LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 56
BỘ KINH TẬP
3
SỐ 468 →489
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
SỐ 468
KINH VĂN-THÙ-SƯ-LỢI VẤN
Hán dịch: Đời Lương, Tam tạng Tăng-già-bà-la,
người nước Phù Nam.
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm 1: TỰA
Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật cùng với chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, đang ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành Vương xá. Các đại Tỳ-kheo này đều là những bậc A-la-hán, đã hết sạch các lậu, không còn phiền não, thân tâm đều được tự tại, tâm hoàn toàn giải thoát, tuệ hoàn toàn giải thoát, điều phục các căn, việc đáng làm đã làm xong, đã trút bỏ gánh nặng, thấu hiểu được sự và nghĩa, hữu lậu đã hết, chánh trí khéo giải thoát, cho đến tất cả tâm đều được tự tại. Tên của các vị là: Trưởng lão A-nhã Kiều-trần-như, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ly-bà-đa, Tu-bà-hống, A-nan-đà, các vị như vậy, cho đến một ngàn hai trăm năm mươi vị A-la-hán. Lại còn có một ngàn ba trăm chúng Tỳ-kheo phàm phu.
Lại có Bồ-tát Kim Cang, Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Quán Thế Âm. Bồ-tát Đại Đức Dũng Mãnh, Bồ-tát Vô Tận Ý, Bồ-tát Đại Ý, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi… Các vị Bồ-tát nhiều vô lượng như vậy.
Phẩm 2: BỒ-TÁT GIỚI BỒ-TÁT
Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nay con muốn hỏi Thế Tôn về việc dùng thắng ngữ để nói về giới Bồ-tát ở thế gian. Cúi xin Thế Tôn vì con mà giảng nói, con xin lắng nghe.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Ông hãy lắng nghe! Nay ta sẽ giảng nói: Không giết hại chúng sinh, không trộm cắp của cải người khác, không phá phạm hạnh, không khởi lên lời nói dối, không uống rượu. Cần nên ghi nhớ như vậy. Không ca múa, xướng hát. Không đeo hoa, xoa hương và đội mão quý. Không nằm, ngồi giường cao rộng. Không ăn trái giờ giấc. Nếu phạm vào giới này thì không thành tựu ba thừa. Tại sao? Vì như thế là bị phạm. Tóc dài bằng hai ngón tay để ngang thì nên cạo, hoặc trong phạm vi hai tháng, nếu ngắn quá mà cạo là Bồ-tát không biết luật. Nếu tóc dài quá hai ngón tay, cũng là Bồ-tát không biết luật. Móng tay không được để dài, chỉ được để bằng hạt lúa nằm ngang. Tại sao? Vì để gãi ngứa. Như thế là Bồ-tát phân biệt.
Vì cúng dường Phật, Pháp, Tăng và Bát-nhã ba-la-mật, hoặc vì cha mẹ, anh em thì được cất giữ tiền bạc. Vì xây chùa, tạc tượng, bố thí… nếu có những trường hợp như vậy thì được nhận vàng, bạc, của cải mà không bị tội lỗi. Nếu ăn cơm vắt thì vắt bằng trứng gà lớn, ăn đúng giờ, không có duyên cớ gì thì không được ngó qua người khác. Như vậy là Bồ-tát phân biệt.
Không được mua bán, nhận vật người cúng dường thì không được bán hay đổi chác. Nếu có người cúng dường đến ức vạn cũng nên nhận. Vì sao? Vì có nhân duyên. Tự thân không được làm ác, cũng không được dạy người khác làm ác. Không được vì sự lợi dưỡng mà nịnh khen người khác. Nếu họ vì mình mà sát sinh để cúng dường thì không được ăn. Nếu phải ăn thịt nên xem đó như là cây gỗ mục nát thì mới được ăn.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nếu người muốn ăn thịt thì nên tụng
chú này: “Đa điệt tha (đây có nghĩa là như thị). A nại ma, a nại ma (đây có nghĩa là vô ngã vô ngã). A thị bà đa, A thị bà đa (đây có nghĩa là vô thọ mạng, vô thọ mạng). Na xá na xá (đây có nghĩa là thất, thất). Đà ha đà ha (đây có nghĩa là thiêu, thiêu). Bà phất bà phất (đây có nghĩa là phá phá). Tăng kha lật đa nhị (đây có nghĩa là hữu vi) Sa ha (đây có nghĩa là trừ sát khứ).
Tụng chú này ba lần như vậy rồi mới được ăn. Nếu như cơm thì cũng không được ăn. Vì sao? Vì không suy nghĩ về cơm nên không được ăn. Vậy nên biết chú này là chú ăn thịt.
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật: –Bạch Thế Tôn! Nếu như được ăn thịt thì tại sao trong các kinh như kinh Tượng Quy, kinh Đại Vân, kinh Chỉ Man, kinh Lăng-già… đều lại cấm?
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Như con sông sâu rộng không thấy bờ bên kia, nếu không có điều kiện thì không qua được. Nếu có điều kiện thì Bồ-tát có qua không?
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con sẽ qua, con sẽ qua. Hoặc là con dùng thuyền, dùng bè, hoặc dùng các vật khác.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Vì chúng sinh không có sức từ bi, mang tâm ý sát hại, do nhân duyên ấy cho nên cấm việc ăn thịt. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Có chúng sinh lại ưa y phấn tảo. Ta nói y phấn tảo như là: Sự khất thực, ngồi nơi gốc cây, ngồi nơi chỗ đất trống, ngồi ở nơi thanh vắng hay ở nơi nghĩa địa, một ngày ăn một bữa, quá giờ không ăn, nơi ở chỉ cần ba y. Vì giáo hóa chúng sinh nên ta nói về hạnh Đầu-đà. Như vậy, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nếu chúng sinh có tâm sát hại, do tâm đó cho nên sinh ra vô số tội lỗi. Vì thế ta cấm ăn thịt. Nếu không mang tâm sát hại, với tâm đại Từ bi, vì giáo hóa tất cả chúng sinh nên không có tội lỗi. Không được ăn tỏi, nếu có lý do gì thì mới được ăn, hoặc là hòa với thuốc để trị bệnh thì mới được dùng. Không được uống rượu, nếu thầy thuốc bảo hòa thuốc với rượu thì nên hòa ít rượu mà nhiều thuốc mới được dùng. Không được dùng dầu thơm để thoa vào người, nếu có
lý do mới được dùng. Được dùng sữa, bơ, và những thực phẩm làm ra từ sữa. Nếu vì phong, đàm, lạnh, trước tiên ta nên ăn cháo sữa.
Phật liền nói kệ:
Thân bỏ ác làm thiện
Tâm, khẩu cũng đều bỏ
Hết thảy xứ sở bỏ
Điều Bồ-tát nên làm.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Có ba mươi lăm thứ đại cúng dường, Đại Bồ-tát cần phải biết. Đó là: Đèn, hương đốt, hương xoa thân, hương rải đất, hương bột, ca-sa, dù hoặc là cờ của Long tử và các loại phướn khác, loa, trống, trống lớn, linh, phèn la, đồ múa hát và ngọa cụ, hoặc trống ba đoạn, hoặc trống có eo, trống tiết, trống triệt, hoa Mạn-đà-la, trì địa, sái địa, hoa xâu, lụa dây, cơm, nước uống và vật có thể ăn, có thể nuốt, cho đến hương có mùi vị và trầu cau, tăm, hương dùng để tắm và các vật dụng để tắm. Đấy gọi là những thứ đại cúng dường.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Có hai mươi sáu tà kiến, các Đại Bồ-tát cần nên tránh xa. Đó là: giết ngựa cúng lửa, giết người để tế lửa. Một lúc bắn bốn phương, giết ngựa để lấy bốn ngàn đầu. Trừ bỏ năm tạng lại bỏ bảy báu vào bên trong dâng cho Bà-la-môn. Giết người rồi đem của báu bỏ vào bên trong cũng lại như vậy. Bắn bốn phương làm cho tên bay khắp mọi nơi, bày đủ bảy thứ báu cúng cho Bà-la-môn. Cỡi ngựa chạy bốn phương không nơi nào là không đến. Trải bảy báu dâng cho Bà-la-môn, tới tận chỗ cùng cực mà tên bay, ngựa chạy đến, chúng sinh bị chết đầy dẫy trong đó, chất chứa đủ loại đồ vật, tất cả đều bị đốt sạch. Làm lễ tất cả Thiên thần. Làm lễ tất cả cây cối. Làm lễ tất cả thần núi. Làm lễ tất cả chỗ người xưa đã ở. Làm lễ những cây to lớn. Làm lễ các loại tượng thần: Ma-ha-thủ-la, Tỳ-nữu-câu-ma-lặc, Phạm thiên, vua Diêm-la, Năng Tỳ-sa-môn, Nhân-đà-la, Tửu thiên nữ, Cát-đa-da-ni, Độc-già-thiệt-đà-gi-giá, Văn-trì-ưu-ma-la. Tất cả đều giống với tà kiến. Các loại ấy nên tránh xa, không nên lễ bái. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Ta không cho những việc này là công đức.
Đức Phật liền nói kệ:
Hai mươi sáu loại trên
Đều là tà chớ theo
Chẳng an ổn chẳng hơn
Không thoát khỏi các khổ.
Nếu nương Phật, Pháp, Tăng
Hay nương bốn Thánh đế
Nơi an ổn hơn hết
Giải thoát tất cả khổ.
Những loại tà kiến ấy, họ truyền với nhau cho đó là công đức: Giết ngựa có công đức, giết người có công đức, bắn bốn phương có công đức, giết tất cả chúng sinh có công đức, nhưng thật ra chẳng có công đức gì cả. Nếu khởi lên một tâm niệm từ bi thì công đức đó rộng lớn không thể nghĩ bàn.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là việc mà Bồ-tát nên làm.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con muốn hỏi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri về các hạnh của các Bồ-tát ở đời vị lai. Nếu Đức Như Lai chấp nhận thì con sẽ hỏi.
Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Tùy ý ông hỏi.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Những lúc nào bốn chúng không được gây tiếng động? Dù cho tiếng đó có phát ra từ miệng, thân, gỗ, đá và các thứ khác?
Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Không được làm động trong sáu thời. Đó là: Khi lễ Phật, khi nghe pháp, khi chúng hòa hợp, khi khất thực, khi trong giờ ăn, khi đi đại tiểu tiện.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Cớ gì trong sáu thời không được gây tiếng động?
Đức Phật đáp:
–Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Vì trong những lúc đó có chư Thiên đến. Các chư Thiên ấy tâm thường thanh tịnh, tâm không nhiễm ô, tâm
rỗng lặng, tâm tùy Ba-la-mật, tâm quán pháp Phật. Nếu gây động trong những lúc đó thì làm cho tâm họ không định được. Do không định nên đều bỏ đi. Mà khi chư Thiên đi rồi thì quỷ ác đến, sẽ gây ra những việc không lợi ích, không an ổn, lại sinh ra tai họa, làm cho dân chúng đói khát, lại xâm phạm lẫn nhau. Vì thế, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Phải nên vắng lặng khi lễ Phật Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.
Đức Phật liền nói kệ:
Thân, khẩu không gây động
Kể cả tiếng gỗ, đá
Người vắng lặng lễ Phật
Được Như Lai khen ngợi.
Phẩm 3: KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con xin hỏi, mong Như Lai giải đáp cho.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Tùy ý ông hỏi.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi Phật:
–Thưa Thế Tôn! Vì sao Như Lai vào Niết-bàn?
Phật đáp:
–Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Ta không vào Niết-bàn. Vì sao? Vì do chúng sinh. Này Văn-thù-sư-lợi! Ví như ngọc lưu ly trong suốt, không cấu bẩn, nếu để nó vào chỗ có các vật trắng, xanh, vành, đỏ thì ngọc lưu ly ấy sẽ tùy theo màu sắc của vật đó. Lưu ly tuy vô tâm, nhưng nó làm cho người thấy sắc khác nhau.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Như Lai cũng lại như vậy. Nếu có chúng sinh thấy Như Lai vào Niết-bàn, hoặc chuyển pháp luân, hoặc hàng phục các ma, hoặc hiện thần thông, hoặc đại tiểu tiện, hoặc ăn, hoặc ngủ, hoặc đi, hoặc cười. Đó là tùy theo ý của chúng sinh, thấy Như Lai như vậy.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Như hư không, không có sắc, nhưng
sắc lại hiện ra trong đó. Hư không không nắm bắt được, nhưng nắm bắt được các sắc. Hư không không có ý nhưng lại sinh nhớ tưởng. Hư không không có xứ sở, nhưng có xứ sở là vì chúng sinh. Hư không không rơi rớt, nhưng rơi rớt lại nương vào hư không. Pháp thân của Như Lai không phải là thân uế, không phải là thân máu thịt, mà là thân kim cang, thân không hủy hoại được. Thân không thể phá, thân không thể ví dụ, nhưng lại có khả năng hiện ra được tất cả các sắc, dùng thân trí tuệ kim cang hiện ra thân tan hoại.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nếu Phật không vào Niết-bàn thì thế gian không biết Phật là Pháp thân, vì không phải kim cang thì bị hư nát, còn như kim cang thì không bị hư nát. Vì sao? Vì thân tuệ của Như Lai hiện ra Niết-bàn, chứ không phải là Niết-bàn thật, cho nên nói vào Niết-bàn chỉ là phương tiện.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Niết-bàn có nhiều nghĩa:
Lớn chẳng phải là Niết-bàn, gọi là Niết-bàn tức vô thức. Niết-bàn của Đại thừa gọi là Đại Bát Niết-bàn.
Niết-bàn nhỏ là Niết-bàn của hàng Duyên giác, Thanh văn.
Lớn chẳng phải là Niết-bàn, vì Niết-bàn như hư không.
Nhỏ là nghiệp của mình chứ không phải là nghiệp của người khác. Vì thế nên nói là Niết-bàn nhỏ. Niết-bàn là nghĩa thấp, ta nói chết là Niết-bàn. Nhưng Như Lai không chết. Vì sao? Vì Thanh văn hãy còn không sinh, già, chết, không lo sầu, khổ não, huống nữa là Pháp thân của Như Lai, là thân không thể nghĩ bàn, thân không sinh, thân không diệt, thân không thể thiêu đốt được. Chư Thiên ở cõi trời Trường Thọ thấy Như Lai nhập Niết-bàn liền cảm thương luyến tiếc, nên ra sức tạo nhân duyên gieo trồng Bát-nhã ba-la-mật, cũng ra sức tạo nhân duyên gieo trồng nhân Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát.
Đức Phật liền nói kệ:
Như Lai thân kim cang
Ngày nay đã hư hoại
Thân này còn tan rã
Huống gì sức suy mòn.
Do đó sinh luyến thương
Để mau đạt Pháp thân
Vì vậy nên Như Lai
Thị hiện tướng Niết-bàn.
Như Lai thân diệu pháp
Chẳng phải pháp thấy nghe
Không sinh cũng không diệt
Không thể nghĩ bàn được.
Trong chúng hội, lúc ấy có Bồ-tát Đại Ý, cũng liền nói kệ:
Như Lai không Niết-bàn
Niết-bàn chẳng Như Lai
Chẳng phải tâm ý thức
Vì lìa tướng hữu, vô.
Nếu người thấy Mâu-ni
Vĩnh viễn lìa sinh tử
Thành tựu không chỗ chấp
Vì không vướng kia đây.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu Như Lai không có tâm ý thức thì làm thế nào để thực hiện việc độ chúng sinh? Chúng sinh đời vị lai sẽ có mối nghi này.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Như hư không không có tâm ý thức, nhưng lại là chỗ ở của tất cả chúng sinh. Bốn đại không có tâm ý thức nhưng lại là nơi nương tựa của tất cả chúng sinh. Mặt trời, mặt trăng không có tâm ý thức, nhưng lại chiếu sáng cho tất cả chúng sinh. Cây cối không có tâm thức nhưng có thể cung cấp cho chúng sinh những hoa và quả.
Như vậy, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Có ngọc ma-ni được gọi là Tùy theo ý của tất cả chúng sinh, được sinh sản từ trong biển, người ta đem đặt trên cột cờ, tùy theo sự mong muốn của chúng sinh mà nó tuôn ra nào là vàng, bạc, lưu ly, trân châu và các vật khác để nuôi dưỡng mạng sống của con người được lâu dài. Ngọc ma-ni không có tâm ý thức, nhưng lại tùy theo ý muốn của chúng sinh không có tổn giảm. Nếu thế gian này bị tiêu sạch, thì ngọc sẽ đi đến một phương khác. Hạt châu nếu chưa bị rơi mất thì biển cả không bị khô cạn.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Như Lai cũng như vậy. Làm việc cho
tất cả chúng sinh nhưng Như Lai không diệt. Vì sao? Vì Như Lai không tâm, ý, thức.
Đức Phật liền nói kệ:
Phật không tâm ý thức
Làm tất cả các việc
Như Lai không nghĩ bàn
Người hãy tin như vậy.
Lúc đó, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ca ngợi Đức Như Lai bằng kệ:
Con lễ tất cả Phật
Điều Ngự không ai bằng
Ứng thân và Pháp thân
Cũng lễ nơi tháp Phật.
Nơi đản sinh, thành đạo
Nơi pháp luân, Niết-bàn
Nơi đi, đứng, nằm, ngồi
Tất cả con đều lễ.
Chư Phật không nghĩ bàn
Pháp mầu cũng như vậy
Thâm tín và quả báo
Cũng không thể nghĩ bàn.
Nay đem bài kệ này
Ca ngợi Đức Như Lai
Trong ngàn vạn ức kiếp
Không đọa vào nẻo ác.
Phật liền khen Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Lành thay! Lành thay! Như Lai là không thể xưng lường, không thể nghĩ bàn.
Rồi Phật nói kệ:
Phật sinh dòng Cam Giá
Diệt rồi không sinh lại
Nếu ai quy y Phật
Không sợ khổ địa ngục.
Phật sinh dòng Cam Giá
Diệt rồi không sinh lại
Người nào quy y Phật
Không sợ khổ ngạ quỷ.
Phật sinh dòng Cam Giá
Diệt rồi không sinh lại
Nếu ai quy y Phật
Khỏi sợ khổ súc sinh.
Phẩm 4: VÔ NGÃ
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Chúng sinh đời vị lai sẽ nói: “Có ngã hiện bày cùng khắp tất cả chốn.” Vì sao? Vì tất cả hành, nó ra khỏi ba đời, khổ, vui, yêu, giận đều là tướng của ngã. Thưa Thế Tôn! Ý của hàng ngoại đạo chấp ngã là như vậy.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Ví như nam châm hút hết mạt sắt, như vậy, mạt sắt là ngã hay nam châm là ngã? Nếu ông cho mạt sắt không phải là ngã, nam châm không phải là ngã, như vậy thì ngã không phải là hiện bày khắp. Nếu như nam châm, mạt sắt đều là ngã thì tại sao lại lấy ngã để hút ngã? Như vậy cũng không là hiện khắp. Vì sao? Vì nó tự hút thân nó. Những gì có hình sắc đều là bốn đại, tất cả đều vô thường. Nếu đã là vô thường thì không phải chân thật, đã không chân thật thì không chắc chắn, nếu không chắc chắn thì là không xứ. Do không xứ cho nên nói là vô ngã.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Giống như một người già ngồi trong đêm tối, sờ nơi hai đầu gối của mình mà nói: “Ta có hai đứa con thơ này chăng?” Nếu trong thân của người già ấy có ngã, thì tại sao không biết đấy là đầu gối mình, lại cho đó là con thơ? Do sự việc ấy, cho nên thật sự là không có ngã. Đây là do người có tà kiến, đối với không xứ lại chấp ngang. Ví như thấy bóng nắng tưởng là có nước, nhưng thật ra là không có nước. Do mắt bị loạn. Như vậy chẳng phải
ngã mà lầm tưởng là ngã. Những người như thế là hạng tối tăm, mê lầm, tà kiến, chẳng phải chánh kiến.
Nếu ngã có khắp tất cả, thì nó đi khắp cả năm đường, trong khi đó cõi trời, người là vui, còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là khổ.
Nếu nói ngã có khắp tất cả thì khi ngã ấy chịu khổ, lẽ ra trời và người cũng phải cùng chịu khổ. Vui là do tạo nghiệp thiện mà được, khổ là do gây nghiệp ác phải chịu. Vui là sinh ra tham đắm, khổ là sinh ra giận dữ. Hoặc có người mạnh khỏe, hoặc có kẻ sợ sệt. Như vậy là tướng khác cho nên biết ngã không có cùng khắp. Ta không nói đây là sự suy nghĩ chân thật.
Nếu ngã vượt qua ba đời thì quá khứ đã qua, giống như đèn đã tắt. Vị lai vì chưa đến, cũng như đèn chưa thắp. Hiện tại thì không đứng lại, giống như dòng nước chảy. Như vậy, ngã chẳng phải là quá khứ, chẳng phải là vị lai, cũng chẳng phải là hiện tại, không có thời gian. Vì sao? Vì vượt quá thời gian. Nếu không thời thì không số. Do không số cho nên không có ngã. Vì sao? Vì có thể phân chia.
A là tiếng lìa ngã. Đa là không phá. Ma là diệt kiêu mạn. Lại nữa, A là chân thật lìa ngã. Vì chân thật lìa ngã cho nên cả hai bên nói A. Vì thế, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Do phân biệt chữ nên biết nhất định là không có ngã.
Đức Phật liền nói kệ:
Nam châm hút mạt sắt
Hai loại cái nào ngã
Không khắp và tự hút
Nhất định là không ngã.
Như khát thấy bóng nắng
Tưởng nước, nhưng không phải
Tà kiến lầm chấp ngã
Việc ấy cũng như vậy.
Phân biệt nơi chữ A
Nhất định biết không ngã.
Phẩm 5: NIẾT-BÀN
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật: –Bạch Thế Tôn! Hàng Thanh văn, Duyên giác, phàm phu không thể phân biệt được. Chỉ có Đức Như Lai Chánh Biến Tri mới có thể nói được về Niết-bàn.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Niết-bàn không diệt. Vì sao? Vì không đoạn phiền não, nên không có chỗ đến. Vì sao? Vì không có chỗ. Đến, là nghĩa được. Không đến cho nên không được. Vì sao? Vì không khổ, không vui, không đoạn, chẳng đoạn, không thường, chẳng thường.
Đức Phật liền nói kệ:
Không đoạn, không diệt
Không sinh, không khởi
Không đọa, không rơi
Không đi, không trụ.
Tướng của Niết-bàn là thường trụ, không đoạn, chẳng thường. Vì sao? Vì không có sinh tử.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Sinh tử ta hãy còn không thấy, huống nữa là thấy được lỗi lầm của sinh tử.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Niết-bàn ta hãy còn không thấy, huống nữa là thấy được công đức của Niết-bàn.
Đức Phật liền nói kệ:
Nếu thấy có một pháp
Các pháp khác đều thấy
Một pháp đã là không
Hết thảy pháp cũng không.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nên biết! Các pháp là không. Nếu không diệt thì không sinh. Nếu không đoạn thì không diệt. Nếu không thường thì không sinh. Vì không phiền não, nên không đoạn, không diệt. Vì phiền não không có nơi chốn nên không sinh.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Do không chướng ngại nên không diệt, không diệt nên không chướng ngại. Do sinh thiện, ác, không thiện không ác nên không chướng ngại.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là nói về Niết-bàn.
Đức Phật liền nói kệ:
Không diệt, không đến
Không đoạn, không thường
Không chướng, không ngại
Là nói Niết-bàn.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Niết-bàn thường trụ, không có mặt trời, mặt trăng, sao, đất, nước, gió, lửa, không có ngày, đêm, số lượng, không hình, không sắc, không già, bệnh, chết, không năm tháng, không chỗ tạo ra, là thường, là hằng, lìa hết các nghiệp khổ. Đây là Niết-bàn mà người thiện đã nói.
Đức Phật liền nói kệ:
Niết-bàn không mặt trời
Trăng, sao và bốn đại
Không ngày, đêm, số lượng
Không hình, sắc, hư không.
Cũng không già, bệnh, chết
Không năm, tháng, tạo tác
Đã đoạn gốc sinh tử
Là thường cũng là hằng.
Tướng Niết-bàn cũng vậy
Người thiện đã nói thế.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Có các ngoại đạo nói: Thế gian là không. Lại có kẻ nói thế gian là chẳng không. Đây có phải là tà ý phân biệt của hàng ngoại đạo?
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Đây là ý nghĩ không chân thật của ngoại đạo. Nếu nói thế gian này là không, thì không có sinh tử. Vì sao? Vì là không. Sinh tử nếu
không, thì Niết-bàn cũng không. Nếu Niết-bàn là không, thì không có thần thông. Còn như nói thế gian là chẳng không, thì sinh tử cũng không. Vì sao? Vì là chẳng không. Do sinh tử là chẳng không, cho nên Niết-bàn cũng không. Nếu đã không có Niết-bàn, thì cũng không có thần thông.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nếu thế gian đã không sinh, không hoại thì cần gì đến Niết-bàn? Nếu sinh tử không hoại, mất, thì không gọi là sinh tử. Vì sao? Vì không mất. Nếu sinh tử không mất, thì sinh tử tức là Niết-bàn. Do đấy, này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Chẳng nên nói thế gian là không, là chẳng không. Cũng không nên nói thế gian nên đoạn cùng do chẳng đoạn. Vì sao? Vì do không có. Đoạn là đoạn phiền não. Không đoạn là chẳng phải đoạn phiền não. Cũng không phiền não cùng chẳng phải là phiền não. Cũng không giải thoát. Nếu không giải thoát tức không Niết-bàn.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Diệt cũng không. Vì sao? Vì sinh tử là không và chẳng không, thế nên không diệt. Nếu sinh tử như vậy thì ai thích đạt Niết-bàn?
Đức Phật liền nói kệ:
Nếu thế gian là không
Thì không có sinh tử
Do sinh tử là không
Nên Niết-bàn cũng không.
Thế gian nếu chẳng không
Cũng không có sinh tử
Sinh tử đã là không
Niết-bàn cũng chẳng có.
Sinh tử nếu như vậy
Ai sẽ thích Niết-bàn?
Phẩm 6: BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Con xin hỏi về Bát-nhã ba-la-mật. Có phải tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác đều từ Bát-nhã ba-la-mật mà ra phải không? Có phải tất cả Phật, tất cả pháp đều từ Bát-nhã ba-la-mật mà ra phải không?
Phật đáp:
–Đúng vậy, đúng vậy! Tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác, tất cả Phật, tất cả pháp đều từ Bát-nhã ba-la-mật mà ra cả. Bồ-tát đối với sắc hành, hành nơi tướng, đối với sắc hoại hành, hành nơi tướng. Nếu đối với sắc diệt hành thì hành nơi tướng. Nếu hành sắc không, thì hành nơi tướng. Như vậy là Bồ-tát không có phương tiện tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Bát-nhã ba-la-mật không dùng tâm ý thức mà tu hành. –Bạch Thế Tôn! Nếu Bát-nhã ba-la-mật không nắm bắt được như thế thì làm sao tu hành Bát-nhã ba-la-mật?
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Tu hành ấy chẳng phải là tu hành, là vì không dùng tâm ý thức. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Tâm nghĩa là tích tụ, ý nghĩa là nhớ nghĩ, thức nghĩa là hiện biết. Như vậy là không dùng tâm ý thức này mà tu hành Bát-nhã ba-la-mật, không cho sự tu hành là tu hành, vì không xứ là tu hành.
Tu hành là không nương vào Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Không phải quá khứ, không phải vị lai, cũng không phải hiện tại. Không phải trong, ngoài, không phải trung gian. Tu hành như vậy là tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Không tu hình sắc là tu Bát-nhã ba-la-mật. Không phải đất, nước, gió, lửa là tu hành Bát-nhã. Không phải có, không phải không, không phải Thanh văn, Duyên giác, không phải thiện, bất thiện, vô ký, không phải mười hai nhân duyên, không phải nam, không phải nữ; không phải chẳng nam, không phải chẳng nữ, không phải thường,
không phải trí, không phải sinh, không phải diệt, không thể đếm, không thể bàn, không thể nói năng, không thể nương tựa, không danh tự, không tướng, không tướng khác, không tăng, không giảm, tự tánh thanh tịnh, chân thật, không thể biết, bao trùm khắp cả hư không, không sắc, không tạo tác, vượt hơn ba đời, không khổ, không vui, không mặt trời, mặt trăng và các sao. Tu hành như vậy mới là tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Chân thật không phải là Bát-nhã ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật không phải là chân thật. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Tu hành như vậy mới gọi là Bát-nhã ba-la-mật.
Đức Phật liền nói kệ:
Pháp này không nghĩ bàn
Lìa cả tâm ý thức
Đoạn tất cả ngôn ngữ
Là tu hành Bát-nhã.
Phẩm 7: HỮU DƯ KHÍ
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật: –Bạch Thế Tôn! Tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác có còn phát khởi phiền não không? Nếu khởi thì có bao nhiêu phiền não?
Phật đáp:
–Vì chưa trọn vẹn nên gọi là khởi. Ví như khí hương. Nói về khí thì có đến hai mươi bốn thứ nghiệp khí: Khí kiến xứ, khí nhiễm, khí sắc nhiễm, khí hữu nhiễm, khí vô minh nhiễm, khí hành, khí thức xứ, khí danh sắc, khí sáu nhập, khí xúc, khí thọ, khí ái, khí thủ, khí hữu, khí sinh, khí lão, khí bệnh, khí tử, khí ưu, khí bi, khí khổ, khí não, khí mệt nhọc, khí nương tựa. Đấy gọi là hai mươi bốn thứ khí. Ngoài thân, khẩu, ý ra thì đây gọi là nghiệp khí. Đoạn kiến, thường kiến, gọi đó là khí kiến xứ. Tham chấp vào y bát… đấy gọi là khí nhiễm. Mười thứ sắc ý, gọi đó là khí sắc nhiễm. Vô sắc giới gọi đó là khí hữu nhiễm. Trí không thanh tịnh, trí bị chướng ngại, trí không biết khắp, gọi đó là khí
vô minh. Nếu thân, khẩu, ý giác quán đến các thứ, gọi đó là khí hành. Nhớ tưởng đến tất cả sắc có khổ, có vui, không khổ, không vui, tưởng phân biệt như vậy, gọi là khí thức xứ. Cứng, ướt, nóng, nhẹ, động, tất cả đều có, gọi đó là khí danh sắc. Mắt nhìn sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý đối với pháp, gọi đó là khí sáu nhập. Lạnh, nóng, cứng, ướt, đói, khát, ấm, trơn, đây gọi là khí xúc. Thọ nhận khổ, vui, không khổ, không vui, gọi đó là khí thọ. Họ, tên, đất, nước, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, khổ não, đói khát… đối với những thứ ấy mà không biết đủ, thì gọi là khí ái. Dục thủ, kiến thủ, giới thủ, đây gọi là khí thủ. Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu, gọi đó là khí hữu. Đời sau đối với khổ địa ắt sẽ sinh, gọi đó là khí sinh. Các căn bị suy hoại, gọi đó là khí lão. Các thứ bệnh hoạn gọi đó là khí bệnh. Tưởng Niết-bàn, tưởng chết, đây gọi là khí tử. Thân thể khô gầy, đây gọi là khí ưu. Kêu la, khóc lóc, đây gọi là khí bi. Thân thể bị phiền não, bức bách, gọi đó là khí khổ. Quá khổ, đây gọi là khí não. Thân tâm khốn đốn, gọi đó là khí mệt nhọc. Bị sợ hãi không có nơi nương tựa, gọi đó là khí nương tựa.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là hai mươi bốn thứ khí. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Chư Phật Thế Tôn không lấy sự quay về nương tựa vào khí, để làm chỗ quay về nương tựa. Vì sao? Vì chỉ có Đức Như Lai mới làm chỗ nương tựa cho chúng sinh. Tất cả chúng sinh không phải là nơi để quay về nương tựa. Đức Như Lai không có tướng, không lường xét, không tích tụ nhân, Thanh văn nghe pháp, Phật không nghe pháp. Vì sao? Vì không chỗ nào là không biết.
Đức Phật liền nói kệ:
A-la-hán có khí
Là do có lỗi lầm
Chỉ có Phật vượt qua
Làm chỗ nương chúng sinh.
Phẩm 8: ĐI LẠI
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Lai khứ nghĩa là gì?
Phật đáp:
–Lai nghĩa là hướng tới. Khứ nghĩa là bỏ đi. Nếu không hướng tới, bỏ đi thì không đến, không đi, đấy là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là si, khứ nghĩa là không si. Không phải si, không phải là không si, đấy là hành xứ của bậc Thánh. Lai là hữu vi, khứ là vô vi. Không hữu vi, không vô vi, đấy là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là thức, khứ nghĩa là phi thức. Chẳng phải thức, chẳng phải là phi thức, đấy là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là danh sắc, khứ là không phải danh sắc. Không phải danh sắc, không phải là không danh sắc, đấy là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là sáu nhập, khứ là không phải sáu nhập. Không phải nhập, không phải là không nhập, là hành xứ của bậc Thánh. Cho đến lo, buồn, mệt mỏi cũng lại như vậy.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Lai nghĩa là ngã, khứ nghĩa là vô ngã. Chẳng phải ngã, chẳng phải là vô ngã, không đến, không đi, là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là thường, khứ nghĩa là không thường. Chẳng phải thường, chẳng phải là không thường, là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là đoạn, khứ nghĩa là không đoạn. Chẳng phải đoạn, chẳng phải là không đoạn, là hành xứ của bậc Thánh. Lai nghĩa là có, khứ nghĩa là không. Chẳng phải có, chẳng phải không, là hành xứ của bậc Thánh.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nghĩa của lai, khứ là như vậy.
Đức Phật liền nói kệ:
Nghĩa lai, khứ không tướng
Các pháp cũng như vậy
Không biết, không thể nói
Gọi là pháp lai khứ.
Phẩm 9: TRUNG ĐẠO
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Phật nói không có hai pháp. Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát đều không nghi hoặc, đều biết trung đạo, cho đến phàm phu cũng có thể phát sinh lòng tin.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Minh, vô minh là không hai. Do không hai cho nên không thành ba trí. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là trung đạo đầy đủ, chân thật quán các pháp. Hành, không hành là không hai. Do không hai cho nên không thành ba trí. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là trung đạo đầy đủ, chân thật quán các pháp. Thức không phải thức, cho đến già, chết, không phải già, chết là không hai cũng lại như vậy.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Nếu vô minh có, thì chỉ là một bên, còn nếu vô minh không thì cũng là một bên. Vậy, khoảng giữa của hai bên này, không có sắc, không thể thấy, không có xứ, không tướng, không tướng đối đãi, không tướng nêu lên. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là trung đạo. Hành, thức, cho đến lão, tử cũng lại như vậy.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là trung đạo đầy đủ, chân thật quán chánh pháp. Các pháp không hai. Không hai có nghĩa là gì? Nghĩa là Mạt-đà-ma (Mạt nghĩa là chư, không. Đà-ma nghĩa là trong, giữa. Chỗ vướng chấp ở giữa. Đó là Mạt-đà-ma). Vì sao? Vì không chấp giữ nơi thường kiến, hữu kiến, nên gọi là Mạt-đà-ma.
Đức Phật liền nói kệ:
Các pháp không có hai
Cũng lại không có ba
Trung đạo ấy đầy đủ
Gọi là đạo chân thật.
Phẩm 10: GIỚI THẾ GIAN
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Màu sắc, y phục của Bồ-tát có bao nhiêu thứ? Sao gọi là quy y? Cúi xin Đức Thế Tôn vì con mà rộng giảng nói và để tạo lợi ích cho các Bồ-tát.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Màu: không đỏ lắm, không vàng lắm, không đen lắm, không trắng lắm, màu sắc phải thanh tịnh đúng như pháp. Ba pháp phục và các thứ y phục khác màu sắc đều cũng như vậy. Nếu chính mình nhuộm, hoặc nhờ người khác nhuộm thì phải nhồi, đập đúng như pháp mới thành. Tùy thời giặt giũ cho sạch sẽ, còn như đồ để ngồi được cho phép dùng màu xanh, vàng, hay tạp sắc.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Sắc y của Bồ-tát là như vậy. Trong tâm của Bồ-tát phải vắng lặng đúng như pháp mới mặc, đó là tương ưng với Đại thừa. Nếu mặc Niết-bàn tăng (quần) phải cách mắc cá hay ngón tay. Nếu Bồ-tát muốn nói chuyện cùng với quốc vương, đại thần, thì tùy theo phía khách hỏi một câu, trả lời một câu, chớ có sai khác, cứ như thật mà nói. Nếu khách hỏi nhiều câu thì cũng trả lời nhiều câu. Cứ thế, cho đến Bà-la-môn, Sát-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà, Sa-môn, Xà-lê, Hòa thượng và cha mẹ, vợ con, tôi tớ cùng với hạng nghèo cùng xin ăn, tùy theo thứ lớp hễ có hỏi thì tùy theo đó mà trả lời. Hoặc các chúng trời, rồng, Dạ-xoa, La-sát, Tỳ-xá-xà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, hoặc người, hoặc quỷ, Phật, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, phàm phu, hễ có hỏi thì cũng đúng như pháp mà trả lời. Không vì việc nuôi sống, không vì lợi riêng cho mình, không tà mạng, không đùa cợt, cần nên nghĩ như vậy.
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là quy y?
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: –Người xin quy y, nên nói như vầy: “Bạch Đại đức! Con là: tên, họ… quy y Phật từ đây cho đến ngày chứng Bồ-đề.” Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy. Rồi lại nói: “Con là: tên, họ… đã quy y Phật rồi, đã
quy y Pháp rồi, đã quy y Tăng rồi.” Nói như vậy ba lần. Tiếp đến nói: “Bạch Đại đức! Con: tên, họ… trì giới Bồ-tát từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, không giết hại chúng sinh và xa lìa ý tưởng giết hại chúng sinh. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không trộm cắp và xa lìa các ý tưởng trộm cắp. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không phá bỏ phạm hạnh và xa lìa các ý tưởng phá bỏ phạm hạnh. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không nói dối và xa lìa các ý tưởng nói dối. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không uống các thứ rượu và xa lìa các ý tưởng uống rượu. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không đeo hương hoa và xa lìa các ý tưởng đeo hương hoa. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không ca múa, xướng hát, đàn nhạc và xa lìa các ý tưởng ca múa, xướng hát, đàn nhạc. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không ngồi nằm nơi giường cao rộng và xa lìa ý tưởng ngồi nằm nơi giường cao rộng. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không ăn quá ngọ và xa lìa các ý tưởng ăn quá ngọ. Từ nay cho đến ngày chứng Bồ-đề, con không cầm nắm vàng bạc, sinh tượng và xa lìa các ý tưởng cầm nắm vàng bạc, cho đến sẽ đầy đủ sáu Ba-la-mật, đại Từ, đại Bi.
Đức Phật liền nói kệ:
Phát lời thề chánh giác
Nương tựa vào Tam bảo
Thọ trì mười giới cấm
Cũng thề đến Chánh giác.
Sáu độ cùng bốn Đẳng
Thực hành được đầy đủ
Tu hành được nhưvậy
Cùng Đại thừa tương ưng.
Phẩm 11: GIỚI XUẤT THẾ GIAN
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Giới xuất thế gian của Bồ-tát có bao nhiêu thứ?
Phật đáp:
–Nếu đem tâm phân biệt nam nữ, không phải nam, không phải nữ… đấy là Bồ-tát đã phạm tội Ba-la-di. Nếu đem tâm phân biệt súc sinh, ngạ quỷ, nam nữ, không phải nam, không phải nữ, các Thiên thần nam nữ, chẳng phải nam, chẳng phải nữ, đấy là Bồ-tát đã phạm tội Ba-la-di. Nếu đem thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, hoặc thọ giới Bồ-tát xuất thế gian mà không khởi lên tâm Từ bi, đấy là Bồ-tát đã phạm tội Ba-la-di. Nếu đem thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, đối với vật của người khác hoặc nhỏ, hoặc lớn, hoặc dài, hoặc ngắn, hoặc có sắc, hoặc có hình, hoặc trụ, hoặc động, hoặc cất giấu, hoặc dời đi, hoặc có phong gói, hoặc chứa đầy, nếu khởi lên ý tưởng trộm cắp thì phạm tội Ba-la-di. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, khởi tâm nói dối thì phạm tội Ba-la-di. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, khởi tâm muốn lấy cây lá, vỏ hay nước cây thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng ca múa, đàn nhạc, hoa hương, anh lạc thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng ngồi nằm giường cao rộng lớn thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng ăn quá ngọ, thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng nắm giữ vàng bạc châu báu thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà cạo lông trên thân, hoặc cắt móng tay như mặt trăng mồng một, nếu khởi lên ý tưởng đó thì phạm Thâu-lan-giá của Bồ-tát. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng chặt phá cây cỏ thì phạm Thâu-lan-giá. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa mà khởi lên ý tưởng bài bác danh dự của người khác, như về hình sắc, hoặc dòng họ, hoặc của cải, hoặc kỹ thuật, hoặc xe cộ, hoặc thân lực… thì phạm Thâu-lan-giá. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, đối với vật dụng của Phật, Pháp, Tăng như là hương hoa, hương xoa, y phục, châu báu… nếu Bồ-tát dùng chân giẫm lên những thứ ấy thì phạm Ba-dạ-đề. Nếu giẫm đạp tháp Phật, hoặc nơi Phật đã tu hành, hoặc nơi cây Bồ-đề, hoặc nơi chuyển
bánh xe pháp, thì phạm Ba-dạ-đề. Nếu người không tin, không kham nổi ba thừa, mà ói mửa, chớp mắt mất các oai nghi, ai khởi lên ý tưởng này, thì phạm Đột-kiết-la. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, thấy vật của người khác, hoặc là những thứ y phục mà người khác thích, rồi trá hiện để cầu lợi rồi đổ tội lỗi cho người, nếu khởi lên ý tưởng này, thì phạm Ba-la-đề-xá. Nếu thân, khẩu, hành không kham nổi ba thừa, từ trước tới giờ chưa phạm tội nghịch, bảo vệ khiến cho không sinh, đấy là Bồ-tát Tăng-diễm Già-đà-ni (Tăng-diễm nghĩa là nghịch thủ. Già-đà-ni nghĩa là làm cho không sinh). Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khiến không khác, là điều Bồ-tát cần nên học. Đấy gọi là giới của Bồ-tát xuất thế gian.
Phẩm 12: GIỚI THƯỢNG XUẤT THẾ GIAN
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là giới thượng xuất thế gian, vô lậu không thể nghĩ bàn, không xứ, không có chỗ vướng mắc?
Phật đáp:
–Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Giới là đối với chúng sinh, vô ngã, chẳng phải là vô ngã, không sự, không nhân, không người giáo hóa, không đi, không thể không đi, không chỗ đi, không danh, không sắc, không sắc tướng, không thể không sắc tướng, không vắng lặng, không phải là không vắng lặng, không thể lấy, không thể không lấy, không chân thật, không thể không chân thật, không thân, không lời, không nói, không tâm, không thế gian, không phải là không thế gian, không phải pháp thế gian, không phải là không pháp thế gian, không tự khen giới của mình, không hủy giới của người khác, không tìm lỗi của người khác, không vì trì giới mà coi thường người khác, không biết giới, không suy nghĩ về giới, không có chỗ biết, không có chỗ suy nghĩ.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là Thánh giới thượng xuất thế gian. Nó không lậu, không sinh, không chỗ vướng mắc, vượt khỏi ba cõi, lìa tất cả chỗ nương tựa.
Đức Phật liền nói kệ:
Người giữ giới xuất thế
Không cấu, không thể có
Kiêu mạn và chỗ nương
Vô minh cùng trói buộc.
Các lỗi lầm như vậy
Tất cả đều không có
Không trong lặng, ngoài lặng
Cũng không trong ngoài lặng.
Biết trong ngoài cũng không
Người biết, được giải thoát.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Người có giới đối với pháp Phật không tự xem xét chính mình, không chấp vào thọ mạng, không chấp vào tất cả chúng sinh, sẽ đạt được chánh hạnh là chánh trụ.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là người có giới, đối với pháp Phật không vướng mắc vào thế gian, không nương vào thế gian, được ánh sáng, không có tối tăm, không thật có, không tự mình tưởng, không tưởng đến người khác, không chìm đắm vào tưởng. Giới thanh tịnh là không có bờ bên này, không có bờ bên kia, không có giữa dòng, không chỗ vướng mắc, không bị trói buộc, không tội lỗi, không rơi rớt.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là người có giới đối với pháp Phật và danh sắc tâm không vướng mắc. Thường bình đẳng tạo lợi ích, tâm thường vắng lặng, không có ngã và ngã sở. Người này như trong giới đã nói, trụ vào không chỗ học, không giải thoát, không có chỗ tạo ra, là đạt được đạo vô thượng, là giới tướng thanh tịnh,
đó là vô thắng giới, vô định giới, vô trí tuệ giới. Đấy là tánh của Thánh nhân không thể thủ đắc, là giới được Phật khen ngợi, là không, không cùng với giới của ngã…, có khả năng an ổn để vào định của bậc Thánh. Nếu định được thanh tịnh thì tu hành phát tuệ, nhờ tuệ mà được trí, nhờ trí mà được giải thoát.
Phẩm 13: BỒ-TÁT THỌ GIỚI
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Nếu thiện nam, thiện nữ nào thọ giới pháp của các Bồ-tát đã thọ trì sẽ như thế nào?
Phật đáp:
–Người thọ giới, nên đến trước bàn Phật, hết lòng thành kính lễ bái, nói lên lời này:
“Con là: tên, họ… cúi xin chư Phật nhớ nghĩ đến con. Chư Phật Thế Tôn là bậc Chánh Tri, dùng trí tuệ Phật, không có sự vướng mắc. Con nay phát tâm Bồ-đề làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, cũng làm cho họ được an lạc. Con nay phát tâm đạo vô thượng, cũng như quá khứ, hiện tại, vị lai các Bồ-tát đã phát tâm. Con nay phát tâm Bồ-đề vô thượng, xem tất cả chúng sinh như cha mẹ, anh em, chị em, nam nữ, bạn bè thân thuộc… làm cho họ được giải thoát, vượt khỏi sinh tử, cho đến khi khiến được họ phát tâm Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, siêng năng tinh tấn, tùy theo sự cần dùng của chúng sinh mà tất cả tài, pháp đều đem ban cho cả, rồi dùng phương tiện tài, pháp này mà thâu nhận tất cả chúng sinh, dần dần tùy nghi, làm cho chúng sinh thoát khỏi sinh tử, cho đến khi khiến họ được an trụ nơi Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng. Con sẽ khởi luôn sáng suốt tiến tới, không buông lung.”
Nói lên ba lần như vậy. Đấy gọi là mới phát tâm Bồ-đề của Đại Bồ-tát.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là việc các Bồ-tát đã thọ, đã làm, vì muốn giáo hóa các Bồ-tát, chứ không vì hàng Thanh văn, Duyên Giáùc, không vì hàng phàm phu và những kẻ xấu ác.
Phẩm 14: TỰ MẪU
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Tất cả tự mẫu nên nói như thế nào? Tất cả các pháp đều nhập vào tự mẫu này và tự mẫu Đà-la-ni?
Phật nói:
–Tất cả các pháp đều nhập vào tự mẫu và tự mẫu Đà-la-ni. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Như nói chữ A là phát ra tiếng vô thường, nói chữ A kéo dài là phát ra tiếng lìa ngã. Nói chữ Y là phát ra tiếng các căn, nói chữ Y kéo dài là phát ra tiếng về bệnh tật. Nói chữ Ưu là phát ra tiếng hoang loạn, nói chữ Ưu kéo dài là phát ra tiếng nêu chúng sinh hạng kém. Nói chữ Ly là phát ra tiếng ngay thẳng, mềm dịu, tương tục, nói chữ Ly kéo dài là phát ra tiếng đoạn trừ nhiễm du hý. Nói chữ Lê là phát khởi tiếng nêu ra tướng sinh pháp, nói chữ Lê kéo dài là phát ra tiếng nói về tướng nhiễm nơi ba cõi. Nói chữ Kiên là phát ra tiếng nói về chỗ dấy khởi lỗi lầm tai họa. Nói chữ Ế là phát ra tiếng nói về Thánh đạo thù thắng. Nói chữ Ô là phát ra tiếng giữ lấy. Nói chữ Úc là phát ra tiếng hóa sinh bình đẳng. Nói chữ Am là phát ra tiếng vô ngã sở. Nói chữ Á là phát ra tiếng chìm mất, diệt tận. Nói chữ Ca là phát ra tiếng vượt qua quả báo của nghiệp. Nói chữ Khư là phát ra tiếng nêu hư không ngang bằng với tất cả các pháp. Nói chữ Già là phát ra tiếng nói về pháp sâu xa. Nói chữ Hằng là phát ra tiếng trừ cứng chắc, nặng, vô minh, si, ám, minh (tối tăm). Nói chữ Nga là phát ra tiếng tham dự nơi biết, hành. Nói chữ Già phát ra tiếng bốn Thánh đế. Nói chữ Xa là phát ra tiếng đoạn trừ dục nhiễm. Nói chữ Xà là phát ra tiếng vượt qua lão tử. Nói chữ Thiền là phát ra tiếng thâu phục ngôn ngữ xấu ác. Nói chữ Nhã phát ra tiếng nói về an trụ. Nói chữ Đa là phát ra tiếng đoạn trừ các kết. Nói chữ Tha là phát ra tiếng nêu đặt, giải đáp. Nói chữ Đà là phát ra tiếng hàng phục các ma oán. Nói chữ Đàn là phát ra tiếng diệt trừ các cảnh giới. Nói chữ Na là phát ra tiếng diệt trừ các phiền não. Nói chữ Khinh Đa là phát ra tiếng như vậy, không khác, không phá. Nói chữ
Khinh Tha là phát ra tiếng nói về lực dũng mãnh, mau chóng, vô úy. Nói chữ Khinh-đà là phát ra tiếng nói về chỗ hiện bày tịch tĩnh giữ gìn an ổn. Nói chữ Khinh-đàn là phát ra tiếng nói về bảy thứ tài sản bậc Thánh. Nói chữ Khinh-na là phát ra tiếng phân biệt về danh sắc. Nói chữ Phả là phát ra tiếng tác chứng được quả. Nói chữ Bà là phát ra tiếng giải thoát mọi trói buộc. Nói chữ Phạm là phát ra tiếng sinh khởi nơi ba cõi. Nói chữ Ma là phát ra tiếng đoạn trừ kiêu mạn. Nói chữ Da là phát ra tiếng phân biệt như pháp. Nói chữ La là phát ra tiếng ưa thích không ưa thích Đệ nhất nghĩa. Nói chữ Lạ là phát ra tiếng đoạn trừ tham ái. Nói chữ Bà là phát ra tiếng nói về thừa thù thắng. Nói chữ Xả là phát ra tiếng nói về tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ. Nói chữ Tỷ là phát ra tiếng thâu phục sáu nhập không thể không biết về sáu Thông. Nói chữ Sa là phát ra tiếng nhận biết về Nhất thiết trí. Nói chữ Ha là phát ra tiếng chính thức diệt trừ phiền não. Nói chữ La là phát ra tiếng nói về chữ sau cùng, vượt qua các pháp này không thể nói.
Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy là nghĩa của tự mẫu, tất cả chữ đều nhập vào trong ấy.
Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Ta sẽ nói tám chữ. Những gì là tám? Chữ Bả là Đệ nhất nghĩa. Tất cả các pháp vô ngã đều nhập vào đây. Chữ La là dùng tướng hảo, không tướng hảo nhập vào nghĩa Pháp thân của Như Lai. Chữ Bà là pháp của người ngu, pháp của người tuệ, như pháp hóa độ, nghĩa không ngu si, không trí tuệ. Chữ Xà là nghĩa vượt qua sinh, lão, bệnh, tử để nhập vào không sinh, không lão, không bệnh, không tử. Chữ Già là nghĩa vượt qua quả báo của nghiệp để nhập vào chốn không nghiệp, quả báo. Chữ Tha là nghĩa Tổng trì các pháp, các ngôn ngữ, không, vô tướng, vô tác để nhập vào pháp giới. Chữ Xả là Xa-ma-tha (Chỉ) Tỳ-bà-xá-na (Quán) để nhập vào quán như thật về các pháp. Chữ Sa là tất cả pháp, niệm niệm sinh diệt, cũng không diệt, chẳng diệt, vì xưa nay thanh tịnh vắng lặng. Tất cả các pháp đều nhập nơi Niết-bàn. Này Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi! Đấy gọi là tám chữ có thể lãnh nhận để nhập vào tất cả các pháp.
Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tiếng vô thường?
Phật đáp:
–Tiếng vô thường: Nghĩa là tất cả pháp hữu vi đều vô thường. Như nhãn nhập vô thường. Nhó, tỷ, thiệt, thân, ý nhập cũng vô thường. Sắc nhập vô thường. Thanh, hương, vị, xúc, pháp nhập cũng vô thường. Như nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, cho đến ý giới, pháp giới, ý thức giới cũng vô thường. Sắc ấm vô thường cho đến thức ấm cũng như vậy. Đấy gọi là tiếng vô thường.
Tiếng vô ngã: Nghĩa là tất cả các pháp đều vô ngã. Nói có ngã, có người tạo ra, có việc tạo ra… hoặc đoạn, hoặc thường, thì đấy là ngã tưởng. Còn ngã giác là ngoại đạo nói. Do quá khứ thì đã diệt, vị lai thì chưa đến, còn hiện tại thì không dừng trụ. Mười hai nhập, mười tám giới, năm ấm đều không có ngã. Đấy là nghĩa chữ A kéo dài.
Tiếng các căn: Nghĩa là tiếng lớn. Như nhãn căn gọi là tiếng lớn. Nhó căn cho đến ý căn đều gọi là tiếng lớn. Đấy là gọi chữ Y, là tiếng lớn.
Tiếng nhiều bệnh tật: Nhãn rất nhiều bệnh tật, cho đến ý cũng lại như vậy. Cho nên gọi là tiếng nhiều bệnh tật.
Tiếng hoang loạn: Đất nước thì không yên, dân chúng lại áp bức lẫn nhau, giặc giã cứ nổi lên, lúa thóc thì mất mùa. Đây gọi là tiếng hoang loạn.
Tiếng chúng sinh thấp: Chúng sinh thấp kém, nghèo cùng, khốn khổ, không có căn lành và các loại cầm thú, trùng, ve… Đấy gọi là tiếng chúng sinh thấp.
Tiếng ngay thẳng mềm dịu tương tục: Ngay thẳng nghĩa là không dua nịnh, không dua nịnh là không quanh co, không quanh co tức là chân thật. Chân thật là làm đúng với lời nói. Làm đúng với lời nói là thực hành đúng lời Phật dạy. Đấy gọi là ngay thẳng. Mềm dịu có sáu thứ: Mắt dịu dàng, cho đến ý dịu dàng. Đấy gọi là mềm dịu. Tương tục nghĩa là không tách rời tất cả pháp thiện. Đấy gọi là tiếng ngay thẳng mềm dịu.
Tiếng đoạn nhiễm du hý: Đoạn nhiễm cõi Dục nơi ba mươi sáu thứ phiền não ràng buộc. Là suy nghĩ về sự dứt lìa bốn sử. Đoạn có nghĩa là trừ diệt. Du hý nghĩa là đầy đủ cả năm dục. Chúng sinh du hý
ở trong năm dục đó, nên cần phải đoạn. Đấy gọi là tiếng đoạn nhiễm du hý.
Tiếng nêu ra tướng sinh pháp: Tất cả các pháp đều lấy vô ngã làm tướng, tướng của niệm niệm đều sinh diệt, vắng lặng. Lấy vô ngã làm tướng, nghĩa là sắc ấm vô thường, cho đến thức cũng như vậy. Đấy gọi là lấy vô ngã làm tướng. Còn niệm niệm sinh diệt, nghĩa là tất cả các hành được sinh ra trong từng niệm niệm, hễ sinh thì phải diệt. Đấy gọi là tất cả các pháp niệm niệm sinh diệt. Vắng lặng nghĩa là không, không xứ sở, không sắc, không thể, ngang bằng với hư không. Đấy gọi là tướng vắng lặng. Quá khứ, vị lai và hiện tại đều vô thường. Đấy là tiếng của tướng sinh pháp.
Tiếng nói về tướng nhiễm nơi ba cõi: Tướng là tướng đầy đủ năm thứ dục nơi dục giới, tướng nhiễm sắc nơi sắc giới, tướng nhiễm không sắc nơi vô sắc giới. Đấy gọi là tướng. Ba cõi: Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Cõi Dục là những cõi nào? Là địa ngục cho đến trời Tha hóa tự tại. Cõi Sắc là những cõi nào? Là cõi Phạm thân cho đến cõi Sắc cứu cánh. Cõi Vô sắc là cõi nào? Là Không xứ cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhiễm chấp ba cõi với chín mươi tám thứ phiền não ràng buộc. Đấy gọi là tiếng nêu ra tướng nhiễm của ba cõi.
Tiếng nói về chỗ dấy khởi lỗi lầm tai họa: Có ba thứ cầu: Cầu dục, cầu hữu, cầu phạm hạnh.
Cầu dục là cầu sắc, thanh, hương, vị, xúc. Sao gọi là cầu sắc? Cầu sắc có hai thứ: Một là hiển sắc, hai là hình sắc. Hiển sắc có mười hai thứ: Xanh, vàng, đỏ, trắng, khói, mây, bụi, sương mù, bóng ánh sáng, sáng, tối. Hình sắc có tám thứ: Dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, bằng, không bằng. Đấy gọi là sắc dục. Sao gọi là tiếng dục? Tiếng có bảy thứ: Tiếng loa, tiếng trống, tiếng trống con, tiếng trống lớn, tiếng hát, tiếng nam, tiếng nữ. Đấy gọi là tiếng dục. Sao gọi là hương dục? Hương có bảy thứ: Hương rễ, hương lõi, hương vỏ, hương đường, hương lá, hương hoa, hương trái, hoặc hương nam, hương nữ. Đấy là hương dục. Sao gọi là vị dục? Vị có bảy thứ: Vị ngọt, vị nồng, vị mặn, vị đắng, vị chát, vị nhạt, vị cay, hoặc vị nam, vị nữ. Đấy là vị dục. Sao gọi là xúc dục? Xúc có tám thứ: Lạnh, nóng, nặng, nhẹ, nhám, trơn, đói khát hoặc xúc nam, xúc nữ. Đấy gọi là xúc dục.
Sao gọi là cầu hữu? Cầu cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Đấy gọi là cầu hữu.
Sao gọi là cầu phạm hạnh? Vì xuất gia khổ hạnh nên muốn cầu về thiên đường, muốn cầu về Niết-bàn. Đấy gọi là cầu phạm hạnh. Cầu nghĩa là gì? Nghĩa là ưa thích tham chấp.
Sao gọi tiếng nói về chỗ khởi lỗi lầm tai họa? Vì các cõi của chúng sinh đều là lỗi lầm và hoạn nạn. Ngoại trừ thiên đường và Niết-bàn ra, còn tất cả cõi nơi xứ khác đều có lỗi lầm và hoạn nạn. Đấy gọi là tiếng nói về chỗ phát khởi lỗi lầm tai họa.
Tiếng Thánh đạo thù thắng: Là tám con đường chánh: Tức từ chánh kiến cho đến chánh định, không có lỗi lầm, không có sự vướng mắc, nên gọi là Thánh đạo. Đấy là tiếng Thánh đạo thù thắng.
Tiếng giữ lấy: Là nắm giữ các pháp, nên gọi đó là tiếng giữ lấy.
Tiếng hóa sinh: Bốn ấm thọ, tưởng, hành, thức, đấy gọi là hóa sinh. Lại nói thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh.
Thai sinh có bốn: Châu Đông Phất-vu-đãi, Nam Diêm-phù-đề, Tây Câu-da-ni, Bắc Uất-đơn-việt. Sinh bằng trứng là chỉ có các loài chim, sinh nơi ẩm thấp là chỉ cho các loài muỗi, nhặng, rận… Hóa sinh là chỉ cho chư Thiên. Đấy gọi là tiếng hóa sinh.
Tiếng vô ngã sở: Tất cả các pháp đều không phải là sở hữu của ngã, cũng không khởi ngã. Vô ngã sở là không có ngã sở, mạn. Đấy là tiếng vô ngã sở.
Tiếng chìm mất diệt tận: Do vô minh diệt nên hành diệt, cho đến sinh diệt nên ưu bi, khổ não diệt.
Còn chìm mất diệt tận: Niết-bàn vắng lặng, không còn sinh trở lại. Đấy gọi là tiếng hoàn toàn diệt tận.
Tiếng vượt qua nghiệp quả báo: Nghiệp là ba nghiệp: Thân ba, miệng bốn và ý ba. Nghiệp quả báo là ba nghiệp thanh tịnh. Đấy gọi là tiếng vượt qua nghiệp quả báo.
Tiếng hư không… các pháp: Các pháp ngang bằng với hư không. Sao gọi là ngang bằng với hư không? Vì các pháp chỉ có danh, chỉ có tuởng, không có tướng, không phân biệt, không hình thể, không lay, không động, không thể nghĩ bàn, không khởi, không diệt, không chỗ làm theo, không tướng, không chỗ tạo ra, không có tướng mạo, không
hình sắc, không chỗ đi, trụ, bình đẳng với hư không, không già, không chết, không lo buồn, khổ não.
Sắc thì bằng với hư không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Quá khứ thì đã qua, vị lai thì chưa đến, hiện tại thì không dừng lại. Đấy gọi là tiếng các pháp ngang bằng với hư không.
Tiếng nói về pháp sâu xa: Từ vô minh duyên hành, cho đến sinh duyên lão tử, ưu bi, khổ não. Vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sinh diệt thì ưu bi, khổ não cũng diệt. Vì lý đó là chân thật, nên gọi là sâu xa. Sâu xa nghĩa là mười hai nhân duyên ấy, chấm dứt đường ngôn ngữ không bờ bến, không xứ sở, không thời gian, hoàn cảnh, dứt lìa trượng phu, dứt lìa tánh thế gian, nhập vào bình đẳng, phá chấp của mình và người. Đấy gọi là tiếng nói về pháp sâu xa.
Tiếng trừ, kiên (cứng chắc) trọng (nặng) vô minh, si, ám, minh (tối tăm): Kiên (cứng chắc) nghĩa là năm kiến chấp như thân kiến… Trọng (nặng) nghĩa là năm ấm. Vô minh là không biết được biên vực trước sau, có tội hay không có tội, không hiểu rõ Phật, Pháp, Tăng, không biết người thí, giới, thiên, không biết ấm, giới, nhập. Đấy gọi là vô minh. Si là quên mất sự hiểu biết và nhớ nghĩ. Đấy gọi là si. Ám là vào thai khổ não, chịu tất cả sự không sạch, lại sinh thọ lạc mê lầm, lui tới. Đấy gọi là ám. Minh (tối tăm) nghĩa là không biết ba đời, không có phương tiện, không hiểu rõ. Đấy gọi là minh (tối tăm). Trừ là chân thật chắc chắn, chỉ bày ánh sáng, trừ nhân quả, trừ phiền não, trừ không phải phiền não, trừ các tập khí còn sót để nhập vào bình đẳng, không nghĩ bàn làm chính. Đó là nghĩa của trừ. Đấy gọi là tiếng trừ kiên trọng vô minh si ám minh.
Tiếng tham dự tri hành: Có tám thứ tham dự tri hành: Từ chánh kiến cho đến chánh định. Đấy gọi là tham dự tri hành của Bồ-tát. Trừ đoạn năm kiến gọi là chánh kiến, không suy nghĩ về tham, sân, si gọi là chánh tư duy. Thân, ý, nghiệp thanh tịnh gọi là chánh nghiệp. Khẩu nghiệp thanh tịnh gọi là chánh ngữ. Quanh co, dối gạt, trá hiện thiểu dục, đem lợi để cầu lợi. Mua bán năm thứ, như là buôn bán rượu, bán thịt, bán thuốc độc, bán đao kiếm và bán nữ sắc… ngoài những nghiệp ác này thì gọi là chánh mạng. Thân làm thiện, ý nghĩ thiện gọi là chánh tinh tấn. Luôn nhớ nghĩ đến bốn niệm xứ gọi là chánh niệm.
Tâm định, không vướng mắc, tướng vắng lặng, tướng diệt, tướng không là chánh định. Đấy gọi là tiếng tham dự tri hành.
Tiếng bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo đế. Sao gọi là Khổ đế? Vì có khả năng đoạn mười sử. Sao gọi là Tập đế? Vì có khả năng đoạn bảy sử. Sao gọi là Đạo đế? Vì có khả năng đoạn tám sử, cắt đứt bốn dòng suy nghĩ, cho đến cắt đứt mọi sự trói buộc của cõi Sắc và cõi Vô sắc. Đấy gọi là tiếng bốn Thánh đế.
Tiếng đoạn trừ dục nhiễm: Dục là nhiễm, lạc, bất yếm (không chán), dục, trang nghiêm, trước, tư thái, tư duy nơi dục, tư duy nơi xúc, đãi, tập cận. Nhiễm: Là trói buộc. Lạc: Là ưa thích nơi sáu trần. Bất yếm: Là chuyên tâm tham chấp vào duyên, không còn có một ý tưởng nào khác. Dục: Là ham thích. Trang nghiêm: Là ý khởi nhiễm. Trước: Là buông thả nơi dục. Tư thái: Là tạo ra các dáng vẻ, điệu bộ. Tư duy nơi dục: Là vướng mắc nơi năm dục. Tư duy nơi xúc: Là tướng dục quen gần. Đãi: Là dùng hương hoa để dẫn dắt. Tập cận: Là chạy theo tâm dục nhiễm. Đoạn: Là diệt trừ pháp bất thiện nêu trước. Đấy gọi là tiếng đoạn trừ dục nhiễm.
Tiếng vượt qua lão, tử: Lão là thân thể bị tiêu giảm, đi đứng phải chống đỡ, các căn bị suy mòn, gọi đó là già. Chết là các căn bị hủy hoại. Do đâu đã chết rồi lại đi tìm nơi khác để thọ sinh? Vì hành nghiệp đã thành thục. Đây gọi là chết. Già, chết có gì khác nhau? Các căn đã đến thời kỳ hao mòn, gọi là già. Các căn hoại diệt thì gọi là chết. Trước già, sau chết, gọi đó là già chết. Vượt qua khỏi già chết này thì gọi là độ. Độ có nghĩa gì? Nghĩa là vượt qua đến bờ bên kia, tự tại không còn bị sinh lại nữa. Đấy gọi là tiếng vượt qua già, chết.
Tiếng thâu phục lời nói ác: Thâu phục nghĩa là thâu phục lời nói, thâu phục thân thể. Sao gọi là thâu phục lời nói? Là đem lời nói của đồng loại để phá bỏ lời nói của loại khác. Dùng lời nói của loại khác để phá trừ lời nói đồng loại. Dùng lời chân thật thâu phục lời không chân thật. Dùng lời không chân thật thâu phục lời chân thật. Dùng phi ngôn ngữ để thâu phục ngôn ngữ. Dùng ngôn ngữ để thâu phục phi ngôn ngữ. Dùng Đệ nhất nghĩa để thâu phục chẳng phải Đệ nhất nghĩa.
Dùng chẳng phải Đệ nhất nghĩa để thâu phục Đệ nhất nghĩa. Dùng lời quyết định để thâu phục lời không quyết định. Dùng lời không quyết định để thâu phục lời quyết định. Dùng một để thâu phục nhiều. Dùng nhiều để thâu phục một. Dùng không phạm để thâu phục bị phạm. Dùng bị phạm để thâu phục không phạm. Dùng hiện chứng để thâu phục không hiện chứng. Dùng không hiện chứng để thâu phục hiện chứng. Dùng mất để thâu phục không mất. Dùng không mất để thâu phục mất. Dùng chủng loại không được để thâu phục chủng loại. Dùng chẳng phải là chủng loại không được để thâu phục chẳng phải là chủng loại.
Ác là nói không chân thật, không chắc chắn, không phân biệt.
Thâu phục nghĩa là đoạn, là ngăn, là trừ. Đấy gọi là tiếng thâu phục lời nói ác.
Tiếng nói về an trụ: Là lời nói để phân biệt, chỉ bày rõ ràng, không làm trở ngại đạo, tùy theo pháp mà nói. Đấy gọi là nói. An trụ: Là đặt yên tại một chỗ. Là nói về Nê-hoàn, nói về xuất thế gian, là lời nói để thuật lại, lời nói không tướng, lời nói không có dung mạo, lời nói không khác, lời nói không tạo ra, lời nói giác ngộ, lời nói về không, lời nói vắng lặng. Đấy gọi là tiếng nói về an trụ.
Tiếng nói về đoạn trừ kết: Từ vô minh diệt cho đến lão tử diệt, diệt tất cả ấm. Diệt có nghĩa là làm cho mất đi, không sinh trở lại. Đấy gọi là diệt. Đoạn tức là cắt đứt mọi trói buộc, dứt sạch gốc rễ của phiền não, không còn sót lại. Đấy gọi là tiếng nói về đoạn trừ kết.
Tiếng nêu đặt, giải đáp: Là tùy vấn đáp, phân biệt đáp, phản vấn đáp, trí đáp.
Sao gọi là tùy vấn đáp? Nghĩa là theo câu hỏi mà trả lời.
Sao gọi là phân biệt đáp? Tùy theo câu hỏi của đối phương đưa ra mà phân biệt cho rộng.
Sao gọi là phản vấn đáp? Nếu có người hỏi thì có thể hỏi ngược lại để trả lời.
Sao gọi là nêu đặt, giải đáp ? Như đối phương hỏi về ngã đoạn, ngã thường thì nêu đặt, không trả lời ngay. Dùng câu hỏi phân biệt để hỏi, thì tùy theo câu hỏi mà trả lời. Dùng câu hỏi phản chất để hỏi, thì phân biệt mà trả lời. Dùng câu hỏi nêu đặt giải đáp để hỏi, thì phản
chất mà trả lời. Dùng câu hỏi tùy vấn đáp để hỏi, thì nêu đặt mà trả lời. Đấy gọi là tiếng nêu đặt giải đáp.
Tiếng hàng phục các giặc ma: Ma tức là bốn ma. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, gọi là giặc ấm ma. Từ cõi này qua cõi khác, chấm dứt mọi việc, gọi là giặc tử ma. Vô minh, ái thủ, gọi là giặc phiền não ma. Năm dục đều đủ là hình thể của thiên ma, gọi là giặc thiên ma. Đấy gọi là tiếng hàng phục giặc ma.
Tiếng diệt trừ các cảnh giới: Diệt sắc cho đến diệt xúc. Cảnh giới là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Đấy gọi là tiếng diệt trừ các cảnh giới.
Tiếng trừ diệt các phiền não: Là đoạn diệt phiền não. Trừ diệt phiền não: Nhiễm dục là thứ độc lớn, phải lấy quán bất tịnh làm thuốc để trừ. Sân hận cũng là thứ độc lớn, lấy từ bi làm thuốc để trừ. Vô minh cũng là thứ độc lớn, lấy quán mười hai nhân duyên làm thuốc để trừ. Đấy gọi là tiếng trừ diệt các phiền não.
Tiếng không khác, chẳng phá: Không khác là không phá, không khác. Là Đệ nhất nghĩa thật đế, không, không tướng, không hình, bình đẳng, không động, không thể nghĩ bàn. Đấy gọi là không khác. Chẳng phá: Là không có hình khác, bình đẳng, không tướng, không động, không phá, không đoạn, thuần nhất, không có lỗi lầm, không tâm, không trước sau. Đấy gọi là tiếng không khác, không phá.
Tiếng lực dũng mãnh mau chóng vô úy: Dũng mãnh nghĩa là tinh tấn. Lực là mười Lực. Chóng là nhanh chóng. Vô úy là không sợ bất cứ nơi nào. Đấy gọi là tiếng lực dũng mãnh mau chóng vô úy.
Tiếng thí, tịch tĩnh, giữ gìn an ổn: Thí có hai thứ: nội thí và ngoại thí. Sao gọi là nội thí? Là nói về bốn chân đế. Sao gọi là ngoại thí? Là thí da, thịt, máu, đất, nước, vợ con, trai gái, của cải, lúa thóc… Tịch tĩnh có ba: thân, khẩu, ý. Sao gọi là thân vắng lặng (tịch tĩnh)? Vì thân không làm ba việc lỗi lầm. Miệng vắng lặng: Không có bốn lỗi của miệng. Ý vắng lặng: Không tham, không sân, không si. Giữ gìn: Là giữ gìn các căn. An ổn: Là cùng chung với nhau, hòa hợp, không tìm lỗi của nhau, tri túc, thiểu dục, không vạch sở trường, sở đoản của nhau. Không tìm lỗi của người khác: Nghĩa là không tìm lỗi lầm của nhau. Không đem lời người này nói với người kia. Đấy gọi là tiếng thí vắng lặng, giữ gìn, an ổn.
Tiếng nói về bảy Thánh tài: Một là tín, hai là hổ, ba là thẹn, bốn là thí, năm là giới, sáu là văn (hiểu biết), bảy là tuệ. Đấy gọi là tiếng nói về bảy Thánh tài.
Tiếng phân biệt danh sắc: Danh là bốn ấm, sắc là bốn đại. Phân biệt là phân biệt về danh sắc. Đấy gọi là tiếng phân biệt danh sắc.
Tiếng Đệ nhất nghĩa: Là phân biệt năm ấm. Đấy gọi là tiếng Đệ nhất nghĩa.
Tiếng tác chứng đắc quả: Quả tức là bốn quả: Từ Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán và quả Duyên giác. Đắc: Nghĩa là nhập. Chứng: Là hiện chứng. Tác: Là tạo tác. Đấy gọi là tiếng tác chứng đắc quả.
Tiếng giải thoát mọi trói buộc: Trói buộc nghĩa là sự trói buộc của ba độc: tham, sân, si. Giải thoát: Là thoát khỏi ba độc trói buộc này. Đấy gọi là tiếng giải thoát khỏi mọi sự trói buộc của ba độc.
Tiếng sinh nơi ba hữu: Nghĩa là sinh hữu, hiện hữu và hậu hữu. Đấy gọi là tiếng sinh nơi ba hữu.
Tiếng đoạn kiêu mạn: Kiêu là kiêu ngạo về sắc, về sức trẻ, về sự giàu có, về sự tự tại, về tộc họ, về sự hành thiện, về thọ mạng, về sự thông sáng. Đấy gọi là tám kiêu ngạo. Mạn: Là mạn mạn, đại mạn, tăng thượng mạn, ngã mạn, bất như mạn, thắng mạn, tà mạn. Đấy gọi là bảy thứ mạn. Đoạn là cắt đứt sự kiêu mạn. Đấy gọi là tiếng cắt đứt sự kiêu mạn.
Tiếng thông đạt các pháp: Thông đạt nghĩa là biết đúng như cảnh. Các pháp: Là pháp thiện, pháp bất thiện, năm dục có đủ là pháp bất thiện, đoạn trừ năm dục là pháp thiện. Đấy gọi là tiếng thông đạt các pháp.
Tiếng phân biệt như pháp: Như là nghĩa cùng, bằng. Pháp là pháp thiện, pháp bất thiện. Pháp bất thiện là không đoạn trừ các thứ của năm dục. Pháp thiện là đoạn trừ các thứ của năm dục. Đoạn, có nghĩa là phá diệt. Đấy gọi là tiếng phân biệt như pháp.
Tiếng lạc, bất lạc Đệ nhất nghĩa: Lạc là cảnh giới của năm dục. Bất lạc là không vướng mắc nơi năm dục. Đệ nhất nghĩa: Là không, vô tướng. Đấy gọi là tiếng lạc, bất lạc Đệ nhất nghĩa.
Tiếng đoạn trừ ái: Ái là sắc ái, cho đến xúc ái. Đoạn là diệt trừ. Đấy gọi là tiếng đoạn trừ ái.
Tiếng thừa thù thắng: Đó là ba thừa: Phật thừa, Duyên giác thừa và Thanh văn thừa.
Bát-nhã ba-la-mật, mười Địa là Phật thừa.
Điều phục được chính mình, chính mình được vắng lặng để nhập Niết-bàn, là Duyên giác thừa.
Các căn của chúng sinh được nhu hòa, vì sợ hãi muốn vượt qua sinh tử là Thanh văn thừa. Đấy gọi là tiếng nói về thừa thù thắng.
Tiếng tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ: Gắn bó nơi suy nghĩ, quán xét không đổi, gọi là tín. Siêng năng dũng mãnh, tấn tới, làm việc giữ gìn việc, gọi là tinh tấn. Chuyên nhất thâu giữ tâm gọi là niệm. Không bị lay động trước các cảnh động, gọi là định. Trí tuệ thuần nhất bình đẳng thì gọi là tuệ. Đấy gọi là tiếng tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ.
Tiếng thâu phục sáu nhập bất đắc bất tri sáu Thông: Sáu nhập là từ nhãn nhập cho đến ý nhập. Thâu phục là thâu phục sắc cho đến thâu phục pháp. Sáu Thông: Là Thiên nhãn, Thiên nhó, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Thần túc và Lậu tận thông. Bất tri (không biết) tức là vô minh. Bất đắc bất tri (Không thể không biết) là trừ khử được vô minh. Đấy gọi là tiếng thâu phục sáu nhập không thể không biết sáu Thông.
Tiếng nhận biết Nhất thiết trí: Nhất thiết trí là biết hết về tất cả pháp thế gian. Thế gian nghĩa là niệm niệm sinh diệt. Lại nữa, thế gian là ấm, giới, nhập. Lại nữa, thế gian có hai thứ: một là thế gian của chúng sinh, hai là thế gian của hành. Thế gian của chúng sinh là chỉ cho tất cả chúng sinh. Thế gian của hành là có thể biết, hoặc biết hết trụ xứ của chúng sinh nơi tất cả thế giới. Trí có hai thứ: Trí Thanh văn và trí Nhất thiết. Trí giác: Biết được thân mình và biết được thân người. Đấy gọi là tiếng nhận biết Nhất thiết trí.
Tiếng chánh diệt trừ phiền não: Diệt trừ (sát) nghĩa là trừ đoạn. Phiền não là chín mươi tám thứ sử: Chỗ đoạn của Khổ đế nơi cõi Dục mười sử. Tập, Diệt bảy sử. Đạo đế tám sử. Tư duy bốn sử. Chỗ đoạn của Khổ đế nơi cõi Sắc chín sử. Tập, Diệt sáu sử. Đạo đế bảy sử. Tư duy bốn sử. Cõi Vô sắc cũng như vậy. Chánh: Nghĩa là trừ đoạn phân minh, không còn các thứ cấu uế khác. Đấy gọi là tiếng chánh diệt trừ phiền não.
Tiếng nói về đây là chữ cuối cùng, vượt qua được pháp này, thì không thể nói: Nếu không có chữ thì gọi là Niết-bàn. Còn như có chữ thì gọi là sinh tử. Sau cùng: Lại không có chữ nào, chỉ trừ chữ La. Không thể nói: Không thể nắm bắt được, không thể phân biệt được, vì vô sắc nên không thể nói. Các pháp là ấm, giới, nhập, ba mươi bảy phẩm. Đấy gọi là tiếng nói về chữ sau cùng, vượt qua đấy là không thể nói.