489 - Kinh Thuyết Vô Cấu Xứng - Quyển 2 - Phẩm 3: Thanh Văn (Trang 291 - 310)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 56 - Bộ Kinh Tập III - Số 468->489

Đại Tập 56 - Bộ Kinh Tập III - Số 468->489

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1072.

Chương 12: Kinh Thuyết Vô Cấu Xứng - Quyển 2 - Phẩm 3: Thanh Văn (Trang 291 - 310)

KINH THUYẾT VÔ CẤU XỨNG
 
QUYỂN 2
 
Phẩm 3: THANH VĂN
 
Bấy giờ, Bờ-tát Vô Cấu Xứng suy nghĩ: “Ta bị bệnh không rời khỏi giường nằm như vậy, lẽ nào Đức Thế Tôn đại Bi không đoái tâm thương xót mà không bảo người đến hỏi thăm bệnh tình?” Biết ý ông ta, Đức Thế Tôn thương xót nên bảo Tôn giả Xá-lợi Tử:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Tôn giả Xá-lợi Tử thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con đang ngồi thiền trong rừng cây. Lúc đó Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy dưới chân con và nói:
“Thưa Tôn giả Xá-lợi Tử! Không cần ngồi như vậy mới là ngồi thiền. Người ngồi thiền không hiện thân tâm ở ba cõi, đó là ngồi thiền. Không khởi định diệt mà hiện các oai nghi, đó là ngồi thiền. Không xả bỏ tất cả tướng đã chứng đắc mà hiện tất cả pháp của hàng phàm phu, đó là ngồi thiền. Tâm không trụ bên trong cũng không hành bên ngoài, đó là ngồi thiền. Trụ vào ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề mà không lìa tất cả kiến giải, đó là ngồi thiền. Không xả bỏ sinh tử mà không phiền não, mặc dù chứng Niết-bàn mà không có chỗ trụ, đó là ngồi thiền. Nếu ngồi thiền như vậy thì được Phật ấn chứng.”
Bạch Thế Tôn! Khi đó con nghe vậy liền nín thinh không thể trả lời được. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Mục-kiền-liên:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không có đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ lại trước đây có một lần, con đến ngả tư đường thuộc thành Quảng nghiêm giảng nói pháp giải thoát cho các cư sĩ . Lúc đó, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy nơi chân con và nói: “Thưa Tôn giả 
Mục-kiền-liên! Nói pháp cho hàng cư sĩ , không nên nói như Tôn giả. Mà nói pháp là phải nói như pháp.” Con hỏi: “Thế nào là nói như pháp?” Ông ta trả lời: “Pháp không có ngã vì lìa cấu uế của ngã, pháp không có hữu tình vì lìa bụi bặm của hữu tình, pháp không có thọ mạng vì lìa sinh tử, pháp không có Bổ-đặc-già-la vì trước sau đều đoạn, pháp luôn tịch tĩnh vì diệt các tướng, pháp lìa tham chấp vì không có chỗ duyên, pháp không có văn tự vì đoạn dứt ngôn ngữ, pháp không có ví dụ để nói vì xa lìa tất cả tư tưởng sóng nước, pháp ở khắp tất cả vì như hư không, pháp không hiển bày, không có tướng, không có hình thể vì xa lìa tất cả hành động, pháp không có ngã sở vì lìa ngã sở, pháp không phân biệt vì lìa tâm thức, pháp không so sánh vì không đối đãi nhau, pháp không thuộc vào nhân vì không ở trong duyên, pháp đồng với pháp giới vì thể nhập vào tất cả pháp giới đích thực, pháp tùy theo Như vì không có chỗ theo, pháp trụ vào thật tế vì rốt ráo bất động, pháp không lay động vì không nương tựa vào sáu cảnh, pháp không đến đi vì không có chốn trụ, pháp thuận với không vì tùy theo vô tướng, ứng với vô nguyện vì xa lìa tất cả tư tưởng tăng giảm, pháp không thủ xả vì lìa sinh diệt, pháp không chấp giữ vì vượt qua tất cả đạo nhãn nhó tỷ thiệt thân ý, pháp không cao thấp vì thường trụ bất động, pháp lìa tất cả phân biệt về chỗ hành vì đã đoạn rốt ráo tất cả các hý luận. Thưa Tôn giả Mục-kiền-liên! Tướng của pháp như vậy mà có thể giảng nói được sao? Vậy người nói pháp là tất cả đều tăng trưởng, tổn giảm. Người nghe pháp cũng đều tăng trưởng, tổn giảm. Nếu đối với xứ ấy không tăng, không giảm, thì với xứ ấy không thể nói, không thể nghe, không thể phân biệt. Thưa Tôn giả Mục-kiền-liên! Ví như thầy ảo thuật hóa người huyễn hóa, giảng nói các pháp trụ tâm như vậy, mới có thể nói pháp, phải hiểu rõ hoàn toàn căn tánh sai khác của các hữu tình, dùng tuệ diệu quán sát không bị chướng ngại, khen ngợi Đại thừa, nhớ nghĩ báo ân Phật, ý lạc thanh tịnh, từ ngữ pháp thiện xảo, nối dõi Tam bảo không cho đoạn tuyệt, đó mới nên nói pháp.”
Bạch Thế Tôn! Khi đại cư sĩ  ấy giảng nói pháp như vậy, trong chúng có tám trăm cư sĩ  đều phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng. Bạch Thế Tôn! Lúc đó con im lặng không thể biện luận được nữa. Nên
nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Ca-diếp-ba:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Tôn giả Đại Ca-diếp-ba thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con vào thành Quảng nghiêm, theo những ngõ hẻm nhà nghèo khó để khất thực. Khi ấy, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy nơi sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả Đại Ca-diếp-ba! Mặc dù Tôn giả có tâm Từ bi nhưng không phổ cập, bỏ nhà giàu đến khất thực nhà nghèo. Thưa Tôn giả Ca-diếp! Nên trụ vào pháp bình đẳng mà khất thực theo thứ tự. Vì không có thức ăn nên đi khất thực, vì muốn phá trừ người chấp trước đối với thức ăn nên đi khuất thực, vì muốn nhận thức ăn bố thí của người nên đi khất thực, vì có tư tưởng vào xóm làng trống vắng mà vào xóm làng, vì muốn thành tựu đầy đủ cho các nam nữ lớn nhỏ mà vào thành ấp, vì có tư tưởng hướng Phật mà đến các nhà để khất thực, vì không thọ nhận mà thọ nhận thức ăn ấy, thấy sắc giống như mù, nghe tiếng như âm thanh vọng lại, ngửi mùi thơm như gió, ăn mùi vị không phân biệt, thọ các xúc như trí chứng, biết các pháp như tướng huyễn, không có tự tánh không có tha tánh, không bộc phát, không tịch tĩnh. Thưa Tôn giả Ca-diếp! Nếu có thể không lìa bỏ tám tà để thể nhập vào tám Giải thoát, lấy tà bình đẳng nhập vào chánh bình đẳng, lấy một vắt cơm bố thí cho tất cả, cúng dường cho chư Phật cùng chúng Hiền thánh rồi sau đó mới ăn. Thức ăn ấy chẳng tạp nhiễm, chẳng lìa tạp nhiễm; chẳng nhập định tịnh, chẳng ra khỏi định tịnh; chẳng trụ sinh tử, chẳng trụ Niết-bàn; như vậy mới có thể ăn. Những người cúng dường cho Tôn giả không có quả nhỏ, không có quả lớn, không tổn giảm không tăng trưởng, hướng đến cõi Phật không hướng đến Thanh văn. Thưa Tôn giả Ca-diếp! Nếu ăn thức ăn ấy thì không uổng phí thức ăn của người cúng dường.”
Bạch Thế Tôn! Nghe ông ta nói vậy, con đạt được điều chưa từng có. Tất cả các vị Bồ-tát đều rất tôn kính ông ta.
Kỳ lạ thay, bạch Thế Tôn! Ở đó có cư sĩ  với biện tài trí tuệ như vậy. Ai có trí tuệ được nghe ông ta nói mà lại không phát tâm Bồ-đề vô thượng. Từ đó đến nay, con không chỉ dạy hữu tình cầu các thừa Thanh
văn, Duyên giác nữa, mà con chỉ dẫn dạy họ phát tâm mong cầu Bồ-đề vô thượng. Cho nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Thiện Hiện:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Tôn giả Đại Thiện Hiện thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con vào thành Quảng nghiêm để đi khất thực, theo thứ tự con vào nhà ông ta. Khi ấy, Vô Cấu Xứng cúi đầu lạy sát chân con và tự tay lấy bát con đựng đầy thức ăn ngon, rồi nói: “Thưa Tôn giả Thiện Hiện! Đối với thức ăn, nếu lấy tánh bình đẳng nhập vào tánh bình đẳng của các pháp, đem tánh bình đẳng của các pháp nhập vào tánh bình đẳng của chư Phật thì mới có thể nhận lấy thức ăn. Thưa Tôn giả Thiện Hiện! Nếu không đoạn trừ tham, sân, si cũng không tương ưng với nó, không hoại thân kiến mà nhập vào nhất đạo, không diệt vô minh và các hữu ái mà phát sinh tuệ minh để giải thoát, đem pháp tánh bình đẳng nơi vô gián nhập vào pháp tánh bình đẳng giải thoát, không tháo bỏ không trói buộc, không thấy bốn Đế chẳng phải là không thấy bốn Đế, chẳng phải chứng đắc quả, chẳng phải là phàm phu, chẳng phải lìa pháp của phàm phu, chẳng phải Thánh chẳng phải phi Thánh, mặc dù thành tựu tất cả pháp nhưng lìa vọng tưởng về các pháp thì mới có thể lấy ăn. Thưa Tôn giả Thiện Hiện! Không thấy Phật, không nghe pháp, không cung kính Tăng thì đám lục sư ngoại đạo: Mãn Ca-diếp-ba, Mạt-tát-yết-ly-cù-xá-ly Tử, Tưởng Phệ-đa Tử, Vô Thắng Man, Ca-diễn-na, Ly-hệ-thân Tử là thầy của Tôn giả, Tôn giả xuất gia với họ. Đám lục sư ấy đọa thì Tôn giả cũng đọa, như thế thì mới có thể lấy ăn. Nếu Tôn giả rơi vào các kiến chấp mà không rơi vào ở giữa, hai bên, vào tám chỗ nạn không thoát ra được cùng với tạp nhiễm mà lìa thanh tịnh. Nếu hữu tình đạt được định Vô tránh thì Tôn giả cũng đạt được, nhưng không gọi là ruộng phước thanh tịnh. Những người bố thí thức ăn cho Tôn giả đọa vào các cõi ác rồi Tôn giả cùng đám ma nắm tay nhau, kết bạn cùng với các phiền não. Tự tánh của phiền não tức là tự tánh của Tôn giả. Các hữu tình sinh tâm oán hận, chê bai chư Phật, hủy báng Chánh pháp, không dự vào Tăng số thì hoàn toàn không có cơ hội đạt Bát-niết-bàn. Nếu có đủ
phương cách khéo léo, làm được như vậy thì có thể lấy ăn.”
Bạch Thế Tôn! Khi nghe ông ta nói như vậy, con mịt mù, mê muội, quên hết đường đi. Con không biết phải nói gì và trả lời thế nào. Con muốn để bát lại mà ra khỏi nhà. Khi ấy, Vô Cấu Xứng nói với con: “Thưa Tôn giả Thiện Hiện! Tôn giả hãy cầm bát, chớ có sợ. Ý Tôn giả thế nào? Như chư Phật, Như Lai hóa ra người huyễn. Người huyễn hóa đó đem việc này ra hỏi, thì Tôn giả có sợ không?” Con nói: “Không sợ.” Vô Cấu Xứng nói: “Tánh tướng của các pháp đều như huyễn hóa. Tất cả hữu tình và các lời nói năng, tánh tướng của chúng đều như vậy. Những người có trí không nên chấp trước vào văn tự, cũng không sợ sệt. Vì sao? Vì tất cả sự nói năng đều lìa tánh tướng của văn tự. Nếu hoàn toàn chẳng có văn tự thì đó là giải thoát. Tướng giải thoát tức là tất cả pháp.”
Bạch Thế Tôn! Khi đại cư sĩ  ấy nói pháp, có hai vạn Thiên tử xa lìa mọi phiền não cấu uế, trong các pháp đắc được Pháp nhãn thanh tịnh. Năm trăm Thiên tử đắc pháp nhẫn thuận. Lúc đó, con im lặng không nói năng gì được và cũng không sao trả lời. Cho nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Thế Tôn bảo Tôn giả Mãn Từ Tử:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Mãn Từ Tử thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, ở trong rừng con giảng pháp cho Tỳ-kheo mới học. Khi ấy, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả Mãn Từ Tử! Trước tiên Tôn giả nên nhập định để quán sát tâm Tỳ-kheo, rồi sau đó mới giảng pháp cho họ. Không nên đem thức ăn nhơ nhớp bỏ vào bình báu. Trước tiên nên biết rõ các Tỳ-kheo có ý muốn gì, đừng đem báu phệ lưu ly vô giá sánh bằng với viên thủy tinh tầm thường dễ vỡ. Thưa Tôn giả Mãn Từ Tử! Tôn giả chớ không quán sát căn tánh sai khác của các loài hữu tình mà trao cho họ pháp thuộc Tiểu thừa. Họ đã không bị tổn thương thì đừng làm cho họ tổn thương. Họ muốn đi đường lớn thì đừng bảo đi đường nhỏ, chớ lấy ánh sáng mặt trời đem sánh với lửa đom đóm, không nên lấy biển cả đặt vào dấu chân bò, không nên đem núi Diệu cao để trong
hạt cải, không nên đem tiếng gầm của sư tử sánh bằng với tiếng của loài dã can. Thưa Tôn giả Mãn Từ Tử! Các Tỳ-kheo ấy đều đã phát tâm Đại thừa từ thuở xa xưa, cầu Bồ-đề giữa chừng thì quên mất ý ấy. Vậy sao đem pháp Thanh văn thừa mà chỉ dạy họ. Tôi quán sát trí tuệ của hàng Thanh văn thấp kém quá hơn người mù bẩm sinh không có Đại thừa. Quán căn tánh nói trí diệu của các hữu tình chứ không thể quán căn tánh lợi, độn của hữu tình.” Khi ấy, Vô Cấu Xứng liền nhập Tam-ma-địa Như thị thắng khiến các Tỳ-kheo theo đó nhớ lại vô lượng sự sai khác ở kiếp trước, đã từng gieo trồng căn lành với năm trăm Đức Phật ở quá khứ, đã chứa nhóm, tu tập vô lượng công đức thù thắng, hồi hướng lên Chánh đẳng giác Vô thượng. Sau khi nhớ lại đời kiếp trước, các vị ấy cầu tâm Bồ-đề và trở lại hiện tại, cúi đầu lạy sát chân cư sĩ . Nhân đây, Vô Cấu Xứng giảng pháp khiến họ không thoái chuyển nơi đạo quả Chánh đẳng Bồ-đề vô thượng.
Bạch Thế Tôn! Lúc ấy con nghĩ: “Các vị Thanh văn không biết căn tánh sai khác của hữu tình. Nếu không thưa với Như Lai thì không nên vội giảng nói pháp cho họ. Vì sao? Vì các Thanh văn không biết căn tánh hơn kém của hữu tình, chẳng phải luôn ở trong định như Phật.” Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Ma-ha Ca-đa-diễn-na:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng. Ca-đa-diễn-na thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây, có một lần, sau khi Đức Thế Tôn giảng pháp cho Tỳ-kheo, con liền nhập định. Sau đó, con phân biệt, chọn lựa cú nghĩa của Khế kinh giảng nói về nghĩa vô thường, nghĩa không, nghĩa vô ngã, nghĩa tịch diệt. Khi ấy, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả Đại Ca-đa-diễn-na! Không nên đem tâm hành phân biệt mà nói về thật tướng của các pháp. Vì sao? Vì các pháp hoàn toàn chẳng phải đã sinh, chẳng phải đang sinh, chẳng phải sẽ sinh; chẳng phải đã diệt, chẳng phải đang diệt, chẳng phải sẽ diệt, đó là nghĩa vô thường. Thấu đạt tánh của năm uẩn hoàn toàn là không, không có chỗ sinh khởi, đó là nghĩa khổ. Các pháp hoàn toàn không có sở hữu, đó là nghĩa không. Biết ngã là không có ngã, không có hai, đó
là nghĩa vô ngã. Không có tự tánh, không có tha tánh, xưa không bùng cháy nay không dập tắt, không tịch tĩnh, hoàn toàn tịch tĩnh rốt ráo tịch tĩnh, đó là nghĩa tịch tĩnh.”
 Khi Bồ-tát Vô Cấu Xứng giảng nói pháp ấy thì các Tỳ-kheo đoạn hết các lậu, tâm được giải thoát.
Bạch Thế Tôn! Khi ấy con im lặng không thể nói gì cả. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Đại Vô Diệt:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Tôn giả Đại Vô Diệt thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con đi kinh hành một mình trong rừng. Khi ấy, có Phạm vương tên Nghiêm Tịnh cùng một vạn Phạm chúng đều phóng ra ánh sáng lớn. Họ đến chỗ con cúi đầu lạy sát chân con và hỏi: “Thưa Tôn giả Vô Diệt! Tôn giả đắc Thiên nhãn có thể thấy bao xa?” Khi ấy con trả lời: “Đại tiên nên biết! Tôi có thể thấy tam thiên đại thiên thế giới cõi Phật của Như Lai Thích-ca Mâu-ni như thấy quả A-ma-lặc trong lòng bàn tay.” Khi ấy Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả Vô Diệt! Thiên nhãn mà Tôn giả đắc được là có hành tướng hay không có hành tướng? Nếu có hành tướng tức là đồng với năm thần thông của ngoại đạo. Còn nếu không có hành tướng tức là vô vi lẽ ra không thể thấy. Vậy thì Thiên nhãn mà Tôn giả đắc được có thể thấy thế nào?”
Bạch Thế Tôn! Lúc đó con im lặng không thể trả lời được. Các Phạm chúng nghe ông ta nói vậy thì bừng tỏ cho là chưa từng có, liền lạy, hỏi: “Trong đời, ai là người có được chân Thiên nhãn?” Vô Cấu Xứng trả lời: “Chỉ có Phật Thế Tôn mới đắc được chân Thiên nhãn, không lìa định tịch tĩnh mà vẫn thấy các cõi Phật không có hai tướng và các tướng.” Bấy giờ, Phạm vương ấy cùng quyến thuộc năm trăm người đều phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng. Lúc đó, họ lễ bái Vô Cấu Xứng rồi bỗng nhiên biến mất. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ưu-ba-ly:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Tôn giả Ưu-ba-ly thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần: Có hai vị Tỳ-kheo phạm giới đã thọ. Hai vị ấy rất xấu hổ không dám đến chỗ Đức Phật, lại đến lạy sát chân con, nói: “Thưa Tôn giả Ưu-ba-ly! Hai chúng tôi nay đã vi phạm vượt quá giới luật, thật lấy làm xấu hổ không dám đến chỗ Đức Phật. Chúng tôi xin Tôn giả hãy giải bày nỗi ưu lo để chúng tôi khỏi tội ấy.” Con liền như pháp giải nói để hai vị ấy không còn lo buồn nữa, giới đã phạm được thanh tịnh trở lại và con chỉ dạy, khuyến khích, hướng dẫn, an ủi hai vị ấy. Lúc đó, Vô Cấu Xứng đến lạy sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả Ưu-ba-ly! Không nên kết thêm tội cho hai vị Tỳ-kheo này, mà phải làm thế nào để dứt hẳn mối lo âu đó ngay. Họ đã phạm rồi chớ nên làm loạn tâm họ. Vì sao? Vì tánh của tội ấy không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa. Như lời Phật dạy: “Vì tâm tạp nhiễm nên hữu tình tạp nhiễm, vì tâm thanh tịnh nên hữu tình thanh tịnh.” Như vậy, tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, cũng không ở chặng giữa. Tâm ấy như vậy nên tội cấu uế cũng như vậy. Tội cấu uế của “Như” như vậy, nên các pháp cũng như vậy, không ngoài “Như.” Thưa Tôn giả Ưu-ba-ly! Tâm của Tôn giả vốn thanh tịnh, vậy khi được giải thoát thì tâm vốn thanh tịnh ấy có bị nhiễm bao giờ không?” Con trả lời: “Không.” Vô Cấu Xứng nói: “Tâm tánh của tất cả hữu tình cũng vốn thanh tịnh chưa từng bị nhiễm. Thưa Tôn giả Ưu-ba-ly! Nếu có phân biệt, phân biệt khác tức là có phiền não. Nếu không có phân biệt, không phân biệt khác tức là tánh thanh tịnh. Nếu có điên đảo là có phiền não. Còn như không điên đảo là tánh thanh tịnh. Nếu còn chấp ngã tức thành tạp nhiễm, không chấp ngã là tánh thanh tịnh. Thưa Tôn giả Ưu-ba-ly! Các pháp sinh diệt không ngừng, nó như huyễn, như hóa, như điện, như chớp, như mây. Các pháp không quay lại đợi nhau, cho đến một niệm nó cũng không tạm dừng. Tánh của các pháp đều thấy một cách hư vọng, như mộng, như dợn nắng, như thành Kiền-đạt-bà. Tất cả pháp đều do tâm phân biệt mà phát sinh ảnh tượng như trăng trong nước, như bóng trong gương. Ai biết được như vậy gọi là trì giới luật rốt ráo. Ai biết được như vậy gọi là điều phục hoàn hảo.” Nghe giảng nói như thế, hai vị Tỳ-kheo tỏ ngộ cho là chưa từng có và cùng
nói: “Cư sĩ  thật kỳ diệu thay, với trí tuệ biện tài thù thắng như vậy, Tôn giả Ưu-ba-ly không thể nào sánh kịp. Đức Phật dạy trì luật rất là cao cả không thể nói được.” Con liền bảo: “Hai vị đừng có nghĩ về cư sĩ  ấy như vậy. Vì sao? Vì ngoài Đức Như Lai ra chưa có một Thanh văn và các Bồ-tát nào có thể ngăn chặn trí tuệ biện tài của cư sĩ  ấy. Trí tuệ biện tài sáng suốt, thù thắng của ông ta là như vậy.”
Bấy giờ, hai vị Tỳ-kheo liền đoạn sạch mối lo âu, đều phát tâm cầu đạo quả Chánh đẳng giác Vô thượng và làm lễ phát nguyện:
“Nguyện các hữu tình đều được trí tuệ biện tài thù thắng như vậy.” Khi ấy, con im lặng không nói được gì cả. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Phật bảo Tôn giả La-hỗ-la:
–Ông nên đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Tôn giả La-hỗ-la thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần: Có các đồng tử dòng Ly-chiêm-tỳ đến lễ lạy con và hỏi: “Thưa Tôn giả La-hỗ-la! Tôn giả là con của Phật, vì đạo mà bỏ ngôi vị Chuyển luân vương để xuất gia. Việc xuất gia ấy có những công đức lợi ích gì?” Con liền như pháp giảng nói cho các đồng tử về công đức, lợi ích của việc xuất gia. Khi đó, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy sát chân con nói: “Thưa Tôn giả La-hỗ-la! Tôn giả không nên giảng nói những công đức, lợi ích của việc xuất gia như vậy. Vì sao? Vì không có công đức, không có lợi ích, đó chính là xuất gia. Thưa Tôn giả La-hỗ-la! Đứng về pháp hữu vi thì có thể nói là có công đức, có lợi ích. Nhưng xuất gia là pháp vô vi. Trong pháp vô vi thì không thể nói là có công đức, lợi ích. Thưa Tôn giả La-hỗ-la! Xuất gia không có bên này, không có bên kia, cũng không ở chặng giữa. Nó xa lìa các kiến, không có sắc, phi sắc, đó là đường đến Niết-bàn, được người trí khen ngợi, được bậc Thánh bảo hộ, chiến thắng chúng ma, vượt ra khỏi năm đường, tịnh tu năm nhãn, an lập vào năm nhãn, chứng đắc năm Lực, không còn khổ não, lìa các pháp ác, bẻ gãy đám ngoại đạo, thoát khỏi giả danh, ra khỏi bùn nhơ dục không bị đắm nhiễm, không còn sự ràng buộc vì lìa ngã, ngã sở, dứt hẳn các hữu vì đã đoạn trừ các hữu, không bị nhiễu loạn vì đã đoạn trừ sự nhiễu
loạn, khéo điều phục tâm mình khéo bảo hộ tâm người, tùy thuận vào pháp chỉ tịch diệt, siêng năng tinh tấn tu pháp quán thù thắng, xa lìa tất cả điều ác, tu tất cả điều thiện. Nếu có thể được như vậy mới gọi là chân xuất gia.” Khi ấy, Vô Cấu Xứng nói với các đồng tử: “Hôm nay các vị nên cùng nhau xuất gia trong chỗ khéo giảng thuyết về Tỳ-nại-da. Vì sao? Vì gặp Phật ra đời là khó, tránh xa khổ nạn là khó, được làm thân người là khó, đầy đủ an lạc là điều khó bậc nhất.” Các đồng tử thưa: “Thưa đại cư sĩ ! Chúng tôi nghe Đức Phật dạy: “Nếu cha mẹ không cho phép thì không được xuất gia.” Vô Cấu Xứng nói: “Này các đồng tử! Các ông chỉ phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng, siêng năng tu tập chánh hạnh thì đó là xuất gia, là thọ cụ túc, thành tánh Tỳ-kheo.” Lúc này, ba mươi hai đồng tử dòng Ly-chiêm-tỳ đều phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng và thề nguyện tu hành chánh hạnh. Con thì im lặng không thể nói được gì nữa. Cho nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Đức Phật bảo Tôn giả A-nan-đà:
–Ông nên đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Tôn giả A-nan-đà thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần Thế Tôn hiện thân bệnh nhẹ cần dùng sữa bò. Vào sáng sớm, con sửa sang pháp phục, ôm bát đến đứng trước nhà Bà-la-môn ở thành Quảng nghiêm để xin sữa. Khi ấy, Vô Cấu Xứng đến lạy sát chân con và nói: “Thưa Tôn giả A-nan-đà! Làm gì mà mới sáng sớm đã ôm bát đứng ở đây vậy?” Con trả lời: “Cư sĩ , vì Thế Tôn bệnh cần dùng sữa bò nên tôi đến đây.” Vô Cấu Xứng nói với con: “Thôi, thôi, thưa Tôn giả! Tôn giả đừng nói như vậy, chớ phỉ báng Thế Tôn. Đừng đem việc hư dối mà phỉ báng Như Lai. Vì sao? Vì thân Như Lai do kim cang hợp thành, đã trừ hẳn tất cả pháp ác và tập khí phiền não, đã thành tựu viên mãn tất cả pháp thiện thì đâu có bệnh gì, còn có phiền não gì? Thưa Tôn giả A-nan-đà! Tôn giả hãy lặng lẽ trở về đừng xin nữa, đừng làm cho người khác nghe lời thô ấy, chớ để cho chư Thiên có đại oai đức và các Bồ-tát đến từ các cõi Phật nghe được lời nói ấy. Thưa Tôn giả A-nan-đà! Chuyển luân thánh vương thành tựu được chút căn lành còn không bị bệnh, huống chi thân
là Như Lai có vô lượng căn lành, đầy đủ phước trí, nếu có bệnh thì nhất định không có vấn đề ấy xảy ra. Thưa Tôn giả A-nan-đà! Tôn giả hãy mau lặng lẽ về đi đừng để chúng tôi phải chịu sự nhục đó. Nếu các Bà-la-môn ngoại đạo nghe lời thô này thì họ sẽ nói: “Như vậy sao gọi là thầy. Thân mình có bệnh còn không cứu nổi làm sao có thể cứu bệnh cho người khác được.” Tôn giả hãy mau lặng lẽ đi đi đừng để mọi người nghe thấy. Còn nữa, thưa Tôn giả A-nan-đà! Thân Như Lai là Pháp thân chứ chẳng phải thân ô uế xen tạp, là thân xuất thế gian không bị pháp thế gian làm ô nhiễm, là thân vô lậu đã lìa hẳn tất cả lậu, là thân vô vi đã xa lìa các hữu vi, vượt qua khỏi các số vì các số đã tịch tĩnh. Thân Phật như vậy thì làm gì có  bệnh.”
Bạch Thế Tôn! Khi ấy, nghe ông ta nói như vậy, con thật thấy xấu hổ vô cùng, không lẽ ở gần Phật mà con nghe lầm sao. Ngay lúc đó, giữa hư không con nghe tiếng nói: “Này A-nan-đà! Đúng như lời cư sĩ  ấy nói. Thân chân thật của Thế Tôn thực sự không có bệnh. Nhưng vì Như Lai hiện ra ở đời năm trược là vì muốn giáo hóa, dìu dắt những hữu tình hạnh ác, khổ não, nghèo cùng mà thị hiện việc như vậy. Hãy đi đi, này A-nan-đà, hãy đi lấy sữa, chớ có  hổ thẹn.”  Bạch Thế Tôn! Nghe Đại sĩ  ấy biện luận như vậy con không biết nói gì cả, nên phải im lặng không trả lời. Cho nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Cứ như vậy, Đức Thế Tôn lần lượt bảo năm trăm vị Thanh văn là các đại đệ tử: “Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.” Các vị Thanh văn ấy đều trình bày duyên cớ trước đây của mình cho Đức Phật. Vị nào cũng khen ngợi Bồ-tát Vô Cấu Xứng và đều từ chối không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ta.
 
Phẩm 4: BỒ-TÁT
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Di-lặc:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Bồ-tát Di-lặc thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con giảng pháp giải thoát về quả vị Bất thoái chuyển của Bồ-tát cho Thiên vương cùng quyến thuộc ở cõi trời Đâu-suất. Khi ấy, Vô Cấu Xứng đến cúi đầu lạy sát chân con và nói: “Thưa Bồ-tát Từ Thị! Đức Phật Thế Tôn đã thọ ký cho Bồ-tát còn một đời nữa sẽ chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Bồ-đề vô thượng. Vậy Bồ-tát được thọ ký vào đời nào vậy, quá khứ, vị lai hay hiện tại? Nếu đời quá khứ thì đời quá khứ đã qua, nếu đời vị lai thì đời vị lai chưa đến, nếu đời hiện tại thì đời hiện tại không trụ. Như Đức Thế Tôn đã nói: Này các Tỳ-kheo! Các ông, sinh, già, chết, trong mỗi sát-na. Chết đó rồi sinh đó. Nếu vì vô sinh mà được thọ ký thì vô sinh tức là đã nhập vào chánh tánh. Khi vô sinh này đã nhập trong chánh tánh thì không có vấn đề thọ ký, cũng không chứng đắc Chánh đẳng Bồ-đề. Vậy làm sao Bồ-tát Từ Thị được thọ ký? Theo Như sinh được thọ ký hay theo Như diệt mà được thọ ký? Nếu theo Như sinh được thọ ký thì “Như” không có sinh. Nếu theo “Như” diệt được thọ ký thì “Như” không có diệt. Không sinh không diệt theo trong lý chân như thì không có vấn đề thọ ký. Tất cả hữu tình đều Như, tất cả các pháp cũng đều Như, tất cả Hiền thánh cũng đều là Như, cho đến Từ Thị cũng là Như. Nếu Bồ-tát Từ Thị được thọ ký thì tất cả hữu tình cũng sẽ được thọ ký như vậy. Vì sao? Vì chân như chẳng phải sự hiển bày của hai, cũng chẳng phải sự hiển bày các tánh khác. Nếu Bồ-tát Từ Thị chứng Chánh đẳng Bồ-đề vô thượng thì tất cả hữu tình cũng sẽ được chứng như vậy. Vì sao? Vì đối với Bồ-đề thì tất cả hữu tình đều giác ngộ như nhau. Nếu Bồ-tát Từ Thị Bát-niết-bàn thì tất cả hữu tình cũng sẽ Bát-niết-bàn. Vì sao? Vì chẳng phải là hữu tình thì không Bát-niết-bàn. Đức Phật nói chân như là Bát-niết-bàn, vì Ngài quán sát thấy bản tánh của các hữu tình đều tịch tĩnh, đó là tướng Niết-bàn. Thế nên nói chân như là Bát-niết-bàn. Thưa Bồ-tát Từ Thị! Bồ-tát đừng đem pháp này chỉ dạy chư Thiên, chớ đem pháp này làm trở ngại chư Thiên. Bồ-đề không có các hướng mong cầu, cũng không thoái chuyển. Thưa Bồ-tát Từ Thị! Bồ-tát hãy làm cho chư Thiên này xả bỏ các phân biệt kiến chấp về Bồ-đề. Vì sao? Vì Bồ-đề không phải dùng thân để chứng hay dùng tâm để chứng. Tịch diệt là Bồ-đề vì tướng của tất cả hữu tình, của
tất cả pháp đều tịch diệt. Không tăng trưởng là Bồ-đề vì tất cả đối tượng được duyên không tăng trưởng. Không hành là Bồ-đề vì không hành tất cả hý luận và tất cả tác ý. Đoạn tận là Bồ-đề vì đã đoạn tận các kiến chấp. Xả ly là Bồ-đề vì xả ly tất cả chấp thủ. Ly hệ là Bồ-đề vì lìa hẳn tất cả pháp động loạn. Tịch tĩnh là Bồ-đề vì tất cả phân biệt đã hoàn toàn tịch tĩnh. Rộng lớn là Bồ-đề vì tất cả hoằng nguyện không thể nào so lường được. Không tranh là Bồ-đề vì xa lìa tất cả chấp trước, tất cả sự tranh luận. An trụ là Bồ-đề vì trụ trong pháp giới. Tùy chí là Bồ-đề vì tùy theo chân như. Bất nhị là Bồ-đề vì xa lìa tất cả pháp tánh sai biệt. Kiến lập là Bồ-đề vì đã nhập vào trong thật tế. Bình đẳng là Bồ-đề vì tất cả nhãn-sắc cho đến ý-pháp đều bình đẳng như hư không. Vô vi là Bồ-đề vì đã xa lìa hoàn toàn sinh-trụ-dị-diệt. Biến tri là Bồ-đề vì biết khắp tất cả tâm hành của các hữu tình. Vô quán là Bồ-đề vì sáu xứ bên trong không bị xen tạp. Không xen tạp là Bồ-đề vì xa lìa hẳn tất cả phiền não và tập khí tương tục. Không xứ sở là Bồ-đề vì ở trong chân như đã xa lìa tất cả phương hướng xứ sở. Không trụ là Bồ-đề vì không thấy mọi nơi. Chỉ có tên là Bồ-đề vì tên Bồ-đề này không có tác dụng. Không phóng túng là Bồ-đề vì xa lìa hẳn tất cả mọi lấy và bỏ. Không loạn là Bồ-đề vì tự mình luôn tịch tĩnh. Tịch tĩnh rốt ráo là Bồ-đề vì bản tánh thanh tịnh. Hiển bày rõ ràng là Bồ-đề vì tự tánh không xen tạp. Vô thủ là Bồ-đề vì lìa các duyên dựa. Không khác là Bồ-đề vì giác ngộ tánh bình đẳng của các pháp. Không thí dụ là Bồ-đề vì lìa hẳn các so sánh. Vi diệu là Bồ-đề vì rất khó hội nhập. Biến hành là Bồ-đề vì tự tánh hiện bày cùng khắp như hư không. Đến đỉnh cao là Bồ-đề vì đạt đến chỗ cùng cực của các pháp. Không nhiễm là Bồ-đề vì không bị nhiễm vào tất cả pháp thế gian. Như vậy, Bồ-đề chẳng phải do thân chứng, chẳng phải do tâm chứng.”
Bạch Thế Tôn! Khi đại cư sĩ  ấy giảng nói pháp này, trong chúng trời người có hai trăm Thiên tử đắc pháp Nhẫn vô sinh. Lúc ấy, con im lặng không nói gì được. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Thế Tôn bảo Đồng tử Quang Nghiêm:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Đồng tử Quang Nghiêm thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, con vào thành Quảng nghiêm. Ngay lúc đó Bồ-tát Vô Cấu Xứng cũng mới vừa vào thành. Con làm lễ ông ta và hỏi: “Cư sĩ  từ đâu đến?” Ông ta trả lời: “Từ diệu Bồ-đề đến.” Con hỏi: “Thưa cư sĩ , diệu Bồ-đề là gì?” Ông ta trả lời: “Ý lạc thuần nhất, thẳng thắn là diệu Bồ-đề, vì nhờ ý lạc này mà không hư dối. Pháp khởi gia hành là diệu Bồ-đề, vì tất cả việc làm có thể thành tựu. Tăng thượng ý lạc là diệu Bồ-đề, vì chứng hoàn toàn pháp thù thắng. Tâm đại Bồ-đề là diệu Bồ-đề vì đối với tất cả các pháp không quên mất. Bố thí thanh tịnh là diệu Bồ-đề vì không mong cầu quả báo ở thế gian. Trì giới kiên cố thanh tịnh là diệu Bồ-đề vì các nguyện cầu đều được viên mãn. Nhẫn nhục hòa nhã là diệu Bồ-đề vì đối với hữu tình không có tâm sân giận. Dũng mãnh tinh tấn là diệu Bồ-đề vì nỗ lực siêng năng tu hành không biếng nhác. Tịch chỉ tĩnh lự là diệu Bồ-đề vì tâm điều thuận nên có thể gắn nhận. Bát-nhã thù thắng là diệu Bồ-đề vì hiện thấy tánh tướng của tất cả pháp. Từ là diệu Bồ-đề vì tâm bình đẳng với các hữu tình. Bi là diệu Bồ-đề vì hay nhẫn nhục chịu các khổ não. Hỷ là diệu Bồ-đề vì thường lãnh thọ pháp lạc. Xả là diệu Bồ-đề vì đoạn trừ dứt hẳn tất cả sân ác. Thần thông là diệu Bồ-đề vì đầy đủ sáu Thần thông. Giải thoát là diệu Bồ-đề vì lìa các sự động phân biệt. Phương tiện là diệu Bồ-đề vì làm thành thục cho các hữu tình. Nhiếp sự là diệu Bồ-đề vì thâu tóm lấy tất cả hữu tình. Đa văn là diệu Bồ-đề vì luôn khởi hạnh chân thật. Điều phục là diệu Bồ-đề vì quán sát đúng như lý. Ba mươi bảy phẩm Bồ-đề là diệu Bồ-đề vì xả bỏ tất cả pháp hữu vi. Tất cả thật tế là diệu Bồ-đề vì không lừa dối tất cả hữu tình. Mười hai nhân duyên là diệu Bồ-đề vì vô minh không cùng tận cho đến lão, tử, ưu, bi, khổ, não đều không cùng tận. Dứt các phiền não là diệu Bồ-đề vì hiện chứng như thật về tánh pháp chân thật. Tất cả hữu tình là diệu Bồ-đề vì lấy vô ngã làm tự tánh. Tất cả pháp là diệu Bồ-đề vì giác ngộ tất cả đều là không tánh. Chiến thắng ma oán là diệu Bồ-đề vì tất cả ma oán không còn khuynh động. Không lìa ba cõi là diệu Bồ-đề vì xa lìa tất cả việc hướng đến các cõi. Đại sư tử gầm là diệu Bồ-đề vì có thể quyết định hoàn toàn không sợ sệt. Các lực, vô úy, pháp Bất cộng của Phật là diệu Bồ-đề vì không nhàm chán. Ba
minh quán chiếu là diệu Bồ-đề vì lìa các phiền não, đạt được trí vô dư rốt ráo. Trong một sát-na tâm giác ngộ các pháp hoàn toàn không sót là diệu Bồ-đề vì chứng đắc viên mãn trí Nhất thiết trí. Như vậy, này các thiện nam! Nếu các Bồ-tát chân thật hướng đến tương ưng đầy đủ, Ba-la-mật đa tương ưng đầy đủ, làm thành thục cho các hữu tình tương ưng đầy đủ, tất cả căn lành tương ưng đầy đủ, giữ gìn chánh pháp tương ưng đầy đủ, cúng dường Như Lai tương ưng đầy đủ, tất cả việc làm, đi tới qua lại, nhấc chân hạ chân, tất cả đều từ diệu Bồ-đề mà đến. Tất cả đều từ pháp của chư Phật mà đến, an trụ vào tất cả pháp diệu của chư Phật.”
Bạch Thế Tôn! Khi đại cư sĩ  ấy nói pháp, có năm trăm Thiên tử đều phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng. Lúc đó, con im lặng không thể nói gì được. Nên nay con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Thế Tôn bảo Bồ-tát Trì Thế:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng.
Bồ-tát Trì Thế thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần con ở nơi tịnh thất. Khi ấy ma oán ác dẫn một vạn hai ngàn Thiên nữ ma giống như trời Đế Thích, tấu nhạc đàn ca đến chỗ con, tất cả cúi đầu lạy sát chân con, tấu những âm nhạc trời để cúng dường, rồi chắp tay cung kính đứng lui qua một bên. Lúc ấy con nghĩ đó là Đế Thích thật nên con nói với họ: “Lại đây, này Kiều-thi-ca! Mặc dù phước có đó, nhưng ông không nên buông lung, phải quán sát các dục vui chơi đều là vô thường. Đối với thân mạng tài sản phải siêng năng để chứng pháp chắc chắn chân thật.” Họ nói với con: “Thưa chánh sĩ ! Xin hãy nhận mười hai ngàn Thiên nữ này để hầu hạn trước sau.” Con liền trả lời: “Thôi đi, này Kiều-thi-ca! Không dùng vật phi pháp ấy mà bố thí cho một Sa-môn Thích tử như ta.” Con nói chưa dứt thì Vô Cấu Xứng đến, cúi đầu lạy sát chân con và nói: “Đó chẳng phải là Đế Thích mà chính là ma oán ác đến quấy nhiễu Bồ-tát đó.” Vô Cấu Xứng nói với ma ác: “Ngươi hãy trao các Thiên nữ này cho ta. Đây là vật thích hợp trong nhà cư sĩ  như ta, đó chẳng phải việc mà Sa-môn Thích tử nhận lấy.” Khi ấy, ma ác kinh hãi, nghĩ Vô Cấu Xứng có lẽ sẽ làm hại, nên muốn ẩn hình mà đi, nhưng bị Vô Cấu
Xứng dùng thần lực giữ lại không cho đi. Ma đã cố dùng hết uy lực nhưng cũng không sao đi được. Ngay lúc này, giữa hư không có tiếng phát ra: “Này ma ác oán, ngươi nên đem Thiên nữ dâng cho đại cư sĩ  ấy đi, nếu vậy ngươi mới có thể an ổn trở về Thiên cung.” Vì sợ hãi nên ma ác oán ấy đã đem cho một cách miễn cưỡng. Bấy giờ, Vô Cấu Xứng nói với các Thiên nữ: “Ma ác oán ấy đã đem các cô dâng cho ta. Các cô nay nên phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng.” Rồi ông ta tùy theo sở thích mà nói pháp cho họ, tùy thuận khiến thành tựu đầy đủ về diệu Bồ-đề, để họ hướng đến Chánh đẳng giác. Ông ta lại nói: “Các cô đã phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng có vườn vui đại pháp để tự mình vui chơi, đừng vui theo các vui của năm dục.” Các Thiên nữ thưa: “Thưa đại cư sĩ ! Sao gọi là vườn vui đại pháp?” Vô Cấu Xứng nói: “Vườn vui đại pháp nghĩa là có niềm vui với chư Phật thanh tịnh, không hoại, niềm vui thường nghe Chánh pháp, niềm vui siêng năng cung kính cúng dường Tăng hòa hợp, siêng năng cung kính thừa sự. Niềm vui đối với ba cõi luôn xa lìa, niềm vui không trụ vào các đối tượng được duyên, niềm vui quán sát các uẩn là vô thường như oan gia, niềm vui quán sát không điên đảo về các giới, chúng như rắn độc, niềm vui quán sát không điên đảo về các xứ, chúng như làng xóm không người, niềm vui giữ gìn chắc chắn tâm Bồ-đề, niềm vui làm lợi ích cho các hữu tình, niềm vui hầu hạ các bậc sư trưởng, niềm vui bố thí lìa tham lam keo kiệt, niềm vui giới thanh tịnh mà không trì trệ, niềm vui nhẫn nhục mà chấp nhận hòa thuận, niềm vui tinh tấn mà tu tập căn lành, niềm vui tĩnh lự mà biết không loạn, niềm vui Bát-nhã lìa vô minh, niềm vui rộng lớn vi diệu của Bồ-đề, niềm vui có thể chiến thắng đám ma oán, niềm vui biết rõ các phiền não, niềm vui tu tập trang nghiêm các cõi Phật, niềm vui trang nghiêm thân bằng các tướng tốt tròn đầy, niềm vui tu tập chân chánh hai thứ hành trang là phước và trí, niềm vui trang nghiêm đầy đủ diệu Bồ-đề, niềm vui không sợ hãi pháp thâm sâu, niềm vui quán sát đúng đắn ba môn giải thoát, niềm vui duyên hợp chân chánh với Bát-niết-bàn, với phi thời niềm vui không quán sát, niềm vui gần gũi đồng loại thấy có công đức, niềm vui không oán ghét, không thấy lỗi lầm của dị loại, niềm vui thích gần gũi với bạn lành, niềm vui thích che chở bạn ác, niềm vui thâu tóm hoàn
hảo các phương tiện thiện xảo, niềm vui hoan hỷ tin các pháp, niềm vui tu tập sự tối thượng vi diệu của tất cả phần Bồ-đề không biếng nhác. Như vậy, này các cô, đó là vườn vui đại pháp của Bồ-tát. Các Đại Bồ-tát thường trụ trong vườn vui đại pháp này. Các cô nên vui theo đó, đừng vui theo dục lạc.” Khi ấy, ma ác oán bảo các Thiên nữ: “Các ngươi hãy lại đây, ta muốn cùng các ngươi trở về Thiên cung.” Các Thiên nữ thưa: “Ma ác, ông hãy đi đi, chúng tôi không theo ông về đâu. Vì sao? Vì ông đã đem chúng tôi dâng cho vị cư sĩ  này rồi, làm sao chúng tôi cùng ông trở về được. Chúng tôi nay vui theo vườn vui pháp, không vui theo dục lạc. Ông hãy về một mình.” Khi ấy, ma ác thưa Vô Cấu Xứng: “Thưa đại cư sĩ ! Xin hãy buông xả các cô này đi. Tâm không tham đắm nơi tất cả sở hữu mà đem bố thí hết thảy, đó là Đại Bồ-tát.” Vô Cấu Xứng nói: “Ta đã buông thả rồi, ngươi hãy dẫn họ đi, để cho nguyện về tất cả pháp hữu tình của các ngươi được đầy đủ.” Khi ấy, các Thiên nữ lạy Vô Cấu Xứng và hỏi: “Thưa đại cư sĩ !  Thiên nữ chúng tôi trở về lại cung ma, phải tu hành như thế nào?” Vô Cấu Xứng nói: “Các ngươi nên biết, có pháp môn vi diệu tên là Vô Tận Đăng, các ngươi cần phải học.” Các Thiên nữ lại hỏi: “Sao gọi là Vô Tận Đăng?” Vô Cấu Xứng trả lời: “Này các cô, ví như một ngọn đèn đốt sáng cho trăm ngàn ngọn đèn khác, khiến cho chỗ tối tăm sáng lên, ánh sáng của ngọn đèn kia không cùng tận và cũng không giảm bớt. Như vậy, này các cô, một vị Bồ-tát giáo hóa kiến lập cho câu-chi na-do-tha chúng sinh hướng đến cầu đạo quả Chánh đẳng Bồ-đề vô thượng, nhưng tâm Bồ-đề của vị Bồ-tát ấy không bao giờ tận, cũng không thoái chuyển mà lại tăng trưởng. Như vậy, dùng phương tiện thiện xảo giảng nói chánh pháp cho người thì với các pháp thiện càng được tăng trưởng. Không tận cũng không giảm sút. Các cô nên biết, pháp môn vi diệu này tên là Vô Tận Đăng, các cô cần phải học. Mặc dù ở trong cung ma, các cô phải khuyến hóa cho vô lượng Thiên tử, Thiên nữ phát tâm Bồ-đề. Các cô làm như vậy tức là biết ân Như Lai, đền đáp một cách chân thật, cũng là làm lợi ích cho tất cả hữu tình.” Thế rồi, các Thiên nữ ấy cung kính đảnh lễ dưới chân Vô Cấu Xứng. Bấy giờ, Vô Cấu Xứng xả thần lực đã khống chế ma ác lúc trước để ma ác oán cùng quyến thuộc bỗng nhiên biến mất trở về Thiên cung.
Bạch Thế Tôn! Đại sĩ  Vô Cấu Xứng ấy có những thần thông tự tại, trí tuệ biện tài, biến hiện thuyết pháp như vậy, nên con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Trưởng giả tử Tô-đạt-đa:
–Ông hãy đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng?
Tô-đạt-đa thưa:
–Bạch Thế Tôn! Con không đủ khả năng đến thăm bệnh vị ấy. Vì sao? Vì con nhớ trước đây có một lần, ở tại nhà cha con thiết lập đại hội bố thí trong bảy ngày bảy đêm để cúng dường tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, các ngoại đạo, người nghèo khổ, thấp kém, kẻ cô độc và người đi xin. Thời gian đại hội này đã mãn bảy ngày thì Vô Cấu Xứng đến nơi, nói với con: “Thưa trưởng giả tử! Đại hội bố thí không phải như ông đã lập ra như vậy đâu, ông nên lập hội thí pháp, chứ lập hội tài thí làm gì?” Con nói: “Thưa cư sĩ ! Thế nào gọi là hội pháp thí?” Cư sĩ  trả lời: “Hội pháp thí là không trước không sau mà cúng dường một lần cho tất cả hữu tình đó gọi là hội pháp thí viên mãn. Việc ấy như thế nào? Nghĩa là vì hành tướng Bồ-đề vô thượng mà phát sinh đại Từ, vì hành tướng giải thoát các hữu tình mà phát sinh đại Bi, vì hành tướng tùy hỷ của các hữu tình mà phát sinh đại Hỷ, vì hành tướng thâu tóm chánh pháp, thâu gồm trí mà phát sinh đại Xả, vì hành tướng điều phục hoàn toàn tịch tĩnh mà phát sinh Bố thí ba-la-mật, vì hành tướng hữu tình hóa hiện phạm giới cấm mà phát sinh Tịnh giới ba-la-mật, vì hành tướng tất cả pháp vô ngã mà phát sinh Kham nhẫn ba-la-mật, vì hành tướng khéo xa lìa thân tâm mà phát sinh Tinh tấn ba-la-mật, vì hành tướng giác chi tối thắng mà phát sinh Tĩnh lự ba-la-mật, vì hành tướng nghe trí Nhất thiết trí mà phát sinh Bát-nhã ba-la-mật, vì hành tướng hóa độ tất cả chúng sinh mà phát sinh tu Không, vì hành tướng tu sửa tất cả pháp hữu vi mà phát sinh tu Vô tướng, vì hành tướng cố làm cho ý thọ sinh mà phát sinh tu Vô nguyện, vì hành tướng giữ gìn rốt ráo chánh pháp mà phát sinh đại lực, vì hành tướng tu tập hoàn toàn nhiếp sự mà phát sinh mạng căn, vì hành tướng cung kính tôn trọng tất cả hữu tình nô bộc mà phát sinh không kiêu mạn; vì hành tướng tất cả bền chắc, không bền chắc, thay đổi mà phát sinh chứng đắc thân mạng, tài sản bền chắc; vì hành tướng tùy niệm của sáu loại mà phát sinh chánh
niệm, vì hành tướng tu các pháp vi diệu thanh tịnh mà phát sinh ý lạc, vì hành tướng siêng năng tu tập chánh hạnh mà phát sinh tịnh mạng, vì hành tướng hoan hỷ gần gũi thanh tịnh mà phát sinh gần gũi phụng thờ Hiền thánh, vì hành tướng không oán ghét sân giận người chẳng phải Thánh mà phát sinh tâm điều phục, vì hành tướng xuất gia hoàn toàn thanh tịnh mà phát sinh ý lạc thanh tịnh tăng thượng, vì hành tướng thường tu tập trung đạo mà phát sinh phương tiện thiện xảo đa văn, vì hành tướng thông đạt pháp không tranh mà phát sinh thường ở nơi thanh vắng, vì hành tướng một lòng cầu Phật Trí mà phát sinh ngồi thiền, vì hành tướng một lòng dứt trừ phiền não cho tất cả hữu tình mà phát sinh tu hoàn hảo Du-già Sư-địa; vì hành tướng đầy đủ tướng hảo để làm thành thục cho các hữu tình, trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật mà phát sinh hành trang là phước đại diệu; vì hành tướng biết tâm hành của tất cả hữu tình rồi tùy theo căn tánh của họ để giảng pháp mà phát sinh hành trang là trí đại diệu; vì hành tướng không nắm bắt, không buông xả các pháp, ngộ nhập vào nhất môn chánh lý mà phát sinh hành trang là tuệ đại diệu; vì hành tướng đoạn trừ tất cả phiền não tập khí, các sự chướng ngại của pháp bất thiện mà phát sinh chứng đắc tất cả pháp thiện; vì hành tướng theo hành trang của tất cả pháp thiện giác ngộ trí Nhất thiết trí mà phát sinh chứng đắc tất cả pháp phần Bồ-đề đã tu. Này thiện nam! Đó gọi là hội pháp thí. Nếu các Bồ-tát an trụ vào hội pháp ví như vậy thì gọi là Đại thí chủ, được trời, người thế gian cúng dường.”
Bạch Thế Tôn! Khi đại cư sĩ  ấy nói pháp như vậy, trong chúng Phạm chí có hai trăm vị phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng. Lúc đó, con khen ngợi là chưa từng có, hoan hỷ thanh tịnh, cung kính đảnh lễ chân đại cư sĩ  và cởi châu bảo anh lạc giá trị trăm ngàn ân cần dâng cúng, nhưng Bồ-tát không chịu nhận. Con nói: “Đại cư sĩ ! Hãy thương xót tôi mà thọ nhận cho. Nếu không cần thì ông cho ai tùy ý.” Lúc đó, Vô Cấu Xứng mới chịu nhận anh lạc và chia làm hai phần. Một phần cho người ăn xin hèn kém đáng chê nhất trong đại thí hội ấy và một phần dâng cho Đức Như Lai Nan Thắng. Rồi ông ta dùng thần thông làm cho cả đại chúng đều thấy cõi Dương diệm và Đức Như Lai Nan Thắng, lại thấy phần anh lạc đã bố thí ở phía trên Đức Phật ấy, biến
thành đài báu đẹp đẽ, bốn góc đài báu trang hoàng đủ kiểu rất khéo. Sau khi dùng thần thông biến hóa như vậy, Vô Cấu Xứng lại nói: “Nếu thí chủ đem tâm bình đẳng bố thí cho người ăn xin hèn hạ nhất trong hội này thì cũng giống như tưởng về ruộng phước của Như Lai không phân biệt, tâm bình đẳng, với tâm đại Từ, đại Bi bố thí khắp cho tất cả mà không cầu quả báo. Đó gọi là viên mãn hội pháp thí.” Khi ấy, những người ăn xin thấy ông ta dùng thần thông biến hóa và được nghe giảng pháp đều đắc ý lạc tăng thượng Bất thoái chuyển, liền phát tâm Chánh đẳng giác Vô thượng.
Bạch Thế Tôn! Đại cư sĩ  ấy đầy đủ những thần thông biến hóa, biện tài vô ngại như vậy, nên con không dám đến thăm bệnh ông ta.
Như vậy, Đức Thế Tôn bảo từng vị Đại Bồ-tát đến thăm bệnh Bồ-tát Vô Cấu Xứng nhưng các Bồ-tát ấy đều thưa Đức Phật những lý do của mình và khen ngợi lời nói của vị Đại sĩ  Vô Cấu Xứng. Vị nào cũng thưa là không dám đến thăm bệnh.
/60
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »