Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 140, Bộ Kinh Sớ XXVI, Số 1788- 1794(Quyển 4- 6)

Đại Tập 140, Bộ Kinh Sớ XXVI, Số 1788- 1794(Quyển 4- 6)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 951.

Chương 5: Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ - Quyển 5 (Phần 3) (Trang 172 - 208)

KIM QUANG MINH TỐI THẮNG VƯƠNG KINH SỚ
 
QUYỂN 5
(Phần 3)
 
Phẩm 13: VÔ NHIỄM TRƯỚC ĐÀ-LA-NI
 
Phẩm Vô Nhiễm Trước Đà-la-ni chia ra làm ba phần:
1. Lý do có phẩm này.
2. Giải thích.
3. Giải thích vặn hỏi.
- Nói về lý do có phẩm này: phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên về sau gồm mười sáu phẩm, đầu tiên nói về học hạnh lưu thông, có năm:
1) Phẩm Quán Sát khuyết khích tu hành.
2) Phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc trở xuống ba phẩm dưới là nói về sự thủ hộ.
3) Phẩm Đại Biện Tài trở xuống năm phẩm dưới là nói về làm tăng phước trí của hành nhân mở mang kinh.
4) Phẩm Vương Pháp Chánh Luận trở xuống ba phẩm dưới nói về chính thức trì học.
5) Bốn phẩm như Thọ Ký v.v... là thành tựu các ý khuyến khích tu học thủ hộ ở trước.
Ngay trong ba phẩm như Tứ Thiên Vương Hộ Quốc v.v... nói về sự thủ hộ, có ba:
1. Dạy phải thủ hộ cúng dường.
2. Dạy cho lìa nhiễm trước, không lui sụt.
3. Giúp cho lìa chướng, như ý.
Trước đã nói về sự thủ hộ cúng dường, ở đây nói về khiến lìa nhiễm trước, không lui sụt, nếu có nhiễm trước tức là có lui sụt, bởi do chấp đắm. Như trong luận Bát-nhã của Bồ-tát Vô Trước giải thích về
lìa bất nhẫn khổ chướng rằng: “Không trụ vào tất cả các pháp, phát tâm A-nậu Bồ-đề... là đối trị các khổ như khổ lưu chuyển bất nhẫn, khổ chúng sinh trái nhau, khổ thọ dụng thiếu thốn...”. Nay ở đây cũng vậy, cho nên văn sau nói: “Nếu các Bồ-tát luôn luôn an trụ thì đối với vô thượng Bồ-đề không còn lui sụt, thành tựu chánh nguyện, được vô sở ý, tự tánh biện tài, được việc ít có.” Vì an trụ chánh đạo cho nên nói thần chú này hộ trì khiến cho lìa nhiễm trước, không lui sụt tu hành, do đó có phần này phát sinh.
- Giải thích tên gọi: tiếng Phạn gọi Tỷ-đông-lê-sa, Hán dịch là Vô nhiễm trước, xưa dịch Ngân chủ là sai. Pháp sở hoằng từ pháp giới bình đẳng tối thanh tịnh mà lưu xuất ra, lại nhờ năng lực thần chú có thể khiến lìa nhiễm không hề trú trước, nên gọi là Vô nhiễm trước. Đà- la-ni, nghĩa như bình thường đã giải thích rõ.
- Giải trừ vấn nạn:
Hỏi: Tổng trì có bốn, Vô nhiễm trước này thuộc Đà-la-ni nào?
Đáp:  Đà-la-ni  này  có  công  năng  giúp  cho  Bồ-tát  đạt  được  Vô sinh nhẫn Đà-la-ni, Du-già quyển bốn mươi lăm chép: “Vì sao Bồ-tát có thể đạt được Bồ-tát nhẫn Đà-la-ni? Nghĩa là các Bồ-tát thành tựu tự thể kiên cố nhẫn thực hành đầy đủ diệu trí”, cho đến nói “Không từ người khác nghe mà tự mình chân chánh thông suốt nghĩa lý của tất cả các pháp. Nghĩa là đối với nghĩa lý này thông suốt đúng như vậy, tất cả ngôn từ nói năng về nghĩa của tự tánh các pháp đã nói đều không thành thật, chỉ có các pháp lìa ngôn ngữ tự tánh v.v...” Kinh này đã nói “Đà- la-ni chẳng phải là nơi chốn phương xứ”cho đến nói: “Không có pháp sinh ra, cũng không có pháp diệt đi... cho nên biết như vậy.” Hoặc là thần chú tổng trì, trong Bồ-tát Địa nói: “Thế nào là Bồ-tát chú Đà-la-ni? Nghĩa là các Bồ-tát được các tổng trì tự tại như vậy, gia bị, thường trừ diệt tai họa cho hữu tình, là các chương cú thần chú, khiến cho chương cú đó thảy đều thần nghiệm, thường trừ diệt các thứ tai họa chẳng phải chỉ một.” Kinh này lại nói: “Thân cũng không bị dao gậy thuốc độc, lửa nước, thú dữ làm cho tổn hại, cho nên thuộc về thần chú.” Hoặc có thể, bao gồm cả hai, văn không phân biệt.
Hỏi: Theo Du-già nói: “Bốn thứ tổng trì, thể không phải đều là niệm tuệ, thần chú tổng trì tức là nói định này, đạt được nhẫn tổng trì nói là diệu tuệ”, vì sao như thế?
Đáp: Vì thể tánh khác nhau, có thứ y nhân xuất thể, tức nói là định, có thứ nương vào khả năng lựa chọn mà nêu ra thể, tức nói là trí, có thứ nương theo ký ức mà đưa ra thể, tức nói là niệm, có loại y quả
xuất thể, tức theo pháp sở trì gọi là tổng trì, mỗi thứ căn cứ theo một nghĩa hoàn toàn không trái nhau, do đó luận Trí độ giải thích về tổng trì rằng: “Vì thiền định đạt được lửa trí tuệ”, lại nói: “Trí tuệ ở trong tâm Bồ-tát gọi là Bát-nhã, trong tâm hàng Tiểu thừa gọi là đạo phẩm, trong tâm người không quên gọi là Đà-la-ni.” Vì thế biết Du-già chép: “Chú tổng trì nói là định, đạt được nhẫn tổng trì gọi là tuệ, đều tùy theo nghĩa mà nói.” Lại nói là định, đạt được nhẫn tổng trì gọi là tuệ, đều tùy theo nghĩa mà nói. Lại trong trì chú nói: “Đạt được các tổng trì tự tại như vậy, khiến cho thần chú thần nghiệm v.v... đều là nói theo nhân, chẳng phải là hạn định nơi thể.” Do vậy, luận Đại Trang Nghiêm chép: “Đắc có ba loại: Báo đắc, Tập đắc, do năng lực văn trì hiện tại mà được, Tu đắc, do nương vào định lực mà được, do đây nên biết rõ.” Nói rằng “Đạt được các tổng trì tự tại như vậy gia bị nên thần chú thảy đều thần nghiệm” là do đạt được định cho nên phát khởi niệm tuệ thù thắng thường trì các thần chú, là dựa vào nhân đưa ra thể. Đạt được nhẫn tổng trì, nhẫn là quả, chú là nhân của nhẫn, nhở năng lực của niệm tuệ đạt được nhẫn chú này, gọi là thường đạt được vô sinh nhẫn Đà-la-ni của Bồ-tát. Chú sở trì và thể năng trì đều lấy niệm tuệ làm thể, hoặc chỉ có năng trì lấy niệm tuệ làm thể, chẳng phải chú sở trì, như dùng tổng trì mà trì văn nghĩa, văn nghĩa sở trì chẳng phải là niệm tuệ. Hoặc chú là nhân, do năng lực của chú này có thể đạt được bốn thứ tổng trì, trì bốn pháp đó không để quên mất. Lại nữa, Du-già chép: “Đạt được nhẫn tổng trì là diệu tuệ là cũng theo nhân mà nói rằng: Các Bồ-tát thành tựu tự thể vững chắc, nhẫn thực hành đầy đủ diệu tuệ, một mình ở chỗ nhàn rỗi, vắng lặng không nói năng”, cho đến nói: “Đối với những điều Phật đã nói đạt được Bồ-tát nhẫn, chương cú các thần chú có thể tư duy kỹ càng, cú nghĩa như vậy không từ người khác mà nghe, tự tại thông suốt, hiểu biết chương cú các thần chú như vậy đều không có các nghĩa”. Nói thành tựu vững chắc nhẫn hành, hành là nhân, nhân tức là diệu tuệ, đạt được diệu tuệ cho nên một mình ở chỗ nhàn rỗi vắng lặng không nói năng..., là nơi chốn tu hành và nghi thức tu hành. Đối với những điều Phật đã nói đạt được Bồ-tát nhẫn, chương cú các thần chú v.v... là pháp sở học đạt được nhân nhẫn. Thường tư duy là thường tu hành, tức là nhân. Vì vậy luận Đại Trang Nghiêm chép: “Do hiện tại nghe cố gắng trì mà đạt được, cho nên biết rằng tên gọi Đà-la-ni chẳng riêng đối với tổng trì niệm tuệ.” Nhân của tổng trì niệm tuệ và pháp sở trì cũng đều gọi là Tổng trì, định và chú đều gọi là Tổng trì. Lại nữa, nghĩa của pháp sở trì là chung, thần chú và nhẫn là riêng, vì vậy thần chú và đạt được
nhẫn chú cũng đều có nghĩa của pháp.
Hỏi: Nếu nói định tuệ là nhân của tổng trì, vì sao trong Bồ-tát Địa nói: “Nếu các Bồ-tát đầy đủ bốn công đức mới được tổng trì, không được thiếu bất cứ một công đức nào?”
Đáp: Nhân có xa gần, định tuệ là nhân gần; bốn nhân kia là:
1. Đối với dục lạc không tham.
2. Người khác hơn mình không ganh tỵ.
3. Mọi sự giúp đỡ không hối tiếc.
4. Đối với chánh pháp sâu xa sinh tâm vui mừng. Đây là bốn nhân xa.
Hỏi: Bốn tổng trì này ở địa vị nào mới đạt được?
Đáp: Theo Du-già chép: “Đạt được nhẫn này cho nên các Bồ-tát này không bao lâu sẽ đạt được tịnh thắng ý lạc địa Bồ-tát pháp Đà-la- ni nghĩa Đà-la-ni. Nếu vượt qua vô số đại kiếp lần thứ nhất rồi đi vào tịnh thắng ý lạc địa sở đắc quyết định, từ đó về sau tuy đắc mà không quyết định, như nghĩa nói pháp, chú Đà-la-ni nên biết rằng cũng giống như vậy.” Theo đây tức là đạt được nhẫn tổng trì ở Địa tiền, còn lại đi vào Địa mới đạt được, đó là nói theo thực tế, còn nếu dựa vào hơn kém đủ thiếu thì địa vị đạt được không nhất định như vậy. Như các kinh Giải Thâm Mật nói thì ở Địa thứ ba đạt được văn trì Đà-la-ni, cũng nói ở Địa thứ chín đạt được bốn Đà-la-ni. Nếu dựa theo lý sở chứng thì đạt được đều ở Sơ địa y, y theo sự tu tập đạt được thì cùng chung cho cả Địa tiền, y theo sự nhậm vận đều đạt được Bát địa trở lên. Ở đây Du-già nói Địa tiền đạt được nhẫn, còn lại đi vào Địa mới đạt được, ảnh hiện rõ ràng với nhau như vậy.
Văn kinh: Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo Cụ Thọ Xá-lợi-tử rằng: Nay có pháp môn tên là Vô nhiễm trước Đà-la-ni, là pháp tu hành của các Bồ-tát, là sự thọ trì của Bồ-tát quá khứ, là mẹ của Bồ-tát. Nói lời này xong.
Tán rằng: Toàn văn chia làm sáu:
1. Đức Phật nêu danh tông.
2. Hỏi đáp về danh thể.
3. Thỉnh Đức Phật giảng nói.
4. Khen ngợi giảng nói.
5. Hiển bày sự tốt đẹp, khuyến khích tu hành.
6. Nghe chỉ dạy vui mừng tu học.
- Đây tức là phần đầu, có bảy:
1. Nói về giáo chủ.
2. Các cơ nghi hòa hợp.
3. Nêu tên thần chú.
4. Chỉ bày nên tu học.
5. Nêu ra đã từng khuyến khích.
6. Nói về ý tu học, bởi vì là mẹ của Bồ-tát, vì các Bồ-tát quá khứ thảy đều đã tu hành, Bồ-tát hiện tại nên tu hành.
7. Kết thúc nêu ra ở trước, đoạn văn có thể biết.
Văn kinh: Cụ Thọ Xá-lợi-tử bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Đà-la-ni là cú nghĩa gì? Bạch Đức Thế Tôn! Đà-la-ni chẳng phải phương xứ hay chẳng phải chẳng phương xứ? Thưa lời này xong.
Tiếp theo hỏi đáp về danh thể, đầu là hỏi, sau là đáp. Trong phần hỏi có hai:
1. Hỏi danh nghĩa là cú nghĩa gì, là ý nói vì sao gọi là Vô trước v.v... Lại vì nghĩa gì, cú là tên gọi của năng thuyên, chẳng phải là tên gọi trong danh cú? Về sau là hỏi về thể, vì thể của các pháp tức là chân như, chẳng phải có chẳng phải không, đều không thể nói năng giảng giải, làm sao có thể nói Đà-la-ni này? Chẳng phải phương xứ là lìa có, chẳng phải chẳng phương xứ là lìa không. Theo như ở dưới Đức Phật trả lời có bảy câu, ở đây lược nêu ra câu đầu để hỏi, bởi vì phản ánh những câu còn lại. Hoặc Xá-lợi-tử là phần ngộ còn Đức Thế Tôn là cụ ngộ, cho nên nói có bao nhiêu.
Văn kinh: Đức Phật bảo Xá-lợi-tử: Lành thay! Lành thay! Xá-lợi -tử, ông đã có thể phát khởi hướng về tin hiểu Đại thừa, tôn trọng Đại thừa.
Tiếp theo là đáp, có hai: Đầu tiên là khen ngợi, sau là đáp.
Đây  là  khen  ngợi,  có  hai:  Nói  lành  thay  là  khen  ngợi  câu  hỏi: “Ông đối với Đại thừa...” về sau là khen ngợi đức, có ba: Đầu tiên khen ngợi xả bỏ Tiểu thừa, vì đã có thể phát khởi hướng về, tiếp là khen ngợi hiểu được Đại thừa, vì tin hiểu Đại thừa, nhờ tin mà được hiểu, chẳng phải trí chứng nhập. Vì vậy kinh Pháp Hoa chép: “Xá-lợi-phất, đối với kinh này ông còn nhờ lòng tín mà được ngộ nhập, huống là các Thanh văn khác.” Hướng về Đại thừa sau đó trải qua hai muôn kiếp mới bắt đầu đến thập tín sơ tâm, do đó kinh Niết-bàn chép: “Hàng A-la-hán qua hai muôn kiếp mới đến.” Nói đến tức là đến tâm A-nậu, bởi vì chưa chứng ngộ, nếu theo Địa thứ bảy thì vượt qua chủng tánh địa, đạt đến thắng giải hạnh địa, nếu theo vị thứ năm thì chưa trụ tư lương vị, chỉ ở thiện pháp dục, do đó thập tín mới đạt được ở tư lương, sau là khen ngợi vững chắc, bởi vì tôn trọng Đại thừa.
Văn kinh: Như lời ông nói, Đà-la-ni chẳng phải phương xứ, chẳng phải chẳng phương xứ chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải sự, chẳng phải phi sự, chẳng phải duyên, chẳng phải phi duyên, chẳng phải hành, chẳng phải phi hành. Không có pháp nào sinh, cũng không có pháp nào diệt.
Tiếp theo là trả lời có hai: Đầu tiên là trả lời về thể, “tức là công đức các Đức Phật...” trở xuống là trả lời về danh nghĩa. Trong phần đầu có hai: Trước tiên nói về sự thành tựu, sau từ “Nhưng vì...” trở xuống là trả lời lý do. đầu tiên là kể rõ sự thành tựu. Chẳng phải phương xứ v.v... như trước đã giải thích. Thứ hai là chẳng phải pháp v.v... là lìa giải thích chẳng giải thích, chẳng phải pháp, chẳng phải sở thuyên, chẳng phải phi pháp, chẳng phải không lìa pháp chẳng giải thích, cho nên trí chứng. Thứ ba là lìa ba đời, vì là thường, chẳng phải ba đời thì nên có chẳng phải phi quá khứ... chẳng phải lìa pháp thế gian, vì mô phỏng giản lược, câu thứ bảy trong kinh cũng đồng với cách giải thích này. Thứ tư là sự lý đối, là lý chẳng phải sự. lại nói chẳng phải chẳng là sự là vì không lìa sự pháp. thứ năm là hữu vi vô vi đối, chẳng phải hữu vi duyên sinh, chẳng phải chẳng là hữu vi, bởi vì hiểu rõ nhân hiện bày; hoặc vì không lìa pháp duyên sinh. Thứ sáu là thường vô thường đối, hành là dời đổi, chân như chẳng phải hành, chẳng phải chẳng hành, đồng với giải thích ở trước. Thứ bảy là tướng phi tướng đối, vì lý chân như lìa mười tướng như sinh diệt v.v... thể các pháp sau khi sinh ra không gọi là diệt, như đã không sinh nên không có pháp diệt. Nêu ví dụ này để lệ cho những thứ khác, thứ bảy là lìa tướng sinh diệt, đây là giải thích theo quy viên thành thật trong ba tánh, vì là nơi quy thú của tất cả các pháp. Nếu dựa theo biến kế và thắng nghĩa thì bảy câu thắng nghĩa tóm lại là che lấp. Nếu dựa theo hai đế mà so sánh thì đều chung cho che lấp và biểu lộ. Như đầu tiên chẳng phải phương xứ, căn cứ theo thắng nghĩa che lấp phương xứ, biểu lộ chẳng phải phương xứ, chẳng phải chẳng phương xứ. Dựa vào pháp sở trì trong tục đế thì bởi thể tổng trì là nương vào âm thanh, cho nên tự tánh tổng trì là niệm tuệ, mà niệm tuệ chẳng phải phương xứ, vì nương vào phương xứ, những điều còn lại theo đó có thể biết. Nhưng căn cứ vào ý kinh dựa theo chân thắng nghĩa thì đường tâm tư, lời nói dứt bặt, tóm lại y cứ theo che lấp và biểu lộ không nương vào y tha và biến kế, hoặc cùng nương vào ba tánh, đều được, không có lỗi.
Văn kinh: Nhưng vì lợi ích cho các Bồ-tát nên nói lời như vậy, đối với công dụng chánh đạo lý thú và thế lực mà lập thành Đà-la-ni này.
Tiếp theo là trả lời về lý do. Nhưng căn cứ vào thắng nghĩa, chẳng phải phương xứ, chẳng phải chẳng phương xứ đều dứt mất lời lẽ tướng mạo; song nay vì lợi ích cho các Bồ-tát nên đối với phương tiện đạo lý nương vào tục đế mà nói lời như vậy. Nương vào đâu mà nói pháp? Đó là đối với Đà-la-ni này tức dựa vào thể các pháp đã nói, nương vào bốn thứ nghĩa mà an lập thi thiết, gọi đó là nói. Tiếp đó nói an lập là tên khác của thi thiết, nương vào bốn nghĩa này mà an lập. Nói bốn nghĩa ấy là:
1. Công dụng, tức là dựa vào công dụng của tổng trì có khả năng đạt được quả mà nói.
2. Chánh đạo, tức là thể của công dụng này, lìa hai bên chứng chánh lý nên gọi là Chánh đạo, tức là các Niệm tuệ.
3. Lý thú, tức là chân như và các nghĩa của pháp sở tri, các cảnh giới của niệm trí này gọi chung là lý thú.
4. Thế lực, tức là do nghĩa của pháp này thường niệm các tuệ, diệt ác sinh thiện, chứng lý đắc quả, nên gọi là thế lực, tức là uy lực của pháp, vì muốn nói về năng thuyên khế hợp với các pháp, hoặc chính là hai pháp Niệm tuệ của tổng trì, có thế lực thường nhiếp trì, sinh thiện diệt ác.
Văn kinh: Tức là sinh xứ của các Đức Phật, mật ý của các Đức Phật, sở học của các Đức Phật, cấm giới của các Đức Phật, công đức của các Đức Phật, nên gọi là pháp môn tối diệu Vô nhiễm trước Đà- la-ni.
Nói lời này xong.
Tiếp theo trả lời câu hỏi về cú nghĩa, đầu tiên là trả lời về nghĩa, tiếp từ “cho nên gọi là...” về sau là tức là về cú, cú trả lời tên gọi. Bốn nghĩa như công dụng v.v... ở trước là ở nơi Phật, tức đều gọi là công đức v.v... hoặc có thể làm nhân, nương vào đây có thể đạt được các pháp Bất cộng của Phật gọi là công đức, thường khiến cho lìa bỏ lỗi lầm gọi là cấm giới, làm thầy của Phật nên gọi là sở học, lý mầu pháp thân sâu xa khó suy lường nên gọi là mật ý, thành tựu Báo Phật, Hóa Phật nên gọi là sinh xứ. Từ giáo năng thuyên giải thích nghĩa này nên gọi là pháp môn Vô nhiễm trước v.v... hoặc ngay nơi niệm tuệ gọi là pháp môn, cùng với pháp sở trì làm môn, tức là cửa của pháp, hoặc nương vào tổng trì này có công năng phát sinh mọi công đức. Pháp nhiệm mầu tức là cửa của pháp nhiệm mầu, hoặc pháp mầu này chung cho cả năng xuất và sở xuất, tức là bao gồm cả hai y chủ thích và trì nghiệp thích.
Văn kinh: Xá-lợi-tử bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn!
Cúi mong Đức Thiện Thệ vì con nói về pháp Đà-la-ni này. Nếu các Bồ- tát có thể an trụ thì đối với Vô thượng Bồ-đề không còn lui sụt, thành tựu chánh nguyện, đạt được vô sở y, tự tánh biện tài, được những việc ít có, an trụ trong Thánh đạo, đều là do đạt được Đà-la-ni này.
Tiếp theo là thứ ba, thỉnh Đức Phật trình bày, có hai: Đầu tiên là thỉnh nói, tiếp từ “Nếu các Bồ-tát...” trở xuống là thứ hai, ý cầu thỉnh. Trong ý cầu thỉnh có hai:
1. Người năng học.
2. “Có thể an trụ ấy...” trở xuống là nói về tu giáo được ích lợi, có sáu:
a. Được  không  lui  sụt,  tùy  theo  bốn  thứ  không  lui  sụt  với  tín trụ....
b. Đạt được chánh nguyện, đó là mười nguyện lớn, trong luận Phát Bồ-đề Tâm chép:
“Một là nguyện: Thân con từ đời trước cho đến ngày nay vốn gieo trồng gốc lành, bố thí tất cả, thảy đều hồi hướng vô thượng Bồ- đề, khiến cho nguyện này của con niệm niệm thêm lớn, đời đời không quên, là sự thủ hộ của Đà-la-ni.
Hai là nguyện: Con hồi hướng đại Bồ-đề rồi, đem gốc lành này hễ sinh ra chỗ nào thường được cúng dường tất cả các Đức Phật, thường không sinh vào cõi nước không có Phật.
Ba  là  nguyện:  Con  được  sinh  vào  cõi  nước  các  Đức  Phật  rồi, thường được gần gũi theo hầu hạ hai bên, như bóng theo hình, không khoảnh khắc nào lìa xa các Đức Phật.
Bốn là nguyện: Con được gần gũi Đức Phật rồi, hễ con cầu gì thì Phật nói pháp cho con nghe, liền được thành tựu năm thông của Bồ- tát.
Năm là nguyện: Đạt được năm thông rồi liền thông hiểu rõ ràng thế gian, mượn tên gọi truyền bákhắp nơi, hiểu rõ nghĩa bậc nhất, đạt được trí tuệ chánh pháp.
Sáu là nguyện: Con đạt được trí tuệ chánh pháp rồi, với tâm không nhàm chán sinh nói pháp cho chúng sinh nghe, chỉ dạy lợi ích vui mừng đều khiến cho hiểu biết.
Bảy là nguyện: Con đã mở bày hiểu biết cho các chúng sinh rồi, nhờ thần lực Phật đến khắp các thế giới ở mười phương không sót nơi nào, cúng dường các Đức Phật nghe nhận chánh pháp, che chở tất cả chúng sinh.
Tám là nguyện: Đã nghe chánh pháp của chư Phật rồi, liền có thể
tùy đó chuyển pháp luân thanh tịnh, tất cả chúng sinh ở mười phương thế giới, người nghe pháp con người nghe danh con, liền dứt bỏ được tất cả phiền não, phát tâm Bồ-đề.
Chín là nguyện: Con làm cho tất cả chúng sinh phát tâm Bồ-đề, thường theo dìu dắt che chở, trừ diệt những điều không lợi ích, mang đến vô lượng niềm vui, xả bỏ thân mạng tài sản, che chở chúng sinh gánh vác chánh pháp.
Mười  là  nguyện:  Con  gánh  vác  được  chánh  pháp  rồi,  tuy  thực hành  chánh  pháp  nhưng  tâm  vô  sở  hành,  như  các  Bồ-tát  thực  hành chánh pháp mà vô sở hành cũng không điều gì không thực hành, vì hóa độ chúng sinh không xả bỏ chánh nguyện, đại ý giống với nguyện của Bồ-tát Địa.”
c. Đạt được vô sở y tức là Niết-bàn Vô trụ.
d. Tự tánh biện tài, tức là bốn vô ngại biện, không nhờ thầy mà ngộ nên gọi là tự tánh, hoặc không có nhân duyên mà vì lợi ích người khác phát khởi bốn biện tài này nên gọi là tự tánh.
e. Được việc ít có, theo Bồ-tát Địa bốn mươi sáu chép: “Bồ-tát tu tập Bồ-đề vô thượng có năm việc ít có:
- Đối với hữu tình chẳng có nhân duyên mà sinh thân ái.
- Chỉ vì lợi ích cho các hữu tình, thường ở nơi sinh tử chịu đựng vô lượng khổ đau.
- Đối với hữu tình nhiều phiền não khó hàng phục thì khéo léo có thể hiểu rõ phương tiện điều phục.
- Đối với nghĩa lý chân thật rất khó hiểu có khả năng đó ngộ nhập theo.
- Có  năng  lực  sức  oai  thần  rộng  lớn,  không  thể  suy  nghĩ  bàn luận.
f.  An trụ Thánh đạo, trụ ở địa vị hoan hỷ cùng cực, được trí nhị không, gọi là an trú Thánh đạo. Hoặc có thể là năm, đạt được vô sở y tự tánh biện tài hợp lại thành một, không do duyên khác nói là vô sở y, tánh thường lợi tha nói là tự tánh. Hoặc:
1. Đạt được trụ bất thối.
2. Ở Sơ địa đạt được chánh nguyện.
3. Ở địa thứ năm đạt được vô sai biệt đạo, nói là đắc vô sở y.
4. Ở địa thứ chín đạt được bốn tự tánh biện tài.
5. Ở địa thứ mười được sự việc ít có, như kinh Thập Địa chép: “Ở địa thứ mười có việc ít có, lúc Tam-muội hiện tiền có đại bảo hoa vương, vi nhiễu chung quanh như mười a-tăng-kỳ, tất cả các thứ báu xen
lẫn trang nghiêm, lúc này thân của Bồ-tát trang nghiêm tốt đẹp xứng hợp với các tòa hoa”.
6. Ở nơi Phật địa an trụ Thánh đạo, vì không tiếp tục cầu mong nên gọi là an trụ; đều do đạt được các Đà-la-ni này, đó là kết thúc.
Văn kinh: Đức Phật bảo Xá-lợi-tử: Lành thay! Lành thay! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói.
Tiếp theo thứ tư khen ngợi vì đó giảng nói, có ba: Đầu tiên là ngợi khen xác nhận; tiếp là lại ngợi khen; sau chính là giảng nói. Đây là phần đầu có thể biết.
Văn kinh: Nếu có Bồ-tát nào được Đà-la-ni này thì nên biết rằng người đó không khác Phật. Nếu có ai cúng dường tôn trọng, thờ phụng cung cấp cho vị Bồ-tát này thì nên biết rằng tức là cúng dường Đức Phật.
Tiếp theo lại ngợi khen, có ba: Đầu tiên là ngợi khen khả năng chứng đắc; tiếp theo từ “Nếu có ai cúng dường...” trở xuống là ngợi khen người cúng dường. Vì người chứng đắc như sở đắc của Phật, nên chắc chắn sẽ đạt được, bởi vì lý bình đẳng, nên chọn lấy văn sau “Vì nhân duyên ấy nên được quả vô thượng” để giải thích không khác với Phật và tức là cúng dường Phật.
Văn kinh: Xá-lợi-tử! Nếu có người khác nghe Đà-la-ni này mà thọ trì, đọc tụng, phát sinh tín giải thì cũng nên cung kính cúng dường như  thế,  không  khác  với  Phật,  vì  nhân  duyên  này  nên  được  quả  vô thượng.
Tiếp theo ngợi khen người có thể tu học và cúng dường. Văn giải thích y theo đó mà biết.
Văn kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói Đà-la-ni cho Xá-lợi-tử nghe rằng: “Đát điệt tha - san đà lạt nhĩ - ốt đa lạt nhĩ - tô tam bát la để sắt sỉ đá - tô na ma - tô bát lạt để sắt sỉ đá tỷ thệ dã bạt la - tát để dã bát lạt để thận nhã - tô a lô ha - thận nhã na mạt để - ốt ba đàn nhĩ - a phạt na mạt nhĩ - a tỳ sư đàn nhĩ - a bính tỳ da ha la - thâu bà phạt để - tô ni thất lỵ đa (dẫn) - bạc hổ quận xã (dẫn) - a tỳ bà đà - sa ha.
Tiếp theo chính là nói chú.
Văn kinh: Phật bảo Xá-lợi-tử: Tên gọi Vô nhiễm trước Đà-la-ni này, nếu có Bồ-tát nào có thể khéo an trú, có thể chân chánh thọ trì thì phải biết rằng người này hoặc trong một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp đã phát khởi chánh nguyện không cùng tận, thân cũng không bị dao gậy, thuốc độc, nước lửa, thú dữ làm cho tổn hại. Vì sao? Này Xá-lợi-tử! Vô nhiễm trước Đà-la-ni này là mẹ của
các Đức Phật quá khứ, mẹ của các Đức Phật vị lai, mẹ của các Đức Phật hiện tại.
Tiếp theo thứ năm là hiển bày sự tốt đẹp, khuyến khích tu hành, có hai: Đầu tiên là khen ngợi công năng của pháp; sau là so sánh sự hơn kém.
Trong phần đầu có bảy:
1. Bảo với căn cơ được độ.
2. “Tên gọi Vô nhiễm trước...” về sau là nêu rõ pháp được khen ngợi.
3. “Nếu có Bồ-tát...” trở xuống là nói về người năng học.
           4. “Có thể khéo léo an trụ trở xuống là nói về y giáo tu học, có thể khéo léo an trụ, dùng thần chú này làm sở y, có thể chân chánh thọ trì, theo đó phát khởi pháp hạnh, chân chánh thọ là văn tuệ, chân chánh trì là tư và tu tuệ.
5. “Nên biết rằng người này...” trở xuống là đạt được lợi ích, có hai:
- Thâu nhiếp bên trong, làm cho phát nguyện không cùng tận, nên được không lui sụt.
- Thân cũng không bị, lại phòng hộ bên ngoài không có điều xấu ác nào xâm hại.
6. Vì sao nêu lý do.
7. “Xá-lợi-tử...” về sau là giải thích lý do.
Văn  kinh:  Xá-lợi-tử!  Nếu  lại  có  người  đem  bảy  báu  đầy  khắp trong mười a-tăng-xí-da tam thiên đại thiên thế giới dâng cúng các Đức Phật cho đến các thứ áo quần, thức ăn uống tuyệt vời trên hết cùng các đồ cúng dường trải qua vô số kiếp, nếu lại có người đối với Đà-la-ni này cho dù chỉ một câu có thể thọ trì thì phước sinh ra đó gấp bội so với người kia. Vì sao? Này Xá-lợi-tử! Vì pháp môn sâu xa Vô nhiễm trước Đà-la-ni này là mẹ của các Đức Phật.
Tiếp theo là so sánh hơn kém. Trong đó chia làm bốn:
1. Nêu ra phước hiến cúng.
2. Chính thức so sánh.
3. Nêu hỏi lý do cao quý.
4. Trả lời lý do.
Y cứ vào văn có thể biết.
Văn kinh: Lúc Cụ Thọ Xá-lợi-tử và các đại chúng nghe pháp này xong đều vô cùng vui mừng, thảy đều phát nguyện thọ trì.
Tiếp theo thứ sáu là nghe chỉ dạy vui mừng tu học.
Phẩm 14: NHƯ Ý BẢO CHÂU
 
Phẩm Như Ý Bảo Châu có chia ra làm ba phần:
1. Lý do có phẩm này: Ngay trong phần Lưu thông có ba thứ: Thứ nhất học hạnh lưu thông có năm, ở trong phần Thủ hộ lưu thông thứ hai, trong đó lại có ba: Thứ nhất là dạy phải thủ hộ, cúng dường, thứ hai là thủ hộ khiến lìa nhiễm, không lui sụt, thứ ba là thần chú này che chở khiến xa lìa mọi tai nạn, sở cầu được như ý. Như văn đầy đủ rõ ràng cho nên có phẩm này phát sinh.
2. Giải thích tên gọi. Tiếng Phạn là Chấn-đa, Hán dịch là Như ý, âm gốc chỉ gọi là ý, nghĩa là tâm nghĩ lường, Như nghĩa là thêm, Mạt- ni, Hán dịch là Bảo châu, đây là dụ, Đà-la-ni là pháp. Như ngọc quý thường giúp cho xa lìa các tai nạn, mọi sở cầu thành tựu như ý mong muốn, thần chú này cũng như vậy. Theo thí dụ làm tên gọi, nên gọi là phẩm Như ý Bảo châu Đà-la-ni, vì vậy về sau nói Như ý Bảo châu thần chú, vì văn giản lược. Lại giải thích: Tức tổng trì này tên là Như ý Bảo châu, pháp theo dụ làm tên gọi, cho nên nói: “Có Đà-la-ni tên là Như ý Bảo châu”, tên gọi này không giải thích theo sáu cách.
3. Giải trừ vấn nạn.
Hỏi: Chấp Kim Cang Chủ đã nói thần chú tên là Vô Thắng, chỗ khác nói cũng khác, vì sao chỉ nói đến phẩm Như Ý Bảo Châu?
Đáp: Có hai cách giải thích.
a. Nói rằng: Tên gọi của phẩm từ ban đầu không thể phân biệt đầy đủ.
b. Nói rằng: Hai phẩm đầu được tên chung còn các phẩm khác thì có tên riêng. Y cứ theo thực tế thì được tên gọi chung là Như ý châu.
Hỏi: Trong bốn tổng trì thần chú này thuộc về tổng trì nào?
Đáp: Thần chú Đà-la-ni.
Hỏi: Trong phẩm Tứ Thiên Vương, thần chú tứ Thiên vương đã nói cũng gọi là Như ý Bảo châu, trong thần chú đầu và thần chú này khác nhau thế nào?
Đáp: Tên gọi giống nhau mà nghĩa lý khác nhau, như văn có thể biết.
Văn  kinh:  Bấy  giờ,  Đức  Thế  Tôn  ở  giữa  đại  chúng  bảo  A-nan
rằng: Các ông nên biết rằng có Đà-la-ni tên gọi Như ý Bảo châu, xa lìa tất cả mọi tai ách, cũng có công năng ngăn chặn các sấm chớp xấu ác.
Tán rằng: Văn trong phẩm chia làm bốn:
1. Đức Phật nói.
2. Đại chúng nói.
3. Đức Phật ấn chứng.
4. Vâng theo thực hành.
- Đức Phật có ba:
1. Nêu bày hứa giảng nói.
2. Đại chúng ưa thích nghe.
3. Đức Phật chính thức giảng nói.
- Trong phần đầu có bốn:
1. Nêu tên thần chú.
2. Chỉ rõ công dụng.
3. Bảo cùng nói.
4. Hứa trình bày.
Đây là hai phần đầu.
Văn kinh: Các Đức Như lai Ứng Chánh Đẳng Giác quá khứ đã cùng giảng nói.
Tiếp theo thứ ba là bảo cùng nói.
Văn kinh: Lúc ấy ta đối với kinh này cũng giảng nói đại chúng các ông nghe, thường đối với trời, người làm lợi ích rộng lớn, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả, khiến đạt được yên vui.
Tiếp theo thứ tư là hứa trình bày có hai:
1. Hứa trình bày.
2. Từ “Thường đối với...” trở xuống là nói về lợi ích.
Văn kinh: Bấy giờ, các đại chúng và A-nan-đà nghe Đức Phật nói xong, tất cả đều chí thành chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn, lắng nghe thọ nhận thần chú.
Tiếp theo là đại chúng vui thích lắng nghe.
Văn kinh: Đức Phật nói: Các ông hãy lắng nghe cho kỹ, từ cõi này đi về phía Đông có Quang minh điện vương tên gọi A-yết-đa, phương Nam  có  Quang  minh  điện  vương  tên  là  Thiết-đê-lỗ,  phương  Tây  có Quang minh điện vương tên là Chủ đa quang, phương Bắc có Quang minh điện vương tên Tô-đa-mạt-ni.
Tiếp theo Đức Phật chính thức giảng nói, có bốn:
1. Nói về tên của Điện vương.
2. Nghe được lợi ích.
3. Chính thức nói thần chú.
4. Phương pháp tụng chú.
Đây là nói về tên của Điện vương. Mây chạm vào nhau phát ra
âm thanh gọi là sấm, cho nên luận Câu-xá chép: “Như âm thanh của mây, phát ra ánh sáng này gọi là điện, tức chủ điện thần gọi là Vương.” Theo kinh Khởi Thế chép: “Vô hậu bế điện ở Đông phương và Đọa quang minh điện ở Tây phương tiếp xúc nhau, va chạm nhau, cùng đánh vào nhau. Vì như vậy cho nên vùng mây ở trong hư không phát sinh ánh sáng gọi là bế điện. Bế điện ở phương Đông gọi là Vô hậu, phương Nam gọi là Thuận lưu, phương Tây gọi là Đọa quang minh, phương Bắc gọi là Bách thiên thọ điện quang.” Từ chủ thần đó để đặt nên gọi, có khác với tên gọi trong kinh này. Hoặc có nhiều thần, hoặc do phiên dịch khác nhau, A-yết-đa Hán dịch là Lai, Tô-đa Hán dịch là Như, Mạt-ni như trước đã nói.
Văn kinh: Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào nghe tên các Điện vương và biết nơi chốn như vậy thì người này liền xa lìa tất cả mọi điều sợ hãi và các tai họa bất ngờ thảy đều trừ diệt. Hoặc chỗ ở viết tên của Điện vương bốn phương thì ở các trú xứ đó không có sấm chớp kinh hãi, cũng không có các tai ách và các chướng nạn khổ não, chết chóc oan uổng chẳng phải lúc thảy đều xa lìa.
Tiếp theo nói về đạt được ích lợi, có hai: Đầu tiên là lợi ích nghe tên gọi; tiếp đến “Hoặc chỗ ở...” trở xuống là nói về lợi ích viết chép tên gọi.
Hỏi: Nghe tên của Điện vương đã lìa xa kinh sợ vì sao lại nhờ vào nói thần chú mới lìa xa sợ hãi?
Đáp: Do năng lực trì chú có thể làm cho vị vua đó được thủ hộ, xa lìa sợ hãi. Lại nữa, đầu tiên là thần lực hộ trì, xa lìa kinh sợ, sau là trì chú hộ trì xa lìa kinh sợ; nhưng thần chú hộ trì tốt hơn, do đó phẩm kinh được gọi tên này.
Văn kinh: Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói chú rằng: “Đát điệt tha- nhĩ nhị nhĩ-nhị nhĩ nhị- ni dân đạt lý- trất lý lô ca lô yết nhĩ- trất lý thâu la ba nhĩ-hạt lạc xoa hạt lạc xoa, con tên là... và chỗ ở này, tất cả kinh hãi, tất cả khổ não, sấm chớp sét giật cho đến chết chóc oan uổng thảy đều xa lìa, sa ha.”
Tiếp theo là nói thần chú và cách tụng chú.
Văn kinh: Bấy giờ, Bồ-tát Quán Tự Tại ở trong đại chúng liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi vén y bày vai phải, chấp tay cung kính bạch Đức Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Nay con cũng đối trước Phật lược nói thần chú Như ý Bảo châu, đối với các người, trời làm lợi ích rộng lớn, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả khiến đạt được yên vui, có uy lực rộng lớn, mọi sở cầu đều như nguyện, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha
hát đế tỳ hát đế nhĩ hát đế - hát lạt trất thể kê - bát lạt để - mật trất lệ - thú đề mục đê tì mạt lệ - bát lạt bà sa (tô hoạt thiết) lệ - an trà (nhập thanh) - lệ bàn trà lệ thoát (bình thanh) đế - bàn trà la trà tử nhĩ - hạt lệ yết trà (dẫn) lệ kiếp tất lệ - băng yết la ác ỷ - đạt địa mục xí - hạt lạc xoa hạc lạc xoa, con tên là và chỗ ở này, tất cả kinh hãi, tất cả khổ não, cho đến chết chóc oan uổng thảy đều xa lìa, con nguyện không thấy những việc tội ác, thường được sự hộ niệm của uy quang đại bi của Bồ- tát Thánh Quán Tự Tại - sa-ha.
Tiếp theo là đại chúng nói thần chú, có sáu.
Đầu tiên là Bồ-tát Quán Âm nói. Văn có ba:
1. Xin được nói chú.
2. Chính thức nói chú.
3. Cách tụng chú.
Trong phần xin được nói có ba: Một là nghi thức cầu thỉnh; Hai là xin được nói chú; Ba là nói rõ lợi ích. Tiếng Phạn là A-phược-lô-chỉ-đế Thấp-phiệt-la-da,  A-phược-lô-chỉ-đế  Hán  dịch  là  Quán,  còn  lại  dịch là Tự tại. Dùng thiên nhãn thiên nhĩ và tha tâm thông để thường quán sát thế gian, bất cứ trường hợp nào đều có thể cứu giúp gọi là Quán Tự tại. Nói là Quán Thế Âm là nói theo một, tên gọi đó không đầy đủ nên chẳng chính thức phiên dịch, phối hợp với văn có thể biết.
Văn kinh: Bấy giờ, Bồ-tát Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi chắp tay cung kính bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Nay con cũng nói thần chú Đà-la-ni tên là Vô thắng, đối với hàng trời người làm lợi ích rộng lớn, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả, có uy lực rộng lớn, mọi sở cầu đầu được như nguyện, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha - mẫu nhĩ mẫu nhĩ - mẫu ni lệ mạt để mạt để - tô mạt để mạc ha mạt để - ha ha ha mà bà dĩ na tất để đế (dẫn) ba bạt - bạt thiết la ba nhĩ - ác ham điệt lật trà (thượng) - sa ha”. Bạch Thế Tôn! Thần chú này của con tên là Vô Thắng ủng hộ, nếu có người nam, người nữ nào nhất tâm thọ trì, viết chép, đọc tụng, nhớ nghĩ không quên, con trong ngày đêm thường hộ trì người này, đối với tất cả kinh hãi cho đến chết chóc oan uổng thảy đều xa lìa.
Tiếp theo là nói về chú thứ hai, văn cũng có ba: Đầu tiên là xin được nói chú, tiếp đến chính là nói chú, sau là lợi ích thọ trì, đọc tụng. Phối hợp với văn có thể biết. Nói về Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ có nơi cho là: Hình tướng khác của Bồ-tát Quán Âm xưng là Bí mật, thường cầm chày Kim cang để che chở giữ gìn Tam bảo, căn cứ vào tự hình và vật cầm làm tên gọi. Căn cứ theo kinh Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ chép:
“Chấp Kim Cang này và Phạm vương đều là một vị Phật trong ngàn vị Phật của kiếp Hiền.” Rộng như kinh đó nói.
Văn kinh: Bấy giờ, Phạm Thiên vương, người đứng đầu thế giới Sách-ha liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, chắp tay cung kinh bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn ! Con cũng có pháp môn Đà-la-ni nhiệm mầu, đối với các hàng trời, người làm lợi ích to lớn, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả, có uy lực to lớn, mọi sở cầu đều được như nguyện, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha - ê lý nhị lý địa lý sa ha - bạt la hám ma bố lệ - bạt la hám ma mạt ni bạt la hám ma yết bính - bổ sáp bạt tăng tất đát lệ ra ha.” Bạch Đức Thế Tôn ! Thần chú này của con tên là Phạm Trị Tất Năng ủng hộ, người trì chú này được xa lìa ưu não và các tội lỗi nghiệp chướng, cho đến chết chóc oan ức thảy đều xa lìa.
Tiếp theo là nói chú thứ ba, đoạn văn đồng như trước.
Văn kinh: Bấy giờ Đế Thích Thiên chủ liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi chắp tay cung kính bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Con cũng có Đà-la-ni tên là Bạt-chiết-la-phiến-nhĩ, là đại minh chú có công năng trừ diệt tất cả tai ách kinh sợ, cho đến chết chóc oan ức thảy đều xa lìa, nhổ sạch gốc khổ mang lại yên vui lợi ích cho hàng trời, người, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha - tỳ nhĩ bà lỵ nhĩ - bạn đà ma đàn trệ - ma nị nhĩ trí trí nhĩ cù lý - kiện đà lý chiên trà lý - ma đăng kỳ (thượng) thập yết tử - tát la bạt lạt bính (khứ) - rất na mạt trụ đáp ma ất đa lạt nhĩ - mạc hô lạt nhĩ đạt lạt nhĩ kế chước yết la bà chỉ - xả phạt lý xa phạt lý - ra ha.”
Tiếp theo là nói chú thứ tư. Văn cũng đồng như trước. Nói về Đế Thích Thiên chủ, Đế tức là chủ, Thích là năng, ở đây nói Năng Đế là nói chung. Sau nói Thiên chủ là có khả năng làm Thiên chủ.
Văn kinh: Bấy giờ, Thiên vương Đa văn, Thiên vương Trì quốc, Thiên vương Tăng trưởng, Thiên vương Quảng mục đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi chắp tay cung kính bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Nay con cũng có thần chú tên là Thí Nhất Thiết Chúng Sinh Vô Úy, đối với các khổ não thường làm nơi ủng hộ để đạt được yên vui, tăng thêm thọ mạng, không có các tai họa đau khổ cho đến chết chóc oan ức thảy đều lìa xa, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha - bổ sáp bế - tô bổ sáp bế - độ ma bát lạt ha lệ - a lỵ da bát lạt thiết tất đế - phiến đế niết mục đế mang yết lệ tốt đổ đế - tất đá tỷ đế - ra ha.”
Tiếp theo là nói chú thứ năm. Đoạn văn có hai: Lược bỏ không nói ích lợi trì tụng. Trong đoạn đầu: Đầu tiên là nêu các tên gọi, tiếp đến là nghi thức cầu thỉnh, sau là nói rõ lợi ích. Văn nêu rõ có thể biết.
Văn kinh: Bấy giờ, lại có các đại Long vương, như Long vương Mạt-na-tư,  Long  vương  Điện  quang,  Long  vương  Vô  nhiệt  trì,  Long vương Điện thiệt, Long vương Diệu quang đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi chắp tay cung kính bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn! Con cũng có Như ý Bảo châu Đà-la-ni có công năng ngăn chặn sấm sét xấu ác, trừ diệt các nỗi kinh sợ, thường làm lợi ích rộng lớn cho hàng trời, người, thương xót thế gian, ủng hộ tất cả, có uy lực rộng lớn, mọi sở cầu đều được như nguyện, cho đến chết chóc oan ức thảy đều xa lìa, tất cả thuốc độc đều làm cho mất tác dụng, tất cả mọi việc tạo tác đầu độc mê hoặc, chú thuật không tốt đều trừ diệt.
Tiếp theo là nói chú thứ sáu. Văn có ba phần như trước. Đoạn đầu tiên có năm, đây là nêu các tên gọi phần đầu, từ “đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi...” về sau là nghi thức cầu thỉnh phần thứ hai và nói rõ lợi ích phần thứ ba.
Văn kinh: Nay con phụng hiến thần chú này lên Đức Thế Tôn, cúi mong Từ bi thương xót nạp thọ.
Tiếp theo là cầu thỉnh nạp thọ phần thứ tư.
Văn kinh: Sẽ giúp cho chúng con lìa khỏi cõi rồng này, xả bỏ hẳn xan tham. Vì sao? Vì sự san tham này nên ở trong sinh tử phải gánh chịu các điều khổ não. Chúng con nguyện dứt bỏ hạt giống san tham, liền nói chú rằng: “Đát điệt tha - a chiết lệ - a mạt lệ a mật lật đế - ác xoa duệ a tệ duệ - bôn ni bát lỵ da pháp đế - tát bà ba bả - bát lạt khổ ma-ni duệ - sa ha - a li duệ bàn đậu tô ba ni duệ - sa ha.” Bạch Đức Thế Tôn! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào miệng nói Đà-la-ni minh chú này, hoặc viết chép quyển kinh, thọ trì đọc tụng, cung kính cúng dường thì người ấy suốt đời không bị sấm sét chớp giật và các điều kinh sợ khổ não sầu lo, cho đến chết chóc oan ức thảy đều lìa xa, tất cả thuốc độc bùa chú mê hoặc hại người, các loài cọp, beo, sư tử, chó sói, rắn độc cho đến muỗi mòng đều không thể làm hại.
Tiếp theo là phát nguyện phần thứ năm. Trong đó có bốn:
1. Nêu ra.
2. Trưng hỏi.
3. Giải thích.
4. Từ “Chúng con nguyện dứt bỏ...” về sau là kết thúc. Văn còn lại có thể biết.
Văn kinh: Lúc ấy, Đức Thế Tôn bảo tất cả đại chúng: Lành thay! Lành thay! Các thần chú này đều có năng lực rộng lớn, thường tùy theo tâm chúng sinh cầu mong việc gì thảy đều khiến cho viên mãn, được
lợi ích rộng lớn, ngoại trừ tâm không chí thành, các người đừng nghi ngờ.
Tiếp theo là đức Phật ấn chứng.
Văn kinh: Khi các đại chúng nghe Đức Phật nói xong thảy đều vui mừng tin nhận.
Tiếp theo là đoạn thứ tư trong phẩm nói về sự phụng hành.
 
 
-----------------------
Phẩm 15: ĐẠI BIỆN TÀI THIÊN NỮ
(Phần 1)
 
Phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ có chia làm ba phần:
1. Lý do có phẩm này.
2. Giải thích.
3. Giải nạn.
- Nói về lý do có phẩm này: Trong phần Lưu thông có ba: Đầu tiên là tu hành lưu thông, trong đó lại nói: từ đây về sau năm phẩm tức là phần thứ ba, khiến cho tăng thêm phước trí. Trong phần tăng thêm phước trí, có bốn:
1) Tăng thêm biện tài.
2)- Tăng thêm áo quần.
3) Tăng thêm thức ăn uống.
4) Tăng thêm trí tuệ.
Vì sao? Vì muốn pháp lưu thông để lợi ích đối với mọi người chắc chắn phải nhờ biện tài nói pháp cho chúng sinh nghe. Tuy có biện tài tuyệt vời nếu không có áo quần thì tướng không thể trang nghiêm. Nếu thiếu thức ăn uống thì bốn đại trống rỗng mệt mỏi, lại e rằng không thể chịu đựng thiếu thốn khổ sở sẽ từ bỏ thực hành tự lợi và lợi tha. Nếu lại có thể thực hành e rằng có sự mong cầu nhiễm trước nơi tâm. Do đó phải tăng thêm thức ăn uống, khiến cho lìa bỏ duyên ấy cho dù có duyên của vật chất. Nếu không có trí tuệ thì không thể thông hiểu nghĩa lý cao siêu của thế tục, vì nói pháp cho nên tăng thêm trí tuệ. Nhưng thực hành hai lợi thì lợi tha là trước tiên, nói pháp lợi ích chúng sinh thì phải nhờ vào bốn biện tài, vì thế trước tiên phải giải thích nên có phẩm này phát sinh.
- Giải thích tên gọi. Tiếng Phạn là Ma-ha (Hán dịch là Đại), Tát- la-tất-tri-bà-để (Hán dịch là Biện tài), Đề-bà-tỷ (Hán dịch là Thiên nữ). Đầu tiên là giải thích phân tán Đại nghĩa, sơ lược có bốn: như luận Đại Trang Nghiêm chép: “Lại có bốn đại: Thắng xuất đại, vì ở trong ba cõi, năm thú mà được vượt ra; Tịch tịnh đại, vì thuận theo tướng Niết-bàn Vô trụ xứ; Công đức đại, vì hai nhóm phước trí được thêm lớn; Lợi vật đại, vì thường nương vào đại bi không lìa bỏ chúng sinh.”
Biện tài tức là bốn Biện tài, tức là tiệp trí (trí tuệ nhạy bén), tài tức là tài nghệ khả năng, có trí tuệ thông minh, khả năng tài nghệ nên nói là Biện tài, tức là biện tài này thuộc về một trong bốn thứ Đại nên gọi là Đại biện. Thần dụng tự tại, ánh sáng trong sạch gọi là Thiên, cũng
tức là Đệ nhất nghĩa Thiên, thiên có đại Biện tài, đại Biện tài Thiên là người nữ nên nói là đại Biện tài Thiên nữ. Chân đế Tam tạng chép: “Bồ-tát ở địa thứ chín này có đủ bốn biện tài, lại thường giúp đỡ người khác cho có danh hiệu này.”
- Giải trừ vấn nạn.
Hỏi: Trong bốn Biện tài, đây là Biện tài gì?
Đáp: Đầy đủ có bốn, vì sao biết được? Ở dưới nói rằng: “Đầy đủ trang nghiêm biện luận nói rằng từ vô ngại biện.” “Đối với văn tự cú nghĩa trong kinh này tức là hai biện tài về pháp và nghĩa. Thể của kinh có hai:
1. Văn năng thuyên.
2. Nghĩa sở thuyên, đều gọi là kinh.
“Có thể khéo léo khai ngộ” tức là lạc thuyết vô ngại biện. Tổng kết nói rằng “Lại ban cho Đà-la-ni tổng trì vô ngại”, Đà-la-ni tức là bốn năng trì, vô ngại tức là bốn Vô ngại biện sở trì.
Hỏi: Bốn vô ngại giải và bốn vô ngại biện có gì khác nhau?
Đáp: Hiểu rõ bốn thứ không vướng mắc gọi là giải, giải thích bốn thứ không vướng mắc gọi là biện, biện nương vào giải mà phát khởi, giải nhờ vào biện mà sáng tỏ, vì Thể là tuệ. Trong các kinh luận, hoặc theo nhau chỉ hợp nói bốn thứ. Nắm giữ (trì) bốn loại không quên gọi là bốn tổng trì, tức là bao gồm Niệm tuệ.
Hỏi: Nay Thiên nữ này có Biện tài tổng trì, sao không gọi là Đại Tổng trì Thiên nữ?
Đáp: Tổng trì là nhân, bốn pháp sở trì là quả, hiệu từ quả mà được, danh không dựa theo nhân. Lại giải thích: Biện là lợi tha, trì là tự lợi thù thắng, cho nên từ lợi tha thù thắng mà gọi là đại Biện tài. Vì vậy ở sau Trần như cầu thỉnh rằng: “Cúi mong trí tuệ Biện tài thiên dùng ngôn từ khéo léo bố thí cho tất cả”, về sau trong chỉ dạy cầu thỉnh cũng nói: “Kính lễ Biện tài Thiên, giúp tôi lời vô ngại...” căn cứ vào thực tế khẩn cầu thường bố thí tất cả.
Văn kinh: Lúc bấy giờ, đại Biện tài Thiên nữ ở trong đại chúng liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch Phật rằng: Bậch Thế Tôn!
Tán rằng: Toàn văn của phẩm này chia làm ba phần:
1. Nêu ra ích lợi biện tài.
2. Từ “Thế Tôn con sẽ...” trở xuống là chỉ rõ phương thức phép tắc.
3. Từ “Lúc bấy giờ, Phật bảo...” trở xuống là Thế Tôn ngợi khen
khuyến khích.
Trong phần đầu lại chia làm hai: đầu tiên là nghi thức thỉnh cầu giảng nói, sau là làm lợi ích cho người tu hành. Đây là phần đầu.
Văn kinh: Nếu có Pháp sư nào giảng nói kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này.
Tiếp theo là phần thứ hai, có hai: Đầu tiên làm lợi ích cho người trì tụng, giảng nói, sau từ “Lại nữa, kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này...” trở xuống là ích lợi của người lắng nghe tu học. Đây là phần đầu, lại có hai: Thuận theo lợi ích cho người.
Văn kinh: Con sẽ lợi ích cho trí tuệ đó, đầy đủ trang nghiêm phân biệt ngôn thuyết.
Tiếp theo là phần hai, ích lợi về pháp, có ba:
1. Nêu tổng quát.
2. Từ “Đầy đủ...” về sau là nêu riêng.
3. Tổng trì vô ngại là kết thúc.
Trong  phần  riêng,  đầu  tiên  là  ban  cho  từ  vô  ngại  biện,  tiếp  từ “Nếu Pháp sư kia...” về sau là ban cho biện tài và Đà-la-ni khác. Đây tức là phần nêu chung và riêng từ vô ngại biện. Đây là địa thứ chín trở lên đạt bốn Biện tài, là bố thí cho người khác biện tài trong mười tám thứ thần biến. Nói rằng đầy đủ trang nghiêm tức là tám ngôn ngữ đều đầy đủ.
Văn kinh: Nếu Pháp sư kia đối với văn tự cú nghĩa trong kinh này có chỗ nào quên mất đều khiến cho nhớ lại, có thể khéo léo khai ngộ, lại ban cho Đà-la-ni tổng trì vô ngại.
Tiếp theo là phần thứ hai, giúp cho biện tài và những điều khác. Đối với văn tự cú tức là pháp, văn tức là chữ, thể dụng kết hợp rõ ràng, đây là năng thuyên y, thể chẳng phải năng thuyên, cú là năng thuyên giải thích các nghĩa, lược gọi là bất thuyết. Đều khiến cho nhớ lại tức là nắm giữ nghĩa lý của pháp. Văn nghĩa là sở trì, có khả năng nhớ nghĩ nắm giữ tức là tổng trì, nhân quả kết hợp mà nói. Có thể khéo léo khai ngộ tức là lạc thuyết biện tài. Lại ban cho Đà-la-ni tức là hai tổng trì chú và nhẫn. Tổng trì vô ngại ấy là kết thúc.
Văn kinh: Lại nữa, Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này vì các hữu tình kia đã ở nơi trăm ngàn cõi Phật gieo trồng các gốc lành, nên người thọ trì ở châu Thiệm-bộ truyền bá rộng rãi lưư truyền khắp nơi; không mau chóng bị mất đi.
Tiếp theo là phần thứ hai, lợi ích của người lắng nghe, tu học.
Trong đó chia làm hai:
1. Vì thuận người tu hành nên pháp truyền bá lâu dài.
2. Từ “lại khiến cho...” về sau là nói có thể làm cho người học đạt được lợi ích rộng lớn.
Văn phần đầu có hai: Đầu tiên là nói về việc phải làm, tiếp đến là pháp truyền bá lâu dài, ở đây đồng với Bát-nhã, có thể sinh khởi một niệm tâm tịnh tín thì nên biết rằng đã từng cúng dường nhiều Đức Phật.
Văn kinh: Lại khiến cho vô lượng hữu tình nghe kinh điển này đều đạt được biện tài nhanh nhạy sắc bén, vô tận đại tuệ không thể suy nghĩ bàn luận, khéo léo hiểu rõ các luận và các kỹ thuật.
Tiếp theo tu học được lợi ích, có ba: Đầu tiên là hiện tại được biện tài, tiếp theo tương lai chứng quả Phật, sau là hiện tại tăng thêm thọ mạng... trong phần đạt được biện tài, đầu tiên là được biện tài nhanh nhạy sắc bén, tức là lạc thuyết và từ biện, vì trong một khoảnh khắc có thể biểu hiện các âm thanh gọi là nhanh nhạy sắc bén. Trong phần lạc thuyết biện lại có bảy thứ:
1. Tấn biện, là nói thao thao bất tuyệt không hề chậm chạp.
2. Tiệp biện, là cần nói liền nói không ngại ngần lắp bắp.
3. Ứng biện, là thích ứng với thời cơ.
4. Vô sơ mậu biện, là nói năng đích đáng.
5. Vô đoạn tận biện, là nối nhau không đứt quãng.
6. Phong nghĩa vị biện, là đầy đủ nghĩa lý.
7. Tối thượng diệu biện, là thế gian không ai hơn.
Tiệp lợi tức là hai thứ biện đầu, vô tận tức là loại thứ năm, đại tuệ tức là các thứ còn lại. Khéo léo hiểu rõ các luận... tức là pháp nghĩa biện. Không thể suy nghĩ bàn luận là bao gồm cả bốn câu; diệu dụng không thể suy lường gọi là không thể suy nghĩ bàn luận.
Văn kinh: Thoát khỏi sinh tử, mau chóng hướng đến Vô thượng chánh đẳng Bồ-đề.
Tiếp theo là tương lai chứng quả Phật.
Văn kinh: Trong đời hiện tại tăng thêm thọ mạng, tiền tài đầy đủ, thảy đều khiến cho viên mãn.
Tiếp theo là hiện tại tăng thêm thọ mạng...
Văn kinh: Bạch Đức Thế Tôn! Con sẽ vì Pháp sư trì kinh đó và các hữu tình khác đối với kinh điển này ưa thích lắng nghe, nói về phương pháp tắm gội bằng chú dược (thuốc thần chú).
Tán rằng: Tiếp theo là chỉ rõ phương thức phép tắc, có hai:
1. Chỉ rõ việc trì kinh và phương tiện cầu biện tài.
2. Từ “Lúc ấy, pháp sư thọ ký về sau chính là cầu biện tài.
- Trong phần một có bốn:
1. Nêu bày chung về pháp.
2. Chỉ bày riêng phương pháp đó.
3. Thiên nữ khuyến khích thực hành.
4. Thế Tôn ngợi khen chỉ dạy.
- Phần một nêu chung lại có bốn:
1. Nêu ra người thực hành.
2. Nêu rõ pháp đã chỉ bày.
3. Nêu rõ công năng của pháp.
4. Nêu rõ huyến khích tu học.
Đây tức là hai phần đầu.
Văn kinh: Người kia vốn có sao xấu tai biến và lúc mới sinh thuộc về sao trái với số mạng, khổ sở về tật bệnh, đấu tranh chiến trận, ác mộng quỷ thần sâu độc, tà ma chú thuật khởi thi, các điều xấu ác như thế làm chướng nạn, thảy đều khiến cho trừ diệt, những người hiểu biết nên thực hiện phương pháp tắm gội như vậy.
Tiếp theo là nêu rõ công năng của pháp. Nói thuộc về ngôi sao là ngày sinh của người phàm thuộc về hai mươi tám vì sao, trong đó hoặc có vì sao dự kiến trái với số mạng, cho dù người không biết mà thực hành phương pháp tắm gội này thì chướng nạn cũng trừ diệt. Nói chú thuật khởi thi là chú thuật Tây phương có công năng làm cho thây chết đứng dậy đi khắp nơi, hoặc không hoàn toàn sử dụng để làm tổn hại đến mọi người. Nương theo phương pháp tắm gội này thì các thứ như vậy đều trừ diệt. Văn còn lại có thể hiểu. Đây là chỉ bày chung cho hai hạng người nói nghe và người cầu biện đều nên nương theo phương pháp tắm gội này.
Văn kinh: Nên chọn lấy ba mươi hai vị hương dược (vị thuốc có mùi thơm) như: mạo bồ (pha-giả), ngưu hoàng (cù-lô-chiết-na), mục túc  hương  (tắt-tất-lực-ca),  xạ  hương  (mạc-ha-bà-già),  hùng  hoàng (mạc-cấm-si-la), hợp hôn thọ (thi-lợi-sái), bạch cập (nhân-đạt-la-hát- tất-đá),  khung  cùng  (đồ-mạc-ca),  cẩu  kỷ  căn  (chiêm-nhị),  trùng  chi (thất-lợi-tiết-sắt-đắc-ca), quế bì (đốt-giả), hương phụ tử (mục-tốt-đá), trầm hương (ác-yết-lô), chiên đàn (chiên-đàn-na), linh bà hương (đa- yết-la), đinh tử (tác-cù-giả), uất kim (trà-củ-ma), bà luật cao (yết-la- bà), vi hương (nại-lạt-đà), trúc hoàng (cưu-lộ-chiến-na), đậu khấu nhỏ (tô-khấp-mê-la),  cam  tùng  (nhị-chiêm-đá),  hoắc  hương  (bát-đát-la), hương  mạo  căn  (ốt-thi-la),  sất  chỉ  (tát-lạc-kế),  ngải  nạo  (thế-lê-dã),
hương an tức (lâu-cụ-la), hạt cải (tát-lợi-sát-bả), mã cần (diệp-bà-nhĩ), long hoa tu (na-gia-kê-tát-la), bạch giao (tát-chiết-la-bà), thanh mộc (củ-sắt-tha), đều bằng nhau.
Tiếp  theo  là  chỉ  bày  riêng  về  phương  pháp  đó.  Văn  chia  làm bốn:
1. Chỉ bày phương pháp tắm gội.
2. Từ “Tắm gội như thế xong...” về sau là dạy phải phát nguyện.
3. Từ “Lại nói bài tụng rằng...” về sau là nói nương theo được lợi ích.
4. Từ “Tiếp đó tụng chú hộ thân” về sau là chỉ hộ trì thân.
- Phương pháp tắm gội có tám:
1. Nêu cách tắm gội.
2. Nêu ngày đảo sư (cầu khấn).
3. Dạy chú hương dược.
4. Dạy làm đạo tràng.
5. Dạy làm nước thơm.
6. Dạy kết giới.
7. Chính thức dạy cách tắm gội.
8. Nêu cách tắm gội đã xong.
Đây là phần đầu. Đầu tiên là nêu ra, sau là liệt kê. Bà-luật-cao là dầu thơm long não, vi hương là trong cỏ lau có hương này, trúc hoàng từ trong cây trúc sản sinh ra, đậu khấu nhỏ là trong đó có hạt to hạt nhỏ, hương mao căn tựa như hương Đâu-lâu-bà, sất chỉ Hán dịch là long hoa tu.
Văn kinh: Đem rải phơi dưới nắng ở một chỗ rồi đem nghiền lấy mạt hương.
Tiếp theo là phần thứ hai, nêu rõ ngày đem nghiền, tên là vì sao Nam phương trong hai mươi tám vì sao, tức là kinh cũ nói ngày quỷ tinh.
Văn kinh: Nên dùng chú này chú nguyện một trăm lẻ tám biến, chú như sau: “Đát triệt tha - tô ngật lật đế - ngật lật đế ngật lật kế - kiếp ma đát lý - thiện nộ yết lan trệ - hác yết lạc trệ - nhân đạt la xà lợi nị - thước yết lan trệ - bát thiết điệt lệ - a phạt để yết tế - kế na củ đổ củ đổ - cước na tỷ lệ - kiếp tỷ lệ kiếp tỷ lệ - kiếp tỳ la mạt để - thi la mạt để san để độ la mạt để lý- ba phạt củ bạn trĩ lệ- thất lệ thất lệ- tát để tất thể đê - sa ha.”
Tiếp theo là phần thứ ba, dạy về chú hương dược.
Văn kinh: Nếu thích tắm gội đúng pháp thì nên lập đàn tràng,
vuông vức chừng tám khuỷu tay, nên ở chỗ vắng lặng ổn định, nghĩ về việc mong cầu, tâm không hề lìa xa, nên bôi phân trâu để làm đàn, phía trên rải đầy các hoa nhiều màu, nên dùng đồ vật vàng bạc sạch sẽ tinh khiết, đựng đầy các thức ăn ngon và mật sữa; ở bốn cửa đàn, có bốn người thủ hộ pháp như thường lệ, nhờ bốn trẻ nhỏ thân hình đẹp đẽ trang nghiêm, mỗi trẻ ở một góc bưng bình nước; nơi này thường đốt hương an tức, tiếng nhạc ngũ âm không ngừng dứt, phướn lọng trang nghiêm, treo lụa nhiều màu ở bốn phía đàn tràng; lại ở trong đàn tràng đặt gương sáng, lưỡi dao bén cùng cung tên mỗi thứ đều bốn cái, ở chính giữa đàn tràng chôn một cái chậu lớn, nên lấy tấm ván thủng đặt lên trên đó.
Tiếp theo thứ tư là dạy làm đàn tràng. Trong đó có tám:
1. Nửa bài tụng đầu nói về kích thước của đàn.
2. Từ “Nên ở chỗ... tâm không hề lìa xa” là nửa bài tụng chỉ nơi làm đàn tràng.
3. Từ “nên bôi... các hoa nhiều màu” là nửa bài tụng dạy cách bôi đàn.
4. Nửa  bài  tụng  tiếp  theo  (nên  dùng...  mật  sữa)  là  dạy  cúng dường.
5. Nửa bài tụng tiếp theo (nơi bốn cửa... như thường lệ) là dạy cách thủ hộ.
6. Một  bài  tụng  rưỡi  tiếp  đó  (nhờ  bốn  trẻ  nhỏ...  bốn  phía  đàn tràng) là dạy cách trang nghiêm.
7. Nửa bài tụng tiếp theo (lại ở trong... cung tên mỗi thứ đều bốn cái) là dạy tránh ác.
8. Nửa bài tụng tiếp theo (ở chính giữa... đặt lên trên đó) là làm nơi tắm gội.
Văn kinh: Hòa các thứ hương mạt ở trước với nước nóng, cũng đặt trong đàn tràng.
Tiếp theo thứ năm là dạy làm nước nóng tắm gội.
Văn kinh: Đã làm như thế bố trí xong xuôi, sau đó tụng thần chú kết thành đàn tràng đó. Chú kết giới rằng: “Đát điệt tha - át lạt kế - na dã nễ (khứ) - rất lệ - nhị lệ kỳ lệ xí xí lệ - sa ha.”
Tiếp theo phần thứ sáu là lại kết giới. Nửa bài tụng đầu kết trước sinh sau; tiếp đến chính là nêu rõ thần chú kết giới.
Văn kinh: Kết giới như thế xong, mới vào trong đàn tràng, chú nguyện vào nước hai mươi mốt biến, rưới khắp bốn phía, tiếp theo nên chú  nguyện  vào  nước  hương  đủ  một  trăm  lẻ  tám  biến,  bốn  bên  treo
màn che kín, sau đó tắm gội thân thể. Thần chú chú nguyện nước, chú nguyện nước thơm rằng: “Đát điệt tha (nhất) - tác yết trí (nhị) - tỳ yết trí (tam) - tỳ yết trà phạt để (tứ) - sa ha (ngũ).”
Dưới đây là phần thứ bảy, chính thức dạy cách tắm gội, có hai: Đầu tiên là kết giới trước, tiếp đó “mới vào...” trở xuống là cách làm, có bốn:
1) Chú nguyện nước để tác tịnh.
2) Chú nguyện nước thơm tắm gội.
3) Dạy che đậy hình hài xấu xí.
4) Lại chỉ bày thần chú.
Văn kinh: Nếu tắm gội xong, nước tắm rửa đó và đồ ăn thức uống cúng dường trong đạo tràng đem đổ xuống sông hồ, những thứ khác đều thu dọn lại.
Tiếp theo là phần thứ tám, nói cách tắm gội đã xong.
Văn kinh: Tắm gội như thế rồi mới mặc áo quần sạch sẽ, đã ra khỏi đàn tràng vào trong tịnh thất, thầy chú nguyện dạy người đó phát thệ nguyện rộng lớn, dứt bỏ hết các điều ác, thường tu tập các điều lành, đối với các hữu tình thường sinh tâm đại Bi, nhờ nhân duyên này mà được vô lượng phước báu tùy tâm. Trong dạy riêng về cách đó, phần thứ hai dạy phát nguyện, có năm:
1. Kết thúc phần trước.
2. “Mới mặc áo quần sạch sẽ...” là nghi quỹ phát nguyện.
3. “Đã ra khỏi...” về sau là nơi chốn phát nguyện.
4. “Thầy chú nguyện dạy...” về sau là nương theo sự chỉ dạy của thầy, đây là căn cứ lúc bắt đầu tu học.
5. “Dứt bỏ hẳn...” về sau là phát nguyện.
Trong phát nguyện có ba: Đầu tiên là nguyện tu tự lợi, tiếp theo từ “Đối với các hữu tình...” về sau là nguyện thực hành lợi tha; sau từ “nhờ nhân duyên này...” trở xuống là tu hành đạt được quả.
Văn kinh: Lại nói bài tụng rằng: Nếu có chúng sinh bị bệnh khổ, các  thứ  thuốc  men  không  trị  lành,  nếu  y  pháp  tắm  gội  như  vậy,  và lại đọc tụng kinh điển này; thường trong ngày đêm niệm không dứt, chuyên chú thiết tha sinh tín tâm, tất cả khổ nạn đều tiêu trừ, thoát khỏi nghèo khó đủ tài bảo; các sao bốn phương và trời trăng, uy thần ủng hộ được sống lâu, tốt lành yên ổn thêm phước đức, tai biến ách nạn đều dứt sạch.
Tiếp theo là phần thứ ba, nói về y pháp tu học được lợi ích. Tất cả có ba bài tụng, chia làm ba: Nửa bài tụng đầu nêu rõ chúng sinh bị khổ
đau, một bài tụng tiếp theo nói về y pháp tu học, một bài tụng rưỡi sau nói về tu học được lợi ích.
- Lợi ích có tám:
1. Không bị bệnh tật.
2. Hết nghèo khó.
3. Tài vật dồi dào.
4. Được sự che chở.
5. Sống lâu.
6. Tốt lành yên ổn.
7. Tăng thêm phước đức.
8. Tai nạn không còn.
Như văn có thể biết.
Văn kinh: Tiếp theo tụng thần chú hộ thân hai mươi mốt biến. Chú rằng: “Đát điệt tha - tam mê - tỳ tam mê - sa ha - tát yết trệ tỳ yết trệ - sa ha - tỳ yết trà - phạt để - sa ha - bà yết la - tam bộ đa dã - sa ha - tắc kiến đà - ma đa dã - sa ha - ni la kiện tha dã - sa ha - a bát la thị đá tỳ lị da dã - sa ha - rất ma bàn đá - tam bộ đa dã - sa ha - a nhĩ mật la - bạc đát la dã - sa ha - nam mô bạc gì phạt để đô - bạt la hám ma tả - sa ha - nam mô tát la toan để - mô ha đề tỷ duệ - sa ha - tất điện đô mạn (Hán dịch là thành tựu, con tên là...) - man đát la bát đà - sa ha đát lạt đô tỷ điệt đá - bạt la hám ma nô mạt đổ - sa ha.”
Tiếp theo là phần thứ tư, là dạy về hộ thân, có hai: Đầu tiên là nêu ra sự chỉ dạy hộ thân, sau chính là nói thần chú hộ thân.
Văn kinh: Bấy giờ, Đại Biện tài Thiên nữ nói xong chú đàn tràng và cách tắm gội, liền bước đến đảnh lễ dưới chân Phật, bạch Đức Phật rằng:  Bạch  Đức  Thế  Tôn!  Nếu  có  Tỳ-kheo,  Tỳ-kheo-ni,  Ô-ba-sác- ca, Ô-ba-tư-ca nào thọ trì, đọc tụng, viết chép, truyền bá kinh vương nhiệm mầu này, như thuyết thực hành, hoặc ở nơi thành ấp thôn làng đồng hoang rừng núi trú xứ tăng ni, con vì người này đem các quyến thuộc trỗi các thứ nhạc trời đi đến nơi đó, để ủng hộ, trừ diệt các bệnh hoạn khổ sở, sao băng kỳ quái, tật dịch đấu tranh, pháp vua giam giữ, ác  mộng  ác  thần  làm  chướng  ngại  người  đó,  sâu  độc  bùa  chú  yểm thuật thảy đều trừ sạch, người trì kinh thêm nhiều ích lợi như vậy, các chúng Tỳ-kheo và các thính giả đều giúp cho mau chóng vượt qua biển lớn sinh tử, không lui sụt Bồ-đề.
Tiếp theo là nói trong phần phương tiện thứ ba Thiên nữ khuyến khích thực hành, có ba: Đầu tiên là kết thúc pháp đã nêu trước đây; tiếp từ “bước tới đảnh lễ dưới chân Phật...” về sau là nói rõ khuyến khích
người tu học, có ba:
1) Nghi thức thưa hỏi.
2) Bắt đầu thưa trình.
3) “Nếu có Tỳ-kheo...” trở xuống là nói rõ người thực hành; sau từ “hoặc ở nơi thành ấp...” trở xuống là nói về khiến đạt được ích lợi.
Đạt được ích lợi có ba: Đầu tiên là cúng dường thủ hộ, tiếp từ “Dứt trừ các bệnh hoạn khổ sở...” về sau là trừ diệt tai ương; sau từ “thêm nhiều ích lợi như vậy...” trở xuống là khiến cho đạt được lợi ích cao quý.
Văn kinh: Lúc ấy đức Thế Tôn nghe nói như vậy xong, khen ngợi Biện tài Thiên nữ rằng: Lành thay! Lành thay! Thiên nữ, người có thể làm cho vô lượng vô biên hữu tình an vui lợi ích mà nói thần chú này, cho đến cách thức thực hành pháp nước thơm tắm gội xây dựng đàn tràng, quả báo thật khó nghĩ được, người nên ủng hộ kinh Vương Tối Thắng đừng để cho mất đi, thường được truyền bá. Bấy giờ, Đại Biện tài Thiên nữ đảnh lễ dưới chân Phật xong trở về chỗ ngồi của mình.
Tiếp theo là phần thứ tư, Đức Thế Tôn ngợi khen, chỉ dạy trong phần nêu rõ phương tiện, có bốn:
1. Ngợi khen về tướng chung.
2. Từ “Thiên nữ, người hãy...” về sau là ngợi khen riêng. Có ba: Đầu tiên là ngợi khen chỉ bày lợi ích của pháp; tiếp theo từ “nói thần chú này...” về sau là ngợi khen riêng về chỉ bày phương pháp; sau từ “quả báo thật khó nghĩ được...” là khen ngợi sẽ đạt được quả.
3. Từ “người nên ủng hộ...” về sau là dạy nên hộ pháp.
4. Từ “Bấy giờ...” về sau là được ngợi khen và trở lại chỗ ngồi.
Văn  kinh:  Bấy  giờ,  Pháp  sư  thọ  ký  Bà-la-môn  Kiều-trần-như nường uy lực của Phật ở trước đại chúng ngợi khen cầu thỉnh Biện tài Thiên nữ rằng.
Tán  rằng:  Thứ  hai  chính  thức  cầu  biện  tài  trong  phần  chỉ  bày phương thức cầu thỉnh, văn chia làm bốn:
1. Kiều-trần-như ngợi khen thỉnh cầu pháp.
2. Từ “Lúc ấy Biện tài Thiên nữ...” về sau là Thiên nữ y lời thỉnh cầu mà chỉ bày.
3. Từ “Lúc ấy, Kiều-trần-như...” về sau là Kiều-trần-như nghe pháp vui mừng ngợi khen.
4. Đầu quyển tám Kiều-trần-như y giáo thỉnh cầu gia bị. Trong phần đầu có hai, đây là nêu rõ thỉnh cầu.
Văn kinh: Biện tài Thiên thông minh mạnh mẽ, trời người cúng
dường xứng đáng nhận, danh tiếng vang lừng khắp thế gian, thường ba nguyện tất cả chúng sinh.
Tiếp theo chính thức nói về ngợi khen thỉnh cầu, có ba bài tụng chia làm hai: Hai bài tụng đầu là ngợi khen, một bài tụng sau là thỉnh cầu. Trong ngợi khen chia làm ba: Một bài tụng đầu ngợi khen nội đức, nửa bài tụng tiếp ngợi khen trú xứ, nửa bài tụng sau ngợi khen oai nghi. Đây là ngợi khen nội đức, có bốn: Một câu khen đức trí cần, một câu khen đức ruộng phước, một câu khen đức xa nghe, một câu khen đức mãn nguyện.
Văn  kinh:  Nương  đỉnh  Cao  sơn  trú  xứ  đẹp,  lợp  tranh  làm  thất ở trong đó, thường kết cỏ mềm để làm áo, chỗ ở thường giở cao một chân.
Tiếp theo ngợi khen chỗ ở và oai nghi. Biểu thị đã thoát khỏi sinh tử nên nói là trú ở Cao sơn. Thực tế, chỗ nào cũng hiện thân, lìa bỏ kiêu mạn nên thường ở nhà tranh, biểu thị nhu hòa nhẫn nhục cho nên dùng cỏ mềm làm áo, thường siêng năng lợi tha cho nên luôn giở cao một chân.
Văn kinh: Đại chúng các trời đều đến nhóm, cùng nhau nhất tâm đồng khen thỉnh, cúi mung trí tuệ Biện tài Thiên, dùng ngôn từ hay thí tất cả.
Tiếp theo là thỉnh cầu, có hai: Nửa bài tụng nói về đồng ngợi khen cầu thỉnh, nửa bài tụng là nguyện ban cho ân huệ sở cầu. Theo trong phần ngợi khen thỉnh cầu tiếp đó thì không chỉ là ngôn từ vô ngại, tức là nói pháp lợi sinh ngôn từ vô ngại thù thắng, cho nên chỉ nói rõ sự cầu thỉnh.
Văn kinh: Bấy giờ, Biện tài Thiên nữ liền nhận lời thỉnh cầu và nói thần chú rằng: “Đát điệt tha - mộ lệ chỉ lệ - a phạt đế - a phạt tra phạt để - hinh ngộ lệ danh cụ lệ - danh cụ la phạt để - quyết cụ sư mạt ly ỹ chỉ tam mạt để - tỳ tam mạt để - tỳ tam mạt để ác cận (nhập) lỵ mạc cận ly ỹ - đát la chỉ - đát la giả phạt để - chất chất lý thất lý mật lý - mạt nan địa đàm - mạt lỵ chỉ bát la noa tất lụ duệ - lô ca thệ sắt thế - lô ca thất lệ sắt da - cô ca tất lỵ duệ - tất đà bạt lỵ đế - tỳ ma mục xí - thân chỉ chiết lỵ - a bát lỵ để hát đế - a bát lỵ để hát đá đá bột địa - nam mẫu chỉ nam mẫu chỉ - mạc ha đề tỷ - bát lỵ để cận (nhập) - lỵ hôn noa - nam ma tắc ca la - con tên là... bột địa đạt lị xa rất - bột địa a bát lạt để bát đá - ba (thượng) bạt đổ - thị bà mê tỳ thâu điệt tha - mạc ha bát lạt bà tỷ
rất lý mật lý rất mật lý - tỳ chiết lạt đổ mê bột địa - con tên là... bột địa thâu đề - bạc già phạt điểm đề tỳ diễm - tát la toan điểm - yết là trệ kê do
lệ - kê do la mạt để - rất lý mật lý rất lý mật lý - a bà ha da nhị - mạc ha đề tỷ - bột đà tát đế na - đạt ma tát đế na - tăng già tát đế na - nhân đạt la tát đế na - bạt lâu noa tát đế na - duệ lô kê tát để bà địa na - đê sam (dẫn) tát đế na - tát để phạt giả nên ma - a bà ha da nhị - mạc ha đề tỷ - rất lý mật lý rất lý mật lý - tỳ chiết lạt đổ - con tên là... bột địa - nam mô bạc già phạt để - mạc ha đề tỷ tát la toan để - tất điện đổ - mạn đát la bát đa di - sa ha.” Lúc ấy, Biện tài Thiên nữ nói chú này xong bảo Bà-la-môn rằng: “Lành thay! Đại sĩ có thể vì chúng sinh cầu biện tài nhiệm mầu và các thần thông trí tuệ ít có, lợi ích cho tất cả, mau chóng chứng quả Bồ-đề.
- Tiếp theo Thiên nữ chỉ ra các pháp, có ba:
1. Nói chú.
2. “Lúc ấy, Biện tài...” về sau là ngợi khen, cầu thỉnh.
Hỏi: Ở trước chỉ cầu thỉnh Biện tài, vì sao Thiên nữ ngợi khen lại gồm có các pháp khác?
Đáp: Có hai các giải thích: Một là giải thích như trước đã giải thích trong nguyện ban cho ân huệ sở cầu, hai là nói rằng: Tuy chỉ cầu biện tài nhưng nhờ biện tài đạt được các nhân quả khác bao gồm cả ngợi khen. Chọn cách giải thích trước là đúng hơn.
Văn kinh: Nên biết pháp thức thọ trì như thế, liền nói bài tụng rằng: Trước nên tụng Đà-la-ni này, khiến cho thuần thục không sai lầm.
Tiếp theo là phần ba, dạy cách tu tập, có hai: Đầu tiên là nêu ra; tiếp theo từ “liền nói bài tụng rằng...” về sau là dạy tu tập. Tất cả có mười chín bài tụng rưỡi, toàn bộ chia ra làm tám phần. Nửa bài tụng đầu là dạy trước nên tụng chú.
Văn kinh: Quy kính Tam bảo các chúng trời, thỉnh cầu gia hộ nguyện tùy tâm, lễ kính các Phật và pháp bảo, chúng Bồ-tát, Độc giác, Thanh văn. Tiếp lễ Phạm vương và Đế Thích và tứ Thiên vương hộ thế gian, tất cả người thường tu phạm hạnh, đều nên tôn trọng thật chí thành.
Tiếp theo là phần thứ hai, kế có hai bài tụng. Quy kính cầu gia hộ, chia làm ba: Nửa bài tụng đầu là nêu ra, một bài tụng một câu kế tiếp là nơi quy kính, một câu sau cùng là kết thúc.
Văn kinh: Nên ở nơi lan nhãn vắng lặng, lớn tiếng tụng chú trước khen pháp, nên ở trước tượng Phật, trời rồng, tu cúng dường theo vật mình có.
Tiếp theo là phần thứ ba, có một bài tụng sơ lược dạy cách thực
hành. Trong đó có bốn: Một câu là nơi chốn thực hành pháp, một câu là chỉ bày tụng chú khen pháp, ngợi khen tức là ngợi khen cầu thỉnh trước đây; một câu là nêu ra nơi ngồi, một câu là dạy cúng dường.
Văn  kinh:  Đối  với  tất  cả  chúng  sinh  kia,  phát  khởi  tâm  Từ  bi thương xót.
Tiếp theo là phần thứ tư, nửa bài tụng khởi tâm Từ bi.
Văn kinh: Thế Tôn tướng tốt thân vàng tím, chánh niệm thường nghĩ tâm không loạn, Thế Tôn hộ niệm nói giáo pháp, tùy theo căn cơ dạy tu tịnh, nơi cú nghĩa đó khéo tư duy, lại nương tánh không mà tu tập, nên ở trước hình tượng Thế Tôn, nhất tâm chánh niệm mà ngồi thẳng, liền được trí mầu Tam-ma-địa, và được Đà-la-ni tối thắng.
Tiếp theo là phần thứ năm có sáu bài tụng rưỡi, khiến nương gá vào cảnh mà an tâm tu tập vốn những gì mong cầu. Trong đó có hai: Hai bài tụng rưỡi đầu là mong cầu tổng trì của Đức Phật, bốn bài tụng tiếp theo là cầu được bốn biện tài của Phật, tức là quả Phật. Trong mong cầu tổng trì có bốn: Nửa bài tụng đầu là quán hình tượng Phật, một bài tụng tiếp là tổng trì, nửa bài tụng là pháp và chú nhẫn, nửa bài tụng là nghĩa lý, nửa bài tụng tiếp theo là nơi thực hành pháp và cách tu tập, nửa bài tụng tiếp đó là đạt được quả, vì các trí định đó là gốc của mọi công đức, nếu đạt được tổng trì chắc chắn thành tựu trí định.
Văn kinh: Miệng vàng Như lai giảng nói pháp, tiếng hay điều phục  chúng  trời  người,  tướng  lưỡi  tùy  duyên  hiện  ít  thấy,  rộng  dài thường phủ cõi Tam thiên.
Tiếp theo bốn bài tụng nói về cầu biện tài. Trong đó lại có ba: Một bài tụng đầu nói về biện tài sở cầu và đầy đủ biện tài, hai bài tụng tiếp theo là dạy cầu hai thứ này; một bài tụng cuối là quả sở cầu được thỏa mãn. Đây là phần mở đầu. Nói pháp tức là hai biện tài về pháp và nghĩa. Tiếng hay tức là lời nói. Điều phục tức là vui sướng. Tướng lưỡi tức đầy đủ biện tài.
Văn kinh: Âm thanh các Phật hay như thế, chí thành nhớ nghĩ tâm không sợ, các Phật đều nhờ phát nguyện rộng, được tướng lưỡi không nghĩ bàn này, giảng nói các pháp đều phi hữu, giống như hư không chẳng chấp đắm, âm thanh các Phật và tướng lưỡi, nhớ nghĩ suy tư nguyện viên mãn.
Tiếp theo là dạy cầu hai thứ này, nửa bài tụng đầu cầu Từ vô ngại biện tài, nửa bài tụng kế là cầu đầy đủ, nửa bài tụng kế nữa là cầu ba biện tài còn lại, nửa bài tụng cuối là kết thúc do nguyện mà được.
Văn kinh: Nếu thấy cúng dường Biện tài Thiên, hoặc thấy đệ tử
theo thầy dạy, truyền pháp bí mật dạy tu học, tôn trọng tùy tâm đều thành tựu.
Tiếp theo một bài tụng cuối là quả sở cầu được viên mãn. Biện tài Thiên nữ thấy có thầy trò tu hành, bèn truyền trao pháp bí mật cho họ tu tập chắc chắn đạt được kết quả như mong muốn.
Văn kinh: Hoặc người muốn được trí tối thượng, nên nhất tâm thọ trì pháp này. Thêm lớn công đức phước trí, chắc chắn thành tựu đừng nghi ngờ. Hoặc ai cầu tài được nhiều tài, người cầu danh tiếng được danh tiếng, người cầu giải thoát được giải thoát, chắc chắn thành tựu đừng nghi ngờ. Các công đức vô biên vô lượng, tùy sở nguyện trong tâm người đó, nếu ai thường thực hành như vậy, sẽ được thành tựu đừng nghi ngờ.
Tiếp theo là phần thứ sáu, ba bài tụng riêng nêu sở cầu, có ba: Một bài tụng đầu là cầu trí và phước, một bài tụng tiếp theo là cầu lợi thế gian và xuất thế gian, một bài tụng cuối là ví dụ cầu tất cả.
Văn kinh: Nên ở chỗ vắng mặc áo sạch, phải làm đàn tràng tùy lớn nhỏ, dùng bốn bình sạch chứa thức ngon, hương hoa cúng dường nên thường xuyên, treo các lụa mềm và phướn lọng, hương bôi, hương vụn tô điểm khắp, cúng dường Phật và Biện tài Thiên, cầu thấy thân trời đều toại nguyện.
Tiếp theo là phần thứ bảy, hai bài tụng nói rộng về thực hành pháp.
Văn kinh: Phải tụng chú trước hai mốt ngày, nên đối trước Phật,
Biện tài Thiên, nếu ai không thấy Thiên thần này, nên càng dụng tâm qua chín ngày, sau đó trong đêm vẫn không thấy, lại cầu nơi thanh tịnh nhiệm mầu, như pháp nên vẽ Biện tài Thiên, cúng dường trì tụng tâm không bỏ, ngày đêm không sinh ra uể oải, tự lợi lợi tha không cùng tận, quả báo đạt được thí chúng sinh, các nguyện sở cầu đều thành tựu. Nếu không như ý qua ba tháng, sáu tháng chín tháng hoặc một năm, tâm cầu thỉnh thiết tha không đổi, thiên nhãn, tha tâm đều thành tựu.
Tiếp theo là phần thứ tám, dạy thời hạn cầu nguyện, có ba thứ khác biệt: Một bài tụng đầu là cầu thượng phẩm, hai bài tụng tiếp là cầu trung phẩm, một bài tụng sau là cầu hạ phẩm. Hoặc do căn cơ có thượng trung hạ, hoặc do nghiệp chướng nặng nhẹ, hoặc do túc trí nhiều ít.
Văn kinh: Bấy giờ, Bà-la-môn Kiều-trần-như nghe nói vậy rồi vui mừng hớn hở, ngợi khen chưa từng có, nói với các đại chúng như vầy: Tất cả đại chúng trời người, các ngươi nên biết rằng được như thế đều là do nhất tâm lắng nghe. Nay tôi lại muốn dựa vào pháp thế đế khen
ngợi Biện tài Thiên nữ tốt đẹp kia.
Tiếp theo là phần thứ ba, Kiều-trần-như nghe pháp vui mừng ngợi khen. Chia làm bốn:
1. Nêu ra ý muốn ngợi khen.
2. Từ “Liền nói bài tụng rằng...” về sau chính là ngợi khen.
3. Từ “Nếu muốn cầu thỉnh...” về sau là kết thúc khuyến khích tu học.
4.  “Bấy giờ, Đức Phật bảo...” về sau là Thế Tôn khen ngợi thành tựu.
Trong phần đầu có ba: Đầu tiên là nghe pháp tâm vui vẻ, tiếp theo từ “bảo với đại chúng...” về sau là bảo đại chúng lắng nghe, sau từ “Nay tôi...” về sau là nói rõ ý muốn khen ngợi. Thắng nghĩa không thể nói bằng lời cho nên nói là y tục (dựa vào tục đế).
Văn kinh: Bèn nói bài tụng rằng: Kính lễ Thiên nữ Na-la-diên, ở trong thế giới được tự tại, nay tôi khen ngợi kia tôn quý, đều như vị Tiên xưa kia nói.
Tiếp theo chính là ngợi khen, có hai: Đầu tiên là bài tụng khen ngợi, sau là chú khen ngợi. Đầu tiên có hai mươi hai bài tụng, toàn bộ chia làm ba phần: Một bài tụng đầu nêu rõ sự ngợi khen; hai mươi bài tụng tiếp theo chính là ngợi khen; một bài tụng sau là quy y kính lễ. Đây là phần mở đầu.
Văn kinh: Thành tựu tốt lành tâm an ổn, thông minh hổ thẹn có tiếng tăm, là mẹ đã sinh ra thế gian, thường hành đại tinh tiến mạnh mẽ.
Tiếp theo chính thức ngợi khen, chia làm hai: Ba bài tụng đầu ngợi khen chung về nội ngoại đức; mười bảy bài tụng sau ngợi khen riêng về nội đức, ngoại đức. Văn phần đầu có ba: Một bài tụng đầu là nội đức; một bài tụng rưỡi tiếp theo là ngoại đức; nửa bài tụng sau là tổng kết. Đây là phần mở đầu, có bốn: Một câu là đức tâm an ổn tốt lành; một câu là đức thông minh danh tiếng vang khắp; một câu là đức nuôi lớn hữu tình; một câu là đức thường siêng năng không mệt mỏi.
Văn kinh: Ở trong quân trận thường chiến thắng, nuôi lớn điều phục tâm từ nhẫn, hiện làm chị cả của Diêm-la, thường mặc áo tơ tằm màu xanh, nghi dung đẹp xấu đều có đủ, đôi mắt khiến người thấy sợ hãi... trở xuống là ngợi khen ngoại đức, có ba: Nửa bài tụng đầu là chiến thắng hàng phục oán tặc; nửa bài tụng tiếp là đức tùy loại thọ sinh; nửa bài tụng tiếp là đức đầy đủ các hình tướng.
Văn kinh: Thắng hạnh vô lượng hơn thế gian, người quy tín thảy
đều che chở.
Tiếp theo là tổng kết.
Văn kinh: Hoặc ở núi cao sâu hiểm trở, hoặc ở hang động và bên sông, hoặc ở các rừng cây đại thọ, Thiên nữ thường trú ở trong này. Giả sử hạng dân quê rừng rú, cũng thường cúng dường cho Thiên nữ, dùng lông chim công làm cột cờ, bất cứ lúc nào lúc thường hộ thế, sư tử, cọp beo luôn vây quanh, trâu dê gà chó cũng cùng theo, lắc vang chuông lớn phát âm thanh, các núi Tần-đà đều nghe tiếng, hoặc cầm chĩa ba đầu búi tóc, trái phải luôn giữ cờ nhật nguyệt, ngày mùng chín, mười một và ngày rằm, trong các ngày này nên cúng dường; hoặc hiện em gái trời Bà-tô, thấy có chiến tranh tâm thương xót.
Tiếp theo là ngợi khen riêng về nội đức và ngoại đức, có hai: Bốn bài tụng rưỡi đầu là ngợi khen ngoại đức; mười hai bài tụng rưỡi sau là ngợi khen về nội đức. Trong phần đầu có ba: Một bài tụng rưỡi đầu là trú xứ cúng dường; hai bài tụng tiếp theo là nghi thức theo giúp đỡ; một bài tụng sau là nhân tiện nói về thời gian cúng dường và phân biệt rõ hình tướng không nhất định.
Văn kinh: Quán sát trong tất cả hữu tình, Thiên nữ trên hết không ai hơn.
Tiếp theo là ngợi khen về nội đức, có hai: Mười bài tụng rưỡi đầu là ngợi khen đức đại trí tôn quý cao siêu, hai bài tụng sau là khen ngợi đức đại bi cứu khổ. Trong phần đầu có ba: Nửa bài tụng đầu nêu ra sự cao quý, chín bài tụng tiếp theo là khen ngợi riêng, một bài tụng cuối là kết luận sự cao quý. Đây là phần mở đầu.
Văn kinh: Quyền hiện gái chăn trâu vui vẻ, đánh nhau với trời thường chiến thắng, thường an trú lâu ở thế gian, cũng vì hòa nhẫn và bạo ác, pháp tứ minh đại Bà-la-môn, chú thuật huyễn hóa đều thông suốt.
Tiếp theo là ngợi khen riêng, có mười một:
1. Thắng lợi về hàng phục oán thù.
2. “Thường an trú lâu...” về sau là trụ thế thù thắng.
3. “Pháp tứ minh đại Bà-la-môn...” về sau là hiểu biết thù thắng. Pháp Tứ minh tức là bốn bộ luận Bệ-đà, xưa dịch là Vi-đà hoặc Tỳ- già-la luận, đều là lầm cả. Hiệt-lực-bệ-đà, Hán dịch là thọ minh, giải thích về các việc ngắn dài của mạng số; Gia-thọ-bệ-đà, Hán dịch là từ tự minh, giải thích về các việc cúng tế; Bà-ma-bệ-đà, Hán dịch là bình minh, bình luận về chuyện phải trái; A-đạt-bệ-đà, Hán dịch là thuật minh, giải thích về các kỹ thuật. Kinh này nói “Các thứ chú thuật huyễn
hóa đều thông suốt” ấy chính là thuật minh thứ tư.
Văn kinh: Ở trong Thiên tiên được tự tại, thường làm hạt giống và mặt đất.
Tiếp theo thứ bốn là thù thắng trong hàng Thiên tiên. Thường làm hạt giống... là giải thích lý do thù thắng đó.
Văn kinh: Lúc các Thiên nữ đều nhóm họp, như sóng biển lớn sẽ đến ứng.
Tiếp theo thứ năm là thế tin tưởng thù thắng.
Văn kinh: Với các rồng thần, chúng Dược-xoa, hoặc làm thượng thủ luôn điều phục.
Tiếp theo thứ sáu là điều phục thù thắng.
Văn kinh: Phạm hạnh nhất trong các cô gái, nói ra giống như chủ thế gian, ngồi trên ngôi vua như hoa sen, nếu ở bến sông như cầu bè.
Tiếp theo thứ bảy là phạm hạnh thù thắng có ba:
1) Nói năng không dua nịnh giả dối, giống như người đứng đầu thế gian.
2) Không nhiễm các pháp thế gian giống như hoa sen.
3) Thường thực hành cứu giúp chúng sinh giống như cầu thuyền.
Văn kinh: Diện mạo giống như trăng tròn đầy, học rộng đầy đủ làm chỗ nương, biện tài hơn hẳn như đỉnh cao, người niệm đều giúp làm cồn bãi.
Tiếp theo thứ tám, làm nơi nương tựa thù thắng, có ba: Đầu tiên là xinh đẹp, tiếp đến là học rộng, sau là biện tài. Đầy đủ công đức làm nơi nương tựa thường như cồn bãi.
Văn kinh: Các chúng trời, A-tu-la thảy đều cùng xưng tán công đức đó, cho đến Đế Thích chủ ngàn mắt, dùng tâm sâu nặng mà quán sát.
Tiếp theo là phần thứ chín, xưng tán thù thắng.
Văn kinh: Nếu chúng sinh có việc mong cầu, đều luôn khiến mau được thành tựu, cũng khiến thông biện, có văn trì, là bậc nhất trông giữ đại địa, ở trong thế giới mười phương này, như đèn sáng lớn thường chiếu khắp, cho đến quỷ thần các cầm thú, thảy đều thỏa mãn tâm mong cầu.
Tiếp theo thứ mười, thỏa mãn mong cầu thù thắng, có ba: Nửa bài tụng đầu nêu ra, một bài tụng giải thích, nửa bài tụng kết luận.
Văn kinh: Như núi cao trong các người nữ, như vị Tiên xưa ở đời lâu, như thiếu nữ trời thường lìa dục, thật ngữ giống như đại thế vương;
thấy mọi loài thế gian khác nhau, cho đến các tầng trời cõi Dục, chỉ có Thiên nữ đáng tôn xưng, không thấy hữu tình nào sánh bằng.
Tiếp theo là phần thứ mười một nói về công đức tôn quý thù thắng, có hai: Một bài tụng đầu nói riêng về sự thù thắng, một bài tụng sau tổng kết nêu ra sự thù thắng.
Văn kinh: Nếu ở nơi chiến trận sợ hãi, hoặc thấy rơi vào trong hố lửa, hay bến sông hiểm nạn trộm cướp, đều dứt trừ được sợ hãi kia, hoặc bị pháp vua làm giam cầm, hoặc bị kẻ oán thù giết hại, nếu tâm luôn chuyên chú không đổi, chắc chắn thoát khỏi các buồn lo.
Tiếp theo là hai bài tụng trong phần ngợi khen về nội đức. Thứ hai là khen ngợi đức đại bi cứu khổ, có hai: Đầu tiên là nói riêng, nửa bài tụng sau là kết thúc các ví dụ.
Văn kinh: Đối người thiện ác đều ủng hộ, từ bi thương xót thường hiện tiền, vì thế tôi đem tâm chí thành, cúi đầu quy y đại Thiên nữ.
Tiếp theo là kết thúc quy y lễ bái.
Văn  kinh:  Bấy  giờ,  Bà-la-môn  lại  dùng  chú  tán  để  ngợi  khen Thiên nữ rằng: Quy kính quy kính thế gian tôn, là bậc Tối thắng trong các mẹ, ba thứ thế gian cùng cúng dường, diện mạo nghi dung người ưa thấy, các thứ diệu đức dùng trang nghiêm, mắt như cánh sen xanh dài rộng, phước trí ánh sáng tiếng vang lừng, giống như ngọc ma-ni vô giá. Nay tôi khen ngợi bậc Tối thắng, đều thành tựu được tâm sở cầu, công đức chân thật rất tốt lành, giống như hoa sen rất thanh tịnh. Sắc thân xinh đẹp đều thích nhìn, các tướng ít có không nghĩ bàn, thường phát ánh sáng trí vô cấu, là trên hết ở trong các niệm. Như sư tử đầu đàn cầm thú, thường có tám tay tự trang nghiêm, đều nắm cung tên đao giáo búa, chày dài vòng sắt và lưới tơ. Xinh đẹp thích nhìn như trăng tròn, ngôn từ lưu loát phát tiếng hay, nếu có chúng sinh tâm nguyện cầu, Thiện sĩ tùy niệm khiến viên mãn. Các trời Đế Thích thảy cúng dường, đều cùng khen ngợi đáng quy y, sinh ra các đức không nghĩ bàn, bất cứ lúc nào cũng cung kính, Sa-ha (Trên đây là chú, tụng là chú cũng là tán. Nếu lúc trì chú nhất định phải đọc tụng).
Tiếp theo lại dùng chú ngợi khen. Xem văn có thể biết.
Văn kinh: Nếu muốn cầu thỉnh Biện tài Thiên, nương ngôn từ cú chú tán này, sáng sớm thanh tịnh chí thành tụng, mọi việc mong cầu đều như ý.
Tiếp  theo  trong  phần  vui  mừng  ngợi  khen,  thứ  ba  là  kết  thúc khuyến khích tu học.
Văn kinh: Bấy giờ, Đức Phật bảo Bà-la-môn: Lành Thay! Lành
thay! Ông có thể làm lợi ích chúng sinh như thế, giúp cho an vui nên khen ngợi Thiên nữ đó, thỉnh cầu che chở được bô biên phước đức (loại chú pháp này có lược có rộng, hoặc khai triển hoặc kết hợp trước sau không như nhau. Bản tiếng Phạn đã nhiều, chỉ căn cứ theo một bản dịch, về sau do sánh biết rõ điều đó.
Tiếp theo là phần thứ tư Thế Tôn ngợi khen thành tựu.
 
 
 
*****
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »