Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 1

Đại Bát Niết Bàn Kinh Tập 1

Tác giả: Biên dịch: Pháp Sư Từ Thông, Hiệu: Như Huyễn Thiền Sư. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 313.

Kinh Đại Bát Niết Bàn (hoặc gọi ngắn là Kinh Niết Bàn) là tên gọi chung của hai bộ kinh hoàn toàn khác nhau về dung lượng và tư tưởng. Do đó, bộ kinh này sẽ thuộc về các bộ tạng tùy theo hệ truyền thừa Phật giáo:

1. Trong Nam truyền Phật giáo (Hệ Kinh tạng Pali)

Ở hệ nguyên thủy, kinh có tên là Mahāparinibbāṇa Sutta.
• Thuộc bộ: Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya), là bài kinh số 16.
• Nội dung: Là một bài kinh lịch sử, ghi chép chi tiết về chuyến du hành cuối cùng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ thành Vương Xá đến Sa-la song thọ (thành Câu-thi-na), những lời dặn dò thiết thực cuối cùng cho hàng môn đồ và sự kiện Ngài nhập diệt. Bản dịch tiếng Việt nổi tiếng nhất thuộc về Cố Hòa thượng Thích Minh Châu.

2. Trong Bắc truyền Phật giáo (Hệ Hán tạng Đại thừa)

Ở hệ Đại thừa, kinh có tên chữ Hán là Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經).
• Thuộc bộ: Bộ Niết-bàn (là bộ thứ 7 trong 28 bộ loại của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh). Đây cũng được coi là một trong "Năm bộ kinh điển lớn" của Phật giáo Đại thừa.
• Nội dung: Đây là một bộ kinh vô cùng đồ sộ (bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm gồm 40 quyển, bản dịch của ngài Pháp Hiển gồm 36 quyển). Kinh không tập trung vào yếu tố lịch sử mà đi sâu vào giáo lý tối thượng của Đại thừa: khẳng định Pháp thân Như Lai là thường trụ (không mất đi), Niết-bàn có đủ 4 đức tính Thường – Lạc – Ngã – Tịnh, và khẳng định tất cả chúng sinh đều có bản tính Phật (Phật tính). Bản dịch tiếng Việt phổ biến nhất là của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh.
(Mẹo phân biệt: Ngoài ra, trong hệ kinh tạng Bắc truyền cũng có một bản kinh ngắn tương đương với bài kinh bên Trường Bộ Pali, nằm trong bộ Kinh Trường A-hàm, mang tên là Kinh Du Hành).
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm này, hãy cho tôi biết:
• Bạn muốn đi sâu vào ý nghĩa tư tưởng Thường - Lạc - Ngã - Tịnh hoặc Phật tính trong bản Đại thừa?
• Hay bạn muốn tìm hiểu hành trình 3 tháng cuối cùng của Đức Phật được mô tả như thế nào trong bản Pali (Trường Bộ)?

Chương 7: Phẩm Thứ Sáu: Danh Tự Công Đức (Trang 86 - 91)

Phẩm Thứ Sáu: Danh Tự Công Đức (Trang 86 - 91)
PHẨM THỨ SÁU
 
DANH TỰ CÔNG ĐỨC
 
Bấy giờ Phật bảo Ca Diếp Bồ tát:
Ca Diếp ! Thầy nên khéo thọ trì danh tự chương cú của kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN này; nếu người nào được nghe tên kinh này sẽ không còn bị sanh vào bốn con đường ác. Bởi vì kinh này là chỗ nương tựa tu tập của vô lượng vô biên chư Phật. Nay Như Lai sẽ nói cho thầy biết về quả báo vượt bậc của người tu hành theo kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN có được.
Phật dạy tiếp: Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN này, văn tự ngữ ngôn từ khởi đầu, đoạn giữa, kết thúc, tất cả đều lành, nghĩa thú rất sâu xa, lời lời phạm hạnh, hàng hàng thanh lương, đầy đủ ý vị của Kim Cang bảo tạng. Thầy hãy khéo mà lóng nghe.
Này Ca Diếp ! ĐẠI BÁT NIẾT BÀN có nghĩa là THƯỜNG VẮNG LẶNG. Ví như sự ào ạt cuồn cuộn chảy của chín con sông đều đổ ra biển cả thản nhiên vô tư lự. Tu học kinh này, hàng phục hết các giống ma, thanh lọc trừ hết các kiết sử phiền não trong tam giới. Rồi Bồ tát ở nơi ĐẠI BÁT NIẾT BÀN mà buông bỏ thân mạng. Vì vậy, có tên ĐẠI BÁT NIẾT BÀN.
Ví như y sư tài giỏi, có diệu dược thần phương, gồm chứa nhiều bí phương trong đó. Cũng như vậy, bao nhiêu pháp thậm thâm bí mật đều có đủ trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Vì thế, nên gọi ĐẠI BÁT NIẾT BÀN.
Ví như nông phu tháng mùa Xuân, gieo sạ giống, thường có hy vọng...lúa đã gặt xong, thì không hy vọng nữa. Cũng vậy, tất cả chúng sanh tu học các thứ kinh khác, thường có hy vọng mùi vị giải thoát, khi được nghe kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN rồi, sự hy vọng ước mơ kia dứt hết.
Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, có thể làm cho chúng sanh qua khỏi các dòng hữu lậu trong ba cõi.
Này Ca Diếp ! Trong các thứ dấu chân, dấu chân voi là to hơn cả. Cũng vậy, kinh ĐẠI BÁT
 NIẾT BÀN đệ nhất đối với thiền định, tam muội của các kinh khác.
Trong các vị thuốc, vị đề hồ là đệ nhất, có khả năng trị bệnh nhiệt não bấn loạn tâm thần của chúng sanh. Cũng vậy, kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là đệ nhất, đem lại sự giải thoát cho tất cả mọi người.
Như chất "bơ" đủ cả tám vị. Cũng vậy, kinh này cũng có tám vị:
1.  Thường  
2.  Tương tục  
3.  An  
4.  Thanh lương  
5.  Không già  
6.  Không chết  
7.  Không nhơ  
8.  Khoái lạc  
Vì có tám vị đặc điểm ấy nên gọi ĐẠI BÁT NIẾT BÀN.
Này Ca Diếp ! Người nào muốn ở nơi ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, mà Niết Bàn thì phải tu học: Rằng NHƯ LAI THƯỜNG TRỤ. PHÁP THƯỜNG TRỤ. TĂNG THƯỜNG TRỤ.
 
Bạch Thế Tôn ! Ca Diếp thưa. Công đức NHƯ LAI không thể nghĩ bàn. PHÁP và TĂNG không thể nghĩ bàn.  ĐẠI BÁT NIẾT BÀN cũng không thể nghĩ bàn.
Người tu học kinh điển này là người được pháp môn tu chân chính, có thể làm vị lương y trị lành bệnh khổ phiền não của chúng sanh trong ác thú. Nếu chưa tu học ĐẠI BÁT NIẾT BÀN,  đối với chân lý, dù có mắt cũng như không, vì người đó bị màn đen vô minh luôn luôn che trước mắt.
 
TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
 
Với kiến giải của Mã Minh Đại Sĩ, người đã từng dõng dạc tuyên bố: NHẤT THIẾT CHƯ PHÁP TÙNG BẢN DĨ LAI, LY VĂN TỰ TƯỚNG, LY DANH NGÔN TƯỚNG, LY TÂM DUYÊN TƯỚNG, TẤT CÁNH BÌNH  ĐẲNG, BẤT KHẢ PHÁ HOẠI, DUY THỊ NHẤT TÂM, CỐ DANH CHÂN NHƯ..."  Ấy thế mà  ở  đây Như Lai dạy: Rằng phải học DANH TỰ CÔNG ĐỨC. Người tu học DANH TỰ CÔNG ĐỨC
của kinh này, là người rời khỏi bốn đường ác, không bị sanh vào bốn đường ác...Đó là vấn đề người Đại thừa cần tu học. Đặc biệt quan tâm !
Nên lưu ý rằng: "Văn tự chương cú” hoặc viết thành bài, hoặc in thành trang hay đóng thành quyển, hẳn không phải thứ văn tự chương cú Phật muốn dạy ở phẩm kinh này. Đem các thứ văn tự chương cú đó ra đọc tụng theo nhịp nhàng ê a,  theo cung bậc, lúc "oán", lúc "xuân”, khi "ai”, khi "hạ"....thì đó lại càng rời xa với ý nghĩa "thọ trì VĂN TỰ CHƯƠNG CÚ” của Phật dạy ở kinh Đại Bát Niết Bàn. Bởi lẽ dễ hiểu: Kiến giải của Như Lai Thế Tôn, không thể nào thấp kém hơn cái thấy biết của Mã Minh Đại Sĩ !
•  THỌ TRÌ DANH TỰ CHƯƠNG CÚ của kinh Đại Bát Niết Bàn, có nghĩa là phải học hiểu Niết Bàn là gì ? Đại Bát Niết Bàn là gì ?  
•  Rằng Niết Bàn không là cái gì hết ! Sống đúng, sống hợp, sống tùy thuận chân lý là sống trong Niết Bàn rồi vậy.  
•  Rằng Niết Bàn là sự thanh tịnh tịch tĩnh bản nhiên. Nó thường trú, hiện hữu bất đoạn trong không gian vô tận, thời gian vô cùng.  
Do những nghĩa như vậy, cho nên Niết Bàn có:
 
1. Tự tánh thanh tịnh Niết Bàn
2. Hữu dư y Niết Bàn  
3. Vô dư y Niết Bàn  
4. Vô trụ xứ Niết Bàn  
•  Rằng Như Lai ĐẠI BÁT NIẾT BÀN đừng hiểu là Như Lai chết ! Mà phải hiểu là NHƯ LAI THƯỜNG TRỤ. Phải hiểu rằng PHÁP và TĂNG cũng TRƯỜNG TRỤ.
Học như vậy gọi là học về DANH TỰ CHƯƠNG CÚ của kinh Đại Bát Niết Bàn.
Hiểu như vậy mới gọi là hiểu DANH TỰ CHƯƠNG CÚ của kinh Đại Bát Niết Bàn
Và như vậy mới  đúng nghĩa là người "THỌ TRÌ DANH TỰ CHƯƠNG CÚ" kinh Đại Bát Niết Bàn.
Như Lai dạy: Người tu học  được như vậy là người có  được pháp môn tu chân chính, sẽ đạt được thành quả giải thoát, thường ở trong Niết bàn, buông bỏ thân mạng trong ĐẠI BÁT NIẾT BÀN. Hạng người như vậy, Như Lai dạy: Đó là hạng người được VÔ LƯỢNG VÔ BIÊN CÔNG ĐỨC./.
 
/20
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »