như thế, nên gọi là Thi-bà-la.
Sở dĩ gọi Thi-bà-la có phước đức là vì lúc mới sinh, trong hai tay, tự nhiên có ngọc báu Ma-ni xuất hiện. Đó là vào thời Như Lai Tỳ-bà-thi xa xưa, Tỳ-kheo nầy làm khách buôn, vào biển tìm châu báu, phải trải
qua năm tai nạn nguy hiểm mới đến được chỗ đảo báu. Được một châu báu, trở lại dâng lên cho đức Phật giữ và nguyện nơi mình sinh ra cũng sẽ được quả báo tự nhiên. Do nhân duyên nầy mà khi sinh liền có điều kỳ lạ. Lúc mới sinh, tự nhiên có viên ngọc báu được đeo vào tai mà sinh trị giá hai mươi ức. Người cha triệu tập những người buôn lại, để hỏi giá trị của viên ngọc báu kia. Các người buôn cân nhắc nói: “Trị giá hai mươi ức.
Viên ngọc báu trong tay Thi-bà-la, không có hạn lượng, nên kể như là vô giá, kỳ thật báu ấy đã được thấm nhuần qua bảy đời, trong bảy đời đó không có nơi nào thiếu, khát, nên gọi là phước đức bậc nhất.
Đến năm hai mươi tuổi, xuất gia học đạo, tới chỗ đức Thế Tôn, Phật
bảo:
- “Thiện lai, tức thành Sa-môn, tư duy về bốn đế, liền chứng được
La-hán. Lúc ấy, có năm trăm đồng tử, cũng xuất gia vì đạo, thường theo hầu Thi-bà-la. Thi-bà-la cung cấp áo cơm cho năm trăm người nầy, y phục chỗ ở đều thích hợp, được cúng dường không thiếu, khắp chung quanh cũng đều cúng dường, cho đến tận thành La-duyệt Kỳ. Ở phía Nam thành ấy có ngọn núi lớn; trong núi có các thứ trùng độc-hổ- sói- La-sát rất nhiều. Thi-bà-la liền tự tâm niệm: “Muốn ẩn náu trong núi một thời gian”.
Bấy giờ, Thiên Đế Thích, biết ý niệm của Thi-bà-la, tức thì tạo dựng năm trăm phòng và tăng- già- lam ở trong núi đó, với đầy đủ mọi thứ cúng dường.
Trải qua một mùa ngồi Hạ đã xong, Thi-bà-la tâm niệm: “Xa cách không theo hầu đức Thế Tôn đã lâu, nên trở lại đảnh lễ hầu cận ngài. Khi đó trời rất nóng bức, có ý nghĩ muốn được mát mẻ, Thiên Đế biết ý Thi-bà-la, liền hạ thấp mây, mưa một ít nước, nghĩ đó là nước uống, tức thành cam lộ rơi xuống. Ý nghĩ về điều mình muốn, ưng ý là liền có được, nên gọi là phước đức bậc nhất”.
Thi-bà-la có người chú, thờ Phạm chí ngoại đạo, là người vốn keo kiệt, không ưa bố thí. Lúc ấy, có bạn thân khuyên chú ông hãy tạo nên tiền của cho đời sau, ông ta liền thỉnh vài ngàn Phạm chí, thí cho trăm ngàn lượng vàng. Thi-bà-la nghĩ: “Chú keo kiệt, tham lam, sống không tạo dựng phước, giả sử có làm tuệ thí mà không gặp được ruộng tốt, nếu ta không độ thì vĩnh viễn ông sẽ bị vứt bỏ” nên liền đi qua nhà chú, bưng bát khất thực. Người chú nói:
- Sao cháu đến muộn vậy! Ngày hôm qua, ta đã bố thí rất lớn, nếu
hôm qua cháu đến, thì có thể được Tăng kiệt chi.
Nói: “Cháu tự có Tăng kiệt chi” Đã không cần thì cháu đến đây làm gì?
Thi-bà-la đáp:
- Cháu muốn khất thực! Bấy giờ, người chú không cho. Thi-bà-la liền hiện thân trong hư không, tạo nên mười tám thứ biến hóa: Thân xuất hiện trên nước, lửa…
Trưởng giả tâm niệm:
- Đây tất nhiên là sự giận dữ, có thể đốt cháy nhà ta, liền gọi nên hạ xuống, mời ngồi nơi tòa. Thi-bà-la ngồi, nói:
- Tôi muốn được ăn.
Người chú bèn cho thức ăn dở, thiu hôi. Thi-bà-la liền tiếp nhận, chú nguyện mà ăn. Thức ăn vào trong bát, được chiêu cảm do phước, đức, nên biến thành cam lộ. Có vị trời ở trên hư không khen:
- “Lành thay, Trưởng giả! Đấy mới là thí vĩ đại, là thí phước đức.
Không gì có thể vượt qua”.
Trưởng giả tâm niệm: “Trước đây ta đã thí cho Phạm chí trăm ngàn lượng vàng, mà không khen ta. Nay chỉ thí cho một ít thức ăn dở, lại khen là thiện, như vậy không là nói dối sao?”
Trời lại bảo: Của bố thí dù ít, nhưng đó là ruộng phước tốt, nên nói là thí vĩ đại.
Trưởng giả lại nghĩ: “Trời tất nhiên là chân thật, lại đến hai lần bảo
kheo nầy có đức hạnh đầy đủ ở bên trong, hình dung đoan nghiêm ở bên ngoài. Ngoài-trong tương ưng nên chỗ thích hợp đều hài hòa.
Nan-đà ba mươi tướng, A-nan hai mươi tướng. Tướng biểu hiện dù nhiều, nhưng đối với oai nghi của Sa-môn, không thể cho là đầy đủ. Tướng của Tỳ-kheo nầy dù chỉ có mười một, nhưng về lễ nghi, thì luôn đầy đủ. Do đầy đủ nên tạo được sự thích hợp, đến đâu cũng tương ưng đúng lẽ, lớn nhỏ trông thấy không ai là không vui thích. Gọi là bên trong đầy đủ, như là bốn đế, như là tám chánh chân diệu, là chốn linh thật sự luôn đầy, chưa từng bị hư hao, nên gọi đầy đủ pháp phẩm đạo của các hạnh là đệ nhất.
Sở dĩ gọi chỗ giảng nói của Tỳ-kheo Bà Đà Tiên là rất hòa vui, không làm thương tổn ý người bởi vì Tỳ-kheo nầy thường thận trọng nơi miệng, không phạm bốn lỗi. Luận về kẻ sĩ xử thế, chiếc búa ở tai miệng mình sở dĩ chém thân là do lời nói ác.
Tỳ-kheo nầy, đối với các lời nói hung ác đều vĩnh viễn dứt trừ; thường xuyên lựa chọn lời, nói năng từ tốn, suy nghĩ trước sau, mới phát lộ thành câu, hợp với ý, tất nhiên sẽ khiến người nghe hoan hỷ. Nếu đối với hàng trưởng lão, trung niên hoặc tuổi trẻ, thì tùy theo đối tượng họ ưa thích, để có thể làm cho hài lòng.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo này hay khéo nói năng là vì: Có Tỳ-kheo đã chứng được La-hán, lậu tận nhưng vẫn còn có lỗi lầm của miệng. Như trường hợp Tỳ-kheo, nhân đi qua sông, nước sông cứ sâu dần, bèn phát ra lời nói xấu ác: “Giống vật nô tỳ dâm xấu xa!”. Bấy giờ, thần sông là nữ nghe lời nói ác ấy, tâm nghĩ: “Vị Tỳ-kheo nầy vừa thốt ra lời xấu ác như thế, chính là muốn đẩy ta ở mãi trong nước”. Đó là do Tỳ-kheo tạo ra. Phải đi hỏi Phật. Thần sông liền đi hỏi Phật:
- Có Tỳ-kheo qua sông, nước hơi sâu, lại mắng nhiếc: “Đồ giống nô tỳ dâm xấu xa”. Pháp của Tỳ-kheo có nên mắng nhiếc không?
Đức Phật liền sai một Tỳ-kheo gọi Tỳ-kheo mắng nhiếc kia đến.
Phật bảo Tỳ-kheo ấy:
- Ông là Sa-môn, vì lẽ gì mắng nhiếc sông nước? Tỳ-kheo đáp:
- Đệ tử không mắng, chỉ nói thẳng là giống dâm nô mà thôi. Nữ thần sông nói:
- Xem ra Tỳ-kheo nầy lại mắng nhiếc nữa! Xin Đức Thế Tôn thuyết giảng về gốc ngọn ấy. La-hán nên có sự giận dữ tồn tại như vậy chăng? Vì lẽ gì lại mắng? Phật nói:
- La-hán không còn giận dữ; nói ngay như thế là vì quen miệng mà
thôi! Tỳ-kheo này từng là Bà-la-môn. Pháp của Bà-la-môn khi vui mừng hay mắng nhiếc, nói: “Tôi tớ trong thai” không hẳn là họ giận mà mắng. Lời nói thẳng là do tự quen miệng! Hơn nữa, năm trăm đời về trước, lúc Tỳ-kheo nầy là chồng của ngươi, thường hay mắng ngươi là nô tỳ, vì do thức của đời trước không loại trừ, nên lại mắng!
Nữ thần sông nói:
- Dù là A-la-hán, vẫn còn có lỗi của miệng. Con không cầu đạt A- la-hán. Con nguyện về sau sẽ cầu đạo chánh chân vô thượng, độ thoát cho tất cả, như Phật không khác!
Phật nói với Tỳ-kheo:
- Ông hãy hướng về người nữ này xin sám hối! Tỳ-kheo liền sám hối. Người nữ nầy cũng nên hướng về Tỳ-kheo kia xin sám hối! Làm lễ xong, cả hai đều từ biệt ra đi.
Mặc dù là lậu tận, cũng còn có lời nói thô, huống chi là đối với hàng phàm phu mà không thận trọng lời nói!
Do nhân duyên ấy nên biết Tỳ-kheo là người gìn giữ miệng bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ma-ha-ca-diên-na thực hành quán sổ tức là bậc nhất, vì trong một ngàn hai trăm vị đệ tử, chỉ có Tỳ-kheo nầy và La-vân là có khả năng thật hành quán sổ tức bậc nhất.
Lấy gì để biết được?
Xưa, La-vân theo Phật tu hành. Đức Phật dùng phương tiện thiện xảo, dôi gót chân xuống đất khiến cho La-vân thấy. La-vân thấy rồi, liền suy nghĩ:
- “Ông lão nầy luôn giữ lấy hình dạng như vậy. Từ bỏ ngôi vị Chuyển Luân Vương, mãi theo con đường hành khất ư ? Vì sao không thấy xấu hổ? Ta không thể nào lại làm kẻ hành khất, chắc phải trở về thôi! Vì tổ phụ ta là vua Chân Tịnh hiện đang tại vị, ta đâu thể tạo ra sự cực khổ nầy làm gì?” Đức Phật biết rõ những nghĩ ngợi trong tâm La- vân bảo La-vân:
- Con biết không? Trời đất hãy còn vô thường, huống chi là ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương của con, lẽ nào có thể dừng lại lâu? Nên hiểu rõ về chẳng phải thường, có hình đều là khổ, thân chẳng có ngã, đều sẽ bị hoại diệt, không hề trụ lâu.
La-vân tư duy về bốn thứ vô thường, ý cũng chưa tỏ ngộ. Phật dạy phải thật hành pháp An-ban thủ ý (Quán Sổ tức), để bảo vệ ý. An ban nghĩA-là hơi thở ra vào. Hơi thở dài cũng biết, hơi thở ngắn cũng biết.
Hơi thở ngắn nghĩa là từ tim trở lại. Hơi thở dài nghĩA-là từ giữa gót chân trở lại. Lại biết lạnh, ấm: hơi thở vào là lạnh, hơi thở ra là ấm.
Sở dĩ cần biết dài-ngắn-lạnh-ấm là vì muốn phân biệt chỗ hướng đến của năm ấm là sâu hay cạn, tìm tòi gốc ngọn của hơi thở ra vào để biết nguyên do bệnh. Hoặc khi thở vào, không biết hơi thở từ đâu tới? Hoặc khi thở ra, không biết hơi thở đó sẽ đi đến chỗ nào? Hiểu rõ không có đến đi, bệnh cũng lại như thế.
Suy nghĩ như thế, bèn chứng được La-hán.
Ma-ha-ca-diên-na thực hành pháp quán sổ tức không giống như La- vân. Ông luôn tự tại về hơi thở, nếu muốn hơi thở xuất phát từ mắt, từ tai, đều tùy ý ra vào. Nếu nhắm mắt- bịt tai- mũi- miệng, thì hơi thở sẽ từ chín mươi vạn lỗ chân lông mà ra. Làm sao biết được từ các lỗ chân lông mà ra?
Vị Tỳ-kheo nầy vốn là dòng dõi vua, có hai anh em. Người em đoan nghiêm, đẹp đẽ. Bấy giờ, vua cha băng hà, người anh lập tức lên nối ngôi vua. Người em tự cho mình là hơn anh, ngầm mong được mọi người suy tôn, nhưng pháp của nước, không được vượt qua thứ bậc, liền đưa người anh lên làm vua. Người em tâm không phục, không chịu xưng quan, tự tìm cách ra nước ngoài, vua liền cho đi. Người em cầu xin quân binh, vua vui vẻ ban cho. Người em liền tuyển chọn tám vạn thớt voi, trang bị kiếm-áo giáp, chuẩn bị chu đáo xong, suy nghĩ: “Nước nào tốt hơn hết, ta muốn đánh chiếm?» Nước Tỳ-xá-ly vượt trội hơn các nước khác, ta nên qua đó đánh lấy, cho là dụng ý của riêng mình, lập tức dẫn binh hướng đến. Đang đi được nửa đường, có năm trăm khách buôn vốn đi tìm của báu trở về, muốn đến nước Ma-kiệt-đà, gặp nhau người em hỏi khách buôn: “Người trong thiên hạ, hình dung- dáng dấp có ai hơn ta không?” Khách buôn liền cười. Hỏi:
- Vì sao cười?
Đáp:
- Tôi chỉ tự cười! Lại hỏi:
- Cười, chủ yếu phải có dụng ý, vì sao không nói? Đáp: - Nếu không giận thì tôi sẽ nói rõ lý do.
- Ông cứ nói đi, ta quyết không giận ông đâu! Khách buôn nói:
- Tôi nghe nói có vương tử của vua Bạch Tịnh, danh hiệu Tất- đạt, thân cao lớn một trượng sáu, toàn sắc vàng ròng, có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.
Sau khi nghe khách buôn nói, Ca-chiên-diên-na trong lòng lo sợ,
nếu Tất-đạt biết ta đến, tất sẽ điều động quân đội chống trả, nên tức khắc cho dừng quân lại giữa đường, không dám tiến tới trước.
Bấy giờ, người nước Tỳ-xá-ly nghe nói Ca-chiên-diên-na khởi quân sắp kéo đến đánh, tự mình không thể làm gì được, vội đi hỏi Phật:
- Cầu tai ương được tiêu trừ phải như thế nào? Phật nói:
- Không có khổ. Ta sẽ tự hóa giải tai ương ấy.
Ngay đêm hôm đó, Đức Thế Tôn đến chỗ Ca-chiên-diên-na, hiện biến hóa và ngồi kết già giữa hư không, ánh sáng như núi vàng, tỏa chiếu khắp đại chúng.
Ca-chiên-diên-na ngẩng đầu lên nhìn, hỏi:
- Ngươi là người nào?.
Đáp: “Ta-là người mà khách buôn đã nói”. Ca-chiên-diên-na liền bảo:
- Khách buôn! Ông đã lừa dối ta! Vừa rồi ông không nói là họ có thể bay cao nhưng hiện nay họ đang bay. Trong lòng hoảng sợ sẽ bị Tất- đạt hại, nên vòng tay lại hỏi:
- Không rõ việc gì mà đến đây, xin được chỉ dạy? Đức Thế Tôn đáp:
- Chớ ôm lòng sợ sệt! Ta không hại ông. Ta tên là Phật, cứu độ tất cả, ta có pháp cam lộ vi diệu, ông muốn nghe không?
Đáp: Xin được nghe!
Đức Phật quán sát căn của Ca-chiên-diên-na, sẽ thích hợp từ pháp quán sổ tức mà được độ, liền vì ông ta giảng nói về việc giữ gìn hơi thở ra- vào, biết hơi thở dài- ngắn và biết lạnh- ấm.
Nghe Phật nói, tâm Ca-chiên-diên-na tức thì tỏ ngộ, được đạo Tu- đà-hoàn liền từ bỏ chúng quân, cầu làm người xuất gia. Phật liền tiếp nhận, nói:
- Thiện lai Tỳ-kheo! Ấy là thành Sa-môn.
Suy nghĩ về hơi thở ra vào, phân biệt bốn đại, với ba mươi sáu vật ác hiện rõ, đầy dẫy bất tịnh, liền đạt đến chỗ tốt đẹp, chứng đắc quả Vô- lậu, nên gọi hành quán sổ tức là bậc nhất trong các Tỳ-kheo.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn cho ngã vô thường là bậc nhất, vì hạnh nơi kiếp trước của Tỳ-kheo nầy là cung kính. Nếu thấy trưởng lão- thầy- cha, thì phụng sự thờ kính. Nếu thấy người trung niên thì kính trọng như anh. Người nhỏ hơn mình thì thương như em. Vì khiêm tốn, cung kính cùng cực, nên tiếp nhận quả báo thân tướng đẹp đẽ, to lớn,
được làm Tỳ-kheo, hầu bên trái bên phải Phật. Dù có hình tướng cao lớn, nhưng thường không tự ỷ thị, luôn xem thân vô ngã, vô thường là chủ. Tuệ sáng hiểu thấu, tâm dứt mọi ưa phải trái nên hay bỏ hết các hình, trừ tan kiêu hãnh, lấy cử chỉ khiêm tốn làm đầu.
Do đâu biết được sự đẹp đẽ lớn lao của tướng hình?.
Sau khi thành đạo, Đức Phật độ ba anh em Ca-diếp, có ngàn Tỳ- kheo. Du hóa đến nước Ma-kiệt, độ vua Bình sa. Khi sắp trở lại bản quốc, trước hết sai Ưu-đà-di báo cho vua Chân Tịnh biết, bảy ngày sau sẽ đến nhập hóa.
Bấy giờ, vua Chân Tịnh nghe tin nầy, khấp khởi vui mừng khôn xiết, liền ra lệnh trang hoàng nhà cửa, xe cộ, tu sửa đường sá sao cho bằng phẳng, quét dọn sạch sẽ, rưới nước, đốt hương, để tiếp đón Như Lai. Như Lai dẫn một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo đi đến nước Thích sí. Như Lai tâm niệm: “Phụ vương, tất phải đến đón rước, không thể vì sự tôn trọng mà để phụ vương phải cúi lễ. Phật bèn hiện thần túc, bay lên hư không mà đi, ngang bằng với đầu người, muốn cho tay của vua cha tiếp xúc với chân Như Lai mà thôi. Vì sao? Vì Đức Phật dù là bậc tôn đức nhưng không muốn để cho cha mẹ phải cúi lạy mình”.
Lúc ấy, Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn ở bên phải Như Lai, lực sĩ Mật Tích ở bên trái Như Lai. Thân Như Lai đứng thẳng đến vai Tỳ-kheo nầy. Vua hỏi:
- Những ai đứng bên trái, bên phải Phật mà cao lớn như vậy?
Đáp: - Đứng bên phải Phật là Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn; còn người đứng hầu bên trái Phật, là lực sĩ Kim Cang thuộc quỷ Duyệt xoa.
Lại hỏi:
- “Là những người của nước nào mà đẹp đẽ khác lạ như thế?”. Đáp: - “Là người thuộc nước Ma-kiệt”.
Lại hỏi:
- Là thân thần túc hay là thân di thể? Đáp:
- “Là thân di thể của cha- mẹ, không phải là thân thần túc.
Người trong họ Thích cảm nghĩ: “Đức thần của Như Lai là không thể nghĩ bàn, mới khiến cho người cao lớn cùng quỷ ác La-sát đứng hầu ở bên trái- phải Phật. Do nhân duyên nầy, nên biết được thân Tỳ-kheo ấy là dài- ngắn cao thấp”.
Tỳ-kheo ấy đứng hầu bên trái- phải Phật, luôn muốn che mờ Như Lai. Chư thiên, người đời cho đấy là điều không hay:
Như Lai có hai thứ thân: 1- Pháp thân.
2- Nhục thân.
Tỳ-kheo nầy chỉ yêu nhục thân có sắc vàng ròng, không yêu thích pháp thân Vô-lậu. Pháp sẽ được phó chúc cho đệ tử thân cận. Nên để lại pháp thân vì sợ nơi đời vị lai sẽ thiếu.
Do hai việc trên, nên Như Lai phân ra, để Tỳ-kheo nầy theo kịp Tôn giả A-nan.
Sở dĩ gọi Câu-ma-la-ca-diếp có thể biện luận đủ loại, là vì Tỳ-kheo nầy, thường xuyên vì mọi người diễn nói rộng rãi về bốn đế, đôi khi còn kiêm cả việc tán tụng, dẫn dụ để so sánh. Ví như nêu một đế, dùng một kệ để ca ngợi, dẫn dụ, cho đến bốn đế cũng đều như thế, nên gọi biện luận đủ loại là bậc nhất.
Câu Ma-la, nghĩa là đồng tử; Ca-diếp là họ, Câu ma-la Ca-diếp tức là con của đồng nữ.
Vì sao biết như thế?
Xưa, có Trưởng giả tên là Thiện Thí, cuộc sống giàu có vô lượng. Nhà có cô con gái chưa hề ra khỏi cổng, ở nhà trông vào lửa, hơi ấm xông vào thân, bèn có mang. Cha mẹ kinh ngạc, lấy làm lạ, gạn hỏi con gái mình do đâu có trình trạng ấy? Người con gái thật tình đáp:
- “Không biết vì lẽ gì như thế”. Cha mẹ lại gạn hỏi nữa, lần nầy thì dùng cả roi gậy, lời khai của cô gái vẫn không thay đổi. Cha mẹ đành đem vụ việc nầy tâu lên nhà vua. Nhà vua lại gạn hỏi, trách cứ, lời khai vẫn không khác. Vua buộc cô gái phải thừa nhận để khỏi lấy cái chết. Cô gái liền kêu oan:
“Thiên hạ sao lại có ông vua vô đạo, giết oan người vô tội”. Vua nói:
“Nếu ta không tốt thì ngươi tự bảo đảm cho sự thử nghiệm?” Nhận thấy việc oan uổng như thế, vua liền cho kiểm nghiệm một lần nữa, vẫn y như lời cô gái đã tâu, không thêm bớt gì khác. Vua liền nói với cha mẹ cô gái:
- Trẫm muốn cưới con gái. Cha mẹ thưa:
- Tùy ý đại vương nhưng dùng đứa con gái chết tiệt nầy để làm gì? Nhà vua liền hạ lịnh đưa cô gái vào cung, theo đó mà chăm sóc,
nuôi nấng.
Ngày tháng trôi qua, đã tới kỳ, cô gái sinh được một bé trai đẹp đẽ-
đoan nghiêm. Đến tuổi trưởng thành, xuất gia học đạo, thông tuệ- hiểu biết sâu rộng, tinh tấn không bao lâu được đạo La-hán, trở lại độ cha mẹ.
Bấy giờ, có quốc vương, hiệu là Ba- tiết, tin vào tà kiến sai lạc, không biết có đời này, đời sau, không biết làm việc thiện thì được phước, tạo điều ác phải chịu tai tương, cho rằng khi chết, thần diệt, không thọ sinh lại, không tin có Phật, không biết Niết-bàn, dùng lá sắt ràng bụng lại, sợ trí sẽ tràn ra, khoe mình là duy nhất không ai sánh bằng.
Lúc này, Đồng Ca-diếp vừa đến cửa vua. Vua thấy Ca-diếp mặc y phục lạ thường, bước đi dịu dàng, khoan thai, oai nghi tề chỉnh, liền cho bàn luận. Vua hỏi đạo nhân, đạo nhân nói:
- “Làm điều thiện sẽ có phước, tạo việc ác xấu sẽ chịu họa hại”.
Vua nói:
- Tông gia của ta có một người làm việc thiện đến thuần thục. Khi sắp chết, ta đã cùng với nhiều người, đi đến nói với người ấy: “Như điều ông đã làm, khi chết phải được sinh lên cõi trời. Nếu có người trên cõi trời đến thì trở lại nói cho ta hay. Từ khi chết đến nay, đã lâu, không thấy ai đến báo với ta, từ đó ta biết là làm điều thiện không có phước!”
Đạo nhân đáp với vua:
Luận về người trí, dùng thí dụ sẽ tự hiểu. Ví như có một người bị té ngã vào trong chuồng xí trăm ngăn. Có người kéo ra cho tắm gội sạch sẽ, mặc y phục đẹp, dùng hương xông khắp mình, ngồi trên giường cao. Có người lại nói với người nầy:
- Ông hãy đi trở lại vào chuồng xí! Người nầy có chịu vào không?
Vua nói:
- Không chịu. Đạo nhân nói:
- Người sinh lên cõi trời, ví dụ nầy cũng vậy. Trên trời thì năm dục, diệu lạc, tự ý vui thích, dùng cam lộ làm thức ăn, thức ăn tự tiêu hóa, không lo tiện lợi, thân thể sạch sẽ; hơi miệng thơm tho.
Nhìn xuống thế gian, cũng như ở chuồng heo. Giả sử muốn đến thế gian, nghe mùi hôi thoái lập tức cũng thoái lui. Do đấy, mới nói là không được báo trở lại là vậy! Với vài mươi điều thí dụ so sánh như thế, ý vua được mở rộng hiểu biết và tin tưởng về ba ngôi.
Do nhân duyên nầy, nên Đồng Ca- diếp được gọi là có khả năng biện luận đủ thứ vào bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Diện Vương, mặc y phục xấu-rách, không lấy
gì làm xấu hổ, có thể gọi là hành mười một hạnh đầu đà? Hoặc nói là: “Không phải”. Vậy vì lẽ gì cho là bậc nhất?
Tỳ-kheo mặc một thứ y, suốt đời không thay đổi. Vì lẽ gì biết được như thế?
Vị Tỳ-kheo nầy vốn là dòng họ Thích. Lúc mới sinh, có đức thần lạ. Khi mẹ bắt đầu mang thai, đã rước Phạm- chí đến, để đoán xem tướng mạo. Phạm-chí đoán:
- Trên đầu đứa trẻ nầy có tướng mão của trời.
Người mẹ nghe qua, rất hoan hỷ, giả vờ không vui, suy nghĩ:
- Luận về mão trời, nghĩa là tướng của vua. Trong một nước không thể có hai vua,e sẽ bị vua hại. Vì thế, nên không vui. Sở dĩ trong lòng mừng rỡ vì lẽ nếu thật sự là vua, thì tự nhiên sẽ có người bảo vệ, lo gì không cứu giúp.
Đủ ngày tháng, người mẹ sinh một đứa con trai, trên đầu có bóng chiếc mão. Lại mời Phạm- chí đặt tên cho. Phạm-chí nói: “Trên đầu đứa trẻ có tướng vua”. Lại không thể rời tướng nầy, nên phải gọi là Diện Vương, tức đặt tên là Diện Vương.
Vua Chân Tịnh nghe chuyện ấy nên lo sầu. Đứa trẻ nầy có tướng vương giả, về sau sẽ đọat lấy ngôi vị của ta. Vậy ta phải làm sao đây? Vua muốn giết nó ngay, nhưng vì sợ tội không dám giết. Đang muốn để nó ở lại, nhưng sợ sẽ cướp mất ngôi vua của mình. Vua càng lo lắng, áy náy không thể tự yên ổn.
Đức Phật sau khi trở lại nước, vua cha bèn ban lệnh cho các họ Thích: “Nếu nhà nào có hai anh em thì sẽ cho một người xuất gia vì đạo, theo hầu đức Thế Tôn! Đứa trẻ này chỉ là một, nên không thể khiến xuất gia theo năm trăm người. Vậy là vua phải ôm lòng buồn lo, héo hắt thêm!
Bấy giờ, Diện Vương lên mười tuổi, tâm tự suy nghĩ: “Giả sử được ngôi Chuyển Luân Thánh Vương, cũng lại vô thường. Hơn nữa, không bằng các người họ Thích xuất gia. Thân người khó đạt, Đức Phật ra đời, không dễ gì được gặp. Còn thơ ấu, được gặp Phật xuất thế, cần phải xuất gia.” Diện Vương liền thưa với mẹ mình.
- Con muốn xuất gia học đạo! Người mẹ nói:
- Ta chỉ có một mình con, bỏ ta, ta sẽ phải chết! Diện Vương liền thưa với vua Chân Tịnh:
- Tâu Vua! Con muốn xuất gia, vua có cho không?
Vua Chân Tịnh tỏ vẻ hoan hỷ nói:
- Rất nên như thế! Diện Vương thưa:
- Thân con chỉ có một, không biết phó thác mẹ cho ai, đấy là nỗi lo của con. Vua nói:
- Nếu con có thể xuất gia, ta sẽ xem mẹ của con như là chị, lấy phân nửa nước để chu cấp.
Diện Vương hoan hỷ, trở lại nhà bày tỏ mọi chuyện và thưa với mẹ xin xuất gia, mẹ liền chấp thuận.
Khi sắp xuất gia, Diện Vương mặc áo lông cừu trắng rộng, đến chỗ Thế Tôn muốn cầu đạo. Đức Thế Tôn nói:
- Thiện lai Tỳ-kheo! Tức thì trở thành Sa-môn.
Phật chế Tỳ-kheo có ba y, Tỳ-kheo Diện Vương nầy, trực tiếp nhuộm áo lông cừu trắng, để làm Cà- sa, chớ không dùng y nào khác. Diện Vương bạch Phật:
- Đệ tử, chính vì muốn trọn đời mặc một y nầy, xin đức Thế Tôn cho phép.
Đức Phật yên lặng mà đồng ý cho, nên từ đấy trở đi, thường mặc một y ấy, Đức Thế Tôn nói:
- Người mặc y xấu- rách trong các đệ tử của ta, không có ai qua được Tỳ-kheo Diện Vương. Tỳ-kheo nầy, ở trong tám điều tâm niệm của bậc đại nhân, là người thiểu dục- tri túc bậc nhất.
Sở dĩ gọi La-vân là giữ giới không hủy hoại. Hoặc nói: “La-vân vui thích nói dối, sao lại nói là giữ giới? Hoặc nói: “La-vân không nói dối, chính là tự giận Phật”.
Vì lẽ gì giận Phật?
- Vì lẽ Phật không làm Chuyển Luân Thánh Vương. Nếu làm Thánh vương, sẽ có tám vạn bốn ngàn đại thần, tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, voi ngựa- xe tải, mỗi thứ đều có tám vạn bốn ngàn.
Từ bỏ ngôi vị như vậy mà làm Sa-môn, đi khất thực khắp đây đó, không đáng xấu hổ hay sao?.
Chấp vào quyền lợi của Thánh Vương, ngờ vực Như Lai, nên tạo ra sự nói dối mà thôi!
Có người hỏi La-vân:
- Đức Như Lai ở đâu?
Như Lai thật sự đang ở tinh xá Kỳ Thọ, mà lại đáp: “Ở khu vườn Trú ám. Sự thật Như Lai đang hiện diện tại vườn Trú ám, mà nói dối là
đang ở tại vườn Kỳ Thọ. Thường hay nói dối để gạt người đến hỏi”. Tôn giả A-nan bèn bạch Phật:
- La-vân nói dối.
Đức Phật gọi La-vân đến hỏi:
- Ông thật sự có nói dối? La-vân đáp:
- Thật như vậy, bạch Thế Tôn! Phật hỏi:
- La-vân, vì lẽ gì ông tạo ra sự nói dối?
Ta sở dĩ từ bỏ ngôi vị Thánh Vương là vì ngôi vị ấy không thể là nơi chốn trông cậy- nương tựa, đều trở về với vô thường, không tồn tại lâu dài. Ngay cả Đế Thích, Phạm Vương, cũng đều không thể đảm bảo, huống chi là Thánh Vương mà có thể trông cậy, nương dựa ư? Đức Phật nói:
- La-vân! Ta trước sau đều từ bỏ, sự việc nầy không thể gọi là chấp, sao ông lại hờn dỗi! Phật nói với La-vân:
- Ông múc nước đem đến đây cho ta. La-vân liền múc đầy bát nước đem đến. Như Lai cầm bát nước nói với La-vân:
- Ông có thấy nước nầy không? La-vân đáp:
- Bạch Thế Tôn, con đã nhìn thấy. Phật nói:
- Bát nước đầy nầy không lưng bớt chút nào, là dụ cho giữ giới đầy đủ hoàn toàn, không chỗ nào hao hụt, rơi rớt. Như Lai đổ bỏ một nửa; rồi nói với La-vân:
- Ông có thấy nước nầy không? La-vân đáp:
- Dạ có thấy, bạch Thế Tôn! Phật nói:
- Nước nầy vì mất hết một nửa, là dụ cho giới không đầy đủ. Lại đổ hết nước, khiến cho bát cạn, Phật lại bảo La-vân:
- Ông có thấy bát rỗng nầy không? La-vân đáp:
- Đã thấy! Phật nói:
- Phạm giới là đều hết sạch, ví như chiếc bát trống rỗng. Phật lại lấy bát úp xuống đất, rồi bảo cho La-vân:
- Ông có thấy không? La-vân đáp:
- Dạ thấy, bạch Thế Tôn!
Phật nói:
- Đã phạm giới, đều sẽ bị đọa địa ngục, là dụ cho miệng bát hướng xuống đất.
La-vân từ khi được sự răn dạy tận tình của Phật về sau, chưa từng vi phạm lại cho dù một mảy may, nên gọi là người giữ giới bậc nhất.
Hoặc nói: Lại có sự việc: Thân Tử dẫn La-vân vào thành Xá-vệ khất thực. Bấy giờ, có vị Bà-la-môn thấy La-vân đi sau, liền khởi ý ác, đánh vào đầu La-vân, chảy máu làm nhơ cả mặt. La-vân lập tức nẩy sinh ý nghĩ ác: Cần phải tìm phương tiện để trả oán nầy: Chỉ nói: “Hết thảy Bà-la-môn đều sẽ bị phá diệt, quyết không để họ yên!”.
Thân Tử biết được ý nghĩ trong tâm La-vân, vì bị Bà-la-môn kia đánh chảy máu; bèn nói với La-vân:
- Phải nhớ lại cha của ông, xưa kia khi làm vua Tu Niệm, có người đến xin đôi mắt, liền móc mắt cho ngay không hề hối hận. Lúc đang ngồi thiền ở nơi vườn, bị vua cắt xẻo tay, chân, cũng không hối hận. Hoặc khi làm voi đem ngà cho người, cũng không nhàm chán. Nay sao ông lại khởi lên niệm ác ấy? Nghe thầy nói, La-vân liền tự trách: “Nay sao tA-lại dùng tâm ác nhắm vào người kia?” Tức thì nhẫn nhục như đất, không khởi tâm hãm hại nữa, cho dù một sợi lông- cọng tóc cũng không đụng đến.
Người đánh vào đầu La-vân bị đọa trong địa ngục Vô trạch. Do nhân duyên nầy, nên biết La-vân giữ giới là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Ban-tha, có khả năng ẩn giấu hình hài không hiện, là vì Ban-tha, có nghĩa là đường đi. Có trẻ song sinh bị vứt bỏ bên đường. Có người lượm đem về nuôi, đến khi khôn lớn, cả hai đều xuất gia vì đạo. Không có người nào cho tên, tức lấy tên là Đạo Sinh (sinh nơi đường). Tiếng Phạn gọi là Ban-tha.
Bấy giờ, ở nước Ma-kiệt, thường có sấm to, mưa dữ dội, đậu mè lúa thóc không mọc lên được, vua tên là Tần-đầu-đồ-la, tổ của vua A-xà- thế, chiêu mộ người bốn phương xa gần, nói:
- Ai có năng lực đẩy lùi mưa lớn sẽ được ban cho nhiều của cải vật
báu.
Lúc ấy, có Bà-la-môn, tên là Phạm- chí, khéo biết về chú thuật, đến
nơi chiêu mộ, nói:
- Tôi có năng lực đẩy lùi cơn mưa lớn!
Vua liền cho phép ông ta hiện bày chú thuật và mưa dứt. Khi đó âm dương điều hòa, đậu mè lúa thóc được mùa. Phạm chí tâu lên vua xin
trả công đã dứt được mưa. Mặc dù vua đã hứa miệng, nhưng cuối cùng không trả ơn cho. Các quan và dân chúng thấy vua không ban ơn cho, nên đều hứa sẽ cho.
Nhà Phạm-chí rất khó khăn, thường theo xin trả công, các quan cũng không cho, đi đòi hỏi khắp cũng không được. Phạm chí cả giận, thề sẽ làm rồng độc, tiêu diệt người trồng trọt. Nếu có người gieo trồng ngũ cốc trở nên tươi tốt, ta sẽ tuôn mưa đá xuống, khiến cho rễ, cộng không đứng được, huống hồ là lá.
Thề xong, khi Phạm chí mạng chung, tức thì sinh trong loài rồng, tên là Vô Diệp.
Từ đấy, dân chúng nước Ma-kiệt, gieo trồng lúa thóc, lúa mạ vừa sinh, rồng liền làm mưa đá để hại.
Trải qua mấy năm như thế, dân chúng đói khổ khốn đốn, số người tử vong ngày càng đông.
Đức Phật vô cùng xót thương khi thấy muôn dân bị tổn hại, chết chóc; nên muốn hóa độ rồng nầy, liền dẫn Mật Tích-A-nan-Ban-tha đến, để cùng giữ nước, rồi tới thẳng chỗ rồng ở. Rồng vừa trông thấy Phật đang đi đến, lòng dạ ác độc nẩy sinh liền nói:
- Hôm nay ta sẽ làm mưa đá sát hại Sa-môn này. Lập tức mưa xuống đá núi. Phật quay về bên trái, nhìn Mật Tích. Mật Tích biết ý Phật, liền dùng chày Kim Cương với ý định làm cho núi đá lớn rơi xuống, lấp bít vực sâu của rồng. Rồng cả giận, lửa trong mắt phát ra. Phật nhìn về bên phải, Tỳ-kheo Ban-tha liền biết ý Phật muốn sai mình hàng phục rồng, tức thì dùng thần túc giấu hình, dùng nước dập tắt lửa trong mắt rồng. Rồng lại phát ra lửa ở tai- mũi- miệng, Ban-tha cũng dùng nước dập tắt cả. Tỳ-kheo lại dùng thần lực ra-vào-vào- ra nơi mắt- tai- mũi- miệng của rồng nhưng rồng không thấy, giấu hình ở trong, hiện tay ra ngoài. Rồng nhìn thấy sự biến hóa nầy, tức thì tâm phục Phật lại cùng với ba người ở trước quA-lại kinh hành. Lúc nãy, trên tảng đá lớn có dấu chân của bốn người, nhưng mới có ba người xuất hiện. Rồng liền hỏi Phật:
- Còn một người nữa ở đâu? Phật đáp:
- Là dấu chân thầy của ngươi. Rồng lại hỏi:
- Tên thầy là gì? Sao không hiện? Đáp: - Tên là Ban-tha.
Phật muốn hiện từ xa, Ban-tha biết ý Phật liền đi trăm bước, hiện
hình từ xa, rồng trông thấy thầy, hoan hỷ làm lễ.
Đức Phật liền truyền trao pháp tám quan trai. Từ đó trở đi gió-mưa điều hòa, đậu mè lúa thóc đơm đầy, chín tốt, muôn dân an ổn.
Do nhân duyên ấy, nên biết Ban-tha ẩn giấu hình là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Chúc Lợi Ban-tha, có khả năng biến hóa hình tướng, tạo ra ngần ấy biến hóa, là vì Chúc Lợi, nghĩa là rất tối tăm. Tinh thần của Tỳ-kheo nầy thua kém, chậm lụt. Phật dạy phải nhớ dùng chổi quét dọn; được chổi rồi thì quên đi quét, đi quét thì quên mang chổi.
Chuyên tâm tụng trong sáu năm, tâm ý mới được tỏ ngộ. Tự nghĩ: Trữu là cây chổi. Cây chổi là để quét dọn. Cây chổi: tức dụ cho tám chánh đạo. Phân là chất bẩn của ba độc. Dùng cây chổi tám chánh đạo, quét sạch mọi cấu uế của ba độc, đó gọi là nghĩa quét dọn bằng chổi; đúng nghĩA-là như vậy. Tư duy sâu xa về lý nầy, tâm liền tỏ biết, đạt được đạo A-la-hán. Gọi là hóa hiện hình thể, nghĩa là dùng diệu tuệ của bốn đế, hóa ra hình của năm ấm, chính là có sự hóa nầy. Ngoài ra còn nói, có Bà-la-môn, tên là Phạm Thiên, cũng gọi là Thế Điển. Sở dĩ gọi Thế Điển, là vì hiểu biết rộng rãi mọi thư tịch, họa đồ, sách bí mật, lời sấm truyền, thiên văn, địa lý, không gì là không để tâm tìm hiểu, nên gọi là Thế Điển. Tự cho là đức mạng cao lớn, mà hành xử ai có khả năng bàn luận với ta?
Nghe nói người thấp nhất trong các Tỳ-kheo dòng họ Thích có Chúc- ban-tha. Người thấp nhất trong các Ưu-bà-Tắc có Cù-mật- đa-la, ta sẽ bàn luận chung với hai người nầy, tức đến chỗ của Ban-tha để cùng bàn luận, nói với Ban-tha:
- Có khả năng cùng ta biện luận không? Ban-tha nói:
- Ta hãy còn có khả năng cùng biện luận với Phạm Thiên là tổ phụ của ông, huống chi là ông là người mù lòa, không có mắt ư?.
Phạm chí liền dựa vào lời nói, gạn hỏi:
- Mù với không có mắt, đâu khác gì nhau?
Ban-tha im lặng không đáp. Tâm suy nghĩ: “Không có gì để thù tạc nhau, nên phải dùng thần túc đáp nhau. Tức thì dùng thần túc, bay vọt lên hư không, cách mặt đất bốn trượng chín mét, rồi ngồi kết già. Phạm- chí ngửa xem, thấy thần biến của Ban-tha, trong tâm nẩy sinh sự kính nể, hiểu ra sự thù đáp thanh tịnh của Ban-tha”.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đang kinh hành ở tinh xá Kỳ Hoàn, dùng thiên nhĩ nghe Phạm chí đang biện luận với Ban-tha. Biết lời lẽ của
Ban-tha thiếu nên phải hiện tướng biến hóa để đáp. Xá-lợi-phất nghĩ:
- Nếu ta không qua đó, Tỳ-kheo ấy không làm cho khuất phục, thì Phạm chí sẽ không được độ; liền dùng thần túc hóa ra hình Ban-tha, khiến cho hình gốc của Ban-tha không hiện. Bằng hình hóa hiện. Xá- lợi-phất hỏi Phạm chí:
- Ông là trời hay là người?.
Đáp: “Là người”. Ban-tha (hình hóa) lại hỏi:
- Có phải người là con trai không? Đáp: Đúng là con trai. Lại hỏi: Con trai và người có gì khác nhau không?
Đáp: “Không khác”. Lại hỏi:
- Người, nghĩa là hợp lại để gọi người nam, là căn cứ ở hình tướng mà nói, không khác được sao? Trước kia, ta nói ngươi mù lòa, nghĩa là nói ngươi không thấy quả báo thiện-ác của đời nay-đời sau. Còn nói không có mắt, nghĩa là nói ngươi không có con mắt trí tuệ để đoạn trừ Kết, Sử.
Tâm Phạm chí được cởi mở, liền đạt được pháp nhãn thanh tịnh.
Do nhân duyên nầy, nên biết Chúc-lợi ban-tha biến hóa hình là bậc nhất.
Sở dĩ gọi Tỳ-kheo Thích Vương, thuộc dòng tộc hào phú cao sang, bẩm tánh nhu hòa, là vì thông thường có bốn họ: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ. Sở dĩ nói sang trọng, là vì làm Sa-môn, cùng một họ Thích, do đấy mà gọi là sang trọng. Ví như nước của bốn nhánh sông Hằng: Mỏm bò, miệng sư tử, mỏm ngựa, miệng voi, đều có năm trăm chi, hợp vào biển cả, làm chung một thứ nước, vì không có ngần ấy vị, nên biển được xưng là lớn. Suy xét cho cùng, quý là ở trăm nhánh sông kia. Vì họ Thích cũng như thế, nên xưng là cao sang bậc nhất.
Vua Chân Tịnh có ba người em: người em nhỏ nhất tên Ngộ Tịnh, có con nhỏ, mới lên bốn tuổi. Lúc ấy, vua Chân Tịnh đang ngự ở chánh điện, họp bàn với quần thần. Vua tự nghĩ: “Nếu con ta không xuất gia, ta phải là Thánh Vương. Con ta đã sinh, thì đáng lý ta phải làm Thánh Vương, nhưng con ta-lại đi xuất gia. Vậy ta còn sử dụng mão trời nầy làm gì?» Tức thì vua lột mão trời ném xuống đất: “Có ai nên làm, thì làm!” Các quan cảm thấy buồn rầu áy náy, đều mang tâm trạng không vui. Khi đó, con nhỏ của Thích Vương đang đi dạo phía trước cung điện, thấy chiếc mũ trời dưới đất, liền nhặt đội lên đầu, rồi ngồi xuống đất, lấy tay trái chống đỡ vai, tay phải sờ vuốt râu tóc.
Vua và các quan vô cùng kinh hãi, cho là việc lạ, vì thế vua nói:
- “Đứa nhỏ nầy là thiên sứ, đúng như thế!” Hoặc do nó có năng lực làm Thánh Vương, hoặc có tướng mạo Thánh Vương của con trẫm, có nhiều hứa hẹn với đứa nhỏ nầy, nên khiến có điềm như vậy.
Các quan cùng nhau thưa:
- “Hoặc có thể như đại vương đã nói”. Nhà vua suy nghĩ: “Tất-đạt đã xuất gia, nếu lại trông thấy tướng mạo của đứa nhỏ nầy, cũng tự bỏ ngôi vua thôi! Trải qua tám năm, nghe Tất-đạt đã thành Phật, độ ba anh em Ca-diếp, đồ chúng được ngàn Tỳ-kheo cùng với Ư-ba-đề-xá, Câu- luật đà, thầy trò có hai trăm năm chục người, hợp lại gồm một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, từ nước Ma-kiệt-đà, muốn trở lại nhà Thích-sí. Đó là do Phật, trước đấy đã sai Ưu-đà-di báo cho vua cha biết tin tức.
Chân Tịnh nghe qua, hết sức vui mừng, tức thì đội lại mão trời, lịnh cho sửa sang đường sá thật bằng phẳng, quét-rưới-rải hoa, đốt trầm hương ngạt ngào, để đón Như Lai.
Như Lai đã đến. Vua thấy các Tỳ-kheo, dù tâm tinh thuần, nhưng không biểu lộ ở dung mạo. Rồi vua tuyển chọn năm trăm người họ Thích với dáng dấp khả ái, xuất gia làm Sa-môn, để theo hầu Thế Tôn, Tỳ- kheo Thích Vương là người trước hết được chọn.
Bấy giờ, Đức Phật ngự ở tinh xá, đứng giữa đại chúng, Phật bảo các Tỳ-kheo hãy bàn luận rộng rãi lý do cao sang của chủng tánh.
Lúc đó, vua Chân Tịnh thân hành đến trong chúng, hướng về Tỳ- kheo Thích Vương làm lễ. Đại chúng đều lấy làm ngạc nhiên về cử chỉ nầy của vua, không hiểu vì lý do gì? Đức Phật biết ý nghĩ ấy của đại chúng, vì muốn giải tỏa nỗi hoài nghi, nên hỏi đại vương:
- Vì sao đại vương lễ Tỳ-kheo nầy? Đại Vương đáp:
- Sở dĩ ta lễ, là vì Tỳ-kheo nầy có hai việc vượt trội hơn ta: Luận về trời có ba:
1- Cử thiên.
2- Sinh thiên.
3- Thanh tịnh thiên.
Ta chỉ có Cử thiên. Tỳ-kheo nầy có cả Sinh thiên, và Thanh tịnh thiên. Sở dĩ nói Sinh thiên, là vì Tỳ-kheo nầy năm lên bốn tuổi, đã nhặt mão trời của ta đội lên đầu mình, tự nhiên nẩy sinh ý muốn ấy, không có ai cho, nên nói là Sinh thiên. Thanh tịnh thiên, nghĩA-là hiện nay, Tỳ-kheo nầy, lậu đã tận, kết đã dứt, không có cấu uế bụi bặm, nên nói là Thanh tịnh thiên. Vì do hai việc ấy vượt trội hơn ta, nên ta-làm lễ!.
Do nhân duyên nầy, mà biết được Tỳ-kheo Thích Vương là dòng họ sao sang bậc nhất.