Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Di Giáo Kinh [ Kinh Lời Dạy Cuối Cùng]

Di Giáo Kinh [ Kinh Lời Dạy Cuối Cùng]

Tác giả: Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến việt dịch và chú giải. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 51.
Kinh Di Giáo (tên đầy đủ là Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh, hay còn gọi là Kinh Di Giáo của Đức Phật) thuộc Kinh Tập Bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Đại Thừa). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh này nằm ở Tập 12, Kinh số 389.
Mặc dù được xếp vào hệ thống Hán tạng, nhưng về mặt nội dung, Kinh Di Giáo lại chứa đựng những lời răn dạy vô cùng thiết thực, mang tinh thần cốt lõi mang tính nền tảng tương đồng với Phật giáo nguyên thủy.

Vị trí và Ý nghĩa cốt lõi của bộ kinh

• Lời di huấn tối hậu: Đúng như tên gọi "Di Giáo" (Lời dạy để lại), đây là bài kinh tóm tắt những lời giáo huấn, căn dặn cuối cùng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dành cho các hàng đệ tử (tỳ-kheo) ngay trước khi Ngài nhập cõi Niết-bàn tại rừng Sa-la song thọ.
• Vị trí trong "Phật Tổ Tam Kinh": Kinh Di Giáo là tác phẩm thứ hai nằm trong bộ Phật Tổ Tam Kinh – bộ sách gối đầu giường và là môn học bắt buộc của các sa-di, tăng ni trẻ khi mới bước chân vào cửa đạo tại các tổ đình Đông Á và Việt Nam (bên cạnh Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Quy Sơn Cảnh Sách).
• Nội dung cốt tủy: Kinh nhấn mạnh việc lấy Giới luật làm thầy (Giới luật còn thì Chánh pháp còn). Đức Phật răn dạy hàng môn đồ phải nghiêm trì giới luật, chế ngự năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), từ bỏ ham muốn, siêng năng tinh tấn, thực hành thiền định và phát triển trí tuệ để đạt được giải thoát.
(Mẹo phân biệt: Bài kinh này tương đương với một phần nội dung lời dặn dò cuối cùng trong Kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc Trường Bộ Kinh của hệ Pali, nhưng được trích tuyển và biên soạn lại thành một bản kinh độc lập, ngắn gọn bằng chữ Hán do ngài Cưu-ma-la-thập dịch thuật).
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn trích dẫn và giảng giải về lời dạy "Lấy Giới luật làm thầy" trong kinh này không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu về tác phẩm còn lại trong bộ Phật Tổ Tam Kinh là Quy Sơn Cảnh Sách?

Chương 3: Phần Dịch Nghĩa: Sắc Chỉ Của Vua Đường Thái Tông (Trang 27 - 29)

Phần Dịch Nghĩa: Sắc Chỉ Của Vua Đường Thái Tông (Trang 27 - 29)
PHẦN DỊCH NGHĨA
____________
KINH
LỜI DẠY CUỐI CÙNG
('Đời Hậu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu-ma-ỉa-thập vâng chiếu dịch)
SẮC CHỈ CỦA VUA ĐƯỜNG THÁI TÔNG
VỀ VIỆC THỰC HÀNH
KINH LỜI DẠY CUỐI CÙNG
Đức Như Lai xưa trước khi diệt độ, biết rằng về đời mạt pháp con người rồi sẽ khinh bạc quá độ, nên phó chúc cho hàng quốc vương, đại thần hộ trì Phật pháp. Dù vậy, hàng tăng ni xuất gia tự phải nên đầy đủ giới hạnh. Nếu lại buông thả tình ý vào đường dâm dật, vướng vít phiền não, qua lại chốn thế gian, làm trái với kinh luật, tức là đánh mất ý chỉ huyền diệu của Như Lai, lại phụ nghĩa hàng quốc vương nhận lời phó chúc.

Kinh Di giáo này do Phât thuyết giảng lúc sắp nhâp Niết-bàn, khuyên nhủ hàng đê tử, lời lẽ rất rõ ràng, thiết yếu. Thế" mà những kẻ xuất gia và tại gia đời mạt pháp đều chẳng tôn trọng làm theo. Đại đạo vì thế" sắp phải ẩn khuất, lời vi diêu ắt phải tuyêt dứt đi!
Trẫm hằng nhớ tưởng Thánh giáo,[1] muốn rông truyền ra, nên sắc cho quan thuộc sai mười người hay chữ, sao chép kinh này ra nhiều bản, là nhắm đến viêc phải làm theo kinh. Những thứ cần dùng như giấy, bút, mực... quan hữu tư phải lo cung cấp.
Hết thảy quan viên từ ngũ phẩm trở lên, cùng thứ sử các châu, mỗi người được trao cho môt quyển. Nếu ai thấy đức hạnh, viêc làm của hàng tăng ni mà không phù hợp theo kinh này, thì nên lấy cả phép công lẫn tình riêng mà khuyên nhủ, khiến cho phải làm theo.
 

[1]Thánh giáo: Chỉ kinh điển của Phật thuyết. Vì lời dạy của Phật được xem như lời bậc Thánh, nên gọi là Thánh giáo.
 
  1. TỰA KINH
Đức Phật Thích-ca Mâu-ni,[1] lúc mới Chuyển pháp luân đô ông A-nhã Kiều-trần- như, đến khi thuyết pháp lần cuối cùng đô ông Tu-bạt-đà-la.[2] Khi những người đáng đô đã đô hết rồi, ở giữa hai cây Sa-la[3] ngài sắp nhập Niết-bàn. Bấy giờ là nửa đêm, khắp nơi yên lặng không môt âm thanh gì, Phật vì hàng đệ tử mà lược thuyết những chỗ cốt yếu trong giáo pháp.[4]
 

[1] Phật Thích-ca Mâu-ni (Sãkyamuni Buddha): Phật, hay Phật-đà (Buddha), Hán dịch là Giác giả, vì ngài có đủ ba đức của tánh giác: 1. Tự giác (Tự mình giác ngộ), 2. Giác tha (Giác ngộ cho kẻ khác), 3. Giác hạnh viên mãn (Chỗ giác ngộ và chỗ thực hành đều trọn vẹn). Thích-ca Mâu-ni (Sãkyamuni), Hán dịch là Năng Nhân, nghĩa là có đủ năng lực và lòng nhân từ. Ngài đản sanh năm 564 trước Dương lịch, nhập Niết-bàn năm 479 trước Dương lịch.
[2]Tu-bạt-đà-la, Hán dịch là Thiện Hiền. Trong hàng đệ tử xuất gia của Phật, Ông Kiều-trần-như là người đầu tiên đắc quả A-la-hán, Ông Tu-bạt-đà-la là người sau cùng đắc quả A-la-hán. Khi Phật sắp vào Niết-bàn, vị tu sĩ ngoại đạo Tu-bạt-đà-la được 120 tuổi đến cầu nghe Pháp. Nghe xong, thọ giới xuất gia làm tỳ-kheo và liền đó đắc quả A-la-hán.
[3]Sa-la (Sãla), tên một loại cây lớn mọc thành rừng, hoa rất thơm, đẹp, Hán dịch là Kiên cố. Trong rừng sa-la gần thành Câu-thi-na, có hai cây mọc song song (Sa-la song thọ). Phật chọn nơi ấy làm chỗ nhập Niết bàn.
[4]Tuy Phật đã thuyết rất nhiều bộ kinh trong suốt thời gian trụ thế, nhưng trước lúc nhập Niết-bàn, ngài vì lòng từ mẫn nên lược nói những chỗ cốt yếu nhất để dặn dò hàng đệ tử. Người đệ tử Phật ít nhất cũng phải ghi nhớ và làm theo những chỗ cốt yếu này vậy.
 
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »