Đại Tập 185, Bộ Sử Truyện VII, Số 2060- 2061 (Quyển 9- 30)
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 18 chương/phẩm, dày 517 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 287.
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 83
LUẬN TAM PHÁP ĐỘ
SỐ 1506
( QUYỂN THƯỢNG -TRUNG - HẠ)
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
SỐ 1506
LUẬN TAM PHÁP ĐỘ
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Cù-đàm-tăng-già-đề-bà
nước Kế Tân dịch vào đời Đông Tấn
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm thứ nhất: ĐỨC
Biết sinh: Khổ Vô lượng, Khéo tĩnh mới an lạc, Tâm bi với chúng sinh,
Luân chuyển trong nhiều kiếp. Xả thân rất khéo diệu,
Nói pháp cho hết thảy, Trí diệt khắp mọi nẻo, Cúi lạy Đấng Giác ngộ! Mở ba pháp môn này, Chỗ về mọi công đức, Chúng sinh được an vui, Lìa xa mọi khổ não.
Kính lạy đấng Thiện Thệ, Pháp và Chúng Vô thượng, Nay nói pháp chân đế, Từng nghĩa của ba pháp.
Lời nêu: Nay nói ba pháp môn.
Hỏi: Tôn giả nói ba pháp môn, ba pháp môn ấy có nghĩa gì?
Đáp: Kinh này là nguyên nhân của pháp nói ở đây. Suy nghĩ liên tục về ba pháp mà tuyển chọn ra. Ba pháp này là giả tưởng.
Hỏi: Tại sao gọi là chọn ba pháp?
Đáp: Kinh Phật nương vào Vô lượng tưởng, chúng sinh bị cõi đời ác làm hư hỏng. Mạng sống do ăn mà sống. Muốn tìm ý nghĩa chân thật cho đời sống, nên phải mở bày tư tưởng cho họ, và để họ Thọ trì, nên lựa ra ba pháp. Hết thảy cõi đời này, đều nương vào giả tưởng và chân tưởng. Do mở tư tưởng, cho nên lựa ba pháp ấy.
Hỏi: Tôi muốn nghe ba pháp này?
Đáp: Điều ác nương vào đức; sự tỉnh biết chính là pháp môn cao
đẹp.
Hỏi: Nếu biết ác nương vào đức, tức là đã biết được pháp môn đó
cao đẹp. Ba pháp này, nằm trong chín phẩm kinh. Mỗi phẩm có ba môn chân độ, có thể nói ba phẩm, chỉ vì nói mà có lỗi.Tại sao? Vì cái thiện cao đẹp như trước nói, đã nói đến nó rồi, nhưng sau lại nói là điều ác nương vào đức, nên tỉnh biết?
Đáp: Đã tham thích về một hướng thì không nên nói. Hết thảy thế gian này, đều hướng về đạo cao thượng, cho đến loài giun, dế cũng biết hướng về chỗ an vui. Tại sao? Do vì ăn nên có mong cầu. Điều thiện cao đẹp là sự an lạc, đáng yêu mến và tuyệt diệu. Nghĩa điều thiện cao đẹp là vậy. Đời sống trần thế, ai nấy đều tham vui, đều hướng đến cái vui, nhưng họ đi ngược lại nguyên nhân của cái vui. Vui là đại Niết-bàn, là không bệnh, là vui nhiều. Nhưng mọi người một mực đi ngược lại nguyên nhân của cái vui. Khổ đã có thì hướng đến cái vui, cần gì phải nói. Như kẻ đi đường đến nơi nào, nếu đã rõ biết rồi thì đâu cần chỉ đường nữa. Đâu cũng vậy, cho nên không có lỗi.
Hỏi: Thế nào là ác nương vào đức mà tỉnh biết thì liền được điều thiện cao đẹp? Nhiều lần thấy được vàng là giàu, thấy thuốc là hết bệnh chăng? Cho nên không thể tỉnh biết ác nương vào đức thì liền có điều thiện cao đẹp.
Đáp: Tuy có lời nói như vậy, nhưng nghĩa không hẳn thế. Phải giữ lấy thí dụ về cây đèn: Thắp đèn thì bóng tối lui ngay. Nhưng không phải thắp đèn, rồi sau đó bóng tối mới tan. Như vậy, trí phát sinh thì liền có trí giác tốt lành cao đẹp. Đó là một nghĩa.
Hỏi: Gọi là đức thì gồm những gì? Vì chúng sinh thường bị sắc-vị-
hương đè bẹp hơn là họ tóm thâu nó?
Đáp: Ta không muốn nghĩ đến những chuyện tạo tác. Đức là phước không có gốc ác. Đức không có gốc ác là ba ý tưởng về đức. Pháp tịnh trắng và pháp quả; tôi cho là ý tưởng về đức, mọi thứ đều gồm thâu trong ba thứ này. Nay lần lượt sẽ chỉ bày.
Hỏi: Đã nói gốc của phước là không có điều ác, những gì là phước?
Đáp: Phước là thí, giới, tu tập điều lành cao đẹp, cũng là xua mạnh những kẻ ác đi. Đó là ba thứ tu, thí, giới, như đã nói.
Hỏi: Đã nói tu, thí, giới là phước. Vậy những gì là thí?
Đáp: Là thâu gồm được người khác, bằng cách ban cho của cải với suy nghĩ, nguyện đầy đủ và không bám víu. Đó là ba thứ thí.
Hỏi: Điều ấy ra sao?
Đáp: Thí là gồm pháp, Vô úy và của tiền, là thí pháp, thí Vô úy, thí của tiền. Pháp thí là nói kinh để ra khỏi thế gian. Vô úy thí trước hết là tám chánh đạo, ba quy y, như Đức Thế Tôn nói: Quy y Phật, là vì chúng sinh Vô lượng mà bố thí Vô úy, không kết thù gây ác, ai nấy đều làm như vậy.
Hỏi: Như kẻ Thọ tam quy, cũng sát sinh thì sao? Thế nào là hàng đầu Vô úy thí?
Đáp: Không nói hết thảy chúng sinh, chỉ nói tà kiến là ngu si. Sát sinh, ăn trộm của người ta là ác. Những ai theo tam quy thì không được làm những chuyện đó, vì họ đã có chánh kiến; nếu không có chánh kiến, thì không phải là tam quy y. Thế nên, hàng đầu là phải bố thí Vô úy cho Vô lượng chúng sinh. Không bỏn sẻn việc bố thí tiền của, nghĩa là lo cho ăn uống là trước, vì muốn gồm thâu kẻ khác về với đạo, nên bố thí. Cúng dường thì hương hoa là trước hết, đó là vì mình, hoặc vì người. Chính điều ấy làm cho mình có đầy đủ đức, cho nên đạt quả lớn. Đó là thí thanh tịnh, nên phân biệt rộng như điều đã nói.
Như cây nhờ gốc sống, Lúc nào cũng đứng vững, Có khi nhờ gốc cành,
Chuyện đời thường như vậy. Phương tiện thế mới thành, Bố thí được quả lớn,
Từ nhân duyên trong sạch, Công đức cũng gồm đủ.
Hỏi: Thế nào là giới?
Đáp: Giữ thân miệng, không gây hại cho người khác. Giới làm lợi cho người, có ba tướng, từ thân miệng phát sinh.
Hỏi: Việc đó là sao?
Đáp: Gồm thâu kẻ khác và không hại đến họ. Đem lợi ích gồm thâu kẻ khác, là khi họ đói khổ, thiếu thốn, ta yêu mạng sống của họ mà thương cho, không làm tổn hại. Không ăn cắp, không phá hoại vợ người, tất cả đều như vậy, đó là gồm thâu kẻ khác. Từ bỏ nói hai lưỡi, lời ác, nói dối, nói thêu dệt. Đó là không hại người. Lại nữa, bảy chi không bức bách người khác. Đó là không làm hại người khác. Bao kẻ bị khổ vây ngặt, không nơi nương tựa, mà mình cứu giúp, là gồm thâu họ, giữ và làm hai chuyện ấy. Nếu phước phát sinh, đó là làm tăng ích lợi. Tự hứa: Từ nay ta bỏ sát sinh, phát tâm làm ích lợi thêm lên. Như mỗi ngày, ban cho đồ đạc là đem cái ích đến cho đời sống của họ. Thọ giới, tâm phát sinh điều lành, thì hãy vâng giữ mãi. Hạt diệt thì mầm sinh, sẽ có ích lợi. Không bỏ điều lành, cứ làm mãi, cho đến trong giấc ngủ cũng không bỏ chuyện phước đức, ích lợi. Làm mọi chuyện hữu ích như vậy, gọi là giới.
Hỏi: Thế nào là tu?
Đáp: Là tu thiền Vô lượng, Vô sắc. Ở đây là tu hạnh lành, như dưỡng nuôi bông, mè, tập là luyện cho quen, như quan gần vua. Như quen luyện tập gần vua, ắt có kết quả. Như vậy, ai tập rèn tu hành thì được quả tịnh trắng. Nói tu thiền, là nói bốn nghĩa về niệm.
Hỏi: Là sao?
Đáp: Thiền là ly Dục, quán xét việc khổ vui. Ban đầu của bốn thiền là lìa ác, lìa pháp bất thiện. Duyên vào điều thiện, cột tâm trụ vào đó gọi là ly Dục. Thứ hai là ly quán. Quán là cái rất nhỏ của tỉnh biết, như tiếng vang của cái linh yếu dần, ở đó không có gì gọi là ly quán, do trước đã lìa Dục rồi. Thứ ba là ly Hỷ. Hỷ là tâm vui trào như sóng biển, trong ấy không còn gì Dục quán, nên gọi là ly Hỷ. Thứ tư là lìa khổ vui. Vui là thân- tâm không bị vây ngặt, còn khổ là bị vây ngặt, ở đấy không có gì, kể cả Dục, quán, Hỷ; nên gọi là lìa khổ vui.
Hỏi: Vô lượng là sao?
Đáp: Vô lượng là gồm: Từ Bi Hỷ Hộ (xả), là bốn giả tưởng làm Vô lượng. Vô lượng chúng sinh duyên vào đó, nên gọi là Vô lượng. Công đức ấy không thể kể, nên cũng là Vô lượng. Từ là hoạt động của tâm thương xót đối với mọi chúng sinh, làm cho hết thảy chúng sinh đều
thấm nhuần trước ý nghĩ của mình, đó là Từ. Bi là cứu vớt mọi khổ não của chúng sinh ngay bây giờ, khiến họ lìa khỏi ý tưởng buồn rầu, lo lắng, gọi đó là Bi. Hỷ là gắn liền các chúng sinh vào những niềm vui, đó là Hỷ. Hộ (xả) là không tìm kiếm những lỗi lầm của chúng sinh, lúc nào cũng dũng mãnh thương xót họ. Nếu họ làm ác, thì không lấy đó làm vui, mà luôn xem xét để thấy đó là nghiệp của họ. Tha thứ lỗi lầm như vậy, gọi là Hộ (xả).
Hỏi: Đã nói Vô lượng. Thế nào là Vô sắc?
Đáp: Vô sắc là Không Thức, là Vô sở hữu, là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xứ là nương tựa vào bốn thứ. Không là trừ sắc kiến, sắc lỗi lầm, đó là ly Dục. Một lòng duyên lấy không, cột ý tưởng mình vào không, gọi là Không xứ. Không phải dựa vào không, thì chỉ có Thức, duyên vào Thức nên liền có Thức xứ, đó cũng là nơi dựa. Không dựa mới là thắng. Nếu không sở hữu, là Vô sở hữu xứ. Nghĩ thấy lỗi lầm mà diệt nó thì hết lo sợ. Nhất tâm là Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là Vô sắc đạo. Đó gọi là hết thảy phước.
Hỏi: Căn là gì?
Đáp: Căn là không ttham, không sân, không si. Đó là ba tướng của
căn.
Hỏi: Nó là gốc của cái gì?
Đáp: Không phải là gốc của đức nói ở trước, mà là gốc của hết thảy
pháp lành ở các cõi. Tùy theo nghĩa nào đó vượt lên, thì những cái khác cùng đi theo. Như không ttham thì bố thí tăng. Không giận thì giới tăng theo. Không si thì tu hành tăng thêm.
Lại nữa, không ttham thì tăng tài thí, không giận dữ thì tăng Vô úy thí, không ngu si thì tăng pháp thí, nghĩa là cả ba thứ bố thí đều tăng. Lại nữa, không ttham thì tăng việc gồm thâu người về với ta. Không giận dữ thì tăng việc không hại người. Không ngu si thì tăng việc làm lợi ích cho người. Nghĩa là ba thứ giới đều tăng. Lại nữa, không ttham thì thiền định tăng, không giận dữ thì Vô lượng tăng, không ngu si thì Vô sắc tăng. Đó là ba thứ tu đều tăng. Lại nữa, không ttham thì không tăng làm ác, không giận dữ thì nhẫn nhục tăng, không ngu si thì tăng học rộng. Như vậy căn, lực là gốc của mọi hạnh lành. Không ttham thì đối với mọi của cải, không tham lợi, không tham vướng mắc. Ý không nổi giận, thì cơn giận bị dập tắt, không ngu si, thì diệt ngu si, cho nên nói là gốc.
Hỏi: Thế nào là không ác?
Đáp: Không ác là nhẫn nhục, là học rộng. Không ác, không có điều
ác là những giả tưởng quen thuộc trong đời thường. Lại nữa, ác là không ưa điều không ác, ghét càng tăng thêm. Không ác mới là lời diệu thiện. Nhẫn nhục là khó làm. Kẻ hèn, người sang phải dùng sức mình chế ngự để không nổi giận mà còn khoan thứ, nên nhẫn nhục là khó làm. Kìm chế là đòi hỏi một sức mạnh, cố gắng chịu đựng. Người có tâm hồn cao thượng thì biết kìm chế, cho nên dù có giận, vẫn không trả thù. Người ác nổi giận, thì phải dùng sức mạnh lớn mới chế ngự được, cho nên hèn kém thì sức tha thứ nhỏ. Cả thảy đều là nhẫn nhục. Nhưng họ có thể báo thù. Nếu không báo thù là tha thứ. Lỗi lầm và tạo ra lỗi lầm của chúng sinh là như vậy. Đó là nói về nghĩa chịu đựng. Còn như khổ, là làm việc vất vả, chịu nóng lạnh, đói khát, nắng gió, bị bao thứ khổ vây ngặt thì phải biết tự chế ngự khổ ấy. Có hai việc khởi phiền não là đối với thân không ngăn giận dữ, giận dữ đối với Vô tình. Hai thứ nầy vây khổ bức bách thân, phải biết chế ngự, chịu đựng.
Hỏi: Đã nói nhẫn nhục; thế nào là học rộng?
Đáp: Học rộng là phải trừ dâm-nộ-si, học rộng về kinh- luật- luận. Đó là học rộng, ngoài ra thì không phải học rộng. Kinh chỉ dạy những điều chắc chắn, để ta biết thế nào là nhơ, sạch, cho ta hiểu rõ Tứ Đế, lìa khỏi Vô lượng điều ác. Luận thì chỉ cho biết cách phân biệt rõ về kinh điển. Luật là nói đến những oai nghi lễ tiết, khiến ta thanh tịnh. Đó là ba thứ học rộng, trong ấy, luật gọi là chế phục, luận gọi là chế ngự giận dữ. Luận nói về tính chất của nghiệp, nhờ đó mới biết chế ngự nghiệp. Do giận dữ mà phạm giới. Do phạm giới mà bị đọa địa ngục, nên kinh gọi là phải chế ngự. Kinh còn nói đến mười hai nhân duyên.
Hỏi: Đã nói học rộng, còn không ác là sao?
Đáp: Không ác là người có tri Thức đúng đắn, biết chế ngự ý mình. Do chân tri Thức đúng đắn, chế ngự đúng đắn làm cho ý được chân chánh, nên không làm ác. Có tri Thức chân thật là có lòng thương, là giỏi giang, có khả năng thầy trò cùng học. Nếu có lòng thương, giỏi giang, có khả năng thì được gọi là chân tri Thức. Ba thứ ấy, cả thầy lẫn trò cùng nhau học.
Hỏi: Có phải là: Thầy thì có lòng thương, đệ tử là giỏi giang, đồng học thì có khả năng chăng?
Đáp: Không phải. Tại sao? Vì không khác nhau. Lòng thương, giỏi giang và khả năng là tướng của chân tri Thức. Nên suy nghĩ những điều nói, thầy và đệ tử cùng học như vậy. Trong đó, tướng lòng thương là hơn hết, nhưng cũng phải có đủ hai thứ kia. Nếu chỉ có lòng thương không,
thì không thành giỏi biết sự việc, cũng không có khả năng nói, như cha già không có đức. Hoặc có khả năng, nhưng lại không có sự giỏi giang, hoặc ông ta có lòng thương nhưng không giỏi giang.
Trong khi đó, nhóm Lục sư thì chỉ dạy điều ác. Do vậy, phải thành tựu đầy đủ ba tướng đó, mới là chân tri Thức. Hoặc có khi thầy lỗi lầm làm hư hỏng, hoặc đệ tử lầm lỗi, hay đồng học lỗi lầm. Thế nên phải đầy đủ ba tướng đó cho trọn vẹn. Người chân tri Thức là nên tìm cầu.
Hỏi: Chân tri Thức đã vậy, còn chân chế ngự ý là sao?
Đáp: Chân chế ngự ý là ngưng và mạnh dạn hộ trì ý tưởng, cũng như mạnh mẽ ngưng dứt ý nghĩ. Mạnh dạn hộ trì ý tưởng là một mực dũng mãnh, trong đó ngưng là ngưng tâm ý buông lung. Phải xem xét về tướng của nó. Mạnh dạn dựng dậy và làm cao lên những ý tưởng nhu nhược. Ở đấy phải xem xét về tướng của nó. Hộ trì là làm mọi việc, phải lấy ý bình đẳng mà làm. Như người giỏi đánh xe, nếu xe chạy chậm, thì thúc cho nhanh; nếu xe chạy mau, thì kìm bớt lại. Giữ mực ngang bằng là hộ trì. Mọi việc nói trên cũng vậy. Nơi bốn thứ Vô lượng, biết hộ trì ý là không thể! Đem lòng thương che chở chúng sinh, lấy ý bình đẳng mà che chở, là hộ trì.
Hỏi: Thế nào là biết? Ý nổi lên thì phải chế ngự và hộ trì nó ra
sao?
Đáp: Không phải giỏi chạy theo tham muốn, mà gọi là chân chế
ngự ý đâu. Phải tự mình làm chủ điều mình mong muốn, biết nghĩa tùy thời, tùy phương tiện. Nếu còn bốc cao, hạ xuống thì không phải là chân ngự ý.
Hỏi: Chân chế ngự ý đó, là lý do chân chánh nào?
Đáp: Lý do chân chánh đó là đầy đủ quả phương tiện. Chân là do chánh. Người ấy nếu một mực luyện nói pháp hay tu tập, thì đó là lý do chân chánh, đầy đủ kết quả phương tiện.
Hỏi: Ai làm đầy đủ?
Đáp: Trước đã nói đó là điều lành cao cả. Hỏi: Đầy đủ gọi là những thứ gì?
Đáp: Đầy đủ là giỏi làm cho các căn phục xuống, đến gần với hành thiền. Đó là chất liệu cần cho hạnh lành, nên gọi là đầy đủ. Như làm đầy đủ hạnh cụ túc, thì đầy đủ có nghĩa là giúp thêm sức. Do vậy mới được ba thứ lành, do chế phục được các căn (giác quan) nên đến gần với hành thiền.
Hỏi: Thế nào là giỏi làm tổn hại (chế ngự giác quan)?
Đáp: Là sống bằng y phấn tảo, khất thực, Vô sự. Làm giảm mọi tụ tập của các thứ gọi là giỏi làm tổn hại. Giỏi làm tổn, nghĩa là giỏi làm cho trong sạch, nhẹ mỏng đi. Thợ chạm làm pho tượng theo hai cách, tượng có chỗ nào nổi lên thì ông đẽo bớt xuống, hay ngược lại. Thợ đục đá, thợ đẽo gỗ cũng đều làm như vậy. Thêm lên là thêm hồ, thêm công; thợ vẽ, họ cũng làm pho tượng theo hai cách. Việc tăng hay tổn là nhằm làm cho pho tượng chịu đựng được gió mưa, chứ sắc dầu tốt đẹp cũng không chịu đựng được mưa gió. Cũng như hai kẻ xuất gia, tại gia, thì kẻ xuất gia là cởi bỏ mọi phiền toái, để lòng ý giải thoát. Bỏ hết mọi thứ tức giỏi làm tổn nên tuyệt diệu. Còn người tại gia, do tăng thêm bà con, vợ con tăng thêm bao chuyện, nên phải làm cho xong. Người tại gia có đủ mọi thứ đẹp đẽ, ngon ngọt, nhưng lại yêu lấy tướng biệt ly, lo buồn, tra- nh cãi, nên chẳng cần gió mưa làm họ hư hoại, mà ngay nơi ý họ không chịu đựng nổi, đâm ra hư hoại như tượng vẽ luôn bị gió mưa bào mòn hư hoại. Họ không như người xuất gia, giỏi chịu đựng, như Phật nói:
Như chim bỏ vẻ, Cổ xanh sắc đẹp,
Trọn không gì bằng, Ngỗng, nhạn cùng bay, Tại gia cũng vậy, Không bằng Tỳ-kheo, Vắng lặng, xa lìa,
Tọa thiền thanh vắng.
Đó là giỏi làm tổn giảm, mà mặc y phấn tảo, khất thực, Vô sự. Đó là ba công đức trong sạch, là mười hai gốc, ngoài ra còn có chín quyến thuộc. Nói rõ cho, Đức Thế Tôn muốn giúp cho Nan- đà hoan Hỷ, nên nói ba điều ấy bằng kệ:
Nan- đà! Ông thấy gì? Vô sự, y phấn tảo, Biết rồi, vui càng cao,
Lìa bỏ, không nhiễm Dục.
Ngoài coi ba việc trên là gốc, lại còn phát sinh bốn điều yêu mến, về y phục, ăn uống, ngồi nằm, nơi chốn. Trong đó vì yêu mến y phục tốt, nên nói đến việc giữ y phấn tảo. Do tham mê ăn ngon, nên mới nói đến việc giữ hạnh khất thực. Do tham nơi ngồi tốt, nên nói giữ hạnh Vô sự. Nếu thành tựu ba công đức này thì đó là phương tiện diệt hữu ái, là giỏi làm tổn giảm.
Lại nữa, có hai thứ tà chấp, là chấp những việc mình làm và chấp có ngã. Trong đó vì tham mê y, thực, tọa xứ, nên phát sinh chấp những gì ta làm, ta sống. Vì thế, nên ba công đức trong sạch không còn. Nếu chấm dứt được một thứ, thì cắt bỏ được ngã chấp, từ đó mà có công đức trong sạch.
Hỏi: Y phấn tảo là gì?
Đáp: Y phấn tảo là một trong ba y, y này dùng trải ngồi dưới đất. Y phấn tảo là một trong ba y, bằng vải xấu nhất. Sống với ba y đó sẽ được chín công đức sạch. Nếu vậy thì trái với kinh chăng? Vì theo kinh nói, y phấn tảo là may lại từ những tấm vải lượm được nơi bãi tha ma, nơi các ngõ hẻm, nó hư cũ bị người ta vất bỏ. Còn ba y là: Tăng- già- lê, Uất- đa- la- tăng, An- đà- hội. Đã có được ba y ấy, mà không bằng lòng sống với ba y, lại tham y tốt khác, cứ vội vàng đi tìm, vì vậy mà sinh bao thứ phiền não! Do đó, chỉ nên thích với ba y này, như ở đời, đâu cần tìm cả ngàn người con gái, họ chỉ cần một người đẹp nhất mà họ vừa ý. Thế nên, Phật nói: Giữ ba y, thì đã có sáu thứ, nào là loại may bằng vải thô, được dệt bằng gai, dây, các loại sợi thô v.v..., chỉ cần một loại gai nào đó, cuối cùng vẫn là giữa ba y xấu thô, dù ở giữa chúng hay nơi thanh vắng. Nếu ai trải chỗ ngồi bằng đồ tốt thì đổi, ngồi sang chỗ khác, còn như trước đã lỡ ngồi rồi, nhìn lại mới thấy đồ tốt, thì khỏi phải đổi nơi khác. Làm vậy, để tránh cho ta là lớn, bao kẻ khác sẽ ngồi theo ta. Có đủ ba y phấn tảo là vậy.
Hỏi: Vô sự là sao?
Đáp: Là ngồi bên gốc cây trống trải, là thích ngồi ngay ngắn nơi gốc cây đó, và cảm nhận được sự chánh tọa ấy. Đủ ba việc trên, nên Vô sự. Điều thứ tư, là trừ việc ham thích ngồi mãi nơi một cây nào đó. Điều này đưa đến việc tín thí có thể cất nhà, trang hoàng, làm nơi thuyết pháp, người đến giáo hóa dễ sinh lòng tham thích. Biết việc có thể xảy ra như vậy, nên Thế Tôn nói đến việc này: Không nên sống với tâm trạng bỏ nhà mình, đi ở nhà kẻ khác. Cần phải bỏ lối đó mà sống Vô sự. Đã Vô sự, mà còn sống nơi lầu cao gác lớn, dù do mình làm đều là điều không nên. Nếu Vô sự mà tham ở nhà cao gác lớn, thì khác nào cưỡi ngựa mà còn dắt theo lừa! Do vậy nên phải giữ việc ở bên gốc cây, và cũng không nên buồn, khi ở bên những gốc cây không được tốt, rồi bỏ nơi đó, đi tìm cây to có hoa trái. Thế nên, Đức Thế Tôn nói, phải ở nơi trống trải. Thí chủ nuôi dưỡng thân thầy, là dùng vào việc gì? Thế nên phải học cái vui của thần tiên, ở nơi trống vắng, mình là người không nhà, sẽ không
bị cái gì yêu thích thúc ép. Khi sống nơi đồng trống, nên nghĩ như vầy: Ta làm được chuyện khó làm, nếu bỏ chánh tư duy, sẽ nằm ngủ thẳng cho đến mặt trời lên. Đức Thế Tôn dạy người tu nhớ lấy điều ấy. Không nên làm như kẻ bị cắt tai mà còn đeo bông trang điểm. Do vậy, các ông phải Thọ trì chánh tọa (ngồi thẳng...) kết già trên nệm cỏ hay vải, nhìn xem chuyện đời như thật mà tự tạo nghiệp cho mình. Làm vậy là có đủ Vô sự.
Hỏi: Vô sự là vậy, còn khất thực thì sao?
Đáp: Khất thực là ăn một bữa, quá ngọ không ăn, uống. Người xuất gia sống nơi gò mả, có hai thứ ăn, ăn theo chúng Tăng và xin ăn. Ăn theo chúng Tăng là ăn đầy đủ, do tín thí cúng, hoặc để tín thí khỏi vất vả, họ làm phòng nấu ăn ngoài xa. Còn khất thực, thì đi xin Thức ăn từng nhà, được rất ít, nên gọi là khất thực. Ngoài lối sống đó thì đều là tà mạng. Khi ăn theo chúng Tăng, dễ nghĩ như vầy: Ta có khả năng đến nhà thí chủ để ăn. Nghĩ vậy thì nổi lên kiêu mạn. Thế nên Đức Phật dạy là phải đi khất thực, khất thực rồi, cứ mãi lo ăn sẽ bỏ phế việc học, do vậy Đức Thế Tôn dạy chỉ ăn một bữa, như nói:
Người nên giữ ý niệm, Mỗi khi ăn, biết đủ, Tức là Thọ dụng ít, Dễ tiêu hóa, sống lâu.
Nếu ăn một bữa, mà còn tham mê ăn, thì nghĩ như vầy: Đức Thế Tôn chỉ cho phép ăn uống để sống, sao lại tìm cầu ăn uống, bỏ phế sự học, nên Đức Thế Tôn dạy: Các ông bị khổ vì uống, (Thức uống ngon) có thể bỏ uống. Nếu khát thì uống nước lã cũng hết khát. Nên giữ cho chắc, sau giờ ngọ thì không ăn hay uống nước ngon. Do có thiểu Dục và tri túc như vậy, thì mới có niềm vui tràn ngập nơi thân thể. Đức Thế Tôn dạy: Nếu chỉ nghĩ đến ăn thì đó cũng là cao ngạo. Tại sao? Vì thân này, đang sống đây, dù có lo cho nó mập béo ra, rồi cũng quăng vào bãi tha ma mà thôi. Thế nên, các ông phải biết vui sống thanh bần nơi gò mả, để có dịp tốt mà chiêm nghiệm chuyện của thế gian:
Từ hết thảy Thức ăn, mà cuối cùng là thân rệu rã nơi gò mả, với sự phình trướng lên, máu mủ chảy lan ra. Thấy vậy, thì bao nhiêu cao ngạo tan biến hết. Do vậy, nên khất thực là đủ. Đó gọi là giỏi làm tổn giảm.
Hỏi: Thế nào là giỏi điều phục giác quan các căn?
Đáp: Điều phục là không làm hại chúng, mà chỉ hạn chế, làm chủ các giác quan. Đó là ba thứ không làm hại mà là điều phục.
Hỏi: Không làm hại những gì?
Đáp: Về căn thì trước đã nói. Làm hại căn có nghĩa là đối với giác quan không có khả năng làm chủ và điều phục. Ví như ngựa dù không cho ăn uống nhưng không biết phương pháp, cũng không huấn luyện được. Cho ăn uống đầy đủ, và biết cách thì vẫn điều phục nó được. Như vậy làm hại giác quan là không điều phục được. Gồm thâu giác quan lại là có thể điều phục. Nếu làm hại giác quan mà gọi là điều phục, thì đó chỉ là kẻ ly Dục mù lòa. Thế nên chớ có hại giác quan, chỉ cần làm chủ nơi đối tượng được tiếp xúc của chúng, lấy chánh tư duy gồm thâu chúng lại, thế là biết giữ. Như đã từng nói:
Các căn đến cảnh giới, Nên xa lìa mọi tưởng, Không gây hại cảnh giới, Chỉ trừ chỗ ttham đắm.
Hàng phục các căn, là như thấy một cô gái xinh đẹp thì nảy sinh ý tưởng đó là mẹ ta. Đó là ba cách để làm chủ giác quan. Cận hành thiền thì nhẫn gọi là tưởng. Vì gần với tư duy nên gọi là Cận hành thiền.
Hỏi: Ai là Cận hành thiền?
Đáp: Như trước đã nói đó là người có điều lành cao cả.
Hỏi: Như trước đã nói bốn thiền rồi, sao đây còn lại lặp nữa? Đáp: Trước nói thiền là nhằm chỉ ra cách vượt khỏi sinh tử, mà
Thiền là con đường cốt yếu để ra khỏi, do Thiền giúp ta biết quán xét sự thật theo thứ lớp. Như người lần đầu vượt qua quãng đồng rộng vắng vẻ, nhưng lại thấy mọi thứ hoa trái, hồ ao xinh xắn, với bao nhiêu dòng nước trong đang chảy, những vườn hoa trang trí đẹp đẽ; thấy vậy, người ấy liền biết đó không phải là đồng rọng vắng vẻ, mà nó nằm sát bên kinh thành. Như vậy, hành giả ở trong đồng hoang sinh tử, bị dâm-nộ- si làm cho mệt nhọc bậc bội, rồi được chân tri Thức dạy bảo chánh tư duy, khi quán xét về ấm, giới, nhập, biết chúng là khổ, không, Vô thường, Vô ngã, nên có nổi lên Dục lạc thì cũng liền nhẫn được, khiến ý chánh tư duy không bị lay động. Gọi mọi thứ đều như chiêm bao, như bóng trong gương. Quán nghiệm khổ theo cách ấy, là pháp bậc nhất ở đời này, do Đức Thế Tôn nghĩ tới. Đó gọi là Cận hành thiền. Theo thứ lớp mà tỉnh biết sự đời như giấc chiêm bao, nhìn lại chính mình, sau đó ngộ được quán Thánh đế. Phẩm thứ nhất: Đức chân độ đã nói xong.
Hỏi: Thế nào là phương tiện?
Đáp: Phương tiện là trí ngừng được do giới cao. Phương tiện là con
đường, dẫn đến nẻo thiện thắng nên gọi là phương tiện. Đó là trí ngừng được ba ấm do giới cao cả.
Hỏi: Phải chăng lặp lại giới?
Đáp: Trước nói nẻo thiện thắng có hai thứ: Một là Thọ sinh, hai là ra khỏi sinh tử. Giới nói trước là về Thọ sinh. Còn đây nói là giới về xuất ly sinh tử, có nghĩa là rèn luyện.
Hỏi: Việc này là sao?
Đáp: Giới là chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp. Ba thứ này gọi là giới. Chánh ngữ là từ bỏ nói hai lưỡi, lời ác, nói dối, nói thêu dệt. Chánh nghiệp là lìa bỏ sát-đạo-dâm. Chánh mạng là Tỳ-kheo Tăng hành khất thực, y phục, dược cụ, đó là chánh mạng. Ngoài lối sống đó, đều là tà mạng. Người Ưu- bà- tắc từ bỏ năm nghề là: đao gậy, chất độc, rượu, ăn thịt chúng sinh. Đó là chánh mạng.
Hỏi: Thế nào là ngừng cao?
Đáp: Là Tinh tấn-Niệm-Định. Ngừng cao là sự đầy đủ, với lại nó dập tắt dâm-nộ-si, nên gọi là ngừng chỉ bậc cao. Hướng vào chỗ trụ cao cũng gọi là ngừng cao. Ba thứ Tấn- Niệm- Định; thì Tấn là sức mạnh quan trọng. Do giỏi thực hành nên gọi là tấn. Tấn là có khả năng đi tới điều lành cao cả.
Hỏi: Nó như thế nào?
Đáp: Là tin, là siêng năng không hề buông bỏ. Đó là ba giả danh gọi là Tấn. Tại sao? Do lòng tin làm gia tăng hạnh lành. Nó đứng trước mọi điều lành, là bậc nhất trong mọi pháp; như thường hay nói:
Kẻ sĩ tin, hành,
Được Thánh khen ngợi. Vui với Vô vi,
Cởi mọi trói buộc. Đó là ba thứ lòng tin.
Hỏi: Là ba thứ gì?
Đáp: Lòng tin là tịnh- Dục- giải. Trong ba thứ tin: tịnh- Dục- giải, thì Tịnh là hơn hết, vì nó trừ được cặn đục, đó là những điều ác trong con người. Giận dữ, kiêu ngạo, không biết hổ thẹn của con người, là những cặn đục, như dòng suối trong, bị voi- trâu lội, dẫm, nổi bùn đục ngầu, dừng lại thì lắng trong. Như vậy, giận dữ- kiêu ngạo- không biết hổ thẹn của con người là những ý nghĩ loạn đục, không loạn ý nữa thì trong. Dục là yêu thích điều hơn hết, như kẻ đang mắc bệnh ngặt, thì không thích ăn, dù là đồ ngon. Kẻ bị điều ác vây ngặt, cũng không thích nghe pháp,
nhưng rồi được thiện tri Thức dẫn dắt, mới thấy vui thích nơi pháp, kẻ ấy liền nghĩ: Pháp này vi diệu biết bao, đó gọi là Dục.
Giải là nắm giữ chắc chắn. Như kẻ bị rắn độc cắn, khi thầy thuốc chữa trị dùng chú đem nọc ra, thì người này chú ý hết sức, liền nghĩ: Thật là chú linh nghiệm nên được khỏi. Do hiểu, nên mới đi tìm thuốc. Như thế người bị rắn độc dâm-nộ-si cắn cũng vậy. Vì thương xót họ, nên Đức Thế Tôn giảng nói pháp. Nếu họ hiểu thì ý không có gì khác, chắc chắn dâm- nộ- si của họ được trừ hết. Còn những gì không trừ được là do không hiểu.
Hỏi: Lòng tin là vậy, còn siêng năng là sao?
Đáp: Siêng năng là khởi dậy sự tu tập, rèn luyện. Khởi, tập chuyên là ba thứ siêng năng. Khởi là dựng dậy điều lành, như khi nhóm lửa cần có những mồi. Tập là làm đi làm lại mãi. Chuyên là duyên vào một đối tượng, không buông lìa, không phân tán ý, như cứu lửa đang cháy đầu mình.
Hỏi: Thế nào là không buông lìa?
Đáp: Là không ngừng, không chán, không lìa ra. Ba điều ấy gọi là không buông lìa. Không ngừng là bất cứ khi nào cũng không tách xa với nó. Người ấy tự nói: Ta siêng năng Vô hạn, không bỏ phế, không nhàm chán. Ta một mực siêng năng bền bĩ, chịu mọi vất vả. Hoặc có kết quả hay không cũng không bao giờ rời buông. Tinh tấn không buông rời như vậy gọi là không buông bỏ. Có ba việc ấy, chắc chắn đạt kết quả, như kẻ đi đường vui thích nơi mình tới.
Hỏi: Đã nói tinh tấn, còn niệm thì sao?
Đáp: Niệm là thân Thọ nhận pháp tâm, trong ngoài đều không quên lãng. Đó là ba thứ niệm bên trong của mình. Cái khác là bên ngoài, hai sự đều đủ. Lại nữa, bên trong là Thọ-Ấm-Giới-Nhập, bên ngoài là Thọ những cái khác, cùng với không Thọ. Lại nữa, ba phiền não trong ngoài đều kết hợp. Bên trong là tham muốn, bên ngoài là giận dữ. Giận là giận kẻ khác, không phải tự giận. Nếu nghĩ như vậy, thì Dục cũng là kẻ khác. Điều ấy không đúng. Tại sao? Bên trong thì nhiễm, bên ngoài thì cái khác làm phát sinh tham muốn, khiến cho bên trong vướng mắc vào. Kinh nói: Ví như nhìn người nữ, thì nội căn hoạt động cùng lúc với sự si mê. Nếu diệt ba phiền não ấy, còn lại là ba niệm. Thân kẻ ấy, ba Thọ nhận với ba tâm pháp, thành mười hai thứ niệm.
Hỏi: Đã nói niệm, còn định thì sao?
Đáp: Là Không, Vô nguyện, Vô tướng. Với ba thứ định này, mọi
việc đều là không, nên gọi là Không.
Hỏi: Có nhiều thứ không, không làng xóm, không nhà, như vậy là nói đến cái không nào, trong những thứ không đó?
Đáp: Không là sự hoạt động của ngã và mọi chuyện ngã làm đều không thấy, do vậy nên gọi là không.
Hỏi: Làm thế nào để không thấy hoạt động của ngã và những việc ngã làm, như Đức Thế Tôn nói: Thuở ấy, ta tên là Phạm- chí Tùy- lam. Lại nữa, như đã nói: Này Tỳ-kheo, tay ta nắm lấy hư không.
Đáp: Không phải ngã hoạt động như vậy. Cái ngã làm là giả hiệu. Chỉ trong năm ấm chấp là ngã và hoạt động của ngã. Đức Thế Tôn không hành động như vậy.
Nếu bám chấp vào cảnh giới, cho là của ta, gọi là ngã tạo tác. Điều này, Đức Thế Tôn cũng không có. Như Kinh Thánh Pháp Ấn nói: Không là quán thế gian không. Thế gian đã là không thì mọi cái thành của ngã hay hoạt động của nó cũng đều là không.
Hỏi: Vô nguyện là gì?
Đáp: Là không lập quá khứ, hiện tại, vị lai, là không lập nghĩa, vì hết thảy đều là pháp hữu vi. Như kinh Thuyết Xứ nói: Nếu nghĩ: Ngã và Niết-bàn cùng gồm thâu nhau thì không đúng, vì Niết-bàn không có hai nghĩa. Niết-bàn lìa hết thảy thế gian, một mực không có điều kiện gì cả. Trong đó, không có ý niệm về ngã, lìa khỏi ba đời, không đây đó không thể nói năng. Do không ghi nhận ba đời, nên gọi là Vô nguyện.
Hỏi: Vô tướng là sao?
Đáp: Vô tướng là lìa cả việc làm có tướng hay không tướng. Lìa xa là Vô tướng; lìa xa hết thảy hữu vi, hết thảy mọi sự việc, hết thảy mọi sự tạo tác. Mọi việc làm là do Vô minh, phước hay không phước, đều không động đến, nó chỉ việc duyên lấy Thức, nối nhau phát sinh. Vô minh và hành là tạo tác, là hữu vi, lìa hết những cái đó, gọi là Vô tướng.
Lại nữa, như kinh Thánh Pháp Ấn nói: Vô tướng là không thấy sắc tướng, những gì trong sắc tướng gồm ba nghĩa thời gian đều lìa cả. Không, Vô nguyện, Vô tướng là định.
Hỏi: Thế nào là trí?
Đáp: Là hoạt động của lãnh vực Kiến, Tu, Vô học. Trí là tỉnh biết, là ba lãnh vực: Lãnh vực Kiến, lãnh vực Tu, lãnh vực Vô học.
Hỏi: Thế nào là kiến?
Đáp: Là thấy cái chưa từng thấy. Nghĩa là rèn luyện căn- lực- giác đạo chi, thật tu ở lãnh vực Thánh. Như dùng nước tro tốt, giặt áo, dù áo
sạch không còn dơ nhưng vẫn còn mùi tro. Sau đó phải dùng nhiều thứ hoa hương xông ướp nó. Như vậy lãnh vực kiến là ý thiền thanh tịnh, là Vô lượng các định, để từ đó đoạn trừ mọi kết sử đen tối nhất, đó là Tu. Còn Vô học là dâm-nộ-si bị diệt sạch, không còn sót chút nào. Đó gọi là Vô học.
Hỏi: Trí kiến địa là gì?
Đáp: Kiến địa là pháp quán trí vị tri, là pháp trí-quán trí-trí vị tri. Đó là trí kiến địa ở trong Pháp trí, thì hiện trí là nghĩa. Ví như thầy thuốc, biết bệnh ung nhọt đã mùi, liền lấy dao mổ nó, ông dùng ngón tay làm cho đường máu huyết lưu thông, không tổn thương gì đến mạch máu, rồi mới mổ. Người tu hành cũng như vậy. Khi chánh tư duy quán khổ nơi cõi Dục, cắt đứt hết phiền não gây khổ, phát sinh trí thứ hai, biết cõi Dục là khổ, Vô thường. Ở cõi sắc, Vô sắc cũng như vậy. Lấy trí này cắt đứt phiền não ở cõi sắc, Vô sắc, đó gọi là trí thấy khổ thứ ba. Ở cõi Dục, yêu mến là nhân của khổ. Pháp trí này tức là quán trí, như vậy cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri. Đó là kiến tập ba trí. Cái Diệt ở cõi Dục là pháp trí tức là quán trí; cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri, đó gọi là kiến tận ba trí. Đây là con đường diệt khổ ở cõi Dục, là pháp trí tức quán trí mà cõi sắc, Vô sắc là trí vị tri. Đó gọi là ba trí kiến đạo, là mười hai trí kiến địa đã nói rộng nên biết.
Hỏi: Thế nào là lãnh vực Tu?
Đáp: Là làm mãi sự hiểu biết tướng, biết hành, biết chủng. Đó là ba lãnh vực Tu.
Hỏi: Tướng biết là gì?
Đáp: Tướng là nổi lên, trụ rồi hoại. Nổi lên là sinh, trụ là thành, hoại là tiêu tan hết.
Hỏi: Nói rộng về chúng sinh, Niết-bàn thì có điều nghi. Niết-bàn, chúng sinh cũng có tướng này. Nếu có thì đó là một lỗi lớn, vì có là Vô thường. Nếu không phải vậy, thì kinh này có lỗi, bởi nó nói khởi, trụ, hoại là tướng hữu vi.
Đáp: Chúng sinh về tướng thì không thể nói hết được; nếu đã khác tức là có; thường như vậy, tức Vô thường. Hai lỗi đó không thể nói, Niết- bàn cũng như vậy, là bởi có phân biệt mới biết tướng nó, nên hoàn toàn là hữu vi.
Hỏi: Nay nói về công đức, tướng như thế nào là công đức?
Đáp: Nay nói về trí, nếu ở trong ba trí, thì công đức không phải là tướng.
Hỏi: Hành là gì?
Đáp: Hành là Vô thường, khổ, không có ngã kiến. Hành là biết hết nghĩa về hành. Tướng này, do là hành, biết nghĩa là hành, là ấm, Vô thường. Do Vô thường nên khổ, nếu đã khổ là không tự tại cho nên chẳng phải ngã. Vô thường là không dừng lại lâu, như bọt nước, khổ là sự bức bách, như tên cắm vào thân thể. Không phải ngã là không tự tại, như mượn chuỗi ngọc đeo chơi thôi. Đó là hành.
Hỏi: Thế nào là chủng?
Đáp: Chủng là lìa, vị ngọt, hoạn nạn. Chủng là vị ngọt, là hoạn nạn, là lìa.
Hỏi: Là sao?
Đáp: Là hữu vi. Trong đó, vị ngọt là diệu. Hoạn nạn là ác. Lìa là đều ngừng lại. Trời, Người tham thích là vị, ba đường khổ là hoạn nạn, ra khỏi tội phước là lìa. Quán như vậy là công đức của chánh kiến, tức được giải thoát, đó là chủng. Đây là trí của lãnh vực Tu.
Hỏi: Thế nào là Trí của lãnh vực Vô học?
Đáp: Là trí thông đạt khéo biện luận; là trí thông suốt, trí hiểu tận cùng, trí biện luận giỏi. Đó là ba Trí của lãnh vực Vô học.
Hỏi: Thế nào là trí thông đạt?
Đáp: Thông đạt là những gì ở đời trước như sinh tử, hữu lậu đã hết, đều có khả năng thông suốt, nên gọi là thông đạt. Biết về đời trước, biết về sinh tử, biết về lậu tận, đó gọi là thông đạt. Có khả năng đạt tới, cũng gọi là thông tỏ, nên biết đó là nghĩa thông suốt. Đối với trí túc mạng thì nhớ biết mọi việc đã làm trong quá khứ; đối với trí sinh tử thì biết được nghiệp quả; đối với trí lậu tận thì sẽ nói sau. Lại nữa, phiền não có ba thứ, thuộc lãnh vực của quá khứ, hiện tại, vị lai. Quá khứ có mười tám kiến chấp. Vị lai có bốn mươi bốn kiến chấp. Hiện tại đấy là thân kiến. Do vậy mà sinh trong hiện tại. Ở trong sự phân biệt quá khứ, vị lai; nếu có trí biết mọi chuyện đời trước thì không chê bai quá khứ. Nếu được trí biết về sinh tử, thì không còn ngu si. Còn nếu được trí biết về lậu tận ở đời vị lai, là không mê đắm hiện tại.
Hỏi: Thế nào là trí lậu tận?
Đáp: Trí lậu tận là trí biết hết, trí không còn sinh nguyện do ngã, phiền não đã hết sạch. Trí quán biết hết mọi cái đều là như vậy thì không còn sinh trở lại, đó là trí Vô sinh. Như thầy thuốc trị rắn cắn, biết trừ nọc độc, đó là trí thứ nhất. Nó không bị xông ướp do cái gì trước đó, là trí thứ hai. Trí Vô sinh thì cũng như vậy. Nguyện trí là hàng Thanh
LUẬN TAM PHÁP ĐỘ
QUYỂN TRUNG
(Tiếp theo Phẩm Đức)
Hỏi: Trước nói: Căn do là đầy đủ kết quả phương tiện, trong đó đã nói về đầy đủ phương tiện, vậy thế nào là quả?
Đáp: Là Phật, Bích-chi-phật, Thanh văn, đó là ba quả. Hỏi: Ai được quả?
Đáp: Là bậc trí giới thượng chỉ.
Hỏi: Nay xin nói căn do. Căn do là đạo, quả cũng là đạo chăng? Đáp: Quả này nói là hữu dư, trước nói là Vô dư. Vô dư là Bát Niết-
bàn, cho nên không có lỗi. Phật là người lìa hết thảy chướng ngại, có được mười lực, bốn Vô úy, đạt được hết thảy pháp Phật, không khác với giới-định-tuệ của chư Phật. Bích-chi-phật là tự giác ngộ, không nhờ ai. Thanh văn là do người khác giảng nói mà đạt được.
Lại nữa, giải thoát có đủ hai thứ: Lòng thương và sự chán lìa. Nếu có đủ lòng thương đắc đạo là Phật. Chán lìa có hai thứ, một: Do mình có, hai: Do người khác mà có. Tự mình có là Bích-chi phật. Do người khác mà có là Thanh văn. Lại nữa, biết hết, biết cùng khắp, đầy đủ công đức, xa lìa mọi điều ác là Phật. Tuy lìa ác, nhưng Bích-chi phật còn nhiều việc không bằng Phật. Thanh văn dựa vào những điều khác để lìa ác.
Hỏi: Thế nào là biết chư Phật không khác nhau? Thanh văn cũng lại như vậy sao?
Đáp: Thanh văn, thì ly Dục hay chưa ly Dục, là điểm khác nhau giữa A-la-hán và Thanh văn, phân biệt do trình độ. Lòng tin là hàng đầu trong năm trình độ. Nương vào bậc hạ bậc trung, thượng, cho nên Thanh văn có sự sai khác với hết thảy lãnh vực.
Hỏi: Ly Dục là gì?
Đáp: Vô Dục là tin, hiểu, kiến đáo thân chứng. Do tin là hàng đầu
để độ, cho nên nói tin hiểu, giải thoát. Lấy tuệ làm đầu để độ, cho nên nói là kiến đáo. Đủ hai cái ấy là thân chứng, đó là Vô lượng chủng. Tin giải thoát là thượng lưu hành Vô hành Bát Niết-bàn. Thượng lưu Bát Niết-bàn, hành Bát Niết-bàn, Vô hành Bát Niết-bàn, đó là ba tin giải thoát. Thượng lưu (dòng trên) là yêu thích điều dẫn tới chỗ cao cả, vả lại dòng trên là đạo, từ cõi Dục dẫn lên, nên gọi là dòng trên. Hành Niết-bàn, thì hành là Hữu vi, dùng nhiều phương tiện và duyên lấy đạo, đi tới Vô vi, nên gọi là hành Niết-bàn. Vô hành Niết-bàn, thì Vô hành là Vô vi, ít dùng phương tiện và đạo, duyên nơi Vô vi đi tới Vô vi, gọi là Vô hành Niết-bàn. Đó là ba thứ tin giải thoát.
Hỏi: Thế nào là kiến đáo?
Đáp: Kiến đáo là trung sinh Niết-bàn, cũng là kiến đáo thượng lưu, cũng là ba thứ: Trung Niết-bàn, Sinh Niết-bàn. Thượng Lưu Niết-bàn. Trung Niết-bàn là thân này chết rồi, chưa sinh còn sót đắc đạo. Trung Niết-bàn như đóm lửa nhỏ, chưa rớt đã tắt, nghĩa này cũng vậy. Sinh Niết-bàn là như lửa chạm tới đất mới tắt. Như vậy là đầu tiên thứ lớp, mới đắc đạo Niết-bàn. Còn Thượng lưu, như trên đã nói. Cõi Vô sắc cũng như vậy. Đó là ba kiến đáo.
Hỏi: Thế nào là thân chứng?
Đáp: Thân chứng là hành, Vô hành, sinh Niết-bàn. (Trước đã nói) Hỏi: Không phải làm là sao? Lặp lại chăng?
Đáp: Không phải. Khác cõi cho nên ly Dục giới và ly Sắc giới. Đó là trừ hết hai thứ trung ấm. Chẳng phải trung ấm có ở cõi Vô sắc. Lại nữa, trước đã nói không giải thoát, còn thân chứng có giải thoát. Giải thoát sẽ nói sau.
Hỏi: Ly Dục, thế nào là chưa ly Dục?
Đáp: Chưa ly Dục là Bạc địa Tu- đà- hoàn thứ tám. Bạc-địa, Tu- đà-hoàn, thứ tám đó là ba bậc chưa ly Dục.
Hỏi: Tại sao là thứ tám, nếu kể thì phải là thứ nhất, chứ không phải là thứ tám. Ban đầu hướng đến rồi sau mới đến A-la-hán. Tại sao phải A-la-hán này?
Đáp: Không phải quán như vậy, như người thì có tám (giai đoạn). Nhỏ không lấy lớn làm thứ bậc, tám là lấy ấu thơ làm thứ bậc. Đức Thế Tôn nói, công đức có tám bậc mà A-la-hán là lớn, do các lậu đã hết, gọi là ban đầu, hướng đến đó là ấu thơ. Đó là nói thứ bậc có tám.
Hỏi: Thế là sao?
Đáp: Bậc thứ tám là lòng tin, trí tuệ đầy đủ. Khi người ta là người
thường thuộc dòng họ nào đó, có đầy đủ lòng tin và trí tuệ; thì hoặc lòng tin của họ vượt cao thì trí tuệ cũng phát triển theo. Hay trí tuệ vượt cao, thì lòng tin cũng phát triển theo. Hoặc cả hai, cùng có như nhau, đó là phát sinh pháp trí. Từ tín, hạnh mà căn thuần thục, từ pháp hạnh mà căn vừa đủ, từ hạnh đầy đủ mà thành lợi căn. Ba thứ đó là thứ tám. Do lòng tin cao vượt mà thấy được sự thật (Đế), bảy thứ tuệ cao tột, vừa đầy đủ hay cao đẹp, đó là gia gia, là kiến địa. Nếu chuyển lên lãnh vực Tu thì địa ở đó mỏng đi. Lòng tin cao vượt, thì chỉ còn một lần qua lại sinh tử. Tuệ vượt cao là đầy đủ sự cao đẹp, là ly Dục ở cõi Dục. Lòng tin vượt cao thì đó là tin, giải thoát. Tuệ vượt cao là kiến đáo. Cả hai đều vượt cao là lìa sắc, được thân chứng. Mọi lậu đều hết sạch, lòng tin cao vượt là tuệ giải thoát. Tuệ vượt cao là đầy đủ giải thoát (câu giải thoát). Đầy đủ được giải thoát, đều là vượt cao, cũng là câu giải thoát.
Lại nữa, lòng tin vượt cao là căn đã thuần. Tuệ vượt cao là trong đó căn cũng đều vượt cao và là lợi căn (-khôn lanh). Cứ thứ lớp như vậy mà lên cao.
Hỏi: Đã nói rộng về thứ tám, dần dần phát sinh thành rừng công đức, nhưng không biết cái ấy gọi là gì?
Đáp: Là người Tu-đà-hoàn, đi đến tận pháp thứ bảy là ở trong gia gia. Tu-đà-hoàn là ba thứ, trụ nơi quả thứ nhất cầu Tu-đà-hoàn thứ hai, đó là đạo. Lên Đạo nên gọi là hoàn. Thân thấy được giới, đoạn trừ hết mọi trộm, nghi các cõi ác. Căn thuần thục đến mức chót thứ bảy thì hưởng vui trong cõi Trời, người, cốt yếu là Niết-bàn. Gia gia cũng trụ ở quả thứ nhất đã đoạn trừ sạch sẽ ba kết sử. Điều tư duy đoạn thì hết một ít. Do vậy, trong sự sinh từ gia đến gia mà tới Niết-bàn. Trung là hai thứ trung này, không phải một mực từ gia đến gia, mà tới Niết-bàn. Cũng không phải một mực đến tận mức thứ bảy ở cõi Trời, người sinh vào Niết-bàn, ở nơi Niết-bàn trung gian.
Hỏi: Là Tu-đà-hoàn, còn thế nào là Bạc địa (cõi phiền não đã mỏng)
Đáp: Bạc địa là một trở lại- một chủng- trung; là trụ trong kết sử mỏng của cõi Dục, nên gọi là Bạc địa. Trong ba điều: Một trở lại- một chủng- trung, thì một trở lại là lần chót sinh ở cõi Trời rồi vào Niết-bàn. Một chủng là Thọ thân một lần, rồi vào Niết-bàn, do công đức đã thêm nhiều lên. Trung là đủ hai thứ này. Ba loại ấy gọi là chưa ly Dục.
Hỏi: A-la-hán là sao?
Đáp: A-la-hán là lợi, độn, trung căn. A-la-hán được gọi là cúng
dường, là đủ khả năng nhận lãnh sự cúng dường.
Hỏi: Đủ sức nhận lãnh cái gì?
Đáp: Là hết thảy chúng sinh. Nói A-la-hán là có ba bậc: Lợi căn- Độn căn-Trung căn.
Hỏi: Lợi căn là sao?
Đáp: Lợi căn là tiến lên pháp bất động mà trụ pháp. Đó là lợi căn. Pháp thăng tiến, pháp bất động, nên biết đều là lợi căn. Trụ pháp, nghĩa là lìa phương tiện, trừ phiền não. Tiến lên là trừ hết phiền não, cầu cái cao hơn đều đạt. Cao hơn, là thông suốt biện luận. Pháp Bất động là đã chứng quả cao đẹp. Hết thảy mọi nói năng không cần sử dụng biện tài. Đó gọi là lợi căn.
Hỏi: Độn căn là sao?
Đáp: Độn căn là thoái pháp-niệm-hộ, là thoái pháp- niệm pháp- hộ pháp. Có hai thứ đó là Độn căn. Thoái pháp là lui xuống, không phải Thánh đế, là thoái lui xuống ở tu địa. Tu là tu tập. Không tu tập nên nói là thoái. Như học kinh mà không luyện tập nên thường hay quên, không luyện tập như vậy là thoái lui xuống lãnh vực tu. Đó cũng là bệnh nghiệp tham gây tranh, xa lìa quán chiếu, nên phải thoái lui, do vậy nên gọi là tu địa. Niệm pháp là đã được A-la-hán, nhưng hạnh yếu kém, nên thân cũng yếu kém, mới nghĩ như vầy: Những gì ta làm, đã làm, thì trụ vào cái gì? Suy nghĩ là nhớ đến nhiều việc, là nhớ đến của cải, như áo quần, thế nên chỉ cần nghĩ một điều là bỏ thân mạng, để hộ trì chánh pháp, không thoái lui, cũng không nghĩ ngợi cái gì khác, chỉ dùng phương tiện hết sức lớn mà hộ trì. Như người nghèo phải có nhiều phương tiện để giữ gìn của. Đó là độn căn.
Hỏi: Trung căn là sao?
Đáp: Trung căn là Tuệ giải thoát, là giải thoát đủ, không đủ. Được Tuệ giải thoát là thấp.Giải thoát cũng có hai: Một là được cụ giải thoát ; hai là không được cụ giải thoát. Tín và Tuệ, nếu đã được hai thứ này thì gọi là thắng (vượt hơn).
Hỏi: Giải thoát là gì?
Đáp: Là diệt tận Dục-Sắc, là giải thoát khỏi cõi Dục, cõi Sắc. Diệt trụ thượng tâm, và ba cõi đều hết, đó là ba giải thoát. Ra khỏi phiền não cũng gọi là giải thoát.
Hỏi: Giải thoát Dục là sao?
Đáp: Là giải thoát hết mọi tham muốn về nội sắc tưởng, Vô sắc tưởng, bất tịnh và tịnh. Nội là bên trong chính mình, có hai thứ là hữu sắc
tưởng và hoại sắc tưởng. Sắc ở bên trong hư hoại, như khi ngồi ở gò mả quán thấy thịt rã rời từng khúc, mắt lòi, bụng nước chảy rỉ, nơi đại tiểu tiện hiện ra những bất tịnh. Luôn thấy bao nhiêu là giòi bọ nhung nhúc ở đó, chim quạ tranh nhau ăn. Tay chân, đầu lâu, vung vãi mỗi nơi. Thấy vậy thì không còn tham muốn nữa, liền nghĩ như vầy: Thân như thế đó, mà chúng sinh dùng nó để giận dữ, tranh cãi, ganh đua, kiêu mạn, tạo ra Vô lượng ác... Nhìn rõ như vậy rồi, giải thoát khỏi điều ác, ngừng tâm vào định. Đó gọi là nội sắc tưởng bất tịnh mà giải thoát. Nội thứ hai là hoại sắc tưởng, do định nên như là Vô sắc, lập phép quán như vầy. Thân kẻ khác cũng thế mà thôi! Đó gọi là nội Vô sắc tưởng. Từ bất tịnh mà giải thoát, tịnh mà giải thoát là như khi nhìn thấy màu áo xanh-vàng-đỏ- trắng kia, liền phát ý tư duy, tâm trụ, không bị lay động, đó là tịnh giải thoát. Cả ba thứ này là giải thoát khỏi tham muốn.
Hỏi: Giải thoát khỏi sắc là sao?
Đáp: Giải thoát khỏi sắc là không còn tham muốn, lìa sắc- Vô sắc, trụ vào bốn thứ tâm, cũng còn hữu lậu; đó gọi là sắc giải thoát.
Hỏi: Thế nào là diệt tận giải thoát?
Đáp: Tâm- ý nghĩ và tưởng, đều dập tắt hết. Đó gọi là diệt tận giải thoát.
Phẩm thứ hai: ÁC
Hỏi: Đã nói rõ về phẩm đức với ba chân độ. Thế nào là ác?
Đáp: Ác là hành động ác-ái-Vô minh, đó là ba thứ ác. Ác làm nhơ bẩn hạnh lành, nên gọi là ác, như kẻ nhơ bẩn, gọi là kẻ nhơ bẩn, do ý luôn tham điều ác, như heo tham chỗ nhơ bẩn. Ban đầu là thân-miệng-ý làm ác, từ đó mọi điều ác tăng lên. Hành động ác là toàn bộ những việc làm của người ác. Thân làm chuyện ác, gọi là hành động ác của thân, miệng và ý cũng vậy.
Hỏi: Thế nào là thân hành động ác? Đáp: Là giết, ăn trộm, và dâm.
Hỏi: Giết là sao?
Đáp: Là nhớ nghĩ tới, là dạy người làm và tự làm, là ba thứ giết. Ăn trộm cũng thế. Tà dâm cũng vậy, đều có ba cách đó.
Hỏi: Còn những việc khác là sao? Chưa biết niệm, thế nào là niệm?
Đáp: Niệm (nhớ nghĩ), là tâm tham muốn, muốn kẻ khác làm để
mình vui theo. Niệm gọi là suy nghĩ, có ba thứ: Tâm muốn làm, sai kẻ khác làm, vui thấy người làm. Đó gọi là ba thứ niệm.
Hỏi: Thế nào là dạy?
Đáp: Là khuyên bảo, khiến cho kẻ khác làm theo. Có ba thứ dạy: Chỉ bày, sai khiến, bắt buộc. Như ngoại đạo dạy giết heo- dê tế trời là chỉ bày. Như vua ra lịnh cho bề tôi: Ta có giặc thù, các khanh hãy ra đánh với chúng, đó là lịnh sai khiến. Bắt buộc như có người nói: Tên kia là kẻ thù của ta, anh đến đó giết nó cho ta. Người này đáp: Xin vâng. Đó là bắt buộc làm cho được. Như vậy đó là ba thứ dạy bảo.
Hỏi: Thế nào là thực hiện (là làm)?
Đáp: Thực hiện là ý tưởng nghĩ tới chúng sinh bỏ mạng. Thực hiện là làm xong công việc đó. Như nói sát sinh, thì biết đó là dạy bằng cách ra lịnh, bắt phải nhận. Ý khi làm chuyện ác đều cũng như vậy. Trong khi nói thực hiện giết thì đều nghĩ là có kẻ phải bỏ mạng. Thực hiện ở đây cũng đủ ba thứ như đã nói trên.
Trường hợp thầy thuốc vì không hiểu mụt nhọt nguy hiểm, phá nó nên làm chết người. Đó không phải thầy thuốc giết người, vì ông không có ý hại. Trường hợp này, không đủ ba yếu tố nên không gọi là sát sinh.
Hỏi: Thế nào là ăn trộm?
Đáp: Ăn trộm là nghĩ tới đồ đạc của người ta, có ý lấy lén. Ăn trộm cũng đủ ba yếu tố. Tại sao? Trường hợp lấy lầm đồ đạc của người ta là không có ý ăn trộm, vì thứ ấy giống của mình. Của cải của người ta không có ý lấy là không trộm, giá như có nắm lấy sự hiểu biết về vật của người, cũng không gọi là trộm. Như vậy nếu không đủ ba yếu tố, thì không phải là ăn trộm. Đủ ba yếu tố mới gọi là ăn trộm.
Hỏi: Thế nào là tà dâm?
Đáp: Tà dâm là người đã Thọ pháp mà hành dâm không đúng đạo, gọi là tà dâm. Có ba thứ: Phạm vào người đã Thọ pháp, phạm vào pháp đã Thọ, phạm chuyện trái đạo.
Hỏi: Đã nói dâm là gốc, còn lý do nào nói là tà dâm?
Đáp: Người có hai: Người xuất gia và người tại gia. Người xuất gia hành dâm, đó là hạnh xấu. Người tại gia hành dâm không phải là hạnh xấu, tà dâm mới là hạnh xấu. Tại gia hành dâm bị coi là hạnh xấu đó là người Tu-đà-hoàn, hành dâm sẽ bị đọa địa ngục. Ngoài ra tà dâm đều là hạnh xấu.
Hỏi: Thế nào là nhận theo người khác?
Đáp: Nhận theo người khác là nhận theo thân chủ, nhận theo vua là chủ. Thân chủ nhận lấy, vua nhận lấy, đó là tất cả sự nhận theo người khác. Với chủ thì chủ nhận lấy, có hai thứ: Tới tuổi và còn nhỏ. Trường hợp tới tuổi, theo gia pháp của phương thổ, thì con gái là thuộc ông chủ, nếu người ngoài hành dâm với cô con gái đó, là tà dâm. Trường hợp còn nhỏ là thuộc ông chủ, nếu con gái đã nhận đồ vật của kẻ khác, gần đến kỳ hạn, lại dâm với người con gái ấy, vẫn là tà dâm. Thân là cha mẹ, anh em, cậu v.v... và dưỡng nữ. Nếu bỏ con gái mà lấy dưỡng nữ đó là ông chủ nhận lấy. Nếu không có người thân, không có chủ, thì vua nhận lấy.
Hỏi: Thế nào là pháp Thọ?
Đáp: Pháp Thọ là học pháp trai tộc. Nếu lãnh nhận học pháp thì gọi là học pháp Thọ. Nếu Thọ trai pháp, thì gọi là nhận lãnh trai pháp. Nếu nhận tộc pháp thì gọi là nhận lãnh tộc pháp, trong đó có nhiều điều đáng nói. Học Thọ pháp là nếu trước đó chủ đã cho phép học, nhưng sau phạm, là tà dâm. Trai pháp Thọ là nếu trước đó chủ đã cho pháp Thọ trai, nhưng sau phạm, là tà dâm. Tộc pháp Thọ là như trước đã nói chủ nhận, nhưng kinh nói, muốn khiến đủ ba pháp nên nói lại tộc pháp Thọ là: Mẹ, chị em gái và những người nữ cùng họ, thảy đều không được phạm, nếu phạm là tà dâm.
Hỏi: Thế nào là hành động trái đạo?
Đáp: Hành động trái đạo là người nữ sinh ra kẻ ái nam- ái nữ gọi là hành trái đạo. Nếu người nữ mới sinh nở, sau đó phạm đạo, cũng gọi là hành trái đạo. Nếu cưỡng hiếp gái chưa gả cũng là hành trái đạo. Và dâm với kẻ ái nam- ái nữ cũng là hành trái đạo. Đó là những hành động trái đạo.
Hỏi: Điều đó nói chưa đủ, là sao?
Có phải còn nhiều lối tà dâm khác, nhưng ở đây chưa gồm thâu vào để nói. Vì không gồm thâu thì nói chưa đủ phải không?
Đáp: Đây nói đủ rồi. Tại sao? Trước đã nói, phải rời người nữ vừamới sinh nở. Nếu nói vậy là biết sinh sản còn phải nuôi nấng con. Nếu nói lìa đàn bà sinh nở, tất biết các chuyện khác rồi. Cho nên đây nói là đã đủ.
Hỏi: Những điều ác và phi nghĩa này, phát sinh từ đâu? Đáp: Cả thảy đều từ dâm-nộ-si mà ra.
Hỏi: Thế nào là hết thảy đều là sát đạo dâm ?
Đáp: Không phải chỉ là vậy. Chỉ nói dâm, là do nó gồm thâu cả
thảy. Cho nên chỉ đi tìm gốc là dâm thôi. Hết thảy những hoạt động ác của thân- miệng- ý sẽ nói riêng.
Hỏi: Thế nào là sinh ra từ ba thứ ác, trong đấy có lỗi. Tại sao? Không phải do lạc Thọ- khổ Thọ nhất thời sinh ra, cũng không phải do giận dữ, lạc Thọ sai khiến. Dâm là do vui thích, hành tập nên ham muốn là dâm, vậy trong đó giận là sao?
Đáp: Chẳng phải là nói từ dâm mà sinh giận sao? Trong đấy nói bản ý là yêu thích hình Thức bên ngoài, nên khởi lên giận mà giết. Như vậy, là trước đã có ý nổi giận: Nó xâm phạm vợ mình, mình báo thù; nhưng sau đó khởi lên yêu thích nên hành dâm. Ban đầu là từ giận mà sinh ra, tham muốn cũng từ đó sinh ra, nên nói không lỗi. Những chuyện khác cũng như vậy.
Hỏi: Trước nói hết thảy đều từ dâm-nộ-si sinh ra, trong đó đã nói hành động ác của thân. Nhưng chưa biết hành động ác của miệng là sao?
Đáp: Hành động ác của miệng là nói thêu dệt, nói không thật, nói trống rỗng. Hành động ác của miệng có bốn thứ, nhưng chỉ nói ba, cũng đủ như có bốn.
Hỏi: Thế nào là nói không thật?
Đáp: Nói không thật là vì lợi của mình, của người nên tránh nói thật. Không nói thật là hành động ác của miệng, là vì mình, vì người, vì lợi nên cố ý nói không thật. Tránh nói thật là cố ý che giấu, đó là ý biết, nhưng miệng lại nói khác đi. Vì mình là chính mạng mình, vì người la bởi thân quen, vì lợi là bởi của tiền. Đó là ba thứ, khiến không nói thật. Còn như Đức Thế Tôn đã nêu bày về nói dối khi ở giữa chúng, ở giữa quyến thuộc, là do ngài đã biết nhân mình, nhân người khác, nhân lợi.
Hỏi: Đã nói miệng không nói thật là hành động ác, vậy miệng không nói trống rỗng có phải hành ác không?
Đáp: Không nói trống rỗng là không ái-biệt-ly. Mọi hoạt động đó nên gọi là nói trống rỗng, vì: Không yêu mến nên mới làm chuyện chia lìa. Làm đủ mọi chuyện ấy, là do không yêu mến. Làm tức là nói lời ác. Nhưng yêu mến mà nói lời giận thì đó không phải là ác khẩu. Ác khẩu là chuyện đã như vậy mà nói khác đi. Đức Thế Tôn cũng nói lời ác, là do ngài thương xót ông Điều đạt, mà nói lời giận dữ. Hành động nói mà không có lòng yêu mến mới là ác khẩu. Như kẻ mù giận dữ la lên là mù, tuy có nói thật nhưng cũng là ác ý, cho nên không yêu mến mà nói là hạnh ác. Đối với hoạt động chia lìa, tuy có nói thật, nhưng vì phải chia
lìa, nên mới nói hai lưỡi. Nếu không vì hành động chia lìa mà có thể làm cho chia lìa thì chẳng phải là hai lưỡi. Nếu không vậy thì Đức Thế Tôn cũng nói hai lưỡi. Đức Thế Tôn vì xót thương kẻ dị học, tạo cho đệ tử chia lìa, để vượt qua lỗi lầm xấu ác cùng hành, có hai việc: Nói không thiệt và nói không trống rỗng. Như vậy ác khẩu là dùng miệng nói lời xấu ác, nên cũng gọi là hai lưỡi.
Hỏi: Thế nào là nói thêu dệt?
Đáp: Nói thêu dệt là nói lời Vô nghĩa, nói không đúng, nói không hợp thời. Nói không thành thật, không nghĩa, không đúng lúc. Đó là ba thứ nói thêu dệt. Phân biệt thì có Vô lượng. Nói không hợp thời, là đúng lúc nói thì không nói, không đúng lúc lại nói. Như khi đi dự đám cưới, có người ở nơi đám cưới lại nói là mọi chuyện hội họp đều tan rã hết, vạn vật đều Vô thường, thạnh ắt có suy! Anh này mau bỏ chuyện ấy đi. Anh nói lời đó được Phật, Bích-chi phật, Thanh văn khen ngợi, nhưng vì anh ta nói không đúng lúc, cho nên bị tội thêu dệt. Nói không thành thật là nghĩ thật, mà nói quẹo đi, ví như kẻ Dị học nói ta là Bồ tát, như vậy có thể anh ta nghĩ thật mà nói thêu dệt. Tại sao? Vì anh ta không phải là Bồ-tát, anh ta chỉ nghĩ vậy thôi. Nói với kẻ khác rằng mình là Phật, là Bồ-tát tức là nói dối. Tại sao? Vì anh ta vốn không phải Phật, Bồ-tát. Nói Vô nghĩa là nói chuyện vui-buồn, ca-múa-hát-vui, làm hề. Nói ác khẩu là thực hiện những cách nói như vậy.
Hỏi: Thế nào là những hành động có ý ác?
Đáp: Hành có ý ác là mọi hoạt động của ý đều là tham lam, giận dữ, tà kiến. Nó gồm ba thứ đó. Tham là mong muốn vật của người ta.
Hỏi: Nếu Tham là mong muốn vật của người ta, như vậy là có lỗi nói lặp? Vì trong ý có nên họ mới nói ra như vậy. Ý nghĩ là tâm muốn, tâm muốn thì tự làm, hoặc khiến kẻ khác làm cho mình vui.
Đáp: Đây không phải nói lặp, mà có ý như vầy. Khi ý nghĩ muốn thì muốn làm cho được, trong ấy tuy không muốn làm, nhưng muốn đoạt lấy của người, đó là Tham, là muốn của cải kia về ta. Như vậy ý đã nhiễm vào của cải nơi người, còn tham là hướng về đồ đạc của người. Giận dữ là bức bách người ta với ác ý.
Hỏi: Tà kiến là gì?
Đáp: Tà kiến là không thấy được nghiệp quả trái nhau. Không thấy nghiệp trái nhau, không thấy quả trái nhau. Nói gọn đó là ba thứ tà kiến, nếu phân biệt thì Vô lượng. Những cái thấy khác mà cũng như vậy đều là tà kiến.
Hỏi: Thế nào là nghiệp trái nhau?
Đáp: Nghiệp trái nhau là ý tịnh hay không tịnh, ý không tịnh hay tịnh đều là một ý. Ý tịnh hay bất tịnh, ý bất tịnh hay tịnh đều là một ý. Đó là ba thứ nghiệp trái nhau.
Ý tịnh mà bất tịnh, là nghiệp lành của thân khẩu ý, nhưng nghiệp quả không lành. Ý bất tịnh mà tịnh là nghiệp không lành của thân khẩu ý, nhưng nghiệp quả lành. Đều một ý là nghiệp của thân khẩu ý thiện hoặc bất thiện. Quả bất thiện hay thiện cũng như vậy. Phân biệt nghiệp, phân biệt quả cũng như vậy. Thiên thượng khổ, Niết-bàn khổ, như vậy là so sánh quả tịnh mà ý bất tịnh. Vui đường ác, vui sinh tử; như vậy là so sánh quả bất tịnh, ý tịnh. Khổ đường ác, không phải là khổ, như vậy là so sánh đều một ý.
Hỏi: Thế nào là không thấy?
Đáp: Không thấy là chúng sinh không thấy được nghiệp quả. Không có nghiệp kiến, không có quả kiến, không có chúng sinh kiến. Đó là ba thứ không kiến. Không có nghiệp kiến là không thí, không trai, không nói, không phương tiện, không làm nghiệp thiện và bất thiện. Không quả kiến là cho làm lành- làm ác đều không có quả báo, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Không có chúng sinh kiến là cho là không có cha mẹ, không có chúng sinh, không có sự sống trên đời, không có thật Sa-môn, Phạm chí. Đó gọi là Vô lượng thứ tà kiến. Ở đây nêu ra ba thứ ý. Làm chuyện ác có Vô lượng thứ. Tà kiến là nhân của mọi việc ác đã làm, trái với hết thảy nhân của mọi việc lành đã làm, đã nói trong giới ở trước.
Đã nói xong phẩm ác nơi chân độ.
-------------o0o-------------
Hỏi: Đã nói hạnh ác, thế nào là ái?
Đáp: Ái là dính vào giận dữ kiêu mạn. Nhiễm- giận- mạn, là ba thứ ái. Ái là cầu tìm. Ba thứ chỉ nói một là đủ.
Hỏi: Nhiễm là sao?
Đáp: Nhiễm là vướng mắc vào Dục-hữu-phạm hạnh. Vướng mắc Dục, vướng mắc hữu, vướng mắc phạm hạnh, đó là ba thứ nhiễm. Trong đó, Dục có năm: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc. Nó nương vào ba nhiễm này, làm cho mọi người đắm vào cái vui. Mọi việc khác thì không như vậy. Trong vướng mắc Dục, đó là tham muốn nam nữ, ái nam ái nữ, nữ tham muốn nam, nam tham muốn nữ và ái nam ái nữ. Kẻ ái nam ái nữ tham muốn nữ, nam.
Hỏi: Trước nói vướng mắc tham muốn có năm; nay nói nam nữ, ái
nam ái nữ, không phải là lỗi sao?
Đáp: Nam nữ, ái nam ái nữ là nhứng vướng mắc sâu nặng trong năm Dục. Những việc khác, thì không như vậy. Như Đức Thế Tôn nói: Ta không thấy có sắc nào khác hơn, là sắc nam nữ yêu mến nhau trong năm Dục như vậy. Cho nên không có gì vượt qua ái. Cõi Dục có ba thứ vi, trung, thượng. Vi là nam tham muốn, trung là nữ tham muốn, thượng là ái nam ái nữ tham muốn. Đó gọi là sự vướng mắc của tham muốn.
Hỏi: Thế nào là vướng mắc vào hữu?
Đáp: Vướng mắc vào Hữu là Dục-sắc-Vô sắc hữu, là sự vướng mắc vào Dục hữu-Sắc hữu-Vô sắc hữu. Đó là vướng mắc hữu.
Hỏi: Đắm say Dục này thì như trước đã nói. Nam nữ ái nam ái nữ, nay tại sao nói trong đó có vướng mắc hữu?
Đáp: Vướng mắc Hữu là do chúng sinh nên mới nói có vướng mắc Dục. Do phiền não cho nên mới nói: Hết thảy cõi Dục thì pháp nói là Dục hữu. Vì vướng mắc vào nó, nên gọi là Dục hữu. Vướng mắc vào cõi sắc thì pháp nói là sắc hữu. Vướng mắc cõi Vô sắc thì pháp nói là Vô sắc hữu. Đó là nói riêng, nên không có lỗi.
Hỏi: Thế nào là tham mê phạm hạnh?
Đáp: Tham mê phạm hạnh là tham mê cái chưa được, cái đã được bị mất thì buồn rầu. Tham mê phạm hạnh là cái đã được thì đắm say vào đó, cái chưa được thì mong cầu, nếu mất thì rất buồn rầu. Vì nghĩa đó, nên mới nói việc tham mê Dục hữu này. Như vậy Dục hữu và tham mê phạm hạnh, mỗi thứ có ba thành chín. Lại nữa, như kẻ được nữ nhân liền đắm say, chưa được thì mong cầu, được rồi bị mất thì buồn rầu. Nam bất thành nam (ái nam ái nữ) tham muốn ttham đắm, cũng có chín thứ. Như vậy, tham mê phạm hạnh, tham mê hữu, phải nói đến hai bảy thứ.
Hỏi: Tham mê phạm hạnh mà được như vậy, có phải là phiền
não?
Đáp: Có. Như Đức Thế Tôn nói, có ba thứ cầu: cầu Dục, cầu hữu,
cầu phạm hạnh. Cầu ái nhiễm có một nghĩa. Vả lại, như đã nói, Dục và phạm hạnh thường nghĩ là lìa ái.
Hỏi: Nếu vậy, thì phạm hạnh không thể thực hiện được. Tại sao? Do có tham đắm. Lại nữa, tham đắm như đã nói, thì hết thảy phạm hạnh đều có tham đắm.
Đáp: Nên dùng phương tiện mà thực hành, như dòng họ Thích đã làm. Dòng họ Thích thực hành phạm hạnh, nhưng không ttham đắm vào phạm hạnh, họ đã lìa khỏi tội phước, hành đạo không cầu quả. Nếu cầu
quả thì vướng mắc vào ngã chấp, cho rằng với giới này, với khổ hạnh này, với phạm hạnh này thì được sinh lên cõi trời. Cho rằng mọi hạnh khác cũng tham đắm ô nhiễm như vậy, luôn tự hỏi khi nào ta được phạm hạnh, để ta sinh vào cõi sung sướng. Họ tham đắm vào phạm hạnh, ttham đắm vào cái vui đời sau, chỉ biết nhớ thật chắc cái vui. Đó là làm chuyện phi phạm hạnh, nên rồi hối hận: Ôi! ta đã thoái tâm, rồi buồn rầu. Đó gọi là tham đắm phạm hạnh.
Hỏi: Thế nào là giận dữ?
Đáp: Giận dữ là với chính mình, người thân, oán thù có sự phẫn nộ.
Phẫn nộ với mình, với người thân, với sự thù oán; là ba thứ giận dữ.
Hỏi: Thế nào là giận dữ, yêu mến nơi chốn?
Đáp: Giận dữ là tìm cái xấu, tìm cái chẳng đáng yêu mến. Đã có bốn môn để trong đó mình, người thân, sự oán thù hoạt động.
Hỏi: Là thế nào?
Đáp: Là mình và người thân chưa được vui thì tìm cầu, được rồi thì khiến không mất. Đã được, nhưng khổ quá thì buông bỏ, nên chưa được thì không muốn được nữa. Do vậy mình và thân tộc bốn chủng là thù nhau. Chưa được khổ, muốn cho được. Đã được, muốn không buông. Chưa được vui, muốn làm cho không được, đã được thì muốn làm cho mau mất. Đó là vì oán cầu ác, là giận dữ. Do vậy, nói yêu mến nơi chốn và giận dữ là không có lỗi.
Hỏi: Thế nào là vì mình?
Đáp: Vì mình là có ba thời gian cầu không được lợi, là quá khứ- hiện tại- vị lai. Người ấy vì mình tìm cầu đều không được lợi. Hiện tìm cầu vẫn không được lợi, bây giờ tìm cầu vẫn không được lợi, nên nổi giận. Đó là vì mình mà cả ba thời tìm lợi đều không được, nên nổi giận.
Hỏi: Người thân là gì?
Đáp: Người thân cũng như vậy. Như vì mình mà ba thời tìm cầu đều không được lợi, nên nổi giận. Như thế, vì người thân ba thời tìm cầu cũng bất lợi, nên nổi giận.
Hỏi: Là thế nào?
Đáp: Như đã nói, ta- người thân ái, đã tìm cầu mà không được lợi, đang cầu, hiện cầu cũng không được lợi, nên nổi giận. Đó gọi là thân.
Hỏi: Thế nào là oán?
Đáp: Oán kẻ khác, nhà khác. Như nói: Ta oán nó đã làm như vậy. Ta đang cầu- hiện cầu, mà vẫn không được lợi, nên nổi giận. Như vậy oán mà cầu lợi. Ba thời gian đều nổi giận, là có chín thứ giận.
Hỏi: Giận này và ba hạnh ác, có khác nhau không?
Đáp: Đây là nương vào phương tiện mà sinh ra, còn hạnh ác nổi giận, là từ chỗ không có trí mà sân hận.
Hỏi: Hết thảy chúng sinh có chín thứ giận như nhau chăng?
Đáp: Giận này như vẽ trên nước, trên đất, trên đá. Giận là tùy chúng sinh. Có bao nhiêu chúng sinh thì giận cũng có ba hạng là hạ, trung, thượng. Như vẽ vào nước thì liền mất ngay, vẽ lên đất thì một chút mới tan biến, do gió mưa hay yếu tố khác, còn khắc vào đá thì nó sống với đá, không còn đá nó mới diệt. Như vậy, chúng sinh có bao nhiêu là thứ giận, hoặc khi giận vừa nổi lên, liền tự trách mình. Ta không phải là chúng sinh, trong pháp diệt tự nhiên, ta đang diệt do Vô lượng khổ bức bách, ta không có lý do nào gây hại cho kẻ khác, nên không nẩy ý ác. Khi quán như vậy, thì sự giận kia tự dứt, ví như vẽ trên nước. Hay khi nổi giận, mà không kìm chế được, thì nhờ thầy- bạn lành thương xót quở trách, mới dừng được, ví như vẽ trên đất. Hoặc ý ác, không chánh tư duy mà nổi giận, thì Phật, Bích-chi phật, Thanh văn cũng không ngăn dừng được. Chỉ ôm theo mình cho đến khi diệt để nó cùng diệt, ví như khắc vào đá. Đó gọi là giận dữ.
Hỏi: Thế nào là kiêu ngạo?
Đáp: Kiêu ngạo là dấy khởi ý thấp, vừa và cao, dựa vào đó, nên gọi là kiêu ngạo. Lại tự nâng mình lên so với kẻ kia, nên sinh ra kiêu ngạo. Đó là ba thứ khởi ý hèn kém, cho ta bằng, ta cao hơn. Đối với người giàu có, dòng dõi tốt, thì nghĩ ta không bằng họ; đó gọi là khởi ý hèn kém. Nếu đối với kẻ giàu khác, khởi ý ta bằng họ, đó là khởi ý ta bằng. Nếu gặp người giàu có khác, nổi ý: Ta hơn họ, đó là khởi ý ta cao hơn.
Hỏi: Đã nói tướng của ba thứ kiêu ngạo là: Hèn kém, bằng, cao hơn. Làm thế nào để biết đó là chân độ? Phân biệt hết thảy loại kiêu ngạo, thì có Vô lượng thứ, như ở đây nói là nói cái thô tạp?
Đáp: Hèn kém là tà, không bằng là kiêu ngạo thấp nhất. Kiêu ngạo hèn kém là ba thứ kiêu ngạo tà, không bằng là loại kiêu ngạo thấp nhất. Kiêu ngạo tà, là ta tạo nghiệp cực ác mà khởi cao ngạo. Không như kiêu ngạo là được người khác khen ngợi tâng bốc: Ồ! Anh là người có đức lớn thay. Nghe vậy trong lòng vui sướng: Tại sao ta không được như thế? Kiêu ngạo thấp nhất là làm biếng, thường nghĩ như vầy: Con người thì không có ai cao cả. Đó là ba thứ kiêu ngạo hèn kém.
Hỏi: Kiêu ngạo ngang bằng là sao?
Đáp: Kiêu ngạo ngang bằng là cách kiêu ngạo cho cái ngã của
mình là cao cả, không kính trọng ai. Có ba thứ kiêu ngạo ngang bằng là: Kiêu ngạo ta đây, kiêu ngạo cống cao, kiêu ngạo bất kính.
Kiêu ngạo ta đây, là thấy năm ấm là ta, ở trong cái ác mà cho mình là người có công đức. Kiêu ngạo cống cao là nhận sự cung kính, hầu hạ của người khác. Kiêu ngạo bất kính là không kính sư trưởng. Đó gọi là ba thứ kiêu ngạo ngang hàng.
Hỏi: Kiêu ngạo cao là sao?
Đáp: Kiêu ngạo cao là Đại kiêu ngạo, kiêu ngạo trên cả đại kiêu ngạo, kiêu ngạo lớn thêm lên.
Đại kiêu ngạo là luôn cho ta cao hơn cả, khi thấy kẻ thấp hay ngang bằng mình. Kiêu ngạo trên cả đại kiêu ngạo, là đối với kẻ hơn mình, cứ cho mình hơn họ. Kiêu ngạo lớn thêm là đối với kẻ mình chưa hơn được, thì cho là được nên sinh kiêu ngạo. Đó là ba thứ kiêu ngạo cao. Hết thảy mọi kiêu ngạo đều là từ sự Thọ lãnh ái sinh ra. Đó là nói lãnh vực của ái.
Phẩm thứ hai: Ác chân độ, nói xong.
---------o0o---------
Hỏi: Đã nói ái, còn Vô minh là sao?
Đáp: Vô minh là tà hoặc chẳng phải trí, là mê hoặc trí, là chẳng phải trí, là tà trí. Ba thứ này là Vô minh. Vô minh là ngu si giả danh. Phân biệt mặt chữ mà nói thì tên nó là hủy báng chế nhạo. Như người có con ác mà bảo là không có con. Như vậy, ở đây Vô minh là minh ác, nên gọi là Vô minh.
Hỏi: Là thế nào?
Đáp: Là chẳng phải trí tuệ, không biết thế nào là Hữu vi, Vô vi. Không biết hai cái đó là không có trí, không thể nói rõ nó. Đó là ba thứ chẳng phải trí.
Hỏi: Hai thứ hữu vi, Thọ và không Thọ, trong đó thì cái nào là định?
Đáp: Hữu vi đều là Thọ và không Thọ. Nếu không có trí mà bảo Thọ là ngu si, bảo không Thọ thì lại càng ngu hơn. Ở đó, Thọ là ấm- giới- nhập, có hai thứ tự Thọ và tha Thọ. Bất Thọ là như cây cỏ, vách tường. Trong đó nếu tha Thọ hay bất Thọ, nên biết đều là bất Thọ. Vấn đề này mỗi mỗi đều si ám, nên gọi là không có trí. Như Đức Thế Tôn nói Lục nhập phi trí, thì không thấy, như trong kinh nói rộng, Thọ có nghĩa là nhận lấy. Do nghiệp và phiền não ngu si, nên chấp lầm ngã là ngã sở. Đó gọi là Thọ.
Hỏi: Vô vi là Niết-bàn, có một sao nói có ba?
Đáp: Vô vi là có đủ hữu dư, Vô dư. Tuy Niết-bàn là một Vô vi, nhưng về sự thì nói có hai, hữu dư-Vô dư. Hữu dư là nghiệp và phiền não mà thân nầy nhận lấy, đó là hữu dư. Khi đoạn hết phiền não chính mình chứng được thì gọi là hữu dư. Vô dư là nếu như buông bỏ ấm Thọ này, không còn tương tục như đèn tắt, thì Niết-bàn đó gọi là Vô dư. Do ngu si kết hợp với hết thảy cho nên không biết Vô vi.
Hỏi: Thế nào là không thể nói?
Đáp: Không thể nói là chấp nhận việc đặt ra quá khứ diệt. Nhận sự đặt ra, quá khứ đặt ra, diệt đặt ra. Còn không biết là không thể nói không biết. Nhận sự đặt ra là chúng sinh đã nhận lấy ấm-giới-nhập, cho là có một và dư. Quá khứ đặt ra là nhân nơi quá khứ của ấm-giới-nhập mà nói như đã nói: Lúc ấy, ta tên là Cù- tuần- đà... Diệt đặt bày là nếu đã diệt là nhân nhận nói, như đã nói: Đức Thế Tôn Niết-bàn. Lại nữa, quá khứ đặt bày là ngăn cấm chúng sinh đoạn mất. Diệt sự đặt bày là chế ngăn thường có. Nhận sự đặt bày là ngăn cấm. Không nhận sự đặt bày là ngăn cấm cái có. Hết thảy những thứ đó mỗi mỗi đều không biết, nên gọi là không thể nói, không có trí.
Hỏi: Đã nói Vô trí, thế nào là tà trí?
Đáp: Tà trí là thân-biên-đạo kiến; là kiến thân, kiến biên, kiến đạo.
Đó là ba thứ tà trí. Tà là lộn ngược, đồng nghĩa với phi như bất chân.
Thân kiến là cho rằng: Ta tự tại; nó là vậy thì ta đây tất nhiên cũng như nó, là ngã, thì tất phải như vậy, tự tại tất cũng như vậy. Đó là thân kiến. Ta tất phải như vậy, là các ấm đều như huyễn hóa, như dợn nắng, như tiếng vang, như bóng trăng trong nước. Năm ấm đều tương tự như vậy, thế mà chấp cho là ngã. Cho rằng ngã là phải như thế, nghĩa là năm ấm này, giống như mượn chuỗi ngọc đeo, như cây mượn trái, tướng oán thù, thế mà chấp cho những cái đó là thuộc về ta. Tự tại tất cũng như thế, là như cây chuối, như bọt nước, cảnh giới năm Dục đều cũng như vậy, thế mà chấp là tự tại. Nó như sắc tụ tập nơi hư không. Thân kiến là chấp cho thân này là của ta. Đó gọi là ba thứ thân kiến.
Hỏi: Thế nào là biên kiến?
Đáp: Biên kiến là đoạn- thường và đủ cả đoạn-thường. Đủ ba thứ đó, gọi là biên kiến. Biên là không đúng với đạo lý, gọi là biên kiến (chấp một bên, hoặc đoạn, hay thường...) Đoạn- thường là thế gian thì có thường, Vô thường, chẳng có thường, chẳng phải Vô thường; có biên, Vô biên, chẳng phải có biên, chẳng phải Vô biên; chúng sinh có chung,
chúng sinh Vô chung, chẳng phải có chung, chẳng phải Vô chung. Đây là thân, đây là mạng sống so sánh như vậy. Đủ là cả hữu thường, Vô thường, hữu biên, Vô biên, hữu chung, Vô chung. So sánh như vậy, gọi là ba thứ biên kiến.
Hỏi: Thế nào là trộm kiến?
Đáp: Trộm kiến là nương vào giới- kiến. Trộm kiến này từ ba nguồn sinh ra: Một là giới, hai là kiến, ba là y, trong đó giới là đứng đầu. Đã nói trong chân độ. Do giới này được thanh tịnh và được Thọ, nên gọi đó là hai thứ trộm giới. Đấy mới là chân thật, còn mọi thứ khác đềugiả dối, không phải chân. Đã là trộm kiến mà chấp cho là chân, nên cũng nói là trộm kiến. Thân bị trói buộc nương vào đó, nghĩa là năm ấm nương vào giới và kiến, do đấy, hoặc kiến hoặc giới chấp năm ấm là tịnh. Trộm giới này mà chấp năm ấm là bậc nhất, không còn gì khác. Nên biết trộm kiến là nương vào đấy. Đó gọi là ba thứ đạo kiến (ăn cắp theo mà chấp).
Hỏi: Thế nào là trí ngu hoặc?
Đáp: Trí ngu hoặc là không hiểu gì cả về Bảo (báu)- Đế- trong Định. Không hiểu Bảo, không hiểu Đế, không hiểu trong Định. Không hiểu là không quyết định mà là nghi, cùng nghĩa với do dự.
Hỏi: Thế nào là Bảo?
Đáp: Bảo là Phật Pháp Tăng: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Phật là trí biết khắp, thành tựu hết thảy công đức, lìa hết thảy ác.
Hỏi: Lý do nào gọi Phật là bảo?
Đáp: Do công đức này. Lại nữa, Phật còn là bậc đại từ- đại bi, không nói pháp trống rỗng, không nói chuyện gần. Xuất ly thế gian như hoa Ưu-đàm. Công đức như vậy không thể kể hết, tất cả đều thành tựu, nên gọi là Bảo.
Pháp vừa là phương tiện vừa là quả của phương tiện, trong đấy nói Niết-bàn là Pháp bảo. Chỗ Phật ở trên hết thảy các pháp. Như kinh đã nói: Nếu đã có pháp Hữu vi- Vô vi, thì Vô vi Niết-bàn là bậc nhất. Bảo này không hư hoại, có khả năng dập tắt mọi khổ, cho đến cuối cùng được mát lạnh là pháp khó được, không thể nói hết. So sánh như vậy gọi là Bảo.
Tăng là hàng Thanh văn, trước đã nói là báu. Có phước đức rộng, là không sống trái với lời Đức Thế Tôn dạy. Bậc có ruộng phước điền Vô thượng, được Đức Thế Tôn khen ngợi, không thể tan hoại, luôn hòa hợp không tranh giành. So sánh như vậy, thấy được thành tựu Vô lượng công đức, nên gọi là Bảo.
Hỏi: Đã nói báu, thế nào là Đế?
Đáp: Đế là đẳng- tướng- đệ nhất nghĩa đế. Đẳng Đế- Tướng Đế- Đệ Nhất Nghĩa Đế, là ba thứ Đế. Đế là Thật Hữu Đế, là Chân Đế, là Bất Hư Đế, là Như Đế; nên gọi là Đế.
Đẳng Đế là những điều phải học của người đời, là học thi cử, học về chủng tộc. Đó là ba Đẳng Đế. Làm đủ mọi chuyện nên cũng nói là Đẳng đế. Làm đủ mọi chuyện đó là nghĩa trí tuệ. Học chuyện đời thi cử thì y như nghĩa ấy. Trong chuyện này chấp nhận ta tên gì, làm chuyện gì. Như nước rưới nhuần ướt, so sánh như vậy thì chuyện học kia cũng như thế gọi nó là Đẳng đế. Học về chủng tộc là học về pháp luật của gia đình. Học về thi cử là oai-nghi, lễ-tiết, hành và giải ý tưởng trong kinh. Lại nữa, ngày ăn- đêm không ăn. Không cắt cỏ, mùa Hạ không đi. So sánh để biết làm mọi chuyện như vậy, đó gọi là Đẳng Đế.
Hỏi: Thế nào là Tướng Đế?
Đáp: Tướng Đế là Khổ, Tập, Đạo. Khổ đế, Tập đế, Đạo đế, là ba tướng của Đế. Do lấy tướng của sự thật mà quán chiếu nên gọi là Tướng. Đế tướng là nói sinh, lão Vô thường. Tướng là nói đến sự nêu cao cờ hiệu, trong đó, tướng bức bách nơi Khổ đế chuyển thành tướng Tập đế. Xuất yếu là tướng Đạo đế. Tận là không tướng, sẽ nói riêng. Lại nữa, Khổ đế là ấm- giới- nhập. Tập đế là dâm-nộ-si. Đạo đế là giới-định-tuệ. Gọi là Tướng Đế.
Hỏi: Thế nào là Đệ nhất nghĩa đế?
Đáp: Đệ nhất nghĩa đế, là tạo ra những chữ, suy niệm cho tới cùng mới chấm dứt. Chỗ suy niệm tận cùng, là Đệ nhất nghĩa đế. Tác giả là nghiệp thân, chữ là nghiệp khẩu, niệm là nghiệp ý. Nếu cả ba cái đó tắt hết, thì gọi là Đệ nhất nghĩa đế, nghĩa là Niết-bàn.
Hỏi: Như Phật nói kệ:
Một đế không có hai, Nếu sinh, sinh nơi hoặc, Na đà quán các đế,
Là không nói Sa môn.
Như vậy là có bốn Đế, tại sao nói là một?
Đáp: Với Đệ nhất nghĩa đế này, nên nói là không có hai Niết-bàn, như kệ đã nói
Nan đà quán các đế, Là không nói Sa Môn.
Nửa bài kệ này tự hiểu, không cần nói. Các Đế khác không có lỗi
gì.
Hỏi: Đã nói Đế, thế nào là Định?
Đáp: Định là Định sắc, Vô sắc, Vô lậu. Định Sắc, Định Vô sắc,
Định Vô lậu, gọi là Định. Định là định tâm hoạt động lại. Định Sắc là: Thiền cõi Sắc Vô lượng trừ nhập đầu, thứ hai- ba là thiền giải thoát, và sơ nhập hết thảy nhập. Định Vô sắc là bốn Vô sắc, hai- hết thảy nhập. Định Vô lậu là Vô tướng, Vô nguyện, Không. Thiền Vô lậu là Vô lậu. Định Vô sắc là Vô lậu. Năm tướng trước và đoạn giới- định, đó là hết thảy những thứ đã không quyết định mà còn nghi ngờ do dự, đó gọi là sự mê lầm của trí. Đấy cũng là khổ phi khổ; mê lầm của Tập tận là đạo phi đạo. Bốn Đế là như vậy, với ba cõi Dục- Sắc- Vô sắc là mười hai thứ. Trí mê lầm cũng như lãnh vực ái đã nói. Nơi chốn Vô trí, cũng gọi là tà trí, tà kiến. Trong ý ác hạnh thì trước đã nói. Trộm kiến cũng như vậy. Thân kiến, biên kiến, là khổ ở ba cõi. Trộm giới là con đường khổ ở ba cõi. Lại nữa, ái cũng tư duy, đoạn như thế. Phải phân biệt nói chín mươi tám kết sử.
Phẩm Ác, chân độ thứ ba đã nói xong
LUẬN TAM PHÁP ĐỘ
QUYỂN HẠ
Phẩm thứ ba: Y (Nương tựa)
Hỏi: Đã nói đức và ác. Thế nào là Y (Nương tựa)?
Đáp: Y (Nương tựa) là Ấm-Giới-Nhập, đó là ba chỗ nương tựa. Có thể nương tựa, nên mới nói là Y. Có thể nương tựa là nghĩa lập. Chúng sinh nương vào Ấm-Giới-Nhập mà sống, làm các việc đức cũng như ác, cho nên phải biết nó là chỗ dựa của đức và ác.
Hỏi: Thế nào là ấm?
Đáp: Ấm là hành-sắc-tri. Ấm nghĩa là chứa nhóm, cột buộc. Sắc ấm là như màu xanh, vàng, đỏ, trắng, to, nhỏ, dài, ngắn, vuông, tròn. Sắc là bốn đại và những gì do bốn đại tạo ra, có thể thấy và không thể thấy. Đó là Sắc ấm. Bốn đại và sự tạo sắc, hai thứ nầy là có thể thấy, không có thể thấy. Có thể thấy như những gì mắt thấy. Không thể thấy là hương, vị, xúc, thanh đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và bốn đại.
Hỏi: Nói Sắc là bốn đại và những gì do bốn đại tạo ra, trong đó, bốn đại chính nó cũng không biết, huống là những gì chúng tạo. Thế nào là bốn đại?
Đáp: Đại là Đất-Nước-Gió-Lửa. Những món này giả danh là đại. Sắc do mỗi mỗi thứ họp lại, trong đó cứng chắc là tướng của đất, ẩm ướt là tướng của nước, nóng là tướng của lửa, động là tướng của gió. Chính chúng tạo sắc, đó là mây mù, là khói sương, là ánh sáng, là mặt trời, là bóng tối, năm sắc năm tình (căn) cứ như vậy mà so sánh.
Hỏi: Đã nói Sắc ấm. Thế nào là Hành?
Đáp: Hành là chỗ nương của thân miệng ý. Thân-miệng-ý nương vào đó mà hoạt động, tạo ra mọi hữu vi, nên gọi là Hành. Kinh nói: Sắc là hành Hữu vi. Sắc lại làm như con mà sinh ra con. Năm ấm cũng hoạt
động như Sắc, chúng được tập họp do Vô lượng thứ gọi là năm ấm, như đống lúa. Hành là phước, chẳng phải phước, bất động, đó là ba Hành.
Hỏi: Làm sao biết được?
Đáp: Biết là do Thống (Thọ), Tưởng, Thức. Đó là ba thứ biết, cũng gọi là đạo pháp, vì đạo không lìa tướng. Như Đức Thế Tôn nói: Nếu đã Thống (Thọ) tức đã biết.
Hỏi: Thế nào là Thống (Thọ)?
Đáp: Thống (Thọ) là khổ, là vui, là không khổ không vui. Tính chất Thọ là Thọ. Thọ không do đâu, do Thọ là Thọ. Thọ không có lý do, nên có đời sống khác nhau. Có khả năng biết Thọ là mạng sống, còn chỉ là Thống không thì không phải mạng sống. Có ba thứ Thọ: Khổ Thọ, vui Thọ, không khổ không vui Thọ, là do chúng duyên lấy nhau. Duyên vào Thọ vui thì có Thọ khổ. Duyên vào Thọ khổ thì có Thọ vui. Duyên vào cả hai thì có Thọ không khổ không vui. Như Đức Thế Tôn nói: Thọ vui và Thọ khổ đối lập nhau. Thọ khổ và Thọ vui đối lập nhau. Thọ khổ- vui và Thọ không khổ không vui, đối lập nhau. Đối lập có nghĩa là oán ghét nhau.
Hỏi: Thế nào là Thọ vui?
Đáp: Vui là tham muốn, không ghét, không ttham vướng sinh. Thọ vui có ba thứ: Tham muốn sinh, không ghét sinh, không ttham vướng sinh. Trong đó, tham muốn sinh là khi năm Dục hoạt động thì mừng vui. Không ghét sinh, thì không ghét được gọi là không tăng thêm sự ganh ghét, là hành thiện, là hành giới cấm, là không tham muốn. Đối với giới cấm, ý không có gì hối hận, do đấy mà vui. Không ttham vướng sinh là chế ngự giác quan, lìa năm Dục. Ý không rối loạn, khi hành thiền, thì Vô lượng sướng vui phát sinh. Đó là không ttham vướng sinh. Không ttham vướng là không bám lấy, cũng có nghĩa là giác quan không vướng mắc.
Hỏi: Thế nào là Thọ khổ?
Đáp: Khổ là sinh- lão- tử; đó là ba khổ Thọ. Trong đó sinh khổ như mới bị ung nhọt. Già khổ như ung nhọt phát triển. Chết khổ như bệnh ấy đã ăn sâu vào xương tủy. Lại nữa, do sinh nên có hết thảy các khổ, nên nói là sinh khổ. Như Đức Thế Tôn dạy: Sinh ra là như tay chân bị cắt, chặt. Khổ già là sắc diện, sức khỏe suy sụp. Khổ chết là mọi yêu mến bấy lâu bị chia lìa. Đó là khổ Thọ.
Hỏi: Thế nào là không khổ không vui Thọ?
Đáp: Không khổ không vui là ba cõi. Không khổ không vui là chướng ngại đối với khổ vui. Nếu đã cho không khổ không vui là ba cõi,
thì những điều khổ- vui đã nói ở trước, nên biết đó chẳng phải là khổ vui của ba cõi. Cõi Dục có ba thứ Thọ. Cõi Sắc có hai: Vui và không khổ không vui. Cõi Vô sắc có một là không khổ không vui. Đó là Thọ không khổ không vui trong ba cõi.
Hỏi: Thống (Thọ) là nương vào đâu?
Đáp: Vui là chỗ nương tựa của nhiều thứ tham muốn. Khổ là chỗ nương tựa của nhiều giận dữ. Không khổ không vui là nơi nương tựa của nhiều ngu si. Tại sao? Có lạc Thọ không Dục, mới có khả năng trừ được Dục, như trong ba thiền. Có khổ Thọ không giận dữ như Đức Thế Tôn, dù đầu đau và bị thương ở chân, nhưng không nổi giận. Không khổ không vui là giác của thiền thứ tư và bốn Định Vô sắc. Trong đó, không si thì có khả năng trừ Thọ. Nếu vậy thì tùy nghĩa mà nói.
Hỏi: Nó từ đâu mà sinh?
Đáp: Nghiệp vây ngặt cõi chúng sinh, cái Thọ vui; khổ Thọ, cái không vui không khổ Thọ, đều từ nghiệp sinh, từ sự bức bách sinh, từ cõi sinh, không phải tự nhiên hay tình cờ.
Hỏi: Nghiệp có Vô lượng thứ, trong đó là nói đến nghiệp nào? Đáp: Nói nghiệp sinh phước, phi phước, bất động. Lạc Thọ, khổ
Thọ, không vui không khổ Thọ này, sinh do ba nghiệp phước, phi phước, bất động. Như nghĩa Thọ vui là từ phước sinh. Thọ khổ là từ tội sinh. Thọ không khổ không vui là từ bất động sinh. Trong đó, phước có khả năng trừ được hạnh ác, bốn thiền là trước hết. Phi phước là hạnh ác. Bất động là thiền thứ tư và Vô sắc.
Hỏi: Như trước đã nói, phước là Thí- Giới- Tu. Tu tức là Vô lượng thiền và Vô sắc, nay tại sao nói riêng Thọ vui là từ phước sinh?
Đáp: Nói riêng không có lỗi. Do chúng sinh nhiều khối, nên nói riêng, như đã nói về thiền. Như việc cho Tỳ-kheo có ba y, hộ trì bát của Phật. Cũng Tỳ-kheo đó đem cho ba y bát. Tỳ-kheo khác Phật trong việc hộ trì. Như vậy, Tu là thiền Vô lượng, Vô sắc, phước là ba thiền. Nếu không phân biệt ba thiền, thì đối với việc tu sẽ có lỗi, do chúng sinh có nhiều khối.
Hỏi: Thế nào bức bách sinh?
Đáp: Bức bách sinh là mình và người cùng bị bức bách sinh ba thứ Thọ. Vì mình vì kẻ khác, vì cả thảy. Bức bách sinh có hai thứ: Là vui là khổ. Khổ vì mình là như lấy dao tự đâm, rồi sau đó lấy thuốc bột chiên đàn chữa trị. Khổ vì người khác, như đánh người khác bể đầu rồi trị thuốc. Khổ vì cả thảy, như sai người đánh bể đầu mình, rồi lại lấy thuốc
trị. Hết thảy những chuyện như vậy, gọi là bức bách sinh.
Hỏi: Thế nào là cõi sinh?
Đáp: Cõi sinh là lúc gặp họa ác.
Hỏi: Cõi đã nói là cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Tại sao lại chỉ cho việc này?
Đáp: Cõi ở đây không phải vậy. Lìa ba thứ tưởng của chúng sinh, khi gặp họa xấu ác thì lãnh vực này là giả tưởng. Trong đó, thời là Xuân, Hạ, Đông, là ba thời gian. Mùa Hạ đàm sinh trưởng, mùa Đông tăng việc tiết nước dãi. Mùa Xuân gió tăng trưởng. Như bên thuốc nói thời gian cũng có Thọ vui. Đó là ba thời gian.
Hỏi: Thế nào là ác, là hạnh ác, ái là Vô minh?
Đáp: Không hủy hoại pháp thân. Ở đây nói là hủy hoại thân bốn
đại.
Hỏi: Thế nào là ác?
Đáp: Ác là gió đàm, khạc nhổ. Gió, đàm, khạc nhổ là báo hiệu thân
tứ đại hư hoại, do đó mà Thọ được sinh ra.
Hỏi: Hoạn nạn là gì?
Đáp: Hoạn nạn là nhân để chúng sinh lìa khổ. Khổ cho nên chúng sinh mới lìa nhân sinh ra khổ. Tường, vách, cây, đá, núi. Nhân là nhân mình và người có đủ, nên gọi là Thọ.
Hỏi: Tưởng là gì?
Đáp: Tưởng là Hữu tưởng, Vô tưởng, Vô sở tưởng, quán sai biệt. Tưởng là nhận lấy hình tướng khác nhau, trong đó Hữu tưởng, Vô tưởng, Vô sở tưởng, quán sai biệt là cùng một nghĩa. Hữu tưởng là cùng nương dựa, Vô tưởng là không cùng nương dựa, như nhiều bình, có người nói đây là bình mật, đây là bình sữa, do tưởng như vậy, chứ không có. Nếu không có mật, không có sữa là trống không, là nhận lấy tưởng không. Như vậy tiếng (thanh) tưởng so với Thọ có khác nhau, hoặc khiến tiếng so với Thọ như thế. Vô sở tưởng tức là không có cái gì là buông lìa. Lại nữa do
Bất thành nhập. Nương Hành, nương Danh sắc, nương hai điều kiện mà được ba thứ. Đức Thế Tôn nói mười hai duyên khởi; trong đó nói Hành duyên lấy Thức, lại nói Danh sắc duyên lấy Thức. Lại nói mắt duyên lấy sắc sinh ra nhãn Thức. Ở đó, mỗi thứ, khi hoạt động tạo sinh, sẽ nhập vào thai mẹ đầy đủ thì Thức sinh. Đó là Hành duyên sinh Thức, tức là trong thai mẹ, dần dần dày mà thành các Nhập. Thức đã sinh thì Danh sắc duyên lấy Thức. Lại nữa, khi thành nhập, nhập tranh không tranh, định bất nhập định, các căn và nghĩa căn sinh Thức. Đó là nương tựa vào hai điều kiện. Điều kiện ở đây là nương tựa. Không thể không tựa vào đâu mà Thức sinh được. Ấy là đều nhờ nương vào điều kiện mới được.
Hỏi: Như trước đã nói giới- định- trí, sao ở đây lặp lại về Thức?
Đáp: Dựa vào trí và nơi nương tựa là hai thứ. Đây là nương, kia là chỗ bị nương. Lại nữa, giới đã nói là có hai thứ, như vậy ở đây cũng nói hai thứ, không có lỗi gì.
Đã nói xong phẩm Y chân độ thứ nhất.
--------o0o--------
Hỏi: Đã nói ấm, thế nào là giới?
Đáp: Giới là cõi Dục, Sắc, Vô sắc. Ba cõi ấy, duy trì nghiệp này, nên nói là cõi. Trong đó, nghiệp là gồm thâu tất cả chúng sinh, cho đến Niết-bàn vô dư.
Hỏi: Thế nào là cõi Dục?
Đáp: Cõi Dục là trời- người- nẻo ác, nói gọn là vậy. Do trụ nơi Dục nên nói là cõi Dục, vì giữ chắc tham muốn nên nói là cõi Dục.
Hỏi: Thế nào là cõi người?
Đáp: Người là nam-nữ-sự sống và có các tướng. Là dựa vào bốn châu, có tướng mạng sống của nam, của nữ, của mạng. Hết thảy đều nương tựa vào bốn châu, trong đó tướng nữ gọi là nữ, tướng nam gọi là nam.
Hỏi: Mạng sống là chỗ quán về tướng? Nó không phải nam nữ, có cần nói riêng về mạng sống không?
Đáp: Tuy có tướng mạng sống của nam nữ, nhưng trong đó khác nhau. Kẻ ái nam ái nữ không có tướng nam nữ. Về tướng thì họ chỉ có đời sống. Tướng ấy trụ vào thai dày dần thì có mạng sống, mà chưa thành bộ phận nam nữ, khi thành thì mới có sự khác nhau.
Hỏi: Bốn châu là những châu nào?
Đáp: Là những châu Diêm- phù- đề, Phất- vu- đãi, Cù- da- ni, Uất- đơn- việt. Đây là nói tướng trong cõi Diêm- phù-đề. Tùy phương sở
có tham muốn nên nói có sở hữu. Từ tham muốn này mà nói tới lãnh vực giải thoát, nên khi xem xét rồi thì thấy chẳng có gì. Lại nữa, hữu tưởng là quán Thức xứ thiện. Vô tưởng là quán Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vô sở tưởng là quán Vô sở hữu xứ.
Hỏi: Thức là gì?
Đáp: Thức là sinh- thành- bất thành nhập. Hành, Danh sắc đều nương theo duyên vào Thức mà có. Thức khác chủng trí, nên gọi là Thức. Chủng chủng trí nên gọi là Thức. Đó là ba thứ: Sinh- Thành nhập-
Bất thành nhập. Nương Hành, nương Danh sắc, nương hai điều kiện mà được ba thứ. Đức Thế Tôn nói mười hai duyên khởi; trong đó nói Hành duyên lấy Thức, lại nói Danh sắc duyên lấy Thức. Lại nói mắt duyên lấy sắc sinh ra nhãn Thức. Ở đó, mỗi thứ, khi hoạt động tạo sinh, sẽ nhập vào thai mẹ đầy đủ thì Thức sinh. Đó là Hành duyên sinh Thức, tức là trong thai mẹ, dần dần dày mà thành các Nhập. Thức đã sinh thì Danh sắc duyên lấy Thức. Lại nữa, khi thành nhập, nhập tranh không tranh, định bất nhập định, các căn và nghĩa căn sinh Thức. Đó là nương tựa vào hai điều kiện. Điều kiện ở đây là nương tựa. Không thể không tựa vào đâu mà Thức sinh được. Ấy là đều nhờ nương vào điều kiện mới được.
Hỏi: Như trước đã nói giới- định- trí, sao ở đây lặp lại về Thức?
Đáp: Dựa vào trí và nơi nương tựa là hai thứ. Đây là nương, kia là chỗ bị nương. Lại nữa, giới đã nói là có hai thứ, như vậy ở đây cũng nói hai thứ, không có lỗi gì.
Đã nói xong phẩm Y chân độ thứ nhất.
--------o0o--------
Hỏi: Đã nói ấm, thế nào là giới?
Đáp: Giới là cõi Dục, Sắc, Vô sắc. Ba cõi ấy, duy trì nghiệp này, nên nói là cõi. Trong đó, nghiệp là gồm thâu tất cả chúng sinh, cho đến Niết-bàn vô dư.
Hỏi: Thế nào là cõi Dục?
Đáp: Cõi Dục là trời- người- nẻo ác, nói gọn là vậy. Do trụ nơi Dục nên nói là cõi Dục, vì giữ chắc tham muốn nên nói là cõi Dục.
Hỏi: Thế nào là cõi người?
Đáp: Người là nam-nữ-sự sống và có các tướng. Là dựa vào bốn châu, có tướng mạng sống của nam, của nữ, của mạng. Hết thảy đều nương tựa vào bốn châu, trong đó tướng nữ gọi là nữ, tướng nam gọi là nam.
Hỏi: Mạng sống là chỗ quán về tướng? Nó không phải nam nữ, có cần nói riêng về mạng sống không?
Đáp: Tuy có tướng mạng sống của nam nữ, nhưng trong đó khác nhau. Kẻ ái nam ái nữ không có tướng nam nữ. Về tướng thì họ chỉ có đời sống. Tướng ấy trụ vào thai dày dần thì có mạng sống, mà chưa thành bộ phận nam nữ, khi thành thì mới có sự khác nhau.
Hỏi: Bốn châu là những châu nào?
Đáp: Là những châu Diêm- phù- đề, Phất- vu- đãi, Cù- da- ni, Uất- đơn- việt. Đây là nói tướng trong cõi Diêm- phù-đề. Tùy phương sở
mà thấy có ba thứ tướng. Cõi Phất- vu- đãi, Cù-da-ni, Uất-đơn-việt, thì mạng sống lâu tùy số. Vui cũng có khác, có hạn, dần dần chuyển lên đẹp hơn.
Hỏi: Còn cõi trời thì sao?
Đáp: Nói chung thì có hai thứ trời: Dục sinh và ly Dục. Hỏi: Ở đây nói trời nào?
Đáp: Trời là tiếp xúc- nói- nhìn mà Dục phát sinh. Nói Dục phát sinh là không nói ly Dục. Trời Dục sinh có ba thứ: Xúc Dục sinh, Thuyết Dục sinh, và Thị Dục sinh. Thuyết Dục sinh là trời Hóa Lạc. Ở đây, nếu tâm nhiễm ô, với tâm nhiễm ấy lại cùng nói chuyện với trời nữ, thì ngay khi đó, họ sẽ sinh Dục. Nếu ý nhiễm ô chỉ ở một phía thì không thành Dục, chỉ là gần để vui chơi, như cõi đời này, người khác vui chơi, trên ấy cũng thế. Ý không nhiễm ô như người mẹ làm ra nhiều cảnh đẹp để vui chơi thỏa thích, nên gọi là trời Hóa Lạc. Thị Dục sinh là cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Ở đây, các thiên nữ đều có sự vướng mắc, nếu cùng nhìn nhau, khi đó trong họ Dục sẽ thành, nhưng mới ý nhiễm chỉ ở một phía thì không thành Dục, chỉ là vui chơi. Như ở cõi đời này, khi người vui chỉ ôm nhau, nên không nhiễm. Như vậy, người khác có năng lực biến hóa tự tại, nên nói là trời Tha Hóa Tự Tại.
Hỏi: Đã nói trời Thị dục sinh, thế nào là Xúc dục sinh?
Đáp: Xúc Dục sinh là từng cặp, ôm nhau, chấp tay. Trời Xúc dục sinh có ba loại: Từng cặp dục sinh, ôm nhau Dục sinh, chấp tay Dục sinh, từng cặp dục sinh sẽ nói sau. Ôm nhau dục sinh là trời Diệm- ma, mỗi người trong ý đều có vướng mắc, nên khi ôm nhau thì liền thành Dục, nhưng nếu chỉ một bên vướng mắc thì chưa thành dục, chỉ là vui chơi. Như cõi đời này, vui vẻ sinh ôm nhau, không vướng mắc ý không ttham vướng như người khác. Người ta vui chơi về đêm nên gọi là Diệm-ma.
Hỏi: Thế nào là Chấp tay dục sinh?
Đáp: Chấp tay dục sinh là cõi trời Đâu- suất- đà (Tri túc). Ở đó, các thiên nữ trong ý đều có vướng mắc, họ chấp tay thì khi đó Dục sinh, nhưng chỉ một bên vướng mắc thì chưa thành Dục, chỉ là vui chơi. Như ở cõi đời này, người khác ôm nhau vui chơi, ý không nhiễm ô như kẻ khác. Tự có được cảnh giới, biết đủ, nên gọi là Đâu suất đà.
Hỏi: Thế nào là Từng cặp Dục sinh?
Đáp: Từng cặp Dục sinh là cõi trời Ba mươi ba, lãnh địa của bốn vua, ở đó từng cặp cộng sự nhau, nên gọi là Từng cặp Dục sinh. Tại đây, mọi chuyện Dục như đã nói ở trước. Chỉ khác là cõi trời này, từng cặp
dục sinh. Như ở cõi đời, thì cõi trời Ba mươi ba kia là đỉnh núi Tu-di, chuyện hành dục như con người, có bốn vua cai trị ở đấy. Đất nơi trời là nương dựa vào đất với cây, núi là nơi cư trú. Tham mê cảnh giới vui thú ấy, gọi là cả thảy trời hành Dục. Như nhân gian, nhưng hoàn toàn sạch và có khí lực. Từ cõi nầy đi rồi, sẽ chuyển lên cao gấp bội. Đó gọi là cõi trời Dục.
Hỏi: Nẻo ác thì sao?
Đáp: Nẻo ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đó là ba nẻo ác. Ác nghĩa là không đáng để yêu thích, nên gọi là ác.
Hỏi: Địa ngục là sao?
Đáp: Địa ngục là gồm địa ngục nóng, địa ngục lạnh, địa ngục biên.
Địa ngục có nghĩa là không thể vui.
Hỏi: Địa ngục lạnh là sao?
Đáp: Địa ngục lạnh là nơi kêu la to, không kêu la to, không kêu la. Đó là ba tướng nhìn thấy của địa ngục lạnh. Kêu la to, không kêu la to, không kêu la là do ở đó hết sức ác phải kêu la to lên, nên gọi là kêu la.
Hỏi: Thế nào là kêu la to?
Đáp: Kêu la to các ngục như A- phù- đà, Nê- la- phù- đà, A- ba- bạt. A- phù- đà, Nê- la- phù- đà, A- ba- bạt là ba ngục kêu la to. A- phù- đà là kể số lượng, như nước Ma- kiệt- đà này, cứ mười hạt cải là một thương. Mỗi ngục đó nhận hai mươi khư- lê với đầy hạt cải như vậy. Giá như có người, cứ trăm năm lấy một hạt, lấy cho đến khi nào hết hạt cải ấy, nhưng sự sống ở ngục A- phù- đà ấy là không cùng tận. Hai thăng là một a-lặc, bốn a-lặc là một độc-lung-na, mười sáu độc- lung- na là một khư- lê, hai mươi khư- lê là một thương, như vậy cho đến mười thương, nhưng sự sống nơi địa ngục A-phù-đà này còn chuyển gấp đôi số ấy! Lại nữa, A phù đà tựa như là ung thư. Trong địa ngục A- phù- đà này, do sức lạnh, nên thân nổi lên mụt, như ung thư.
Ngục Nê-la-phù-đà thì không giống như ung thư. Chỉ cử động thân là gió thổi khiến thân phình to lên.
Ngục A- ba- bạt thì gió thổi hết sức lạnh, da toác ra, thịt rơi, rét căm căm. Đó là ba thứ ngục kêu la to.
Hỏi: Thế nào là không kêu la to?
Đáp: Không kêu la to là ngục A Trá-hưu, Trá-hưu, Ưu-bát-la. A Trá-hưu, Trá-hưu, Ưu-bát-la là ba ngục này không kêu la to. Ở ngục A Trá-hưu, Trá-hưu thì gió thổ lạnh kinh hồn, da toác, thịt rơi, lạnh khổ chịu không nổi, phải dùng sự kêu la làm phương tiện cho bớt khổ. Ưu-
bát-la thì gió càng thổi lạnh dữ dội, rách da, thịt rơi, rồi do nghiệp tội, nên tự sinh ra từng lá sắt mỏng quấn quanh lấy thân, như hoa Ưu-bát-la. Tội này là do chê bai bậc Thánh nhân, nên đọa vào ngục Ưu-bát-la, luôn chịu khổ như thế.
Hỏi: Thế nào là ngục không kêu la?
Đáp: Không kêu la là gồm bốn ngục: Câu- mâu- đà- tu, Kiến-đế- già phần, Đà- la- già, Ba- đàm- ma. Ở đây, gió thổi lạnh dữ, thân phình to lên. Ở trong các ngục đó tội nhân chịu bao nhiêu khốn khổ, khiến thân đau đớn rên rỉ mãi. Tội này là do chê bai Thánh nhân, nên bị đọa vào bốn ngục ấy, chịu Vô lượng khổ sở. Đó là hết thảy những địa ngục băng giá. Chúng ở trong khoảng bốn châu, dưới đáy núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi. Từ đấy, ngước lên nhìn thì thấy toàn bóng tối. Gió lạnh thổi thốc vào thân, rồi còn bị lửa đốt cháy. Thân như rừng trúc cháy, nổ lốp bốp. Từ tiếng nổ sinh ra các tưởng, còn có những chúng sinh phải chịu khổ khác. Cả thảy đều là tội chê bai phỉ báng Thánh nhân, nên bị khổ như vậy. Như kệ Đức Thế Tôn nói:
Nê-la-phù có trăm ngàn, A-phù- đà ba mươi lăm,
Chê bai Thánh, đọa cõi ác, Do miệng và ý nguyện ác.
Hỏi: Thế nào là địa ngục nóng?
Đáp: Địa ngục nóng bao gồm: Có chủ cai trị, ít chủ cai trị, không có chủ cai trị, đó là ba tướng nhìn thấy được của địa ngục nóng. Chủ trị là tra khảo, ở đó có nhiều chúng sinh bị xử trị, hoặc có ít chúng sinh bị xử trị, hoặc tự xử trị hoặc do tội tự sinh, hoặc lìa phương tiện chúng sinh mà Thọ khổ.
Hỏi: Thế nào là có chủ trị?
Đáp: Có chủ trị là ở đó gồm ba địa ngục: Hoạt, Hàng, Hắc thằng, ở địa ngục Hoạt, là ngục tốt lấy dao búa bén chẻ xẻ chúng sinh có tội, như chẻ chặt đầu dê, lột da thịt vung vãi ra, tội nhân vì nghiệp lực chưa hết nên do gió lạnh thổi mà liền da thịt lại. Thêm nữa, do tội đã làm trước kia mà móng tay tự nhiên mọc thành móng sắt nhọn, hình như bán nguyệt đầy oán hận, gặp nhau là thấy bức bách, bảo nó từng bức bách ta, nay ta trả thù nó, ai nấy đều nổi giận trong chỗ gặp nhau này, nên cào cấu lẫn nhau bằng những móng sắt đó. Ấy là do người ta vốn đã oán thù nhau trên đời, nên chết rồi đọa vào địa ngục ấy.
Địa ngục Hắc thằng là nơi tra tấn tội nhân nằm dưới đất, lấy dây
đen siết thân làm đứt từng khúc. Ấy là những kẻ, khi sống trên đời này đã dùng dao chặt chém người, nên chết rồi sinh vào ngục ấy. Còn nữa, trong đó ngục tốt lấy lá đồng giát mỏng, nướng đỏ, quấn vào thân, máu tuôn lai láng, tủy xương chảy ra. Đó là những kẻ ở dương gian, từng lấy roi gậy đánh đập chúng sinh. Người xuất gia, không tinh tấn mà tham nhận của tín thí về y phục, nên sinh vào ngục tối kinh hãi này, lại bị khói xông ngột ngạt. Chân bị treo ngược tòn teng, hít lấy khói, đó là những kẻ ở dương gian đã dùng khói đun đốt chúng sinh.
Hàng địa ngục là chúng sinh tội nhân bày thành hàng, như hàng thịt treo la liệt, bị cắt tay, chân, đầu, mũi. Đó là những kẻ ở dương gian làm nghề đồ tể, nay chịu quả báo. Bên trên thì vòng sắt nóng chảy, bên dưới thì ngồi vào xe lửa cháy lăn quay, ngục tốt thì la hét đuổi tội nhân phải chạy mãi. Đó là những kẻ ở dương gian, cỡi voi ngựa, chạy đua nhau, thúc chúng chạy vất vả, nên nay sinh vào ngục ấy mà chịu quả báo. Còn những kẻ từng xâm phạm vợ người ta thì bị đuổi vào khu rừng, với bao kiếm nhọn nóng buốt từ trên cao đâm ngay xuống một cách tự nhiên. Đó là địa ngục có chủ trị. Ngục tốt là những kẻ dựa vào nghiệp của họ, nên chúng không bị lửa đốt. Báo phải trả là không thể nghĩ bàn.
Hỏi: Địa ngục ít chủ trị là sao?
Đáp: Địa ngục ít chủ trị gồm ba địa ngục: Chúng hợp, Đại khốc, Thiết hạm, đó là ba loại ngục ít chủ trị. Ở địa ngục Chúng hợp, tội nhân sợ hãi ngục tốt, nên hàng trăm hàng ngàn người, chạy trốn vào khe núi, khi đã vào rồi, tự nhiên trước sau lửa phát cháy bít các lối. Hai bên núi khe hẹp như bánh xe nghiền nát kẻ chạy vào, do vậy máu tuôn như sông, xương cốt rệu rã cả. Đó là những kẻ ở dương gian, vui chơi chà đạp chúng sinh. Lại có lửa đốt trong cối sắt to, rồi bị chày vồ giáng xuống liên tục hàng trăm năm. Tội nhân này không chết, sống hoài để chịu tội. Đó là những kẻ ở trên đời, lấy cối giã chết côn trùng và tàn bạo giết hại chúng, nên nay chịu quả này.
Địa ngục Đại khốc là chỗ tội nhân bị nhốt trong núi sắt lớn, bị lửa đốt bốn phía, không có lối nào thoát được. Đám ngục tốt ác, không chút lòng thương xót, giận dữ hỏi: Chúng bây tính chạy đi đâu? Ai không có việc, chúng trao công việc, bằng những chày sắt để bổ vào đầu. Đó là những kẻ ở dương gian, bắt vạn dân làm xâu cực khổ Vô hạn, nên nay bị quả báo ấy.
Địa ngục Thiết hạm: Lửa làm cháy sắt là nền đất, đám ngục tốt xua đuổi tội nhân vào chỗ lửa cháy ấy. Xua vào hết rồi, chúng cho chó dữ
nhảy đến ăn thịt. Ăn hết thịt, gió lạnh địa ngục thổi tới, tự nhiên thịt mọc ra như cũ, lại bị xua đuổi vào đó nữa. Đó là những kẻ ở dương gian nuôi tằm nấu tằm, nay sinh vào đây. Đó là ngục ít chủ trị.
Hỏi: Thế nào là địa ngục không có chủ trị?
Đáp: Không có chủ trị gồm địa ngục: Khóc, nướng, không thiếu: ba thứ nầy là địa ngục không có chủ trị.
Địa ngục khóc: Lửa đốt cháy hừng hực những cục sắt, giống như giáp rùa, rất chật hẹp, hết thảy tội nhân đều nhốt ở giữa, dùng sắt che đậy lại, cam chịu khổ đau cùng cực như vậy. Tội nhân này, lúc còn sống đã đốt cánh đồng rộng và xông đốt các hang ổ, nơi chúng sinh đang cư trú, nên sinh vào đây chịu báo.
Địa ngục nướng: Cả núi sắt lớn cháy, ngọn lửa táp vào nhau, tợ như cái nạo bằng sắt để gọt, nạo tội nhân, khi nướng đã giáp vòng, một mặt vừa chín, cái nạo ấy tự nhiên chuyển biến trở qua, trở lại, trái ngược cho đều. Tội nhân ở nơi ấy, là những kẻ lúc còn sống đã xỏ, đâm giết người, nên sinh trong địa ngục nầy chịu quả báo.
Địa ngục không thiếu: Mặt đất bằng sắt bao quanh, lửa đốt, ngang- rộng cả trăm do tuần. Bốn cổng như thành, dùng đồng dát mỏng che lên trên, ngọn lửa cứ nối tiếp nhau. Tội nhân qua lại ở trong đó như củi, ngọn lửa không có gì trở ngại, đốt cháy khắp thân, chúng sinh Thọ khổ không thiếu một chỗ nào. Chúng sinh chịu tội ở đây là do lúc còn sống đã giết cha- mẹ- người chân thật, mang ý ác hướng đến Phật, khiến thân Phật chảy máu, tranh chấp gây xáo trộn chúng Tăng và vì tạo ra quá nhiều mười nghiệp ác, nên chịu quả báo trong địa ngục đó. Đấy là nói Địa ngục không có chủ trị.
Hỏi: Thế nào là Địa ngục biên?
Đáp: Địa ngục biên được đặt ở những nơi xa xôi hẻo lánh, như ở trong nước, ở trong núi, hay nơi đồng trống. Nơi ấy, độc nhất để cho tội nhân Thọ nhận quả báo về nghiệp ác của mình, nên gọi là Địa ngục biên.
Hỏi: Đã thuyết minh về địa ngục, súc sinh là thế nào?
Đáp: Súc sinh là loài bơi trong nước, đi trên đất liền, bay trong không, tất cả loài không có chân, hai chân, hay nhiều chân, đi trên đất liền, ở dưới nước, bay trong không, ba loài nầy là súc sinh.
Loài đi trên đất liền: voi, ngựa, bò, dê, lừa, la, lạc đà, đứng hàng
đầu.
Loài ở dưới nước: Cá- ma- kiệt, Thất- thâu- ma- lại, là hàng đầu.
Bay trong không: Chim và muỗi, ruồi là hàng đầu.
Loài đi trên đất liền như: Không có chân: Rắn đứng đầu. Hai chân: Chim đứng đầu. Nhiều chân: Bò, ngựa, ong và có loại trăm chân làm hàng đầu. Tất cả những loài đó, vì hành nghiệp tội lớn, nên sinh trong loài súc sinh như vậy. Đây là nói về súc sinh.
Hỏi: Đã nói về súc sinh; còn ngạ quỷ thế nào?
Đáp: Ngạ quỷ gồm có loài Vô tài, thiểu tài, đa tài. Tức có ba loại Ngạ quỷ: Ngạ quỷ Vô tài, ngạ quỷ thiểu tài, ngạ quỷ đa tài.
Hỏi: Thế nào là Ngạ quỷ Vô tài?
Đáp: Vô tài: Là đuốc, cây kim, hôi. Miệng như đuốc lửa, miệng nhỏ như lỗ kim, miệng hôi, là ba thứ Ngạ quỷ Vô tài.
Miệng như đuốc lửa: Hễ ngậm miệng lại thì ngọn lửa mãnh liệt tự phát ra đốt, như lửa đốt nhiều cây đa la ở ngoài đồng. Tội nhân ở trong đấy, phần nhiều do hành vi ttham lam, keo kiệt, nên sinh trong ngạ quỷ kia cam chịu quả báo khổ sở như vậy.
Miệng như lỗ kim: Là bụng to như hang núi, cổ họng lại nhỏ như lỗ kim. Giả như có được Thức ăn đầy đủ cũng không ăn được.
Miệng hôi, là miệng cháy sém, thoái rữa, hôi hám, như phân xí, ợ lên hôi thoái, không có bụng, không được ăn, cam chịu khổ lớn. Đấy gọi là những Ngạ quỷ Vô tài.
Hỏi: Thiểu tài là sao?
Đáp: Ngạ quỷ Thiểu tài: Lông như cây kim, lông hôi, có bướu cổ, đó là ba thứ Ngạ quỷ thiểu tài. Loại Ngạ quỷ nầy ít khi được vật bất tịnh, nên cũng gọi là thiểu tài.
Lông như cây kim: lông rất cứng, dài, đầu bén như mũi kim, châm khắp mình, làm cho từng lóng đốt của thân thể như rời nhau, đi lại rất khó, lông lại tự đâm, như mũi tên bén bắn vào thân con nai, cam chịu khổ lớn như vậy. Đôi khi lại không được cái ăn.
Lông hôi: Lông rất hôi che khắp thân, lại tự đâm lẫn vào nhau. Thân hôi, gió phất ra, phiền não sinh giận dữ, tự nhổ lông, cam chịu nỗi khổ như vậy.
Bướu cổ: Do quả báo từ nghiệp tội của mình, sinh ra bướu ở cổ, rồi tự quyết định phá vỡ nó, để mủ, máu tuôn ra mà lấy ăn. Đấy là các loại ngạ quỷ thiểu tài.
Hỏi: Thế nào là Ngạ quỷ đa tài?
Đáp: Đa tài là gồm ba loại: vứt bỏ-mất- thế lực lớn. Vứt bỏ-mất-thế lực lớn, ba thứ nầy gọi là Ngạ quỷ đa tài.
Ngạ quỷ Vứt bỏ là đời trước có làm việc bố thí, nên đời nầy được của dư thừa. Ngạ quỷ nầy suốt đời được của cúng tế đó, do đấy nên được vui.
Ngạ quỷ Mất: Của cải bị bỏ sót, bị rơi rớt trong ngõ hẻm, ở ngã tư đường, loài ngạ quỷ nầy suốt đời được những của cải ấy. Do vậy, nên được vui.
Ngạ quỷ Thế lớn: Là Dạ-xoa, La-sát, Tỳ-xá-già, đó là ba loại ngạ quỷ thế lực lớn. Cảnh giới của chúng cũng như cõi trời. Chúng nhờ phước đức của Thọ mạng đời trước nên khi được Thức ăn ngon, ăn xong, thì có Vô lượng ngạ quỷ vây quanh, thấy nhau như vậy nên sinh khổ. Như con người trông thấy người thân của mình ở ngục sinh khổ; ngạ quỷ kia cũng như thế, vây quanh sinh khổ. Do vì nỗi khổ nầy, nên Thức ăn hóa thành mủ, cam chịu nỗi khổ như thế. Đấy là nói loại Ngạ quỷ thế lực lớn.
Những hình trời, người, và súc sinh kia, là hình của ngạ quỷ, biến hóa thành hình người, hình súc sinh, hình trời, do tùy thuộc vào nghiệp của chúng. Đấy là hết thảy những gì có ở cõi Dục.
Hỏi: Đã thuyết minh về cõi Dục còn cõi Sắc như thế nào?
Đáp: Cõi Sắc là có Hỷ, không Hỷ, Hộ (xả). Cõi sắc là nơi không có Dục, chỉ có thiền, trừ giận dữ, nên được sắc tinh đẹp, như luyện vàng ròng. Cõi nầy có vui mừng, không vui mừng, lìa khổ vui, là Hộ. Vì vui mừng đều có vui, nên nói có Hỷ. Lìa vui mừng, không vui mừng cùng vui, nên nói là không Hỷ. Đó là lìa khổ, ngừng vui, như ngựa dừng kéo xe.
Hỏi: Có Hỷ là sao?
Đáp: Có Hỷ, nghĩa là có giác, không có giác, ít quán. Vì đều cùng có quán, nên nói là có giác; vì lìa giác nên nói là không có giác, vì có ít quán nên nói là ít quán.
Vui: Lìa là nói thiền, trong đó có giác, nghĩa là sơ thiền, không có giác là thiền thứ hai. Ít quán: Là bắt đầu phần trung gian. Tập thiền nầy sinh trong cõi sắc. Nói chúng sinh là nói cảnh giới, nói cảnh giới là nói thiền.
Hỏi: Ai tu tập có giác, sinh thiền?
Đáp: Có giác là các cõi: Phạm- phú- lâu, Phạm- ca- di, Phạm- ba- sản. Tập có giác, thiền sinh ở trong đó. Các cõi Phạm Phú lâu, Phạm Ca di, Phạm Ba sản: Ba cõi nầy là có giác. Trong bậc hạ, tùy thuộc vào đó mà sinh nơi ba cõi kia.
Đại phạm: Do ít quán sinh, nghĩa của giác quán thì trước đã thuyết minh.
Hỏi: Thế nào là không có giác?
Đáp: Không có giác, nghĩa là các cõi: Thiểu quang, Vô Lượng quang, Quang diệu. Theo giác, không có giác, mừng, vui tương ưng với thiền, là sinh nơi ba cõi trời: Thiểu quang, Vô Lượng quang, Quang diệu. Tưởng nầy hoặc là giả tưởng, hoặc là nhân nơi tưởng. Thiểu quang là lúc nói năng, miệng phát ra ít hào quang, vì hào quang ít, nên gọi là Thiểu quang. Vì nhiều hào quang, nên nói là Vô Lượng quang. Vì hào quang tịnh Vô biên, nên nói là Quang diệu.
Hỏi: Đã nói có Hỷ. Thế nào là không có Hỷ?
Đáp: Không có Hỷ, nghĩa là các cõi Thiểu tịnh, Vô lưọng tịnh, Biến tịnh. Tập giác không có mừng, vui, tương ưng với thiền, là sinh nơi ba cõi trời ấy. Thiểu tịnh: là tên không nhiều, ở đây ít phương tiện tương ưng với thiền, sinh cõi trời Thiểu tịnh được Thọ hưởng thú vui. Cũng có một số phương tiện ít, trung bình thì sinh cõi trời Vô lưọng tịnh, nhiều hơn nữa thì sinh cõi trời Biến tịnh.
Hỏi: Đã nói không có mừng, vui. Vậy Hộ là sao? Đáp: Hộ tương ưng với ba cõi:
1- Hữu tưởng
2- Vô tưởng
3- Giác Ý tưởng.
Hộ kia là gồm Quả thật, Vô tưởng, Tịnh cư. Tu tập Hộ lạc tương ưng với thiền, sinh ở đó nên nói là Hộ. Có ba hạng: trời Quả thật, trời Vô tưởng, trời Tịnh cư, trong đó Quả thật, là tu tập từ thấp- vừa đến cao mà sinh Quả thật của thiền thứ tư.
Vô tưởng: Vì tưởng diệt, nên sinh Vô tưởng. Diệt Thọ tưởng Thức kia, vì lẽ không có tưởng Dục nên đều cùng diệt, chỉ có sắc ấm, hành ấm, ít nhập sinh tưởng, ấy là chết.
Hỏi: Tịnh cư là sao?
Đáp: Tịnh cư là gồm các cõi: Thiện hiện, Thiện kiến, Tịnh. Ba thứ nầy là Tịnh cư. Tịnh cư, nghĩa là các phiền não hết có chỗ ở.
Hỏi: Có năm lãnh vực Tịnh cư, nay sao lại nói có ba?
Đáp: Tịnh là các cõi Vô phiền, Vô nhiệt và Sắc cứu cánh, ba cõi nầy gọi là tịnh tưởng. Người biên chép kinh, ý muốn như vậy.
Hỏi: Đã nói về cõi Sắc. Thế nào là cõi Vô sắc?
Đáp: Vô sắc: Trong phần tu ở trước đã nói. Người tu hành, ở trong cõi Vô sắc, tu tập chánh Thọ, sinh vào cõi Vô sắc, đó là Đạo và quả đều đã nói.
Chân Độ thứ 2, phẩm Y (nương dựa), đã nói xong. Hỏi: Đã nói về Ấm- Giới, còn Nhập thì thế nào?
Đáp: Nhập nghĩa là Xúc- Độ- Giải thoát Nhập. Xúc nhập, Độ nhập, Giải thoát nhập, ba nhập nầy là tướng của nhập. Nhập, nghĩa là nương tựa, như miếu trời.
Hỏi: Nhập kia, vì cái gì nhập?
Đáp: Vì đức, vì nghiệp ác; trong đó, Giải thoát nhập là đối tượng nương tựa của đức. Độ nhập là đối tượng nương tựa của ác. Xúc nhập là đối tượng nương tựa của cả hai. Ý ô nhiễm sinh ác, ý tịnh sinh đức.
Hỏi: Xúc nhập là sao?
Đáp: Xúc nhập, nghĩa là cảnh giới gần, cảnh giới không gần, và không có cảnh giới. Cảnh giới: Là chỗ duyên, tùy thuộc vào hành duyên của cảnh giới ấy. Duyên gần là nói cảnh giới gần. Duyên không gần là nói cảnh giới không gần. Không có duyên là nói không có cảnh giới.
Hỏi: Cảnh giới gần là sao?
Đáp: Cảnh giới gần, nghĩa là nhập của tỹ- thiệt- thân. Tỹ nhập, Thiệt nhập, Thân nhập là ba cảnh giới gần. Mùi hương đến mũi thì ngửi; không đến thì không ngửi. Dù có hoa rất xa, song hương rời hoa bay đến mũi là ngửi. Hương là tánh của sắc, do vậy, nếu có gió Bắc, thì hương tỏa đến hướng Nam, mà không tỏa đến hướng Bắc, là do hương rời hoa bay đến mũi, cho mũi ngửi. Vị cũng như thế. Dính lưỡi là biết vị, không từ đồ đựng, không từ tay. Xúc cũng như thế. Đối tượng nhận biết của thân căn có tám thứ: Cứng, mềm, nhẹ, nặng, thô, nhám, lạnh, nóng. Do những xúc kia mà sau đó có cảm giác, thế nên đó là ba cảnh giới gần.
Hỏi: Thế nào là cảnh giới không gần?
Đáp: Cảnh giới không gần, nghĩa là nhập của nhãn, nhĩ, ý. Nhãn nhập, Nhĩ nhập, Ý nhập, là ba cảnh giới không gần.
Hỏi: Mắt cũng thấy gần, một ít cảnh giới không đè ép. Tai cũng như thế, con muỗi ở trong lỗ tai cũng nghe tiếng. Ý là không có sắc, làm sao biết được cảnh giới không gần?
Đáp: Do đấy nên mới nói cảnh giới không gần, nếu không có đè ép thì đã tiếp nhận cảnh giới.
Hỏi: Cảnh giới không gần là bằng với bao nhiêu do tuần ?
Đáp: Ở đây không có giới hạn. Hoặc có thể là bốn mươi ngàn do tuần, thấy được mặt trời, mặt trăng, hoặc không thấy được. Hoặc chỉ một do tuần là thấy sắc. Hoặc là mười dặm, tùy thuộc vào sức của căn mắt ở nơi người kia, do vậy, mới nói cảnh giới không gần, mà không nói là
xa. Chỉ không đè ép để tiếp nhận cảnh giới, không phải dời vật thể đến chỗ thấy mới thấy, lìa rồi sau mới thấy. Tai cũng như thế. không phải vì đè ép gần mới nghe được. Con muỗi dù ở trong lỗ tai nhưng không đến chỗ nghe, tai ở đây cũng tùy thuộc sức của căn để nghe tiếng. Ý, nghĩa là không có sắc, ý kia không có gần- xa, nên nói cảnh giới không gần mà không nói là xa.
Hỏi: Không có cảnh giới là sao?
Đáp: Không có cảnh giới, nghĩa là bên ngoài đã tiếp nhận, người khác tiếp nhận và không tiếp nhận. Ngoài có nghĩa là không có cảnh giới, là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong pháp nầy, ngoại là giả danh, là mình tiếp nhận, người khác tiếp nhận và không tiếp nhận. Ở đây không có cảnh giới, chỉ là cảnh giới của người khác. Năm cảnh giới nầy, không có duyên mà chỉ là pháp nơi đối tượng duyên của người khác, nên phải phân biệt. Là cũng đa số vì không có cảnh giới, nên nói không có cảnh giới.
Hỏi: Đã nói Xúc nhập, Độ nhập là sao?
Đáp: Độ nhập, nghĩa là nói nhân một nơi- nhân bất chánh và không có nhân.
Nói đến nhân một nơi, nói đến nhân bất chánh, nói đến không có nhân; ba nghĩa nầy là Vô lượng, chỉ lược nói là ba Độ nhập. Trong đó, nhân một nơi nghĩa là cách nói năng, như lá cờ Nhân- đà- la được mọi người đem đến, có thuyết nói là Điều- đạt đem đến. Mọi người kia cũng có ở đó, đâu phải một mình Điều- đạt làm việc này, lẽ ra phải nói là chúng, mà nói là một. Nói nhân một nơi cũng như thế. Ba sự mới hợp thành nghĩa: Hoặc nghiệp đời trước, hoặc hiện đã làm, hoặc do ân của người khác.
Như vậy, ba sự hợp thành nghĩa chỉ nói một.
Nói nhân bất chánh, nghĩa là nói: Như nói lá cờ Nhân- đà- la ấy. Có người nói không phải do một người đem đến, cũng không phải hai, trong đây dù có nhân, nhưng bất chánh.
Nói không có nhân, nghĩa là nói: Như thế, lá cờ Nhân đà la không có lý do mà đến.
Hỏi: Nghĩa của Nhân một xứ là sao?
Đáp: Một xứ, nghĩa là công phu của nghiệp mình, nghiệp người khác. Điều mình tạo, nói một mà thật có hai thứ: Hoặc đời trước đã tạo, hoặc hiện đang tạo, trong đó nếu là đối tượng tạo tác của đời trước thì đấy gọi là Nghiệp.
Hoặc lại có thuyết nói: “Trời tạo ra”. Ba thứ như thế thành nghĩa, như trước đã nói. Như vậy là ba thứ nghĩa: hoặc nói nghiệp, hoặc nói công phu, hoặc nói ân của người khác. Một xứ là chỉ nói nghiệp. Người kia cậy nhờ vào công phu của người khác, không biết ơn nghĩa, thì không thể cho cùng tùng sự. Nếu ta vốn đã tạo ra sự mong cầu, do không mong cầu, hội họp sẽ tự được.
Thuyết một xứ có lỗi như thế. Hỏi: Nhân bất chánh là sao?
Đáp: Thuyết của nhân bất chánh: Thuyết về tưởng nhân căn đều là pháp của chúng sinh, thuyết của nhân bất chánh là ba thứ pháp chúng sinh, đều cùng có chúng sinh và pháp của tưởng nhân căn, tốt xấu đều từ chúng sinh tạo. Hoặc lại cho là từ pháp tạo, hoặc lại cho là chúng sinh và pháp đã tạo. Thuyết của nhân bất chánh nầy có ba thứ: Chẳng phải chỉ chúng sinh tạo, chẳng phải pháp tạo tác, cũng chẳng phải đều cùng tạo.
Hỏi: Thế nào là tưởng của nhân căn chúng sinh?
Đáp: Chúng sinh: Tiếng phạm là Y- nhiếp- phi- la, nghĩa là Sử- Nậu- Thuyết. Thuyết nghĩa là chúng sinh tạo ra thế gian, Phạm là chủ tạo hóa, Y nhiếp phi la là chủ tạo hóa. Sử nậu thuyết là chủ tạo hóa. Người không có trí tuệ cho là như thế.
Nói Phạm tạo hóa nghĩa là nói Phạm thiên tạo ra hư không, hư không tạo ra gió, gió tạo ra nước, đất. Nước, đất tạo ra gò, núi, cỏ, cây, như thế là có thế gian. Người kia hết thảy đều có lỗi. Vì sao? Vì nếu Phạm thiên tạo ra hư không và đất ấy, thì Phạm thiên kia đứng ở chỗ nào để sáng tạo ra hư không và đất nầy? Tức phải ở giữa để tạo ra, thì nghĩa nầy không như vậy, vì thế là có lỗi. Như Nhiếp phi la cho là Sử nậu, cũng như thế.
Hỏi: Thế nào là pháp?
Đáp: Pháp, nghĩa là thời- khí- tự nhiên tác tức là thời tác, khí tác, tự nhiên tác, ba thứ nầy nói là nhân của pháp căn, trong đó nói về thời có nghĩa là:
“Thời tiết sinh tất cả, Tất cả thời tiết chín, Tất cả thời bị hoại, Tất cả đời, thời tạo”.
Thuyết nầy có lỗi như trong thuyết một xứ trước đây đã nói. Người đáng cầu không cầu, nếu không đáng cầu mà cầu, thì cái được ấy là thời tiết tạo, hành chẳng tạo được, chớ nói là có lỗi. Vì sao? Vì thời tiết,
nghĩa là không. Nếu không thì nghĩa của đấng tạo vật không hợp lý, vì như thế đều có lỗi.
“Khí cũng không thể tạo, Khí là không hữu tình, Gọi là sự Vô sự,
Khí không có niệm nầy, Tự nhiên cũng như thế, Tự nhiên nếu sinh ra Không nghĩa tự nhiên”.
Nếu không có thì chẳng phải là nhân. Nếu không có nhân sinh tất cả, sinh cũng tự nhiên như thế, đâu có sai biệt? Nếu có thường, thì thường kia nào có lỗi? Chẳng phải có thường mà tan rã hư hoại, lỗi so sánh như thế, đừng nói là có lỗi.
Hỏi: Thế nào là không có nhân?
Đáp: Không có nhân nghĩa là tánh- ngẫu nhiên- không có. Nói không nhân là có ba cách nói: Tánh thuyết, ngẫu nhiên thuyết, và Vô thuyết.
Tánh là nói trong tánh của vạn vật sinh, không phải nhân nơi người khác. Vì sao? Vì như gai nhọn bén không có khả năng bén nhọn.
Như thế, tất cả thuyết đều ngẫu nhiên. Nghĩa là, nói vạn vật ngẫu nhiên sinh, như nguồn suối nước lớn, cỏ rơi xuống giữa dòng, tập trung một chỗ kết thành bè.
Thuyết ngẫu nhiên: Như thế, ở chỗ kia, gió ngẫu nhiên thổi ập đến, hoặc thổi từ Đông, Tây, Nam, Bắc. Sự sinh của vạn vật cũng như thế.
Thuyết không có: Nói thẩm tra như thế nầy: Ở đây, tất cả Vô sở hữu nầy, như thế nào là sự sinh? Do đâu sinh? Sinh ở chỗ nào? Sự sinh nầy chẳng phải là có sở hữu, thành thử tất cả thuyết kia đều có lỗi. Vì sao thế? Vì nếu tánh của vạn vật thích ứng sinh thì lúc sinh mầm mộng, đã không cần đến nghề nghiệp làm ruộng? Cũng chẳng cần tưới tiêu? Tuy nhiên, nếu không có công tác cần thiết nầy, tất nhiên mầm mộng cuối cùng cũng không sinh.
Do đó, vạn vật không phải tánh bị sinh.
Như thế, mỗi mỗi nên chấm dứt, không biện luận nữa!
Hỏi: Đã thuyết minh về Độ nhập, còn Giải thoát nhập thì sao?
Đáp: Giải thoát nhập, nghĩa là tưởng, thiền, nghe rộng, ba pháp nầy là Giải thoát nhập. Giải thoát, nghĩa là diệt ác, nơi giải thoát nhập kia. Ba nhập nầy, dựa vào đấy mà được giải thoát. Tưởng là nghĩa duyên.
Nương tựa Phật, Bích-chi phật, Thanh văn, mà được giải thoát.
Thiền: Như đã nói trong phẩm thứ nhất, sẽ xem xét lại nghĩa nầy, cũng nương dựa chư Phật kia mà được giải thoát.
Hỏi: Nghe rộng là sao?
Đáp: Nghe rộng, nghĩa là nói, nghe, tụng. Nói như chỗ đã nghe, nghe như chỗ đã nói, tụng là tụng như chỗ đã nghe.
Hỏi: Nghe rộng: Như trước kia đã nói là học rộng. Với Khế kinh, A- tỳ- đàm- Luật, ở đây nghe rộng này có gì khác biệt mà lại nói là nói- nghe- tụng?
Đáp: Ba thứ nghe nhiều (học rộng) trước kia, lẽ ra phải là ba thứ Thọ: Thọ khi nói, Thọ khi nghe, Thọ khi tụng.
Với bốn hàng đệ tử của Đức Thế Tôn: Xứ có chân đế, trở thành xứ có ban cho, hoặc xứ có ngừng thành xứ có tuệ. Thành đó là phương tiện. Vì nghe chân đế, nên được giải thoát. Xứ thí nói là chỉ, xứ chỉ từ thiền. Xứ tuệ từ tụng, đây gọi là xứ giải thoát.
Ba pháp độ nầy, là chánh quán không có gì ngăn ngại, với ý muốn là làm sao thấy được Chân Đế, để dần dần theo trình tự mà được giải th- oát. Vì được giải thoát, nên người tuệ mới học pháp của Đức Thế Tôn.
Chân độ thứ ba, phẩm Y, đã nói xong.