Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 183, Bộ Sử Truyện V, Số 2040- 2053 (Quyển 1- 5)

Đại Tập 183, Bộ Sử Truyện V, Số 2040- 2053 (Quyển 1- 5)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 963.

Chương 49: Mục Lục (Trang 950 - 963)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

                           TẬP 183


 
 
                 BỘ SỬ TRUYỆN
                             V

                  SỐ 2040- 2053

 
 
 
 
      HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
  LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
                                          Lời Giới Thiệu
Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh cho riêng họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một giảm sút dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác Phẩm chú thích, sớ giải v.v... của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học sĩ cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh ­–Tiến sĩ Tiết học– hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm họ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v...
-Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v...
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ Phật giáo Việt Nam, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn, ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
                                                    Lời Nói Đầu

Ba Tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải qua mấy mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hôi đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vò sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đúng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nhận cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày khoảng một ngàn trang khổ 17 x 24 cm, như
_________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, xb 1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vị Phật học gia. Phật học bổn vị Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kì gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
 quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Wantanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay, Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về mặt hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng Giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
                      NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
                  TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I-Viết hoa toàn bộ:

1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…
 

V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…

梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.

                                          Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
                                                     Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH

VÀI NÉT VỀ TẬP 50

Tập 50- Phần 2 của Sử Truyện được thu lục vào Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 26 kinh, truyện từ No 2040 đến No 2065 là được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 183, 184, 185, 186 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
No 2040- Thích Ca Phổ 5 quyển do ngài Tăng Hựu soạn vào đời Lương. Nội dung trích dẫn nhiều kinh luật Đại, Tiểu thừa nói về các truyền thuyết liên quan đến các thế hệ của dòng họ Thích Ca, sử tích một đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và sự truyền bá Phật pháp từ sau khi Phật nhập diệt cho đến thời đại vua A Dục
No 2041- Thích Ca Thị Phổ 1 quyển do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường.Về nội dung tương tự Thích Ca Phổ, nhưng do bản Thích Ca Phổ đời Lương văn truyện dài dòng, nên ngài Đạo Tuyên đã tóm lược, ngắn gọn, và mạch lạc khiến người sau dễ hiểu hơn.
No 2042- A Dục Vương Truyện 7 quyển do ngài Ann Pháp Khâm dịch vào đời Tây Tấn. Sách này nội dung chia làm 11 phẩm trình bày sự tích của vua A- Dục và các nhân duyên của các tôn giả Ma Ha Ca Diếp, Ưu Ba Cúc Đa,…
No 2043- A Dục Vương Kinh 10 quyển, do ngài Tăng Già Bà La dịch vào đời Lương. Đây là một bản dịch khác của A Dục Vương Truyện.
No 2044- Thiên Tôn Thuyết A Dục Vương Thí Dụ Kinh 1 quyển.
No 2045- A Dục Vương Tức Hoại Mục Nhân Duyên Kinh 1 quyển, do ngài Đàm Ma La Đề dịch vào đời Phù Tần.
No 2046- Mã Binh Bồ Tát truyện 1 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời hậu Tần. Nội dung ghi lại thân thế cuộc đời sự nghiệp tu hành giáo hoa của Bồ tát Mã Minh, một vị Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ.
No 2047- Long Thọ Bồ Tát Truyện 1 quyển, và Long Thọ Bồ Tát Truyện 1 quyển- biệt bản đều do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diệu Tần.Nội dung chia ra làm 7 đoạn nói rõ dòng dõi xuất thân cho đến hành trạng và nguyên do tại sao đặt tên Long Thọ. Sách này hành văn tương tự với truyện Long Thọ trong Phó Pháp Tạng Nhân Duyên truyện quyển 5 do hai ngài Cát Ca Dạ và Đàm Diệu cùng dịch vào đời Nguyên Nguỵ.
 
No 2048- Đề- Bà Bồ Tát truyện 1 quyển do Ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diệu Tần.
No 2049- Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện 1 quyển, do ngài Châu Đế dịch vào đời Trần. Nội dung sách này chủ yếu tóm tắt truyện về hai ngài Vô Trước và Thế Thân.
No 2050- Tuỳ Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Biệt Truyện 1 quyển, do ngài Quán Đảnh soạn vào đời Tuỳ. Nội dung sách này ghi chép hành trạng của Đại Sư Trí Khải theo thể biên niên. Trong các truyện kí về ngài Trí Khải thì tác phẩm này có niên đại soạn thuật sớm nhất, việc trình bày cũng rất tỉ mỉ rõ ràng, nên được xem trọng.
No 2051, Đường Hộ Pháp Sa Môn Pháp Lâm Biệt Truyện 3 quyển, do ngài Nhan Tông soạn vào đời Đường.
No 2052, Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trang 1 quyển, do ngài Minh Tường soạn vào đời Đường.
No 2053, Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện 10 quyển, do các Ngài Tuệ Lập Bổn, Nhan Tông Tiên soạn.
No 2054, đường Đại Tiến Phúc Tự Cố Tự Chủ Phiên Kinh Đại Đức Pháp Tạng Hoà Thượng Truyện 1 quyển, do Ngài Thôi Chính Viễn người nước Tân La soạn.
No 2055- Huyền Tông Triều Phiên Kinh Tam Tạng Thiên Vô Uý Tặng Hồng Lô Ngự Hành Trang 1 quyển, do ngài Lý Hoa soạn  vào đời Đường.
No 2056- Đại Đường Cổ Đại Đức Tặng Ty Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Bất Không Tam Tạng Hành Trạng 1 quyển, do ngài Tiêu Thiên soạn  vào đời Đường
No 2057- Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cung Phụng Đại Đức Hành Trạng 1 quyển
No 2058- Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện 6 quyển, do ngài ngài Cát Ca Dạ và Đàm Diệu dịch vào đời Nguyên Nguỵ. Bộ Sử Truyện này gồm 6 quyển, nói về sự tích phó pháp và thế hệ truyền thừa qua 23 vị Tổ sư Ấn Độ từ Tôn Giả Ca Diếp cho đến Tôn Giả Sư Tử
No 2059- Cao Tăng Truyện 14 quyển, do ngài Tuệ Kiều soạn vào đời Lương. Nội dung thu chép tiểu sử của 257 vị Cao Tăng kể từ khi phật giáo bắt đầu được truyền vào Trung Quốc vào năm Vĩnh Bình thứ 10 đời vua Minh Đế nhà Đông Hán cho đến năm Thiên Giám thứ 18 triều Lương, khoảng 453 năm. Đối với lịch sử Phật Giáo Trung Quốc ở thời kỳ đầu, có thể nói sách này là tư liệu đáng tin cậy nhất cho các sử truyện ở các triều đại sau.
 
No 2060- Tục Cao Tăng truyện 30 quyển, do ngài Đạo Tuyên soạn vào đời Đường. Còn gọi Đường Cao Tăng truyện. Toàn sách chia làm 10 khoa, nội dung thu chép truyện chính của 114 vị cao tăng, và truyện phụ của 201 vị trong khoảng thời gian từ đời Lương đến năm Trinh Quán 19( 645) đời Đường.
No 2061- Tống Cao Tăng truyện 30 quyển, do ngài Tán Ninh soạn vào đời Tống. Sách này tiếp theo Tục Cao Tăng Truyện đời Đường, thu chép truyện ký của các vị cao tăng sống trong khoảng 343 năm từ giữa năm Trinh Quán (627- 649) đời vua Thái Tông nhà Đường đến niên hiệu Đoan Củng năm đầu (988) đời vua Thái Tông nhà Tống. Nội dung ghi chép hành trạng 531 vị chính, 125 vị phụ.
No 2062- Đại Minh Cao Tăng truyện 8 quyển, do ngài Như Tịnh soạn vào đời Minh. Nội dung thu chép tiểu sử của các bậc cao tăng trong khoảng 500 năm từ đầu đời Nam Tống đến năm Vạn Lịch đời vua Thần Tông nhà Minh gồm 138 vị chính, 71 vị phụ
No 2063- Tỳ Khưu Ni truyện 4 quyển, do ngài Bảo Xướng soạn vào đời Lương. Nội dung sách này thu chép truyện ký của 65 vị Ni sư trong khoảng 150 năm bắt đầu từ năm Thăng bình đời Mục đế nhà Đông tấn đến năm Thiên Giám 11 (511) đời Lương.
No 2064- Thần Tăng Truyện 9 quyển do vua Thành Tổ soạn vào đời Minh. Nội dung tập hợp các bậc danh tăng do thần dị mà nổi tiếng, gồm 208 vị như  các ngài Ma Đẳng, Trúc Pháp Lan…
No 2065- Hải Đông Cao Tăng Truyện 2 quyển, do ngài Giác Huấn người nước Cao Ly soạn. Nội dung sách này ghi chép sự tích của các vị cao tăng Triều Tiên. Đây là bộ cao tăng truyện xưa nhất của nước Triều Tiên.
Trên đây là tóm lược nội dung tập 50 Đại Chánh Tân Tu Tạng.
                                    BAN BIÊN TẬP
 
                  MỤC LỤC
(BỘ SỬ TRUYỆN 5- TẬP 183)

SỐ 20140- GIẢ PHẢ PHẬT THÍCH CA............................. 3
LỜI TỰA ............................................................................... 3
QUYỂN 1............................................................................... 5
QUYỂN 2............................................................................... 123
QUYỂN 3............................................................................... 146
QUYỂN 4............................................................................... 158
QUYỂN 5............................................................................... 180
SỐ 2041- GIẢ PHẢ DÒNG HỌ THÍCH CA....................... 204
 
SỐ 2042- TRUYỆN A DỤC VƯƠNG.................................. 247
QUYỂN 1............................................................................... 247
QUYỂN 2............................................................................... 265
QUYỂN 3............................................................................... 283
QUYỂN 4............................................................................... 299
QUYỂN 5............................................................................... 316
QUYỂN 6............................................................................... 335
QUYỂN 7............................................................................... 353
SỐ 2043- KINH A DỤC VƯƠNG........................................ 373
QUYỂN 1............................................................................... 373
QUYỂN 2............................................................................... 387
QUYỂN 3............................................................................... 402
QUYỂN 4............................................................................... 420
QUYỂN 5............................................................................... 435
QUYỂN 6............................................................................... 442
QUYỂN 7............................................................................... 455
QUYỂN 8............................................................................... 472
 
QUYỂN 9...............................................................................   488
QUYỂN 10............................................................................. 503
SỐ 2044- KINH THẾ TÔN THUYẾT A DỤC VƯƠNG THÍ DỤ
...............................................................................................  521
SỐ 2045- KINH NÓI VỀ NHÂN DUYÊN THÁI TỬ CỦA VUA A
 DỤC VÌ LỢI LẠC PHÁP MẦU MÀ BỊ HOẠI  MẮT........ 531
SỐ 2046- MÃ MINH BỒ TÁT TRUYỆN............................. 609
SỐ 2047- LONG THỌ BỒ TÁT TRUYỆN (1).................... 617
LONG THỌ BỒ TÁT TRUYỆN (2)..................................... 622
SỐ 2048- TRUYỆN ĐỀ BÁT BỒ TÁT................................. 629
SỐ 2049- TRUYỆN PHÁP SƯ BÀ TẨU BÀN ĐẬU............ 637
SỐ 2050- ĐỜI TUỲ- THIÊN THAI TRÍ GIẢ ĐẠI SƯ BIỆT
TRUYỆN............................................................................... 651
SỐ 2051- BIỆT TRUYỆN VỀ SA MÔN HỘ PHÁP ĐỜI ĐƯỜNG
 LÀ NGÀI PHÁP LÂM ........................................................ 679
LỜI TỰA................................................................................ 679
QUYỂN THƯỢNG................................................................. 681
QUYỂN TRUNG.................................................................... 699
QUYỂN HẠ .......................................................................... 715
SỐ 2052- HÀNH TRẠNG CỦA TAM TẠNG PHÁP SƯ HUYỀN
 TRANG ĐỜI ĐƯỜNG......................................................... 737
SỐ 2053- TRUYỆN TAM TẠNG PHÁP SƯ CHÙA ĐẠI TỪ ÂN
 ĐỜI ĐƯỜNG....................................................................... 763
LỜI TỰA ............................................................................... 763
QUYỂN 1............................................................................... 766
QUYỂN 2............................................................................... 782
QUYỂN 3............................................................................... 805
QUYỂN 4............................................................................... 825
QUYỂN 5............................................................................... 843
QUYỂN 6............................................................................... 864
QUYỂN 7............................................................................... 880
QUYỂN 8............................................................................... 896
QUYỂN 9............................................................................... 913
QUYỂN 10............................................................................. 935
 
/49
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »