Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 117, Bộ Kinh Sớ III, Số 1710- 1716

Đại Tập 117, Bộ Kinh Sớ III, Số 1710- 1716

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 633.

Chương 33: Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký, Quyển 8, Phẩm Thứ Hai Mươi Hai: Dược Vương Bổn Sự (Trang 523 - 526)

                 PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI“DƯỢC VƯƠNG BỔN SỰ”

Do phẩm này nêu lên Dược Vương Bồ-tát xưa kia tu khổ hạnh để lưu thông kinh cho nên mới lấy đó làm đề mục của phẩm. Từ đây trở xuống có năm phẩm là đoạn thứ ba: chỉ cho mọi người qui tắc lưu thông kinh. Nhưng trong phần nêu ra nhân ở trên có nói đến qui tắc ấy và nay trong đoạn này lại nêu lên. Trước có nói “vào nhà Như Lai v.v…” là nói rõ dùng pháp làm quy tắc lưu thông. Trong phẩm này chính dùng Dược Vương v.v… tức là người làm quy tắc lưu thông kinh. Nay trong năm phẩm lại phân làm ba đoạn:
1.Có ba phẩm: Dược Vương, Diệu Âm, Quán Âm chính là chỉ ra quy tắc lưu thông kinh.
2.Phẩm “Đà La Ni” là nêu ra sự khuyên bảo đại chúng. Nếu có người thối mất nên vì nói thần chú để hộ trì nguời lưu thông kinh này. Do vậy không thể không hoằng truyền kinh.
3.Phẩm “Diệu Trang nghiêm Bổn Sự” là hiển bày sự lưu thông kinh có lợi ích: chuyển tà kiến của người cha trở về với chánh kiến.
Nay căn cứ trong đoạn thứ nhất tự có hai đoạn nữa: 1.Phẩm Dược Vương này trước hết nêu ra sự khổ hạnh khi lưu thong kinh làm quy tắc; 2.Hai phẩm Diệu Âm và Quán Âm nêu lên sắc thân hiện khắp để hoằng truyền kinh điển làm lợi ích cho chúng sanh. Nếu nói Dược Vương hành khổ hạnh thì hai vị Bồ-tát sau cũng vậy, nếu nói hai vị sau với sắc thân hiện khắp để hoằng truyền kinh làm lợi ích cho chúng sanh, thì Dược Vương cũng như vậy. Do đó trước và sau đều hổ tương ảnh hưởng lẫn nhau cùng rõ nghĩa. Tuy nhiên, Dược Vương là vị Bồ-tát của nước này còn  Diệu Âm và Quán Âm là hai vị đại sĩ của nước khác. Diệu Âm là Bồ-tát ở phương Đông, Quán Âm là Bồ-tát ở phương Tây. Tuy phương Đông và phương Tây có khác nhau nhưng đều tập hợp lại một chỗ. Điều này muốn nói lên lý đồng quy để chứng minh rằng “lời nói không hai”.
Nay xét trong phẩm này đại khái được chia làm bốn đoạn: 1.Tú Vương Hoa nêu ra câu hỏi; 2.Phật trả lời; 3.Kinh gia trình bày khi thuyết phẩm này được lợi ích; 4.Nêu ra đức Đa Bảo khen ngợi Tú Vương Hoa có thể nêu ra câu hỏi trong đại chúng lúc bấy giờ. Trong đây có ba phần: 1.Hỏi Dược Vương về sự khổ hạnh khó làm; 2.“Hay thay Thế Tôn, nguyện giải nói một ít” gồm có một câu nêu ra sự thỉnh giảng; 3. Các hàng trời, rồng, thần” trở xuống là nêu ra đồ chúng đến nghe pháp.
“Lúc đó, Phật bảo” trở xuống là đoạn thứ hai trong phẩm: Phật trả lời. Nay xét trong đoạn trả lời này có sáu đoạn: 1. Trước hết nêu ra nguồn gốc của sự việc; 2. “Bấy giờ, đức Phật đó” trở xuống là nêu lên Phật ở quá khứ vì Bồ-tát này mà nói kinh Pháp Hoa; 3.“Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống chính là nêu ra sự việc xưa kia tu khổ hạnh mà lưu thông kinh này; 4. “Phật bảo Tú Vương Hoa” trở xuống là nêu ra sự thông hiểu cả xưa và nay; 5.“Tú VươngHoa! nếu người phát tâm” trở xuống là khuyến khích người lưu thông kinh; 6. “Tú Vương Hoa! Thí như” trở xuống là rộng khen ngợi kinh tức nói rõ sự lưu thông.
Từ “Bấy giờ Phật bảo Tú Vương Hoa” trở xuống có mười một hàng là đoạn  thứ nhất nêu ra nguồn gốc của sự việc. “Bấy giờ, đức Phật đó” trở xuống là đoạn thứ hai: Nêu ra đức Phật xưa kia vì Bồ-tát này mà nói kinh Pháp Hoa. “Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát đó” trở xuống là đoạn thứ ba nêu ra sự việc xưa kia. Nay xét trong đoạn này tự có bốn đoạn nữa: 1.“Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ-tát đó” trở xuống là nêu ra việc nghe kinh mà tu hành; 2. Từ “mãn một muôn hai nghìn năm đã được” hiện nhứt thiết sắc thân Tam muội” trở xuống là nêu ra sự chứng đạt quả hiện tại; 3. “Liền nghĩ rằng” trở xuống là nêu ra sự biết ơn để nhớ nghĩ báo đáp ơn; 4. “Tức thời nhập Tam muội đó” trở xuống là cúng dường báo ơn. Lại xét trong đoạn thứ tư này cũng có hai phần: 1. Nêu ra hiện thân cúng dường; 2. Thân sau cúng dường. Trong việc hiện thân để cúng dường cũng được phân làm hai: 1.“Tức thời nhập Tam muội đó” trở xuống, trước hết nêu ra sự cúng dường tài vật; 2. “Từ Tam muội dậy mà tự nghĩ rằng” trở xuống chính là nêu lên việc đốt thân để cúng dường tự có năm phần:  1.Trước hết nêu sự nhớ nghĩ muốn đốt thân; 2. “Liền uống các chất thơm” trở xuống là nêu ra sự uống các chất hương thơm; 3.Từ “mãn một nghìn hai trăm năm” trở xuống chính là nói lên việc đốt thân; 4. “Các đức Phật trong đó” trở xuống là nêu ra sự khen ngợi của chư Phật; 5. “Thân của Bồ-tát, lửa cháy” trở xuống là nêu ra thời gian trải qua. Từ “ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống là đoạn thứ hai nói than sau cúng dường. Trong đoạn này tự có hai phần: 1. Trước hết nêu ra duyên khởi cúng dường; 2.Từ “Bấy giờ, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến “trở xuống là nêu ra việc hành khổ hạnh để lưu thông kinh. Nay xét theo nghĩa ra duyên khởi tự có chín phần: 1.Trước hết nêu ra việc hiện sanh vào nhà của vua; 2.“Liền vì vua cha” trở xuống tức nêu ra sự việc vì vua mà nói lên nhân duyên xưa kia; 3. “Đại Vương, tôi nay nên trở
 lại cúng dường đức Phật đó” trở xuống là nêu ra sự việc với vua: Mình muốn cúng dường cho đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật; 4. “Thưa xong” trở xuống là nêu ra sự việc bay lên giữa hư không mà đi; 5.“Qua đến chỗ Phật” trở xuống là nêu ra việv đến chỗ Phật để cung thỉnh; 6. “Lúc đó, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống là nêu ra việc bạch Phật “Đức Thế tôn vẫn còn ở đời ư?. “Tuy nhiên nay không căn cứ vào đây để hiểu mà chỉ là mừng nói “con vẫn còn nên Thế Tôn vẫn còn ở đời”; 7. Nêu ra lời đáp của đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật: giờ ta nhập Niết-bàn đã đến; 8. Từ “lại bảo” trở xuống là nêu ra đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức đem pháp giao phó cho Bồ-tát này; 9.“Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức bảo như thế” trở xuống là nêu ra đức Phật đó đã nhập Niết-bàn. Như vậy đến đây là đã trình bày xong phần duyên khởi.
 “Bấy giờ, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống là phần thứ hai nêu ra thân sau hành khổ hạnh lưu thông kinh. Trong phần này tự có bốn đoạn: 1.Trước hết nêu ra sự việc thấy Phật diệt độ mà sanh tâm luyến mộ; 2.“Liền dùng hải thử ngạn, chiên đàn” trở xuống là nêu lên việc đốt thân để cúng dường; 3. “Sau khi lửa tắt” trở xuống là nêu lên sự cúng dường xá lợi;  4.“Bấy giờ ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống là nêu ra việc xả bỏ cánh tay để cúng dường. Xét trong đoạn thứ tư này tự có bảy phần: 1.Từ đây trở xuống “bảo với đại chúng muốn đốt cánh tay”; 2.“Nói xong” trở xuống chính là nêu ra sự việc đốt cánh tay; 3. “Khiến vô số chúng cầu Thanh-văn” trở xuống là nêu ra đại chúng lúc ấy được nhiều lợi ích; 4.“Lúc đó các Bồ-tát” trở xuống là nêu ra sự sầu khổ buồn thương của đại chúng lúc bấy giờ; “Lúc ấy, ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến” trở xuống là nêu ra việc phát lời thệ nguyện; 6. “Nói lời thệ nguyện” trở xuống là nêu ra sự việc cánh tay hoàn lại như cũ; 7.“Đương lúc đó” trở xuống là nêu ra tướng cảm động.
“Đức Phật bảo Tú Vương Hoa: ý ông nghĩ sao” trở xuống là đoạn thứ tư nói lên sự hiểu biết thông suốt cả xưa, nay. “Tú Vương Hoa, nếu có người phát tâm” trở xuống là đoạn thứ năm khuyên người hành khổ hạnh để lưu thông kinh. “Tú Vương Hoa! Thí như trong các dòng nước: sông ngòi” trở xuống là đoạn thứ sáu: rộng khen ngợi kinh tức chính là nêu ra sự lưu thông. Căn cứ trong đoạn này lại có hai đoạn nữa: 1. Khen ngợi kinh; 2.“Cho nên Tú Vương Hoa” trở xuống là nêu ra sự lưu thông. Trong hai đoạn này mỗi đoạn có hai phần. Trong đoạn khen ngợi kinh có hai phần tức là ban đầu tổng khen ngợi một bộ kinh này và kế
 đó nói “Tú Vương Hoa nếu có người nghe” trở xuống là riêng biệt khen ngợi. Hai phần này, mỗi phần gồm có ba nghĩa quan trọng. Phần khen tổng có ba nghĩa: 1.“Thí như trong các dòng nước” trở xuống có mười thí dụ nêu ra để khen ngợi; 2. “Tú Vương Hoa, kinh này có thể cứu tất cả chúng sanh “trở xuống là nêu ra “đương thể” để khen ngợi; 3.“Nếu người đặng nghe kinh Pháp Hoa này” trở xuống là nêu ra công dụng để khen ngợi. “Tú Vương Hoa” nếu có người nghe phẩm Dược Vương Bổn Sư này” trở xuống là phần thứ hai: riêng biệt khen ngợi. Trong phần này cũng có ba nghĩa: 1. Từ đây trở xuống là nêu ra trong đời hiện tại được khen ngợi; 2.“Sau khi Như Lai diệt độ” trở xuống là nêu ra đời vị lai đuợc khen ngợi; 3.“Tú Vương Hoa, vị Bồ-tát đó thành tựu công đức trí tuệ như vậy” trở xuống là tổng kết sự khen ngợi.
Trong việc nêu ra sư lưu thông kinh cũng có hai phần: 1.“Cho nên Tú Vương Hoa” trở xuống là đem một phẩm này nêu ra sự phó chúc lưu thông kinh; 2. “Tú Vương Hoa, ông phải dùng sức thần thông” trở xuống là đem bộ kinh này phó chúc tức nêu ra sự lưu thông, trong đó tức có chánh văn và có sự giải thích.
“Lúc đức Phật nói phẩm Dược Vương Bổn Sư này” trở xuống là đoạn thứ ba trong phẩm tức là kinh gia trình bày sự lợi ích của chúng khi nghe phẩm này. “Đức Đa Bảo Như Lai” trở xuống là đoạn thứ tư nêu ra đức Phật Đa Bảo khen ngợi Tú Vương Hoa có khả năng nêu ra câu hỏi đó.
/43
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »