Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 70 - Bộ Mật Tông - Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Số 945 (Quyển 1-10)

Đại Tập 70 - Bộ Mật Tông - Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Số 945 (Quyển 1-10)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 423.

Chương 8: Quyển 7 (Trang 227 - 259)

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
QUYỂN 7
Mục 3: PHẬT KHAI THỊ VỀ MẬT GIÁO, THẦM GIÚP CHO 
NHỮNG NGƯỜI TU HÀNH
  Chánh văn:
  A-nan! Ông hỏi cách thâu giữ tâm niệm, thì Như Lai đã nói: Người muốn hội nhập Tam-ma-đề, tu học pháp môn nhiệm mầu, cầu đạo Bồtát, trước hết cần giữ bốn thứ luật nghi đó trong sáng như giá như sương, tự không thể sinh ra được tất cả nhánh lá, ba ý nghiệp, bốn khẩu nghiệp ác chắc chắn không còn có nhân mà sinh được. A-nan! Nếu giữ bốn việc như vậy không thiếu sót, thì tâm còn không duyên với sắc, hương, vị, xúc, tất cả ma sự làm sao phát sinh được. Nếu người có tập khí cũ không thể diệt trừ, ông dạy người đó nhất tâm tụng thần chú vô thượng “Phật đảnh quang minh ma ha tát đát đa bát đát ra” của Ta, đó là tâm chú do tâm Phật vô vi thuộc tướng vô kiến đảnh của Như Lai, từ nơi đảnh hiện ra, ngồi trên hoa sen báu nói ra.
  Vả lại, ông cùng nàng Ma-đăng-già, do nhân duyên nhiều kiếp từ đời trước thành tập khí ân ái, không phải một đời hay là một kiếp, song một phen Như Lai tuyên dương thần chú, thì nàng Ma-đăng-già thoát hẳn khỏi lòng yêu, thành tựu quả A-la-hán. Nàng kia, còn là dâm nữ, không có tâm tu hành, do sức diệu của thần chú giúp, cũng mau chứng quả vô học, thế thì các ông, những hàng Thanh văn trong hội nầy, cầu thừa tối thượng, thì quyết định sẽ thành Phật, cũng ví như bụi bay gặp gió thuận có khó khăn gì?
  Nếu có người, trong đời mạt pháp, muốn ngồi nơi đạo tràng tu hành, trước hết phải giữ giới Tỳ-kheo thanh tịnh và cần phải lựa chọn những vị Sa-môn giữ giới thanh tịnh bậc nhất để làm thầy mình, nếu không gặp được Tăng chúng thật thanh tịnh, thì giới luật nghi chắc chắn không thành tựu được. Sau khi giới luật được thành tựu rồi, người đó đắp y mới, sạch sẽ, đốt hương, ở riêng một mình, tụng thần chú, do tâm 
Phật nói, một trăm lẻ tám biến, về sau, kiết giới dựng lập đạo tràng cầu các Đức Như Lai vô thượng, hiện ở nơi các cõi nước mười phương, phóng hào quang đại bi đến rọi nơi đảnh đầu mình.
  A-nan! Những hàng Tỳ-kheo, hoặc Tỳ-kheo ni, hoặc bạch y đàn việt thanh tịnh như vậy, trong đời vị lai, tâm diệt được tham dâm, giữ giới thanh tịnh của Phật, ở trong đạo tràng, phát nguyện Bồ-tát, khi ra, khi vào, khi tắm, khi rửa, cả trong sáu thời đều hành đạo như vậy, không ngủ, đến hai mươi mốt ngày, thì Như Lai tự hiện thân đến trước người ấy, xoa đảnh an ủi, khiến cho khai ngộ.
  * Chú thích:
  Phật giáo có Hiển giáo và Mật giáo, Hiển giáo chỉ dạy đạo lý rành mạch, để cho các hàng đệ tử tự mình rõ được phương pháp huân tập tự tâm, diệt trừ các sự mê lầm và được giác ngộ. Song, đối với những người không thể học hiểu được Hiển giáo, lại có lòng tin chắc chắn đối với đạo Phật, thì có thể tu học Mật giáo, Mật giáo dạy những câu thần chú, mỗi câu đều có những hiệu quả nhất định, nếu người tu hành muốn được hiệu quả gì và tụng trì câu chú thích hợp, thì cũng có thể được hiệu quả mong muốn. Như muốn qui y, thì tụng trì chú Tam qui, muốn khẩu nghiệp được thanh tịnh, thì tụng trì chú Tịnh khẩu nghiệp v.v... những câu chú nầy thường để nguyên văn tiếng Phạm, không dịch, nhưng không phải hoàn toàn không có nghĩa. Các thầy về Mật tông khi truyền chú, thường có giải thích ý nghĩa, để cho người tụng trì có thể miệng đọc chú, tay bắt ấn, ý quán tưởng: đó là tam mật gia trì. Chỉ vì những câu chú, lời thì vắn, nghĩa thì rộng, nên không thể phiên dịch được mà thôi. Câu chú Thủ lăng nghiêm, gọi tên là Ma ha Tát-đáttha-bát-đát-ra, có thể dịch là Đại bạch tán cái. Đại là lớn, chỉ cho cái thể rộng lớn, cái tướng rộng lớn, cái dụng rộng lớn của bản lai tự tánh. Bạch là trắng, nghĩa là trong sạch, không bị hai chướng nhiễm ô. Tán cái là tàn lọng, có ý nghĩa là tự che chở cho mình và cho tất cả chúng sinh, khỏi các sự khổ não. “Đại” tiêu biểu cho bản tánh chân như, “Bạch” tiêu biểu cho trí tuệ, cho giải thoát, cho nhất thiết trí, “Tán cái” tiêu biểu cho từ bi, cho nhất thiết chủng trí v.v... Như thế, khi tụng chú Ma ha Tát-đát-tha-bát-đát-ra, thì trong ý phải quán Nhất chân như tâm, Tự tánh thanh tịnh tâm và Diệu dụng từ bi phổ độ chúng sinh. Quán được như thế, tất cả nghiệp chướng thảy đều tiêu tan và quyết định không thể còn có ma sự được. Những câu chú lại còn là mật lệnh của chư Phật, kêu gọi các vị Kim cương tạng vương Bồ-tát và vị Hộ pháp thiện thần giúp đỡ và gìn giữ những người tu học.
  Chú Lăng Nghiêm biểu hiện toàn thể toàn dụng của tự tâm, nên gọi là tâm chú. Tâm chú nầy có hiệu quả rất lớn, khi người trì tụng phát tâm cân xứng với thần chú, nghĩa là cân xứng với bản lai tự tánh.
  Muốn phát tâm được như thế, trước hết phải cần giữ giới luật cho thanh tịnh. Vì vậy, Phật đã dạy bốn điều quyết định trước kia là, thân tâm quyết dịnh không phạm những giới căn bản là sát, đạo, dâm, vọng. Phật dạy cái tâm không dâm, cái tâm không sát v.v... lại dạy phải lấy trực tâm làm đạo tràng, tâm niệm một ngã không thể có kết quả được.
  Vậy tu theo Mật giáo, không phải chỉ đọc thuộc câu chú là đủ, mà còn phải phát tâm tin chắc chắn, tin ở khả năng diệt trừ phiền não mê lầm, chứng quả Bồ-đề, người tin được như thế, dầu không thấu hiểu sâu xa đạo lý nhiệm mầu của Phật, cũng có thể thành Phật được.
------------------------------- 
Mục 4: KHAI THỊ NHỮNG PHÁP TẮC LẬP 
ĐẠO TRÀNG TU TRÌ
Đoạn 1: A-Nan Xin Hỏi Về Qui Tắc Đạo Tràng
  Chánh văn:
  Tôn giả A-nan bạch Phật:
  - Thưa Thế Tôn! Con nhờ lời từ bi dạy bảo vô thượng của Đức Như Lai, tâm đã khai ngộ, tự biết con đường tu chứng thành quả vô học, song những người tu hành, trong đời mạt pháp, muốn lập đạo tràng, cần kiết giới thế nào cho hợp với qui tắc thanh tịnh của chư Phật Thế Tôn?
  * Chú thích:
  Tôn giả A-nan nhờ Phật dạy bảo tâm đã khai ngộ, tự mình đã biết con đường tu chứng Phật đạo, dầu không vào đạo tràng và không trì chú, cũng chắc chắn sẽ thành Phật, không có nghi hoặc, nhưng vì lòng thương xót những người tu hành trong đời mạt pháp, chưa biết phương pháp huân tập đúng đắn, nên thỉnh cầu Phật dạy cho những qui tắc lập ra đạo tràng và kết giới tu trì.
Đoạn 2: Khai Thị Nghi Thức Đạo Tràng
  Chánh văn:
  Phật bảo Tôn giả A-nan:
  - Nếu người đời mạt pháp muốn lập đạo tràng, trước hết phải lấy phân của con bò trắng có sức khỏe ở núi Tuyết. Loại bò trắng nầy ăn cỏ thơm ngon tốt trong núi và chỉ uống nước trong trên núi Tuyết, nên phân nó mịn màn, nhân lấy phân nó hòa hợp với hương chiên đàn để quét trên mặt đất. Nếu không phải ở núi Tuyết, thì phân bò trắng nơi khác hôi nhớp không thể trát đất được. Vậy phải riêng ở nơi bình nguyên, đào bỏ các lớp đất trên mặt, lấy thứ đất vàng từ năm thước trở xuống, rồi lấy mười thứ hương là chiên đàn, trầm thủy, tô hợp, huân sáu, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng và kê thiệt, nghiền rây thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, để trát trên mặt đất đạo tràng, mỗi bề một trượng sáu, thành cái đàn bát giác. Giữa trung tâm đàn, an trí một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, cây, giữa hoa để một cái bát, trong bát đựng trước nước từ mù sương tháng tám và trong nước ấy tùy ý cắm các hoa lá hiện có. Rồi lấy tám cái gương tròn, mỗi cái để một phía, chung quanh hoa sen và bát hoa. Bên ngoài những gương ấy, an trí mười sáu hoa sen và giữa các hoa sen để mười sáu lư hương cho trang nghiêm. Trong lư hương đốt toàn hương trầm thủy, không cho thấy lửa. 
Lấy sữa bò trắng để trong mười sáu đồ đựng, lấy sữa làm bánh nướng và các thứ đường cát, bánh rán, bột sữa, tô hộp, mứt gừng, mật ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ mười sáu đồ đựng, đặt ở ngoài hoa sen và quanh vòng hoa sen, để cúng dâng cho Phật và các vị Đại Bồ-tát.
  Trong mỗi thời ăn cơm và ở giữa đêm, lấy nửa thăng mật và ba cáp bơ, trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ, lấy hương Đâu-lâu-bà, nấu lấy nước thơm, rửa than cho sạch, rồi đốt than đỏ hồng trong lư và rót mật bơ vào, đốt cho hết khói để cúng dường chư Phật, Bồ-tát.
  Ở bốn phía ngoài, treo khắp phướn và hoa, ở trong phòng đàn, an trí hình tượng hiện có của mười phương Như Lai và các vị Bồ-tát nơi bốn vách. Nên ở chính giữa để hình tượng Phật Lô-xá-na, Phật Thíchca, Phật Di-lặc, Phật A-súc, Phật Di-đà và các hình tượng đại biến hóa của Bồ-tát Quán Âm, lại thêm hình tượng các vị Bồ-tát Kim Cương Tạng để ở hai bên, những tượng của Đế thích, Phạm vương, Ô-sô-sắtma, Lam-địa-ca, Quân-trà-ly, Tỳ-câu-chi và Tứ Thiên vương, Tần-na, Dạ-ca v.v... treo ở hai bên cửa, lại lấy tám cái gương treo úp trên hư không, mặt gương nầy đối chiếu với tám gương trước, đã để trong đàn tràng, làm cho các hình ảnh lồng nhau nhiều lớp.
  * Chú thích:
  Phật dạy nghi thức thành lập đạo tràng rất là rõ ràng, nghi thức ấy tuy là sự, nhưng vẫn tượng trưng cho lý, như hoa sen tượng trưng cho nhân quả, đồng thời gương tròn tượng trưng cho đại viên cảnh trí, bóng trong gương lồng nhau nhiều lớp, tượng trưng cho Phật giới duyên khởi trùng trùng vô tận v.v...
Đoạn 3: Khai Thị Tu Trì Được Chứng
  Chánh văn:
  Trong tuần bảy ngày đầu, chí thành đảnh lễ danh hiệu mười phương Như Lai, các vị Đại Bồ-tát và A-la-hán, thường trong sáu thời tụng chú đi quanh đàn, chí tâm hành đạo, một thời thường là một trăm lẻ tám biến. Trong tuần bảy ngày thứ hai, một mặt chuyên tâm phát nguyện Bồ-tát, tâm không gián đoạn, trong luật nghi đạo, ta đã có chỉ dạy về nguyện. Trong tuần bảy ngày thứ ba, trong mười hai thời, một mặt trì chú Bát-đát-ra của Phật, đến ngày thứ bảy, thì thấy mười phương Như Lai cùng lúc xuất hiện, trong chỗ ánh sáng các mặt gương giao xen và được Phật xoa đảnh. Rồi liền ở nơi đạo tràng đó, tu pháp Tam-mađề, có thể khiến cho những người tu học như vậy, trong đời mạt pháp, thân tâm được sáng suốt, trong sạch như ngọc lưu ly.
  A-nan! Nếu trong các thầy truyền giới cho vị Tỳ-kheo ấy, hay trong mười vị Tỳ-kheo đồng hội, có một người giới hạnh không thanh tịnh, thì những đạo tràng như thế, phần nhiều là không thành tựu.
  Từ sau ba tuần bảy ngày, ngồi nghiêm chỉnh an cư, trải qua một trăm ngày, thì những người có lợi căn, không rời khỏi chỗ ngồi, đã được quả Tu-đà-hoàn, dầu cho nơi thân tâm Thánh quả chưa thành nhưng đã quyết định tự biết sẽ thành Phật, không sai chạy. Ông hỏi về đạo tràng, thì cách dựng lập như vậy.
  * Chú thích:
  Trong đoạn ba, Phật dạy phương pháp hành trì trung đàn, suốt ba năm bảy ngày, rồi chính ở nơi đạo tràng, tu pháp như huyễn Tam-mađề, thì hiệu quả rất mau chóng và rất to lớn, nghĩa là chỉ trong một trăm ngày, những vị lợi căn đã chứng được quả Tu-đà-hoàn, tức là đã siêu phàm nhập Thánh. Điều cốt yếu là những người tu hành trong đạo tràng phải thiết thực được giới, do đã thọ giới với các vị giáo sư thanh tịnh và trong các vị đồng tu ở đạo tràng, vị nào cũng giữ giới thanh tịnh, sự nghiệp tu trì mới có kết quả.
-----------------------------------
Mục 5: TUYÊN NÓI TÂM CHÚ RỘNG KHAI THỊ NHỮNG LỢI 
ÍCH
Đoạn 1: Phóng Hào Quang Thị Hiện Khắp
  Chánh văn:
  Tôn giả A-nan đảnh lễ nơi chân Phật, bạch Phật:
  - Từ khi xuất gia, con ỷ lại nơi lòng thương yêu của Phật, vì cầu tuệ đa văn, chưa chứng quả vô vi, nên bị tà thuật Phạm thiên kia bó buộc, tâm tuy rõ ràng, nhưng sức không tự do, nhờ gặp Bồ-tát Vănthù, khiến cho con được giải thoát. Tuy con thầm nhờ sức của thần chú Phật đảnh Như Lai, nhưng chính mình còn chưa được nghe chú ấy, xin nguyện đức Đại từ tuyên nói lại cho, thương xót cứu giúp các hàng tu hành trong hội nầy và những người đời sau còn trong luân hồi, nhờ mật âm của Phật mà thân ý được giải thoát. Bấy giờ, tất cả đại chúng trong hội thảy đều làm lễ, chờ nghe những câu chú bí mật của Như Lai.
  Lúc đó, Đức Thế Tôn từ nơi nhục kế phóng ra trăm thứ hào quang báu, trong hào quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa thân Như Lai ngồi trên hoa sen, nơi đảnh phóng ra mười đạo hào quang bách bảo, trong mỗi mỗi đạo hào quang đều hiện ra những vị Kim Cương Mật Tích, số lượng bằng mười số cát sông Hằng, xách núi, cầm chày, khắp cõi hư không. Đại chúng ngửa lên xem, vừa yêu vừa sợ, cầu Phật thương xót che chở, nhất tâm nghe Đức Như Lai Phóng Quang nơi tướng vô kiến đảnh của Phật tuyên nói thần chú.
  * Chú thích:
  Tôn giả A-nan tuy được thần chú gia bị, nhưng chính mình chưa được nghe, nên xin Phật từ bi trùng tuyên lại thần chú. Phật không tự mình tuyên chú lại để cho vị hóa Phật trên đảnh tuyên chú, là cốt chỉ dạy tất cả thần thông biến hóa đều thuộc về diệu dụng, nhưng bản thể vẫn không hề lay động.
Đoạn 2: Tuyên Đọc Thần Chú Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
  Chánh văn:
  1. Nam mô tát đát tha tô già đa gia a la ha đế tam diểu tam bồ đà tả.
  2. Tát đát tha Phật đà câu chi sắt ni sam.
  3. Nam mô tát bà bột đà bột địa tát đá bệ tệ.
  4. Nam mô tát đa nẫm tam diêu tam bồ đà câu chi nẫm.
  5. Sa xá ra bà ca tăng già nẫm.
6. Nam mô lô kê a la hán đá nẫm.
7. Nam mô tô lô đa ba na nẫm.
8. Nam mô sa yết rị đà già di nẫm.
9. Nam mô lô kê tam diểu già đá nẫm.
10. Tam diểu già ba ra để ba đa na nẫm.
11. Nam mô đề bà ly sắt nỏa.
12. Nam mô tất đà gia tỳ địa gia đà ra ly sắt nỏa.
13. Xá ba nô yết ra ha sa ha ra ma tha nẫm.
14. Nam mô bạt ra ha ma nê.
15. Nam mô nhân đà ra gia.
16. Nam mô bà già bà đế.
17. Rô đà ra gia.
18. Ô ma bát đế.
19. Sa hê dạ gia.
20. Nam mô bà già bà đế.
21. Na ra dã noa gia.
22. Bàn giá ma ha tam mộ đà gia.
23. Nam mô tất yết rị đa gia.
24. Nam mô bà già bà đế.
25. Ma ha ca ra gia.
26. Địa rị bát lạt na già ra.
27. Tỳ đà ra ba noa ca ra gia.
28. A địa mục đế.
29. Thi ma xá na nê bà tất nê.
30. Ma đát rị già noa.
31. Nam mô tất yết rị đa gia.
32. Nam mô bà già bà đế.
33. Đa tha già đá câu ra gia.
34. Nam mô bát đầu ma câu ra gia.
35. Nam mô bạt xà la câu ra gia.
36. Nam mô ma ni câu ra gia.
37. Nam mô già xà câu ra gia.
38. Nam mô bà già bà đế.
39. Đế rị trà thâu ra tây na.
40. Ba ra ha ra noa ra xà gia.
41. Đá tha già đa gia.
42. Nam mô bà già bà đế.
43. Nam mô a di đa bà gia.
44. Đá tha già đa gia.
45. A ra ha đế.
46. Tam diểu tam bồ đà gia.
47. Nam mô bà già bà đế.
48. A sô bệ gia.
49. Đá tha già đa gia.
50. A ra ha đế.
51. Tam diểu tam bồ đà gia.
52. Nam mô bà già bà đế.
53. Bệ sa xà gia câu rô phệ trụ rị gia.
54. Bát ra bà ra xà gia.
55. Đá tha già đa gia.
56. Nam mô bà già bà đế.
57. Tam bổ sư bí đa.
58. Tát lân nại ra lạt xà gia.
59. Đá tha già đa gia.
60. A ra ha đế.
61. Tam diểu tam bồ đà gia.
62. Nam mô bà già bà đế.
63. Xá kê dã mẫu na duệ.
64. Đát tha già đa gia.
65. A ra ha đế.
66. Tam diểu tam bồ đà gia.
67. Nam mô bà già bà đế.
68. Lạt đát na kê đô ra xà gia.
69. Đát tha già đa gia.
70. A ra ha đế.
71. Tam diểu tam bồ đà gia.
72. Đế biều nam mô tát yết rị đa.
73. Ế đàm bà già bà đa.
74. Tát đát đa già đô sắt ni sam.
75. Tát đát đa bát đát lam.
76. Nam mô a bà ra thị đam.
77. Bát ra đế dương kỳ ra.
78. Tát ra bà bộ đa yết ra ha.
79. Ni yết ra ha yết ca ra ha ni.
80. Bạt ra bí địa gia sất đà nễ.
81. A ca ra mật rị trụ.
82. Bát rị đát ra gia nãnh yết rị.
83. Tát ra bà bàn đà na mục xoa ni.
84. Tát ra bà đột sắt tra.
85. Đột tất phạp bát na nễ phạt ra ni.
86. Giá đô ra thất đế nẫm.
87. Yết ra ha sa ha tát ra nhã xà.
88. Tỳ đa băng sa na yết rị.
89. A sắt cha băng xa đế nẫm.
90. Na xoa sát đát ra nhã xà.
91. Ba ra tát đà na yết rị.
92. A sắt tra nẫm.
93. Ma ha yết ra ha nhã xà.
94. Tỳ đa băng tát na yết rị.
95. Tát bà xá đô rô nễ bà ra nhã xà.
96. Hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni.
97. Bí sa xá tất đát ra.
98. A cát ni ô đà ca ra nhã xà.
99. A bát ra thị đa cu ra.
100. Ma ha bát ra chiến trì.
101. Ma ha điệp đa.
102. Ma ha đế xà.
103. Ma ha thuế đa xà bà ra.
104. Ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nễ.
105. A rị gia đa ra.
106. Tỳ rị câu chi.
107. Thệ bà tỳ xà gia.
108. Bạt xà ra ma lể để.
109. Tỳ-xá rô đa.
110. Bột đằng dõng ca.
111. Bạt xà ra chế hát na a giá.
112. Ma ra chế bà bát ra chất đa.
113. Bạt xà ra thiện trì.
114. Tỳ-xá ra giá.
115. Phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa.
116. Tô ma rô ba.
117. Ma ha thuế đa.
118. A rị gia đa ra.
119. Ma ha bà ra a bát ra.
120. Bạt xà ra thương yết ra chế bà.
121. Bạt xà ra câu ma rị.
122. Câu lam đà rị.
123. Bạt xà ra hát tát đa giá.
124. Tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca.
125. Hốt tô mẫu bà yết ra đá na.
126. Bệ rô giá na câu rị gia.
127. Dạ ra thố sắt ni sam.
128. Tỳ chiết lam bà ma ni giá.
129. Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
130. Rô xà na bạt xà ra đốn trĩ giá.
131. Thế đa giá ca ma ra.
132. Sát xa thi ba ra bà.
133. Ế đế di đế.
134. Mẫu đà ra yết noa.
135. Sa bệ ra sám.
136. Quật phạm đô.
137. Ấn thố na mạ mạ tả.
138. Ô huân.
139. Rị sắt yết noa.
140. Bát lạt xá tất đa.
141. Tát đát tha già đô sắt ni sam.
142. Hổ huân.
143. Đô rô úng.
144. Chiêm bà na.
145. Hổ huân.
146. Đô rô úng.
147. Tất đam bà na.
148. Hổ huân.
149. Đô rô úng.
150. Ba ra sắt địa gia tam bát xoa noa yết ra.
151. Hổ huân.
152. Đô rô úng.
153. Tát bà dược xoa hát ra sát sa.
154. Yết ra ha nhã xà.
155. Tỳ bằng băng tát na yết ra.
156. Hổ huân.
157. Đô rô úng.
158. Giả đô ra thi để nẫm.
159. Yết ra ha sa ha tát ra nẫm.
160. Tỳ đằng băng tát na ra.
161. Hổ huân.
162. Đô rô úng.
163. Ra xoa.
164. Bà già phạm.
165. Tát đát tha già đô sắt ni sam.
166. Ba ra điểm xà cát rị.
167. Ma ha sa ha cát ra.
168. Bột thọ sa ha tát ra thất rị sa.
169. Câu chi sa ha tát nê đế lệ.
170. A tệ đề thị bà rị đa.
171. Cha cha anh ca.
172. Ma ha bạt xà rô đà ra.
173. Đế rị bồ bà na.
174. Mạn trà ca.
175. Ô huân.
176. Sa tất đế bạc bà đô.
177. Mạ mạ.
178. Ấn thố na mạ mạ tả.
179. Ra xà bà dạ.
180. Chủ ra bạt dạ.
181. A kỳ ni bà dạ.
182. Ô đà ca bà dạ.
183. Tỳ ta bà dạ.
184. Xá tát đa ra bà dạ.
185. Bà ra chước yết ra bà dạ.
186. Đột sắt xoa bà dạ.
187. A xá nễ bà dạ.
188. A ca ra mật rị trụ bà dạ.
189. Đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ.
190. Ô ca ra bà đa bà dạ.
191. Lạt xà đàn trà bà dạ.
192. Na già bà giạ.
193. Tỳ điều đát bà dạ.
194. Tô ba ra noa bà dạ.
195. Dược xoa yết ra ha.
196. Ra xoa tư yết ra ha.
197. Tất rị đa yết ra ha.
198. Tỳ xá giá yết ra ha.
199. Bộ đa yết ra ha.
200. Cưu bàn trà yết ra ha.
201. Bổ đan na yết ra ha.
202. Ca cha bổ đan na yết ra ha.
203. Tất kiền độ yết ra ha.
204. A bá tất ma ra yết ra ha.
205. Ô đàn ma đà yết ra ha.
206. Sa dạ yết ra ha.
207. Hê rị bà đế yết ra ha.
208. Xả đa ha rị nẫm.
209. Yết bà ha rị nẫm.
210. Rô địa ra ha rị nẫm.
211. Mang sa ha rị nẫm.
212. Mế đà ha rị nẫm.
213. Ma xà ha rị nẫm.
214. Xà đa ha rị nữ.
215. Thị tỷ đa ha rị nẫm.
261. Tỳ đa ha rị nẫm.
217. Bà đa ha rị nẫm.
218. A thâu giá ha rị nữ.
219. Chất đa ha rị nữ.
220. Đế sam tát bệ sam.
221. Tát bà yết ra ha nẫm.
222. Tỳ đà da xà sân đà dạ di.
223. Kê ra dạ di.
224. Ba rị bạt ra giả ca hất rị đảm.
225. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
226. Kê ra dạ di.
227. Trà diễn ni hất rị đảm.
228. Tỳ đà dạ sân đà dạ di.
229. Kê ra dạ di.
230. Ma ha bát thâu bát đát dạ.
231. Rô đà ra hất rị đảm.
232. Tỳ đà dạ sân đà dạ di.
233. Kê ra dạ di.
234. Na ra dạ noa hất rị đảm.
235. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
236. Kê ra dạ di.
237. Đát đỏa già rô trà tây hất rị đảm.
238. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
239. Kê ra dạ di.
240. Ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đảm.
241. Tỳ đà da xà sân đà dạ di.
242. Kê ra dạ di.
243. Ca ba rị ca hất rị đảm.
244. Tỳ đà da xà sân đà dạ di.
245. Kê ra dạ di.
246. Xà gia yết ra ma độ yết ra.
247. Tát bà ra tha sa đạt na hất rị đảm.
248. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
249. Kê ra dạ di.
250. Giả đốt ra bà tất nễ hất rị đảm.
251. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
252. Kê ra dạ di.
253. Tỳ rị dương hất rị tri.
254. Nan đà kê sa ra già noa bát đế.
255. Sách hê dạ hất rị đảm.
256. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
257. Kê ra dạ di.
258. Na yết na xá ra bà noa hất rị đảm.
259. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
260. Kê ra dạ di.
261. A la hán hất rị đảm tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
262. Kê ra dạ di.
263. Tỳ đà ra già hất rị đảm.
264. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
265. Kê ra dạ di bạt xà ra ba nễ.
266. Cụ hê dạ, cụ hê dạ.
267. Ca địa bát đế hất rị đảm.
268. Tỳ đà dạ xà sân đà dạ dị.
269. Kê ra dạ di.
270. Ra xoa võng.
271. Bà già phạm.
272. Ấn thố na mạ mạ tả.
273. Bà già phạm.
274. Tát đát đa bát đát ra.
275. Nam mô tụy đô đế.
276. A tất đa na ra lạt ca.
277. Ba ra bà tất phổ tra.
278. Tỳ ca tát đát đa bát đế rị.
279. Thập Phật ra, thập Phật ra.
280. Đà ra đà da.
281. Tần đà ra tần đà ra sân đà sân đà.
282. Hổ huân.
283. Hổ huân.
284. Phấn tra.
285. Phấn tra, phấn tra phấn tra phấn tra.
286. Sa ha.
287. Hê hê phấn.
288. A mưu ca gia phấn.
289. A ba ra đề ha đa phấn.
290. Bà ra bà ra đà phấn.
291. A tố ra tỳ đà ra ba ca phấn.
292. Tát bà đề bệ tệ phấn.
293. Tát bà na già tệ phấn.
294. Tát bà dược xoa tệ phấn.
295. Tát bà càn thát bà tệ phấn.
296. Tát bà bổ đơn na tệ phấn.
297. Ca tra bổ đơn na tệ phấn.
298. Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.
299. Tát bà đột sáp tỷ rê hất sắt đế tệ phấn.
300. Tát bà thập bà lê tệ phấn.
301. Tát bà a bá tất ma rê tệ phấn.
302. Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
303. Tát bà địa đế kê tệ phấn.
304. Tát bà đát ma đà kê tệ phấn.
305. Tát bà tỳ đà gia ra thệ tệ giá rê tệ phấn.
306. Xà dạ yết ra ma độ yết ra.
307. Tát bà ra tha sa đà kê tệ phấn.
308. Tỳ địa dạ giá rê tệ phấn.
309. Giả đô ra phược kỳ nễ tệ phấn.
310. Bạt xà ra câu ma rị.
311. Tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn.
312. Ma ha ba ra đinh dương xoa kỳ tệ phấn.
313. Bạt xà ra thương yết ra dạ.
314. Ba ra trượng kỳ ra xà gia phấn.
315. Ma ha ca ra dạ.
316. Ma ha mạt đát rị ca noa.
317. Nam mô Sa yết rị đa dạ phấn.
318. Bí sắt noa tỳ duệ phấn.
319. Bột ra ha mâu ni duệ phấn.
320. A kỳ ni duệ phấn.
321. Ma ha yết rị duệ phấn.
322. Yết ra đàn trì duệ phấn.
323. Miệt đát rị duệ phấn.
324. Rạo đát rị duệ phấn.
325. Giá văn trà duệ phấn.
326. Yết lã ra đát rị duệ phấn.
327. Ca bát rị duệ phấn.
328. A địa mục chất đa ca thi ma xá na.
329. Bà tư nễ duệ phấn.
330. Diễn cát chất
331. Tát đỏa bà tả.
332. Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tả.
333. Đột sắt tra chất đa.
334. A mạt đát rị chất đa.
335. Ô xà ra ha.
336. Già bà ra ha.
337. Rô địa ra ha ra.
338. Bà sa ra ha.
339. Ma xà ha ra.
340. Xà đa ra ha.
341. Thị bí đa ra ha.
342. Bạt lược dạ ha ra.
343. Càn đà ra ha.
344. Bổ sử ba ra ha.
345. Phả ra ha ra.
346. Bà tả ra ha.
347. Bát ba chất đa.
348. Đột sắt tra chất đa.
349. Lạo đà ra chất đa.
350. Dược xoa yết ra ha.
351. Ra sát sa yết ra ha.
352. Bế lệ đa yết ra ha.
353. Tỳ xá giá yết ra ha.
355. Bộ đa yết ra ha.
355. Cưu bàn trà yết ra ha.
356. Tất càn đà yết ra ha.
357. Ô đát ma đà yết ra ha.
358. Sa dạ yết ra ha.
359. A bá tát ma ra yết ra ha.
360. Trạch khư cách trà kỳ ni yết ra ha.
361. Rị Phật đế yết ra ha.
362. Xà di ca yết ra ha.
363. Xá câu ni yết ra ha.
364. Mỗ đà ra nan địa ca yết ra ha.
365. A lam bà yết ra ha.
366. Càn độ ba ni yết ra ha.
367. Thập phạt ra yên ca hê ca.
368. Trụy đế dược ca.
369. Đát lệ đế dược ca.
370. Giả đột thác ca.
371. Nặc đề thập phạt ra bí sam ma thập phạt ra.
372. Bạc để ca.
373. Tỵ để ca.
374. Thất lệ sắt mật ca.
375. Sa nễ bát đế ca.
376. Tát bà thập phạt ra.
377. Thất rô cát đế.
378. Mạt bà bệ đạt rô chế kiếm.
379. A ỷ rô kiềm.
380. Mục khư rô kiềm.
381. Yết rị đột rô kiềm.
382. Yết ra ha yết lam.
383. Yết noa thâu lam.
384. Đạn đa thâu lam.
385. Hất rị dạ thâu lam.
386. Mạt mạ thâu lam.
387. Bạt rị thất bà thâu lam.
388. Bí lật sắt tra thâu lam.
389. Ô đà ra thâu lam.
390. Yết tri thâu lam.
391. Bạt tất đế thâu lam.
392. Ô rô thâu lam.
393. Thường già thâu lam.
394. Hát tất đa thâu lam.
395. Bạt đà thâu lam.
396. Sa phòng áng già bát ra trượng già thâu lam.
397. Bô đa bí đá trà.
398. Chà kỳ ni thập bà ra.
399. Đà đột rô ca kiến đốt rô cát tri bà lộ đa tỳ.
400. Tát, bát rô ha lăng già.
401. Thâu sa đát ra sa na yết ra.
402. Tỳ sa dụ ca.
403. A kỳ ni ô đà ca.
404. Mạt ra bệ ra kiến đá ra.
405. A ca ra mật rị đốt đát liễm bộ ca.
406. Địa lật lạt tra.
407. Bí rị sắt chất ca.
408. Tát bà na câu ra.
409. Tứ dẫn già tệ, yết ra rị dược xoa đát ra sô.
410. Mạt ra thị phệ đế sam sa bệ sam.
411. Tất đát đa bát đát ra.
412. Ma ha bạt xà rô sắt ni sam.
413. Ma ha bát lạt trượng kỳ lam.
414. Dạ ba đột đà xá dụ xà na.
415. Biện đát lệ noa.
416. Tỳ đà gia bàn đàm ca rô di.
417. Đế thù bàn đàm ca rô di.
418. Bát ra tỳ đà bàn đàm ca rô di.
419. Đá điệt tha.
420. Úm.
421. A na lệ.
422. Tỳ xá đề.
423. Bệ ra bạt xà ra đà rị.
424. Bàn đà bàn đà nễ.
425. Bà xà ra báng ni phấn.
426. Hổ huân đô rô úng phấn.
427. Sa bà ha.
  * Chú thích:
  Thần chú có bốn trăm hai mươi bảy câu, từ trước đến nay không có phiên dịch, lối phiên âm, tùy theo cõi nước, cũng có sai chạy ít nhiều, nhưng nếu đem lòng tin đúng đắn mà tụng niệm, thì nhất định có hiệu nghiệm.
Đoạn 3: Khai Thị Xuất Sinh Chư Phật, Hàng Phục Tà Ma, Rộng 
Ban Ơn Cho Chúng Sinh
  Chánh văn:
  A-nan! Những câu nhiệm mầu, những kệ bí mật “Tất đát đa bát đát ra” của hóa thân nơi hào quang từ đảnh Phật, sinh ra tất cả chư Phật nơi mười phương. Mười phương Như Lai nhân tâm chú nầy, thành tựu được quả vị Chánh Biến Tri Giác vô thượng. Mười phương Như Lai nắm tâm chú nầy, uốn dẹp các ma, hàng phục các ngoại đạo. Mười phương Như Lai vận tâm chú nầy, ngồi hoa sen báu, ứng hiện trong các cõi nước như số vi trần. Mười phương Như Lai hàm tàng tâm chú nầy, nơi cõi nước như số vi trần, xoay bánh xe pháp lớn. Mười phương Như Lai giữ tâm chú nầy, có thể nơi mười phương xoa đảnh thọ ký, tự mình quả vị chưa thành, cũng có thể mong nhờ mười phương chư Phật thọ ký. Mười phương Như Lai nương tâm chú nầy, có thể ở nơi mười phương cứu vớt các khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, đui, điếc, ngọng, câm, các khổ oán tắng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc, năm ấm xí thạnh, những tai nạn lớn nhỏ đồng thời được giải thoát, nạn giặc, nạn binh, nạn vua, nạn ngục, nạn gió, nạn lửa, nước, cho đến đói khát bần cùng, liền được tiêu tan. Mười phương Như Lai theo tâm chú nầy, có thể ở nơi mười phương, phụng sự thiện tri thức, trong bốn uy nghi, cúng dường được như ý, trong pháp hội hằng sa Như Lai, được suy tôn là vị Đại Pháp vương tử. Mười phương Như Lai dùng tâm chú nầy, có thể ở mười phương thâu nhận các nhân thân, khiến cho các hàng Tiểu thừa nghe tạng bí mật, không sinh lòng kinh sợ. Mười phương Như Lai tụng tâm chú nầy, thành đạo Vô thượng giác, ngồi nơi cội Bồ-đề vào Đại Niết-bàn. Mười phương Như Lai truyền tâm chú nầy, sau khi diệt độ rồi, phó chúc pháp sự của Phật được trụ trì rốt ráo, giới luật nghiêm tịnh, thảy đều trong sạch.
  * Chú thích:
  Như trên đã nói, chú Thủ lăng nghiêm Ma ha tát đát đa bát đát ra tượng trưng cho tự tánh thanh tịnh tâm, chú tức là tâm, tâm tức là chú, do đó, nên chư Phật, Bồ-tát đều do chú tâm ấy sinh ra, cho đến tất cả Phật sự đều dựa vào chú tâm ấy, đều ở trong chú tâm ấy mà làm. Người tụng trì chú ấy, rõ được tự tâm, thì hiệu quả rất là to lớn.
Đoạn 4: Khai Thị Chú Tâm, Nói Rộng Không Hết
  Chánh văn:
  Nếu Ta nói chú “Phật đảnh quang minh tụ bát đát ra” nầy, từ sáng đến tối, các tiếng nối nhau, trong đó những chữ, những câu cũng không trùng điệp, trải qua kiếp số như cát sông Hằng, rốt cuộc không thể hết được. Chú nầy cũng gọi là Như Lai đảnh. 
  * Chú thích:
  Câu chú nầy, còn gọi là Như Lai đảnh, tượng trưng cho trí tuệ của Phật. Diệu dụng trí tuệ của Phật vô lượng vô biên, nên câu chú nầy cũng vô lượng vô biên, dầu đọc bao nhiêu kiếp cũng không hết.
Đoạn 5: Khai Thị Sức Của Thần Chú Thành Tựu Được Thế Gian 
Và Xuất Thế Gian, Thêm Trí Tuệ, Tiêu Nghiệp Chướng
  Chánh văn:
  Hàng hữu học các ông chưa hết luân hồi, phát tâm chí thành tu chứng quả A-la-hán, nếu không trì chú nầy, khi ngồi nơi đạo tràng, khiến thân tâm xa rời được các ma sự thì không thể được.
  A-nan! Nếu trong các thế giới, có những chúng sinh, tùy cõi nước mình sinh ra, hoặc dùng vỏ cây hoa, nào lá bối, nào giấy trắng, nào bạch diệp, để viết chép chú nầy, đựng trong túi thơm, nếu người đó tối tăm chưa tụng, chưa nhớ được, hoặc đeo trên mình, hoặc viết trong nhà ở, nên biết người ấy, trọn đời tất cả các thứ độc không thể hại được.
  A-nan! Nay Ta vì ông tuyên lại chú nầy, cứu giúp trong thế gian được đại vô úy và thành tựu trí xuất thế gian cho chúng sinh.
  Nếu sau khi Như Lai diệt độ rồi, chúng sinh trong đời mạt pháp, có người tự biết mình tụng, hoặc dạy người khác tụng chú nầy, nên biết những chúng sinh trì tụng như vậy, lửa không đốt được, nước không làm đắm được, độc lớn, độc nhỏ không thể hại được, cho đến các hàng thiên, long, quỷ, thần, tinh, kỳ, ma, mị, có những chú dữ, đều không làm gì được. Tâm người ấy được chánh thọ, tất cả chú trớ, yểm cổ, thuốc độc, kim độc, ngân độc, và khí độc muôn vật như cỏ, cây, sâu, rắn, vào 
miệng người ấy đều thành vị cam lộ. Tất cả ác tinh với các quỷ thần, lòng dữ hại người, đối với người ấy, cũng không thể khởi ra niệm ác, Tần-na, Dạ-ca và các quỷ vương dữ khác, cùng với quyến thuộc, đều lãnh ơn sâu, thường gìn giữ ủng hộ.
  A-nan! Nên biết chú nầy thường có tám mươi bốn ngàn na-do-tha hằng hà sa câu-chi chủng tộc Bồ-tát Kim Cương Tạng Vương, mỗi mỗi đều có những chúng Kim cương làm quyến thuộc, ngày đêm theo hầu. Giả sử có chúng sinh, với tâm tán loạn, chứ không phải Tam-ma-đề, tâm nhớ niệm trì chú nầy, thì các Kim Cương Vương đó cũng thường theo bên thiện nam kia, huống nữa là những người có tâm Bồ-đề quyết định. Đối với những người nầy, các vị Bồ-tát Kim Cương Tạng Vương đó, dùng tinh tâm thầm nhanh chóng phát huy thần thức của họ, người ấy liền khi đó, tâm nhớ lại được tám mươi bốn ngàn hằng hà sa kiếp, rõ biết cùng khắp, được không nghi hoặc. Từ kiếp thứ nhất cho đến thân cuối cùng, đời đời người ấy không sinh vào các loài Dược-xoa, Lasát, Phú-đan-na, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-già v.v... cùng các loài nga quỷ, có hình, không hình, có tưởng, không tưởng và những chỗ dữ như thế. Thiện nam đó, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc viết, hoặc chép, hoặc đeo, hoặc giữ, hoặc cúng dường nhiều cách chú nầy, thì kiếp kiếp không sinh vào những nơi bần cùng hạ tiện, không thể ưa thích.
  Các chúng sinh đó, dù cho chính mình không làm việc phước, mười phương Như Lai có các công đức đều cho họ hết, do đó, họ được trong những kiếp hằng sa vô số, không thể nói, không thể nói hết, thường cùng chư Phật đồng sinh một chỗ, vô lượng công đức nhóm lại như trái ác xoa, đồng một chỗ huân tu, hằng không phân tán. Vậy nên, có thể khiến người phá giới, mà giới căn cũng được thanh tịnh, người chưa được giới, khiến cho được giới, người chưa tinh tiến, khiến cho tinh tiến, người không trí tuệ, khiến được trí tuệ, người không thanh tịnh, mau được thanh tịnh, người không giữ trai giới, tự thành có trai giới. A-nan! Thiện nam ấy, khi trì chú nầy, giả sử có phạm giới cấm khi chưa thọ trì, thì sau khi trì chú, các tội phá giới, không luận nặng nhẹ, cùng lúc đều tiêu diệt, dù đã uống rượu, ăn thứ ngũ tân và các thứ không sạch, tất cả chư Phật, Bồ-tát, Kim Cương, Thiên tiên, Quỷ thần không cho là có lỗi, dù mặc y phục rách nát không sạch, thì một cái đi, một cái đứng, thảy đồng như thanh tịnh, dù không lập đàn, không vào đạo tràng, cũng không hành đạo mà tụng trì chú nầy, thì công đức cũng như vào đàn, hành đạo, không có khác, dù gây những tội nặng ngũ nghịch, vô gián và phạm những tội tứ khí, bát khí của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni, thì khi tụng 
chú nầy rồi, cũng như gió mạnh thổi tan đống cát, những nghiệp nặng như vậy, đều diệt trừ hết, không còn chút mảy may. A-nan! Nếu có chúng sinh từ vô lượng vô số kiếp đến nay, có tất cả những tội chướng nhẹ, nặng mà trong các đời trước chưa kịp sám hối, nếu biết đọc tụng, viết chép chú nầy, giữ đeo trên thân mình hay để nơi chỗ ở, như nhà cửa, vườn tược, quán xá, thì những nghiệp chứa nhóm từ trước như vậy đều tiêu tan như nước sôi tiêu tuyết, chẳng bao lâu đều ngộ được pháp nhẫn vô sinh.
  * Chú thích:
  Trong đoạn nầy, Phật khai thị chú tức là tâm, tâm tức là chú, không rõ tâm tánh, lại không trì chú, thì khó tránh ma sự trong đường tu hành. Ma sự là tất cả những sự quấy phá người tu hành, làm cho phải sa đọa. Tuy những sự ấy, giống như từ ngoài đưa tới, nhưng thật vẫn bắt nguồn từ tự tâm. Tự tâm không rõ chánh pháp, không biết tu đường lối giải thoát, mà chỉ cố gắng đè nén những tâm niệm không tốt, tuy bề ngoài là thanh tịnh, nhưng bề trong thường bị huân tập với những tư tưởng xấu, do đó, sinh ra các ma sự. Những ma sự như thế, chỉ có đem lòng tin đúng đắn, tụng trì tâm chú thì mới tránh được. Một khi tín tâm đã thành tựu, thì hiệu nghiệm của tâm chú thật quá sức nghĩ bàn. Do nơi nhất tâm, không có phân biệt, nên tất cả các thứ tai nạn, các loài hung dữ, đều không thể làm hại được. Huống nữa, tâm chú là mật lệnh của Phật, thường có vô lượng vô biên Kim cương Bồ-tát hộ trì, các vị chẳng những giúp cho các người tu hành khỏi các ma sự, mà còn gia bị cho những người tu hành chóng được chứng quả. Người tu hành, đem cái tâm cân xứng với tự tánh, mà tụng trì tâm chú, thì trên đồng một từ lực với chư Phật, dưới đồng một bi ngưỡng với chúng sinh, công đức không thể kể xiết, chẳng những quyết định không sinh vào những nơi không tốt, mà còn được giới thể thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, nghiệp chướng tiêu trừ, mau thành Thánh quả.
Đoạn 6: Khai Thị Trì Chú Được Mãn Nguyện 
Và Được Sinh Vào Nơi Tốt
  Chánh văn:
  Lại nữa, A-nan! Nếu có người đàn bà chưa sinh con trai, con gái, mong cầu có thai, biết chí tâm nhớ niệm chú, hoặc ở trên mình đeo chú “Tất đát đa bát đát ra” nầy, liền sinh những con trai, con gái có phước đức trí tuệ, người cầu sống lâu được sống lâu, người cầu quả báo mau được viên mãn thì mau được viên mãn, cho đến về thân mạng, sắc lực 
cũng được viên mãn như vậy, sau khi mạng chung được vãng sinh trong mười phương quốc độ, chắc chắn không sinh nơi biên địa hạ tiện, huống nữa là các tạp hình.
  * Chú thích:
  Tất cả quả báo tội phước đều do nhất tâm biểu hiện, nếu phát tâm tin chắc chắn ở tâm chú, dầu tự mình không tụng trì được, chỉ đeo chú trên mình, tất cả chỗ cầu cũng đều được mãn nguyện.
Đoạn 7: Khai Thị Sức Chú Có Thể Tiêu Quốc Nạn, Dân Tai
  Chánh văn:
  A-nan! Nếu các cõi nước, các châu, các huyện, các làng xóm bị nạn đói kém, dịch lệ, hoặc ở những nơi có đao binh, giặc giã đánh nhau, cãi nhau và tất cả những nơi có ách nạn khác, viết thần chú nầy, để trên bốn cửa thành, cùng các tháp hay trên các thoát xà và khiến chúng sinh hiện có trong cõi nước, kính rước chú nầy, lễ bái cung kính nhất tâm cúng dường, khiến trong dân chúng mỗi mỗi người đeo chú trong mình, hoặc để nơi chỗ ở, thì tất cả tai ách thảy đều tiêu diệt. A-nan! Chúng sinh trong cõi nước, chỗ nào có được chú nầy, thì thiên, long vui mừng, mưa gió thuận thời, ngũ cốc được mùa, dân chúng an vui, lại có thể trấn được tất cả tinh ác, chúng tùy nơi hay biến ra những điều quái dị, tai chướng không khởi lên, người không hoạnh tử, chết yểu, gông cùm, xiềng xích không vướng vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường không ác mộng. A-nan! Cõi Ta-bà nầy có tám mươi bốn ngàn tinh ác tai biến, hai mươi tám tinh đại ác đứng đầu, lại có tám tinh đại ác làm chủ, xuất hiện trên đời với nhiều hình trạng, có thể sinh ra các tai nạn dị kỳ cho chúng sinh, chỗ nào có chú nầy, thì tất cả đều tiêu diệt, lấy mười hai do-tuần làm vòng kết giới, các tai biến hung dữ, hẳn không thể vào được.
  * Chú thích:
  Những quốc nạn, dân tai đều do vọng kiến nghiệp chung, tức là những nhận thức sai lầm nghiệp chung tạo thành, những nghiệp chung như thế, phải nhờ tâm niệm chung mới thay đổi được. Nếu trong một cõi nước hay một làng xóm, mọi người đều phát tâm tin chắc chắn cúng dường, trì tụng chú nầy, nhất định tất cả các tai nạn đều tiêu diệt.
Đoạn 8: Bảo Hộ Hàng Sơ Tâm Rời Ma Chướng Chóng Khai Ngộ
  Chánh văn:
  Vậy nên Như Lai tuyên dạy chú nầy, bảo hộ cho những người tu hành sơ học, trong đời vị lai, hội nhập Tam-ma-đề, thân tâm thư thái, 
được đại an ổn, không còn tất cả các ma, quỷ thần và những oan khiên đời trước, nghiệp cũ, nợ xưa, từ vô thỉ đến nay quấy hại. Ông với những người hữu học trong chúng và những kẻ tu hành nơi đời vị lai, y như lời dạy của Ta mà lập đàn tràng, đúng theo pháp mà trì giới, gặp được Tăng chúng thanh tịnh chủ trì việc thọ giới, đối với tâm chú nầy, không sinh lòng nghi hối. Những thiện nam như thế, chính nơi cái thân cha mẹ sinh ra, không được tâm thông, thì mười phương Như Lai bèn là vọng ngữ.
  * Chú thích:
  Trong đoạn nầy, Phật kết luận: Phật tuyên dạy chú nầy để bảo vệ cho các người theo Phật, tu hành chánh pháp, tránh khỏi các ma chướng và mau chứng đạo Bồ-đề. Người tu hành trì giới thanh tịnh, tín tâm chắc chắn, y như lời Phật dạy mà lập đạo tràng, thì trong một đời, chắc chắn siêu phàm nhập Thánh.
  Nói tóm lại, tâm tánh bình đẳng, không có sai khác, chúng sinh đem những tâm niệm nhiễm ô phân biệt mà huân tập tâm tánh, thì tâm tánh theo sự huân tập đó, hiện ra sáu nẻo chúng sinh, các vị Nhị thừa đem trí vô ngã huân tập tâm tánh, thì tâm tánh hiện ra đạo quả vô ngã, các vị Bồ-tát đem trí bình đẳng huân tập tâm tánh thì tâm tánh hiện ra chân như, tuy hiện phàm, hiện Thánh có khác nhau, nhưng bản lai tâm tánh không thay đổi mà theo duyên, theo duyên mà không thay đổi, vẫn không sinh, không diệt, không nhiễm, không tịnh, không thêm, không bớt. Ba đời chư Phật cũng một tâm tánh ấy, sáu nẻo chúng sinh cũng một tâm tánh ấy, vì thế, một tâm niệm y như tâm tánh mà huân tập tu hành, thì kết quả rất là to lớn, vì thế, tụng trì tâm chú với giới luật thanh tịnh và tín tâm đúng đắn, thì kết quả không thể lường, không thể nghĩ hết được. Phát tâm tin đúng đắn, tụng trì tâm chú, còn có kết quả như thế, huống nữa là nghe được những lời Phật dạy, suy xét đạo lý, nhận đúng tâm tánh và thuận theo tâm tánh mà tu trì, thì kết quả quyết định mau chóng hơn, một ngày có thể bằng một kiếp. 
Đoạn 9: Kim Cương Thiện Thần Trong Hội Phát Nguyện Bảo Hộ
Rộng Rãi
  Chánh văn:
  Phật dạy lời ấy rồi, vô lượng trăm ngàn Kim cương trong hội, cùng lúc đứng trước Phật, chắp ta đảnh lễ, bạch Phật:
  - Như lời Phật dạy, chúng con phải thành tâm bảo hộ những người tu đạo Bồ-đề như vậy.
  Bấy giờ, Phạm vương và thiên Đế thích, Tứ thiên Đại vương cũng ở trước Phật, đồng thời đảnh lễ bạch Phật:
  - Xét có người thiện tu học như vậy, chúng con phải hết lòng chí thành bảo hộ, khiến cho trong một đời tu hành được như nguyện.
  Lại có vô lượng đại tướng Dược-xoa, các vua La-sát, vua Phúđan-na, vua Cưu-bàn-trà, vua Tỳ-xá-già, các đại quỷ vương như Tầnna, Dạ-ca và các quỷ soái, cũng ở trước Phật, chấp tay đảnh lễ bạch Phật:
  - Chúng con cũng thệ nguyện hộ trì cho người đó, khiến cho tâm Bồ-đề mau được viên mãn.
Lại có vô lượng thiên tử Nhật, Nguyệt, Phong sư, Vũ sư, Vân sư, Lôi sư cùng với Điện bá và các Niên tuế tuần quan, chư tinh và quyến thuộc v.v... cùng ở trong hội, đảnh lễ nơi chân Phật, bạch:
  - Chúng con hộ trì người tu hành ấy, lập ra đạo tràng được không e sợ.
  Lại có vô lượng Sơn thần, Hải thần, tất cả tinh kỳ đất đai muôn vật, thủy, lục, không, hành cùng với Phong thần vương và chư Thiên nơi Vô sắc giới, ở trước Như Lai, đồng thời cúi đầu bạch Phật:
  - Chúng con bảo hộ người tu hành ấy, thành tựu đạo quả Bồ-đề, hẳn không có ma sự.
  Khi ấy, tám mươi bốn ngàn na-do-tha hằng hà sa câu-chi Bồ-tát Kim Cương Tạng Vương ở trong đại hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, bạch Phật:
  - Thế Tôn! Như nhóm chúng con, cộng nghiệp tu hành đã thành đạo Bồ-đề lâu rồi mà không nhận   lấy Niết-bàn, thường theo chú nầy cứu giúp những người chân chánh tu hành pháp Tam-ma-đề trong đời mạt pháp. Bạch Thế Tôn! Những người tu tâm vào chánh định như thế, dù ở đạo tràng hay là những lúc kinh hành, cho đến khi tán tâm đi chơi trong làng xóm, đồ chúng của chúng con thường phải đi theo thị vệ người ấy, dù cho Ma vương, Đại Tự Tại Thiên muốn được phương tiện quấy phá, cũng không thể được, các quỷ thần nhỏ, phải cách xa người thiện ấy, ngoài mười do-tuần, trừ khi họ là người phát tâm thích tu thiền. Bạch Thế Tôn! Những ma ác như thế, hay quyến thuộc của ma, muốn đến xâm lấn quấy phá người thiện ấy, chúng con dùng chày báu đập nát đầu chúng như vi trần, thường khiến cho người ấy tu hành được như nguyện.
  * Chú thích:
  Các vị Kim cương thiện thần trong hội, sau khi nghe lời Phật dạy, 
đều đồng thời đảnh lễ bạch Phật, nguyện thành tâm bảo hộ những người tu hành trì chú khỏi các ma sự, đặc biệt có vô lượng vô số các vị Bồtát Kim cang tạng vương phát nguyện hộ trì những người tu hành như thế, chẳng những không có ma sự, cho đến thiên ma cũng không quấy phá được. Trong đoạn nầy, có kể tên rất nhiều chư thiện thần, theo tín ngưỡng của Ấn độ trong thời ấy, người tu học không nên câu nệ và nên nhớ cảnh do tâm hiện, tâm đã tin là có thì hiện ra có, nơi nào chúng sinh tin có cái gì thì cái ấy hóa ra có, không nên lấy làm lạ. Đến như các vị Kim cương Bồ-tát có lòng từ bi rộng lớn, vẫn đánh nát đầu những loài ác ma quấy phá người tu hành, thế đủ biết các vị tha thiết bảo hộ người tu hành đến mực nào. Các vị Kim cương Bồ-tát thường xuyên theo dõi hộ trì những người tu theo chánh pháp. Người tu hành, nếu biết thuận theo tự tánh mà huân tập, nhất định không có ma sự.
-----------------------------
Mục 6: KHAI THỊ NHỮNG VỊ TRÍ TU CHỨNG TRƯỚC SAU
Đoạn 1: A-Nan Xin Khai Thị Về Những Danh Mục 
Thứ Bậc Tu Hành
  Chánh văn:
  A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, bạch Phật:
  - Chúng con ngu độn, ưa tuệ đa văn, đối với các tâm hữu lậu, chưa cầu thoát ly, nhờ Phật từ bi dạy bảo được lối huân tu chân chánh, thân tâm khoan khóai, được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn! Những người tu chứng pháp Tam-ma-đề của Phật như thế, chưa đến Niết-bàn, thì thế nào gọi là Càn tuệ địa, trong bốn mươi bốn tâm, đến thứ bậc nào, mới đạt được mục đích tu hành, đến phương sở nào mới gọi là nhập địa, thế nào gọi là Bồ-tát Đẳng giác? Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, trong đại chúng đều nhất tâm chăm chỉ mong đợi từ âm của Phật.
  * Chú thích:
  Trong đoạn nầy, Tôn giả A-nan xin Phật chỉ dạy về các danh mục thứ bậc tu hành. Tôn giả tuy đã giác ngộ, tự biết con đường thành đạo chứng quả, trong ấy thật vốn không thứ bậc, nhưng vì trong lúc phá trừ mê lầm, huân tập chánh pháp, thì những sự mê lầm càng ngày càng giảm bớt, do đó, nên có những danh mục các thứ bậc. Những danh mục ấy, Tôn giả A-nan đã được nghe, nhưng chưa rõ sự thật thế nào, nên cầu Phật khai thị.
Đoạn 2: Khen Ngợi Và Hứa Sẽ Chỉ Trước Cho 
  Chánh văn:
  Khi ấy, Đức Thế Tôn khen A-nan:
  - Hay thay! Hay thay! Các ông lại biết vì cả đại chúng và hết thảy chúng sinh tu Tam-ma-đề, cầu pháp Đại thừa trong đời mạt pháp, xin Như Lai chỉ trước đường tu hành vô thượng chân chánh từ phàm phu đến Đại Niết-bàn, nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai vì ông mà giảng nói.
Tôn giả A-nan và đại chúng chắp tay lắng lòng yên lặng thọ giáo.
  * Chú thích:
  Phật khen ngợi Tôn giả A-nan đã vì đại chúng và tất cả chúng sinh thỉnh cầu như thế, nên hứa sẽ chỉ trước những thứ bậc trên đường tu hành, đi đến quả Đại Niết-bàn của Phật. Phật dạy như vậy, vì biết 
Tôn giả A-nan đã giác ngộ tâm tánh, tự mình đã rõ con đường tu hành và khi thỉnh cầu Phật khai thị, ông chỉ vì lợi ích của đại chúng và của tất cả chúng sinh mà thôi.
Đoạn 3: Khai Thị Hai Cái Nhân Điên Đảo
  Chánh văn:
  Phật dạy:
  - A-nan! Nên biết diệu tánh là viên minh rời các danh tướng, bản lai không có thế giới chúng sinh. Nhân cái vọng mà có sinh, nhân cái sinh mà có diệt, sinh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chân, ấy gọi là hai hiệu chuyển y Bồ-đề vô thượng và Đại Niết-bàn của Như Lai.
  A-nan! Nay ông muốn tu pháp chân Tam-ma-đề, đến thẳng Đại Niết-bàn của Như Lai, trước hết phải biết hai cái nhân điên đảo của thế giới và chúng sinh nầy, điên đảo không sinh, đó là chân Tam-ma-đề của Như Lai.
  A-nan! Thế nào gọi là điên đảo về chúng sinh? Do cái tâm bản tánh là minh và tánh minh ấy viên mãn cùng khắp, nên nhân nơi tánh minh phát ra hình như có tánh, vọng kiến nhận là có tánh sinh ra, từ chỗ rốt ráo là không, lại thành rốt ráo là có. Có cái sở hữu như thế là do phi nhân làm nhân và những tướng của chủ thể trụ, đối tượng được trụ rốt ráo không có cội gốc. Rồi gốc nơi cái vô trụ đó mà kiến lập ra thế giới và các chúng sinh.
  Vì mê, không nhận được tánh viên minh sẵn có, nên sinh ra hư vọng, tánh hư vọng không có tự thể, không phải thật có chỗ nương dựa. Cầu muốn trở lại chân tánh, thì cái muốn chân đó, đã không phải là tánh chân như chân thật. Cầu trở lại không đúng chân lý, thì hiện thành ra những phi tướng: không phải sinh gọi là sinh, không phải trụ gọi là trụ, không phải tâm gọi là tâm, không phải pháp gọi là pháp.
  Xoay vần phát sinh và sinh lực phát huy, huân tập thành ra nghiệp báo, đồng nghiệp thì cảm với nhau, nhân đó lại cảm ra các nghiệp diệt nhau, sinh nhau, do đó mới có điên đảo về chúng sinh.
  A-nan! Thế nào gọi là điên đảo về thế giới? Do cái hiện có đó, nên từng phần, từng đoạn giả dối sinh ra, vì thế không gian thành lập, do phi nhân làm nhân, không có chủ thể trụ, đối tượng được trụ, nên dời đổi mãi, không an trụ, vì thế  thời gian thành lập. Ba đời bốn phương hòa hợp can thiệp cùng nhau, chúng sinh biến hóa thành mười hai loài. Vậy nên trong thế giới, nhân động có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp, 
sáu vọng tưởng càn loạn thành ra nghiệp tánh, do đó, mười hai cách đối hiện xoay vần mãi mãi. Vậy nên trong thế gian, những thanh, hương, vị, xúc biến đổi cùng tột, đến mười hai lần xoay trở lại.
  Dựa trên những tướng điên đảo, xoay vần đó, nên trong thế giới có những loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, hoặc phi hữu sắc, hoặc phi vô sắc, hoặc phi hưũ tưởng, hoặc phi vô tưởng.
  A-nan! Nhân trong thế giới có hư vọng luân hồi, điên đảo về động, nên hòa hợp với khí, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng bay lặn. Vì vậy, nên có mầm trứng trôi lăn trong cõi nước, cá chim, rùa, rắn, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có tạp nhiễm luân hồi, điên đảo về dục, nên hòa hợp với sự dồi dào, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng ngang dọc. Vì vậy, nên có bọc thai trôi lăn trong cõi nước, người, súc sinh , rồng, tiên các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có chấp trước luân hồi, điên đảo về cõi, nên hòa hợp với noãn, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng nghiêng ngửa. Vì vậy, nên có tướng thấp sinh trôi lăn trong cõi nước, nhung nhúc, quậy động, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có biến dịch luân hồi, điên đảo về giả, nên hòa hợp với xúc, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng mới cũ. Vì vậy, nên có yết nam hóa sinh trôi lăn trong cõi nước, chuyển thoái phi hành, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có lưu ngại luân hồi, điên đảo về chướng, nên hòa hợp với chỗ chấp, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng tinh diệu. Vì vậy, nên có yết nam sắc tướng trôi lăn trong cõi nước, hưu cửu, tinh minh, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có tiêu tán luân hồi, điên đảo về hoặc, nên hòa hợp với chỗ tối tăm, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng thầm ẩn. Vì vậy, nên có yết nam vô sắc trôi lăn trong cõi nước, không tán tiêu trầm, các loại đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có võng tượng luân hồi, điên đảo về ảnh, nên hòa hợp với sự nhớ nghĩ, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng tiềm kết. Vì vậy, nên có yết nam hữu tưởng trôi lăn trong cõi nước, thần quỷ tinh linh, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có ngu độn luân hồi, điên đảo về si, nên hòa hợp với chỗ ngu tối, thành ra tám mươi bốn ngànloạn tưởng khô cảo. Vì vậy, nên có yết nam vô tưởng trôi lăn trong cõi nước, tinh thần hóa làm 
đất, cây, vàng, đá, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có tương đãi luân hồi về ngụy, nên hòa hợp với nhiễm, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng nhân y. Vì vậy, nên có yết nam không phải có sắc mà có sắc, trôi lăn trong cõi nước, những giống thủy mẫu, dùng tôm làm mắt, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có tương dẫn luân hồi, điên đảo về tánh, nên hòa hợp với chú thuật, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng hô triệu. Vì vậy, nên có yết nam, không phải vô sắc mà vô sắc, trôi lăn trong cõi nước, chú trớ, yếm sinh, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có hợp vọng luân hồi, điên đảo về võng, nên hòa hợp với chỗ dị biệt, thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng hồi hỗ. Vì vậy, nên có yết nam, không phải có tưởng mà có tưởng, trôi lăn trong cõi nước, những giống tò vò, mượn chất khác thành thân của mình, các loài đầy nhẫy.
  Nhân trong thế giới có oán hại luân hồi, điên đảo về sát hại nên hòa hợp với sự quái dị thành ra tám mươi bốn ngàn tư tưởng ăn thịt cha mẹ. Vì vậy, nên có yết nam, không phải vô tưởng mà vô tưởng, trôi lăn trong cõi nước, như con thổ kiêu, ấp khối đất làm con, và chim phá kính, ấp quả cây độc làm con, con lớn lên thì cha mẹ đều bị chúng ăn thịt, các loài đầy nhẫy.
  Ấy gọi là mười hai chủng loại chúng sinh.
  * Chú thích:
  Đáp lại lời thỉnh cầu của Tôn giả A-nan, trước hết Phật dạy, vì sao có những danh mục. Bản lai tự tánh vốn rất sáng suốt, vốn rất nhiệm màu, biến hiện ra tất cả sự vật, mà tất cả sự vật đều là tự tánh, không có các danh tướng, không có thế giới với lại chúng sinh. Chẳng những nơi Phật như thế, nơi chúng sinh cũng vẫn luôn luôn như thế, chỉ vì chúng sinh không nhận rõ được bản lai tự tánh, giả dối phân biệt, nên có sinh có diệt. Có sinh, có diệt là vọng, hết vọng là chân, vì thế, mà có cái danh hiệu Bồ-đề vô thượng và Đại Niết-bàn của chư Phật. Song, mê ngộ đồng một thể, Phật và chúng sinh không có hai tánh, chỉ vì Phật xoay cái vọng kiến lại, nên được Bồ-đề vô thượng, xoay cái sinh diệt lại, nên được Đại Niết-bàn, danh tuy khác, nhưng thể là một và tâm tánh vốn không ngộ, không mê, không thêm, không bớt. Nhưng, tuy tâm tánh bản lai như thế, chúng sinh cũng cần phải y như tâm tánh mà tu tập, thì mới ra khỏi luân hồi, thành đạo chứng quả. Muốn biết, thế nào là giác ngộ, thì trước hết cần phải biết, thế nào là mê lầm. Khi nào trừ sạch mê lầm, tức là giác ngộ, chứ không phải gì khác.
  Tâm tánh bản lai vẫn thường bình đẳng, xa rời danh tướng, dù theo duyên mà biểu hiện ra tất cả các pháp, nhưng sự thật chỉ là tâm tánh, không có một pháp nào khác, do đó, chưa hề có thế giới và chúng sinh. Chỉ vì chúng sinh không rõ tâm tánh như thế, giả dối phân biệt có năng tri, có sở tri, nên mới có sinh, có diệt, làm cái nhân điên đảo giả dối thành ra thế giới chúng sinh.
  Như thế, cái nhân điên đảo thành ra chúng sinh, là vì không nhận được tâm tánh bình đẳng, theo duyên mà phát hiện, lại khởi ra phân biệt, sinh ra những nhận thức sai lầm, do đó trong nhất tâm không có sai khác, không có một vật, thành ra có sai khác và có tất cả sự vật. Vọng tâm phân biệt là năng hữu, sự vật là sở hữu, cả cái năng hữu và cái sở hữu ấy, đều nhân nhận thức sai lầm mà có. Nhận thức sai lầm, không có căn cứ, không thể làm nhân cho cái gì, mà lại thành cái nhân của năng hữu sở hữu như thế, đó là phi nhân mà lại làm nhân. Rồi, đã có ra tức là có tướng, cái hay biết giả dối thành tướng năng trụ, những danh tướng giả dối thành tướng sở trụ, những tướng nầy đều nương nhận thức sai lầm mà thành, nên rốt ráo không có cội gốc. Không có cội gốc là không thể an trụ, nhưng lại dựa vào cái không an trụ ấy mà lập thành thế giới và các chúng sinh. Nói tóm lại, chỉ vì mê lầm không nhận được bản tánh viên mãn sáng suốt, nên sinh ra các thứ hư vọng, những thứ hư vọng như thế, không thể có thật, không có căn cứ. Biết tất cả tâm cảnh hư vọng, đều do nhận thức mê lầm sinh ra, thì đó là nhận thức đúng đắn. Nếu, còn muốn tìm lại cái chân nữa, thì cái tâm niệm muốn chân nầy, đã trái với bản tánh chân như. Và nếu cầu trở về không đúng chân lý, thì nơi tánh chân như, sẽ hình thành những tướng giả dối, do đó, vốn không phải sinh, không phải trụ, cũng gọi là trụ, không phải tâm cũng gọi là tâm, không phải pháp cũng gọi là pháp, rồi cứ đem những tâm niệm phân biệt giả dối nhiễm ô đó mà phân biệt tâm tánh, tâm tánh theo sự huân tập ấy hiện ra nghiệp dụng của chúng sinh. Khi đồng một nghiệp thì thông cảm với nhau, thành ra có yêu, có ghét, yêu thì sinh nhau, ghét thì diệt nhau, đó là cái nhân điên đảo hiện ra chúng sinh.
  Lại, cũng chính vì có cái sở hữu như thế, mà chia sẻ cái sở hữu ra từng phần, từng đoạn, do đó, nên không gian thành lập, song cái năng hữu, sở hữu kia chỉ nhận thức mê lầm mà có, không có căn cứ thiết thực, nên nó dời đổi mãi mãi, không hề an trụ, do đó thời gian thành lập.
  Thời gian có ba đời, không gian có bốn phương. Thời gian và không gian liên hệ mật thiết với nhau, hình thành mười hai loài chúng sinh.
  Cảnh giới duyên khởi vốn không nghĩ bàn, nhưng do nhận thức của mỗi loài chi phối, mà biến thành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đến với mỗi loài, vì thế cảnh giới do nghiệp thức của các chúng sinh chi phối, biến đổi theo mỗi loài và nói chung khi biến đổi nhiều nhất, cùng tột mười hai cách, thì xoay trở lại một cách trước.
  Cảnh giới của mỗi loài thay đổi, là do thân thể của loài khác nhau và trong thế giới có thể chia ra thành những loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, hoặc như, không phải hữu sắc, không phải vô sắc, không phải hữu tưởng, không phải vô tưởng.
  Phật chia chúng sinh ra mười hai loài như thế, là theo khoa học hiện thời của Ấn Độ, vì đã phân tích sự tướng, tất phải theo học thuyết thế gian, trong lúc đương thời, điều cốt yếu là nhận biết có nhiều loài chúng sinh khác nhau, mỗi loài có cái thân khác nhau, có cái hay biết phân biệt khác nhau, do đó, nên cảnh giới của mỗi loài cũng phải khác nhau.
  Chúng sinh chia ra có nhiều loài như thế, nhưng tất cả căn thân và khí giới của mỗi loài, đều do tâm tánh theo huân tập mà biến hiện. Chính vì tâm tánh theo huân tập biến hiện, nên khi được huân tập bằng những tư tưởng điên đảo của chúng sinh, thì hiện ra cảnh giới chúng sinh, khi được huân tập theo chánh pháp, phù hợp với bản tánh bình đẳng của tâm tánh, thì hiện ra cảnh giới của các bậc Nhị thừa và các vị Bồ-tát. Đứng về tâm tánh mà nói, tất cả các cảnh giới đều là tâm tánh biến hiện theo huân tập, chẳng những chưa hề có chúng sinh, thế giới, mà cũng chưa hề có chánh trí và chân như, vì thế, nên Phật thường dạy: “Tâm, Phật và chúng sinh không có sai khác”, lại thường dạy: “Tâm tánh bản lai không có ngộ, có mê, có thêm có bớt”. Nhưng đứng về phương diện biến hiện của tâm tánh mà nói, do sự huân tập có khác, sự biến hiện của tâm tánh cũng hóa ra hình như có khác.
  Giải thích nguyên nhân của mười hai loài, Phật chia ra có mười hai thứ luân hồi, mười hai thứ điên đảo và mười hai thứ hòa hợp, cốt để chỉ rõ các vọng tưởng huân tập, thiên về mặt nào nhiều hơn, thì tâm tánh hiện ra cảnh giới theo mặt ấy, chứ không phải nhất định thai sinh không có hư vọng luân hồi, hay noãn sinh không có tạp nhiễm luân hồi. Chẳng những thế, sự hình thành của mười hai loài chúng sinh còn do nhận thức của mỗi chúng sinh mà có, như nhận thức có động thì có bay, có lặn, nhận thức có tình dục thì có bào thai, cho đến nhận thức có thay đổi thì có hóa sinh, nhận thức có ngăn ngại thì có loài hữu sắc.
  Nói tóm lại, mười hai loài chúng sinh, đều do tâm tánh chịu sự huân tập của các vọng tưởng phân biệt điên đảo biến hiện như huyễn như hóa, không có thật thể, nếu biết tất cả đều do tự tâm biến hiện, khi sinh không có gì đáng gọi là sinh, khi diệt không có gì đáng gọi là diệt, điên đảo hết sạch, chân như hiện tiền, rồi mới rõ tâm tánh bản lai như vậy, không hề thay đổi, nơi chư Phật cũng không thêm, nơi chúng sinh cũng không bớt, chỉ vì cách dụng tâm sai lầm, làm cho chúng sinh giả dối, phải chịu luân hồi đau khổ, nên chư Phật từ bi chỉ dạy cho phương tịên tu hành, để cho hết khổ, để cho trực nhận được tâm tánh và có thể dùng tâm tánh đúng với tánh bình đẳng của nó, chứ không phải thật có cái chân phải tìm, thật có cái vọng phải bỏ.
/15
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »