KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 386
Phẩm 69: CÁC PHÁP BÌNH ĐẲNG (4)
Này Thiện Hiện, bốn Niệm trụ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa bốn Niệm trụ riêng có pháp giới; bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo riêng có pháp giới. Bốn Niệm trụ tức là pháp giới, pháp giới tức là bốn Niệm trụ; bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo tức là pháp giới, pháp giới tức là bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo.
Này Thiện Hiện, pháp môn giải thoát Không chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp môn giải thoát Không riêng có pháp giới; pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện riêng có pháp giới. Pháp môn giải thoát Không tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp môn giải thoát Không; pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện.
Này Thiện Hiện, pháp không bên trong chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp không bên trong riêng có pháp giới; pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp không bên ngoài cho đến pháp không không tánh tự tánh riêng có pháp giới. Pháp không bên trong tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp
không bên trong; pháp không bên ngoài cho đến pháp không không tánh tự tánh tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp không bên ngoài cho đến pháp không không tánh tự tánh.
Này Thiện Hiện, Thánh đế khổ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa Thánh đế khổ riêng có pháp giới; Thánh đế tập, diệt, đạo chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa Thánh đế tập, diệt, đạo riêng có pháp giới. Thánh đế khổ tức là pháp giới, pháp giới tức là Thánh đế khổ; Thánh đế tập, diệt, đạo tức là pháp giới, pháp giới tức là Thánh đế tập, diệt, đạo.
Này Thiện Hiện, tám Giải thoát chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tám Giải thoát riêng có pháp giới; tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ riêng có pháp giới. Tám Giải thoát tức là pháp giới, pháp giới tức là tám Giải thoát; tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ tức là pháp giới, pháp giới tức là tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ.
Này Thiện Hiện, tất cả pháp môn Đà-la-ni chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tất cả pháp môn Đà-la-ni riêng có pháp giới; tất cả pháp môn Tam-ma-địa chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tất cả pháp môn Tam-ma-địa riêng có pháp giới. Tất cả pháp môn Đà-la-ni tức là pháp giới, pháp giới tức là tất cả pháp môn Đà-la-ni; tất cả pháp môn Tam-ma-địa tức là pháp giới, pháp giới tức là tất cả pháp môn Tam-ma-địa.
Này Thiện Hiện, bậc Cực hỷ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa bậc Cực hỷ riêng có pháp giới; bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân riêng có pháp giới. Bậc Cực hỷ tức là pháp giới, pháp giới tức là bậc Cực hỷ; bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân tức là pháp giới, pháp giới tức là bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.
Này Thiện Hiện, năm loại mắt chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa năm loại mắt riêng có pháp giới; sáu phép thần thông chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa sáu phép thần thông riêng có pháp giới. Năm loại mắt tức là pháp giới, pháp giới tức là năm loại mắt; sáu phép thần
thông tức là pháp giới, pháp giới tức là sáu phép thần thông.
Này Thiện Hiện, mười lực của Phật chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa mười lực của Phật riêng có pháp giới; bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng riêng có pháp giới. Mười lực của Phật tức là pháp giới, pháp giới tức là mười lực của Phật; bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng tức là pháp giới, pháp giới tức là bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng.
Này Thiện Hiện, đại Từ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa đại Từ riêng có pháp giới; đại Bi, đại Hỷ, đại Xả chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa đại Bi, đại Hỷ, đại Xả riêng có pháp giới. Đại Từ tức là pháp giới, pháp giới tức là đại Từ; đại Bi, đại Hỷ, đại Xả tức là pháp giới, pháp giới tức là đại Bi, đại Hỷ, đại Xả.
Này Thiện Hiện, pháp không quên mất chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp không quên mất riêng có pháp giới; tánh luôn luôn xả chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tánh luôn luôn xả riêng có pháp giới. Pháp không quên mất tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp không quên mất; tánh luôn luôn xả tức là pháp giới, pháp giới tức là tánh luôn luôn xả.
Này Thiện Hiện, trí Nhất thiết chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa trí Nhất thiết riêng có pháp giới; trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng riêng có pháp giới. Trí Nhất thiết tức là pháp giới, pháp giới tức là trí Nhất thiết; trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng tức là pháp giới, pháp giới tức là trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng.
Này Thiện Hiện, ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ riêng có pháp giới; tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc riêng có pháp giới. Ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ tức là pháp giới, pháp giới tức là ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ; tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc tức là pháp giới, pháp giới tức là tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc.
Này Thiện Hiện, quả Dự lưu chẳng phải pháp giới, cũng chẳng
lìa quả Dự lưu riêng có pháp giới; quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác riêng có pháp giới. Quả Dự lưu tức là pháp giới, pháp giới tức là quả Dự lưu; quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác tức là pháp giới, pháp giới tức là quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác.
Này Thiện Hiện, tất cả hạnh Đại Bồ-tát chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa tất cả hạnh Đại Bồ-tát riêng có pháp giới; quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật riêng có pháp giới. Tất cả hạnh Đại Bồ-tát tức là pháp giới, pháp giới tức là tất cả hạnh Đại Bồ-tát; quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật tức là pháp giới, pháp giới tức là quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.
Này Thiện Hiện, pháp thế gian chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp thế gian riêng có pháp giới; pháp xuất thế gian chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp xuất thế gian riêng có pháp giới. Pháp thế gian tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp thế gian; pháp xuất thế gian tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp xuất thế gian.
Này Thiện Hiện, pháp hữu lậu chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp hữu lậu riêng có pháp giới; pháp vô lậu chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp vô lậu riêng có pháp giới. Pháp hữu lậu tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp hữu lậu; pháp vô lậu tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp vô lậu.
Này Thiện Hiện, pháp hữu vi chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp hữu vi riêng có pháp giới; pháp vô vi chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp vô vi riêng có pháp giới. Pháp hữu vi tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp hữu vi; pháp vô vi tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp vô vi.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, nếu thấy có pháp nào lìa pháp giới thì chẳng phải hướng thẳng đến đối tượng mong đạt tới là quả vị Giác ngộ cao tột.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, nhận biết tất cả pháp chẳng lìa pháp giới.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, biết tất cả pháp tức là pháp giới, dùng pháp không danh tướng làm
phương tiện thiện xảo, vì các hữu tình mượn danh tướng mà nêu bày: Đây là sắc, đây là thọ, tưởng, hành, thức; đây là nhãn xứ, đây là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ; đây là sắc xứ, đây là thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ; đây là nhãn giới, đây là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới; đây là sắc giới, đây là thanh, hương, vị, xúc, pháp giới; đây là nhãn thức giới, đây là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới; đây là nhãn xúc, đây là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc; đây là các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra, đây là các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sinh ra; đây là địa giới, đây là thủy, hỏa, phong, không, thức giới; đây là nhân duyên, đây là đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên; đây là các pháp từ duyên sinh ra; đây là vô minh, đây là hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, sầu bi khổ ưu não; đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế gian; đây là sắc pháp, đây chẳng phải sắc pháp; đây là pháp hữu kiến, đây là pháp vô kiến; đây là pháp hữu lậu, đây là pháp vô lậu; đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi; đây là Bố thí ba-la-mật-đa, đây là Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa; đây là bốn Tĩnh lự, đây là bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; đây là bốn Niệm trụ, đây là bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo; đây là pháp môn giải thoát Không, đây là pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện; đây là pháp không bên trong, đây là pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; đây là chân như, đây là pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; đây là Thánh đế khổ, đây là Thánh đế tập, diệt, đạo; đây là tám Giải thoát, đây là tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; đây là tất cả pháp môn Đà-la-ni, đây là tất cả pháp môn Tam-ma-địa; đây là bậc Cực hỷ, đây là bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc
Pháp vân; đây là năm loại mắt, đây là sáu phép thần thông; đây là mười lực của Phật, đây là bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng; đây là đại Từ, đây là đại Bi, đại Hỷ, đại Xả; đây là pháp không quên mất, đây là tánh luôn luôn xả; đây là trí Nhất thiết, đây là trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; đây là ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, đây là tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc; đây là quả Dự lưu, đây là quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác; đây là tất cả hạnh Đại Bồ-tát, đây là quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.
Này Thiện Hiện, như nhà ảo thuật hoặc đệ tử của ông ta, cầm một vật nhỏ, ở trước mọi người, biến làm nam nữ lớn nhỏ, voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, gà… đủ các loại cầm thú; hoặc hóa làm Thánh ấp, làng xóm, vườn rừng, ao hồ, đủ các cảnh đẹp thật thích thú, hoặc hóa làm y phục, thức ăn uống, phòng xá, đồ nằm, hương hoa, chuỗi báu, đủ thứ châu báu; hoặc hóa làm vô lượng các loại kỹ nhạc, phường chèo, làm cho vô số người mừng vui hoan lạc; hoặc hóa làm đủ các loại hình tướng, khiến hành bố thí, hoặc khiến trì giới, hoặc khiến tu nhẫn, hoặc khiến tinh tấn, hoặc khiến tu định, hoặc khiến tu tuệ, hoặc lại hiện sinh vào dòng dõi lớn Sát-đế-lợi, hoặc hiện sinh nơi dòng dõi lớn Bà-la-môn, hoặc hiện sinh nơi dòng dõi lớn Trưởng giả, hoặc hiện sinh nơi dòng dõi lớn Cư sĩ; hoặc lại hóa làm các núi, biển lớn, núi chúa Diệu cao, núi Luân vi… hoặc lại hiện sinh nơi chúng trời Tứ đại vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ-ma, trời Đổ-sử-đa, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại; hoặc hiện sinh nơi trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Phạm hội, trời Đại phạm; hoặc hiện sinh nơi trời Quang, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Cực quang tịnh; hoặc hiện sinh nơi trời Tịnh, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh; hoặc hiện sinh nơi trời Quảng, trời Thiểu quảng, trời Vô lượng quảng, trời Quảng quả; hoặc hiện sinh nơi trời Vô tưởng, hoặc hiện sinh nơi trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện, trời Thiện kiến, trời Sắc cứu cánh; hoặc lại hiện sinh nơi trời Không vô biên xứ, trời Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ; hoặc lại hiện làm Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác; hoặc lại hiện làm Đại Bồ-tát từ mới phát tâm tu hành bố thí, Bố thí ba-la-mật-đa; tu hành bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định
vô sắc; tu hành bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo; tu hành pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; học an trú nơi pháp không bên trong, pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; học an trú nơi chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; học an trú nơi Thánh đế khổ, Thánh đế tập, diệt, đạo, hướng nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát; tu hành bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân; vận hành tự tại nơi tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; vận hành tự tại nơi tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; thể hiện đủ các loại thần thông thù thắng; phóng đại quang minh, tỏa chiếu các thế giới, làm nghiêm tịnh cõi Phật, đem lại sự thành tựu đầy đủ cho các hữu tình; tu hành các loại công đức của chư Phật; hoặc lại hóa thân làm Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc viên mãn trang nghiêm, thành tựu mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng… vô lượng, vô biên công đức hy hữu chẳng thể nghĩ bàn.
Này Thiện Hiện, như thế nhà ảo thuật hoặc đệ tử của ông ta vì nhằm mê hoặc người khác, nên ở trước mọi người hóa ra các trò huyễn hóa ấy. Nhưng trong đám người này, những nam nữ lớn nhỏ vô trí thấy việc kia rồi đều kinh ngạc khen rằng: Tài thật! Người biến hóa kia biết rõ nhiều tài nghệ, có thể làm đầy đủ các việc rất hy hữu, cho đến có thể tạo ra thân Như Lai với tướng hảo trang nghiêm, đủ các công đức!
Những người vô trí ấy đều vui mừng; tự chứng tỏ kỹ năng của mình! Nhưng trong đó, kẻ có trí thấy việc này rồi, suy nghĩ: Thật kỳ dị! Tại sao người kia có thể hiện ra sự việc ấy! Trong đó không có sự thật có thể đạt được, lại khiến cho mọi người mê lầm mừng vui. Đối với sự vật không thật khởi tưởng là vậtcó thật!
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát cũng giống như thế. Khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, tuy chẳng thấy có pháp nào lìa chân pháp giới, cũng chẳng thấy pháp giới lìa các pháp mà có, chẳng thấy có hữu tình và sự nêu bày của chúng thật sự có thể nắm bắt được, nhưng có thể dùng các loại phương tiện thiện xảo, tự hành Bố thí ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành Bố thí ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại Bố thí ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành Bố thí ba-la-mật-đa; tự hành Tịnh giới ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành Tịnh giới ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại Tịnh giới ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành Tịnh giới ba-la-mật-đa; tự hành An nhẫn ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành An nhẫn ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại An nhẫn ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành An nhẫn ba-la-mật-đa; tự hành Tinh tấn ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành Tinh tấn ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại Tinh tấn ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành Tinh tấn ba-la-mật-đa; tự hành Tĩnh lự ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành Tĩnh lự ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại Tĩnh lự ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành Tĩnh lự ba-la-mật-đa; tự hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, cũng khuyên người hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, không khen ngợi pháp làm ngược lại Bát-nhã ba-la-mật-đa, hoan hỷ khen ngợi người hành Bát-nhã ba-la-mật-đa; tự thọ trì mười nẻo nghiệp thiện, cũng khuyên người thọ trì mười nẻo nghiệp thiện, không khen ngợi pháp thọ trì ngược lại mười nẻo nghiệp thiện, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì mười nẻo nghiệp thiện; tự thọ trì năm giới, cũng khuyên người thọ trì năm giới, không khen ngợi pháp ngược lại sự hành trì năm giới, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì năm giới; tự thọ trì tám giới, cũng khuyên người thọ trì tám giới, không khen ngợi pháp ngược lại sự thọ trì tám giới, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì tám giới; tự thọ trì giới xuất gia, cũng khuyên người thọ trì giới xuất gia, không khen ngợi pháp ngược lại sự thọ trì
giới xuất gia, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì giới xuất gia; tự tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, cũng khuyên người tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, không khen ngợi pháp tu ngược lại với bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, hoan hỷ khen ngợi người tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; tự tu bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo, cũng khuyên người tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, không khen ngợi pháp tu ngược lại với bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, hoan hỷ khen ngợi người tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; tự tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, cũng khuyên người tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, không khen ngợi pháp tu ngược lại với pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, hoan hỷ khen ngợi người tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; tự an trú nơi pháp không bên trong, pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh, cũng khuyên người an trú nơi pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, không khen ngợi pháp ngược lại sự an trú nơi pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, hoan hỷ khen ngợi người an trú nơi pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; tự an trú nơi chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, cũng khuyên người an trú nơi chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, không khen ngợi pháp ngược lại sự an trú nơi chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, hoan hỷ khen ngợi người an trú nơi chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; tự an trú nơi Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, cũng khuyên người an trú nơi Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, không khen ngợi pháp ngược lại sự an trú nơi Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, hoan hỷ khen ngợi người an trú nơi Thánh đế
khổ, tập, diệt, đạo; tự tu tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ, cũng khuyên người tu tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, không khen ngợi pháp tu ngược lại với tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, hoan hỷ khen ngợi người tu tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; tự tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng khuyên người tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, không khen ngợi pháp tu ngược lại với tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, hoan hỷ khen ngợi người tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; tự tu mười địa của Bồ-tát, cũng khuyên người tu mười địa của Bồ-tát, không khen ngợi pháp tu ngược lại với mười địa của Bồ-tát, hoan hỷ khen ngợi người tu mười địa của Bồ-tát; tự tu năm loại mắt, sáu phép thần thông, cũng khuyên người tu năm loại mắt, sáu phép thần thông, không khen ngợi pháp tu ngược lại với năm loại mắt, sáu phép thần thông, hoan hỷ khen ngợi người tu năm loại mắt, sáu phép thần thông; tự tu mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng, cũng khuyên người tu mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, không khen ngợi pháp tu ngược lại với mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, hoan hỷ khen ngợi người tu mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; tự làm viên mãn ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc, cũng khuyên người làm viên mãn ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc, không khen ngợi pháp tu ngược lại với sự làm viên mãn ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc, hoan hỷ khen ngợi người làm viên mãn ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc; tự tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, cũng khuyên người tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, không khen ngợi pháp tu ngược lại với pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, hoan hỷ khen ngợi người tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; tự tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, cũng khuyên người tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, không khen ngợi pháp tu ngược lại với trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, hoan hỷ khen ngợi người tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng.
Này Thiện Hiện, nếu chân pháp giới, trước, giữa, sau có sự sai biệt thì Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa chẳng có thể dùng phương tiện thiện xảo nêu giảng về chân pháp giới, đem lại sự thành tựu đầy đủ cho các hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, tu các hạnh Đại Bồ-tát, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột; vì chân pháp giới, trước, giữa, sau không hề sự sai biệt cho nên Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa có thể dùng phương tiện thiện xảo thuyết chân pháp giới, đem lại sự thành tựu đầy đủ cho các hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, tu các hạnh Đại Bồ-tát, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột.
Phẩm 70: CHẲNG THỂ ĐỘNG (1)
Lúc bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu các hữu tình và sự nêu bày của hữu tình đều rốt ráo chẳng thể nắm bắt được thì các Đại Bồ-tát vì ai mà tu Bát-nhã ba-la-mật-đa?
Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát lấy cảnh giới Niết-bàn làm lượng nên tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Này Thiện Hiện, nếu cảnh giới hữu tình cùng với cảnh giới Niết-bàn khác nhau thì các Đại Bồ-tát chẳng nên tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa; vì cảnh giới hữu tình chẳng khác cảnh giới Niết-bàn cho nên Đại Bồ-tát vì hữu tình tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng pháp Niết-bàn chẳng hủy hoại an lập hữu tình ở trong cảnh Niết-bàn.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu cảnh giới hữu tình tức cảnh giới Niết-bàn thì tại sao Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng pháp Niết-bàn chẳng hủy hoại để an lập hữu tình trong cảnh giới Niết-bàn?
Bạch Thế Tôn, nếu Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, an lập hữu tình ở trong cảnh giới Niết-bàn, thì tức là an lập cảnh giới Niết-bàn ở trong cảnh giới Niết-bàn?
Bạch Thế Tôn, nếu Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa,
an lập cảnh giới Niết-bàn ở trong cảnh giới Niết-bàn, thì tức là an lập tự tánh nơi tự tánh. Nhưng chẳng thể an lập an lập tự tánh nơi tự tánh.
Bạch Thế Tôn, vì sao có thể nói Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng pháp Niết-bàn chẳng hủy hoại để an lập hữu tình ở trong cảnh giới Niết-bàn?
Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, chẳng thể an lập Niết-bàn nơi Niết-bàn, cũng chẳng thể an lập tự tánh nơi tự tánh. Nhưng các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, với phương tiện thiện xảo có thể an lập hữu tình ở trong cảnh giới Niết-bàn, nhưng cảnh giới hữu tình chẳng khác cảnh giới Niết-bàn.
Này Thiện Hiện, như thế cảnh giới hữu tình cùng với cảnh giới Niết-bàn không hai, không hai phần.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, những gì gọi là phương tiện thiện xảo của các Đại Bồ-tát, khi các Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa? Do diệu lực của phương tiện thiện xảo này, nên an lập hữu tình ở trong cảnh giới Niết-bàn nhưng chẳng có thể hủy hoại tướng Niết-bàn?
Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, từ khi mới phát tâm đã thành tựu phương tiện thiện xảo như thế. Do diệu lực của phương tiện thiện xảo này nên an lập hữu tình ở trong bố thí; đã an lập rồi thì vì họ nêu giảng về bố thí, khoảng trước, sau, giữa không có tướng sai biệt. Nói thế này: Này thiện nam, bố thí như thế, khoảng trước, sau, giữa tất cả đều không. Người thí, kẻ nhận, kết quả của sự bố thí cũng đều không. Như thế, tất cả các sự việc ấy, trong cảnh giới Niết-bàn hoàn toàn không có sở hữu, đều chẳng thể nắm bắt được. Các ngươi chớ chấp nơi bố thí có sự sai khác, kẻ thí, người nhận, kết quả của bố thí, Niết-bàn cũng có sự sai khác. Nếu các ngươi chẳng chấp nơi bố thí: Người thí, kẻ nhận, kết quả của bố thí, Niết-bàn cũng có sự sai khác, thì phước đã tu bố thí sẽ đưa đến giải thoát, đắc quả giải thoát, quyết dùng nẻo giải thoát mà nêu rõ cho đời sau. Lại nói: Này các thiện nam, các ngươi dùng sự tu tập bố thí này; nhưng chớ chấp giữ sắc, chớ chấp giữ thọ, tưởng, hành, thức; chớ chấp giữ nhãn xứ, chớ chấp giữ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ; chớ chấp
giữ sắc xứ, chớ chấp giữ thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ; chớ chấp giữ nhãn giới, chớ chấp giữ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới; chớ chấp giữ sắc giới, chớ chấp giữ thanh, hương, vị, xúc, pháp giới; chớ chấp giữ nhãn thức giới, chớ chấp giữ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới; chớ chấp giữ nhãn xúc, chớ chấp giữ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc; chớ chấp giữ các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra, chớ chấp giữ các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sinh ra; chớ chấp giữ địa giới, chớ chấp giữ thủy, hỏa, phong, không, thức giới; chớ chấp giữ nhân duyên, chớ chấp giữ đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên; chớ chấp giữ các pháp từ duyên sinh ra; chớ chấp giữ vô minh, chớ chấp giữ hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, sầu bi khổ ưu não; chớ chấp giữ Bố thí ba-la-mật-đa, chớ chấp giữ Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa; chớ chấp giữ bốn Tĩnh lự, chớ chấp giữ bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; chớ chấp giữ bốn Niệm trụ, chớ chấp giữ bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo; chớ chấp giữ pháp môn giải thoát Không, chớ chấp giữ pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện; chớ chấp giữ pháp không bên trong, chớ chấp giữ pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; chớ chấp giữ chân như, chớ chấp giữ pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; chớ chấp giữ Thánh đế khổ, chớ chấp giữ Thánh đế tập, diệt, đạo; chớ chấp giữ tám Giải thoát, chớ chấp giữ tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; chớ chấp giữ tất cả pháp môn Đà-la-ni, chớ chấp giữ tất cả pháp môn Tam-ma-địa; chớ chấp giữ bậc Cực hỷ, chớ chấp giữ bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân; chớ chấp giữ năm loại mắt, chớ chấp giữ sáu phép thần thông;
chớ chấp giữ mười lực của Phật, chớ chấp giữ bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng; chớ chấp giữ ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, chớ chấp giữ tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc; chớ chấp giữ pháp không quên mất, chớ chấp giữ tánh luôn luôn xả; chớ chấp giữ trí Nhất thiết, chớ chấp giữ trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; chớ chấp giữ quả Dự lưu, chớ chấp giữ quả Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, quả vị Độc giác; chớ chấp giữ tất cả hạnh Đại Bồ-tát, chớ chấp giữ quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật; chớ chấp giữ pháp thế gian, chớ chấp giữ pháp xuất thế gian; chớ chấp giữ pháp hữu lậu, chớ chấp giữ pháp vô lậu; chớ chấp giữ pháp hữu vi, chớ chấp giữ pháp vô vi. Vì sao vì tất cả sự bố thí và tánh của sự bố thí là không, tất cả người nhận và tánh của người nhận là không tất cả kết quả của bố thí và tánh nơi kết quả của bố thí là không; trong cái không, bố thí chẳng thể nắm bắt được, người thí chẳng thể nắm bắt được, người nhận chẳng thể nắm bắt được, kết quả của bố thí chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì các pháp như thế và các pháp khác tự tánh của chúng đều là rốt ráo không. Trong cái rốt ráo không ấy, các pháp như thế đều chẳng thể nắm bắt được.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, từ khi mới phát tâm đã thành tựu phương tiện thiện xảo như thế; do diệu lực của phương tiện thiện xảo ấy nên an lập hữu tình ở trong tịnh giới, đã an lập rồi, nói thế này: Này các thiện nam, nay các ngươi đối với các hữu tình nên hết lòng thương xót, xa lìa sự giết hại, xa lìa việc không cho mà lấy, xa lìa dâm dục, tà hạnh, xa lìa lời nói hư dối, xa lìa lời nói ly gián, xa lìa lời nói thô ác, xa lìa lời nói hỗn tạp, xa lìa tham dục, xa lìa sân hận, xa lìa tà kiến. Vì sao? Này thiện nam, vì các pháp như thế hoàn toàn không có tự tánh. Các ngươi chẳng nên phân biệt chấp trước. Các ngươi lại nên quán sát kỹ pháp nào là sinh mà muốn dứt bỏ mạng nó? Lại vì duyên cớ gì mà dứt mạng ấy? Pháp nào gọi là vật không cho mà lấy mà muốn lấy vật ấy? Lại vì duyên cớ gì mà lấy vật ấy? Pháp nào gọi là đối tượng hành tà mà muốn hành tà hạnh? Lại vì duyên cớ gì mà hành tà hạnh? Pháp nào gọi là đối tượng nên nói hư dối mà muốn nói hư dối? Lại vì duyên cớ gì mà nói hư dối? Pháp nào gọi là đối tượng nên ly gián mà
muốn ly gián? Lại vì duyên cớ gì mà nói lời nói ly gián? Pháp nào gọi là đối tượng nên hủy nhục mà muốn hành hủy nhục? Lại vì duyên cớ gì mà nói lời thô ác? Pháp nào gọi là các sự hỗn tạp mà muốn nói lời hỗn tạp? Lại vì duyên cớ gì mà nói lời hỗn tạp? Pháp nào gọi là vật nên tham mà muốn khởi lòng tham muốn? Lại vì duyên cớ gì mà khởi tham muốn? Pháp nào gọi là đối tượng nên sân mà muốn khởi sân? Lại vì duyên cớ gì mà khởi giận dữ? Pháp nào gọi là đối tượng tà kiến mà muốn khởi tà kiến? Lại vì duyên cớ gì mà khởi tà kiến? Tất cả các pháp như thế tự tánh đều là không.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát ấy khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, thành tựu phương tiện thiện xảo như thế, có khả năng khéo đem lại sự thành tựu cho các loài hữu tình, vì họ mà nói quả bố thí và tịnh giới, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, khiến họ biết quả bố thí và tịnh giới tự tánh đều là không. Khi họ đã hiểu rõ quả của sự tu bố thí và tịnh giới tự tánh đều là không rồi thì có thể đối với pháp ấy chẳng sinh chấp trước; do chẳng chấp trước nên tâm không tán loạn; do tâm không tán loạn có thể phát sinh diệu tuệ; do diệu tuệ này nên đoạn trừ vĩnh viễn tùy miên và các thứ phiền não trói buộc, hội nhập cảnh giới Niết-bàn tuyệt đối.
Này Thiện Hiện, như vậy là nương vào thế tục mà nói, chẳng dựa vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong không, không có một pháp nhỏ nào có thể nắm bắt được, hoặc đã hội nhập Niết-bàn, hoặc sẽ hội nhập Niết-bàn, hoặc người hội nhập Niết-bàn, hoặc do đó mà được hội nhập Niết-bàn, tất cả như thế hoàn toàn không có sở hữu, đều rốt ráo không; tánh không rốt ráo ấy tức là Niết-bàn, lìa Niết-bàn này thì không có một pháp riêng biệt nào.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, từ khi mới phát tâm, đã thành tựu phương tiện thiện xảo như thế; do diệu lực của phương tiện thiện xảo ấy, nhận thấy các hữu tình tâm thường dấy khởi nhiều sân hận, nên vô cùng thương xót dùng các phương tiện chỉ dạy nói thế này: Này các thiện nam, nên tu an nhẫn, ưa thích pháp an nhẫn, chế ngự tâm mình, thọ hạnh an nhẫn. Việc làm cho người giận tự tánh là không thì tại sao đối với nó lại phát khởi giận dữ? Các ngươi lại nên quán sát kỹ càng vì đâu mà mình nổi giận? Ai sân hận? Sân hận đối với ai? Các pháp ấy bản tánh đều là không; pháp bản
tánh không đó chưa từng chẳng không; tánh không như thế chẳng phải Như Lai tạo ra, chẳng phải hàng Độc giác tạo ra, cũng chẳng phải do Trời, Rồng, chư Thần, Dược-xoa, Càn-đạt-phược, A-tố-lạc, Yết-lộ-đồ, Khẩn-nại-lạc, Mạc-hô-lạc-già, Nhân phi nhân tạo ra, cũng chẳng phải do chúng trời Tứ đại vương, trời Ba mươi ba, trời Dạ-ma, trời Đổ-sử-đa, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa tự tại tạo ra; cũng chẳng phải do trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Phạm hội, trời Đại phạm tạo ra; cũng chẳng phải do trời Quang, trời Thiểu quang, trời Vô lượng quang, trời Cực quang tịnh tạo ra; cũng chẳng phải do trời Tịnh, trời Thiểu tịnh, trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh tạo ra; cũng chẳng phải do trời Quảng, trời Thiểu quảng, trời Vô lượng quảng, trời Quảng quả tạo ra; cũng chẳng phải do trời Vô tưởng, trời Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện, trời Thiện kiến, trời Sắc cứu cánh tạo ra; cũng chẳng phải do trời Không vô biên xứ, trời Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ tạo ra. Các ngươi lại nên quán sát như thật về sân giận ấy do đâu mà sinh, thuộc về ai? Hiện được lợi ích gì? Tất cả pháp như thế bản tánh đều là không, chẳng phải trong tánh không ấy có thể có sân hận cho nên cần phải an nhẫn để đem lại lợi ích cho mình.
Này Thiện Hiện, như thế Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, với phương tiện thiện xảo, an lập hữu tình ở nơi lý của tánh không, nhân quả của tánh không, dần dần đem quả vị Giác ngộ cao tột chỉ bày, khuyến khích, dẫn dắt, ngợi khen, chúc mừng, khiến họ khéo an trú, mau có thể chứng đắc.
Này Thiện Hiện, như thế là nương vào thế tục mà nói, chẳng dựa vào thắng nghĩa. Vì sao? Vì trong bản tánh của không, chủ thể chứng đắc, đối tượng được chứng đắc, nơi chốn, thời gian chứng đắc, tất cả đều chẳng phải có.
Này Thiện Hiện, đó gọi là thật tế, là lý của bản tánh không; các Đại Bồ-tát vì muốn đem lại lợi ích cho các hữu tình, nên nương vào thật tế, vào lý của bản tánh không này, khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, chẳng nắm bắt được hữu tình, lại cũng chẳng nắm bắt được sự nêu bày về hữu tình. Vì sao? Này Thiện Hiện, vì tất cả pháp đều lìa hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-
mật-đa, từ khi mới phát tâm đã thành tựu phương tiện thiện xảo như thế; do diệu lực của phương tiện thiện xảo ấy, thấy các hữu tình thân tâm thường biếng trễ, mất hết tinh tấn, nên dùng phương tiện khuyên bảo, dẫn dắt, khiến họ thân tâm phát khởi tinh tấn, tu các pháp thiện, nói thế này: Này các thiện nam, trong bản tánh không, không có pháp biếng trễ, không có người biếng trễ, không có chỗ biếng trễ, không có lúc biếng trễ, không có do việc này mà phát sinh biếng trễ, tất cả các pháp ấy đều là bản tánh không, chẳng vượt lý không. Các ngươi nên phát khởi tinh tấn cả nơi thân tâm, bỏ các thứ biếng trễ, dốc tu pháp thiện, đó là tu Bố thí ba-la-mật-đa, hoặc tu Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa; hoặc tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; hoặc tu bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo; hoặc tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; hoặc an trú nơi pháp không bên trong, pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn, pháp không không đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng, pháp không cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh; hoặc an trú nơi chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; hoặc an trú nơi Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; hoặc tu tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; hoặc tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; hoặc tu bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân; hoặc tu năm loại mắt, sáu phép thần thông; hoặc tu mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng; hoặc tu đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả; hoặc tu ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, tám mươi vẻ đẹp phụ thuộc; hoặc tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; hoặc tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; hoặc tu tất cả các pháp Phật khác, trong khi tu tập chớ sinh, nếu sinh
thì phải chịu khổ não vô cùng. Này các thiện nam, tất cả pháp ấy bản tánh đều là không, không có các chướng ngại. Các ngươi nên quán về lý của bản tánh không, trong cái không chướng ngại ấy, không có việc biếng trễ, không có người biếng trễ, nơi chốn, thời gian, nhân duyên của việc này cũng chẳng thể nắm bắt được.
Này Thiện Hiện, như thế các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa với phương tiện thiện xảo, an lập hữu tình, khiến họ an trú nơi lý của bản tánh không nơi các pháp; tuy khiến họ an trú nhưng không có hai tưởng. Vì sao? Vì lý của bản tánh không là không hai, không hai phần, chẳng phải đối với pháp không hai ấy có thể dấy khởi hai tưởng.