Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Hiền Ngu (Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh)

Kinh Hiền Ngu (Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh)

Tác giả: Hán Dịch: Sa Môn Tuệ Giác - Việt Dịch: Thích Trung Quán. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 381.
Kinh Hiền Ngu (Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh) thuộc Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Đại Thừa), gồm 13 quyển (hoặc có bản phân chia 9 quyển) do các dịch giả thời Bắc Ngụy (như Sa môn Huệ Giác và các vị đồng dịch) chuyển dịch từ chữ Phạn (Damamūka-nidāna-sūtra) sang chữ Hán.
(Lưu ý: Trong Nam truyền Phật giáo - Kinh Trung Bộ, bài kinh số 129 cũng mang tên là Kinh Hiền Ngu hay Bālapaṇḍita Sutta, nhưng đó là một bài kinh riêng biệt nằm trong Tạng Kinh Pali).
Kinh Hiền Ngu trong Hán tạng và Kinh Hiền Ngu trong Kinh Trung Bộ (Pali) là hai tác phẩm văn học Phật giáo hoàn toàn khác nhau về cả quy mô, cấu trúc, nguồn gốc lẫn nội dung. Sự trùng lặp duy nhất giữa chúng chỉ là cái tên khi dịch sang tiếng Việt (đều mang ý nghĩa nói về "Người hiền thiện và Kẻ ngu muội").
Bảng so sánh chi tiết dưới đây sẽ giúp bạn phân biệt rõ ràng hai bộ kinh này:

Tiêu chí Kinh Hiền Ngu (Hán tạng) Kinh Hiền Ngu (Kinh Trung Bộ - Pali)
Bản chất tác phẩm Là một tập hợp/tuyển tập truyện cổ sự tích (Kinh nhân duyên - Avadāna). Là một bài kinh độc lập (bài kinh số 129, Bālapaṇḍita Sutta).
Thuộc bộ tạng nào Nằm trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (thuộc hệ Bắc truyền/Đại thừa). Nằm trong Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya), thuộc Tạng Kinh Pali (Nam truyền/Nguyên thủy).
Quy mô & Cấu trúc Rất đồ sộ: Gồm 13 quyển (hoặc bản dịch 9 quyển) chia thành hàng chục phẩm (truyện) khác nhau. Là một bài giảng ngắn: Nằm trọn trong tập 3 của Kinh Trung Bộ.
Nội dung cốt lõi Kể về các tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca, các vị đại đệ tử hoặc các sự tích nhân quả, báo ứng thông qua các câu chuyện sinh động. Phân tích triết lý về đặc tính của người ngu và người trí. Mô tả chi tiết về quả báo địa ngục của kẻ ác và phước báu cõi trời của người thiện.
Nguồn gốc dịch thuật Do phái đoàn Sa môn Huệ Giác dịch từ tiếng Phạn (Damamūka-nidāna-sūtra) sang chữ Hán vào thời Bắc Ngụy. Được kết tập bằng tiếng Pali, lưu truyền bởi Thượng tọa bộ (Tích Lan) và được HT. Thích Minh Châu dịch sang tiếng Việt.


Chi tiết về nội dung của từng kinh


1. Kinh Hiền Ngu (Hán tạng) – Tuyển tập truyện tiền thân

Bộ kinh này không đi sâu vào phân tích định nghĩa triết học, mà giáo hóa người đọc bằng các câu chuyện luân hồi mang tính giáo dục đạo đức sâu sắc:
• Bộ kinh ra đời từ việc các tăng sĩ Trung Hoa du hành sang vùng Vu Điền (Khotan) nghe các luận sư tụng giải, sau đó ghi chép lại và dịch sang chữ Hán.
• Mỗi phẩm là một câu chuyện độc lập, nổi tiếng nhất là các truyện như: Truyện thái tử Tu Đại Noa (bố thí), Truyện Sa di cứu loài kiến, hay chuyện về các tiền kiếp xả thân cứu sinh linh của Bồ tát.

2. Kinh Hiền Ngu (Trung Bộ số 129 - Pali) – Bài kinh về Nhân quả

Đây là bài kinh do chính Đức Phật đích thân thuyết giảng tại tu viện Kỳ Viên (Cấp Cô Độc):
• Dấu hiệu người ngu: Là người tư duy ác, nói lời ác, hành động ác. Ngay trong hiện tại họ phải chịu sự lo sợ, quở trách (khi thấy luật pháp trừng trị tội phạm) và khi mệnh chung sẽ đọa vào ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh).
• Dấu hiệu người trí: Là người tư duy thiện, nói lời thiện, hành động thiện. Họ sống an ổn ở hiện tại và sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sinh lên các cõi trời hưởng phước báu.
• Bài kinh này có một bản tương đương trong Hán tạng (thuộc hệ A-hàm) mang tên là Kinh Nê Lê (Trung A-hàm, kinh số 199), chứ không phải là bộ Kinh Hiền Ngu đồ sộ 13 quyển nêu trên.

Chương 35: Phẩm Thứ Ba Mươi Lăm: A Du Ca (Trang 300 - 301)

Phẩm Thứ Ba Mươi Lăm: A Du Ca (Trang 300 - 301)
Họ ồ ạt tranh nhau, kẻ vác búa, người cầm dao, kẻ cầm rổ, người mang thúng ra bổ xa lấy thịt, vì thế nên nhân dân hết nạn chết đói. Khi lấy hết một nửa mình bên hữu, cá xoay lại mình bên tả, cho lấy; lấy hết mình bên tả thì mình bên hữu đã mọc đầy thịt! Cứ như thế hết bên nọ lại chuyển sang bên kia, tất cả nhân dân, Châu Diêm Phù Đề tâm từ bi, sau khi chết được sinh lên Trời.
Nói tới đây Phật nhắc lại rằng:
- A Nan, ông nên biết vua Thiết Đầu La Kiền Ninh thuở đó, chính là tiền thân ta đấy! Năm người thợ mộc được ăn thịt cá đầu tiên, nay là nhóm ông Kiều Trần Như năm người; các nhân dân lúc đó, nay là tám vạn chư thiên, và các đệ tử được độ.
Lúc đó bọn ông được ăn thịt ta mà sống, vì thế nay ta bắt đầu thuyết pháp bọn ông được nghe trước, ta chỉ lấy một chút thịt của pháp thân, để trừ khỏi sự đói khát tam độc của họ ngày đó.
Khi đó tôi và tất cả hàng đệ tử nghe Phật nói xong, ai nấy đều tôn kính lòng từ bi bố thí của Ngài đã thực hành được, cúi đầu lễ tạ lui ra
 
---o0o---
 
Phẩm thứ ba mươi lăm: A DU CA
 
CHÍNH tôi được nghe: Một thời đức Thế Tôn ở nước Xá Vệ, tại vườn Cấp Cô Độc cây của Kỳ Đà.
Một buổi sớm ấy đức Phật và tôi vào thành khất thực, gặp lũ trẻ con, đương nô nghịch đất giữa đường, nó đắp một cái thành, có đủ nhà cửa kho tàng thóc lúa bằng đất. Một đứa nó nhìn thấy Phật có hào quang sáng, tự phát tâm cung kính, vui mừng! Khi Phật đi tới nơi, nó chắp tay vái, và dâng một mẩu đất cúng dàng.
Phật cầm lấy giao cho tôi, và dặn tôi mang về bôi trên thềm nhà chỗ Ngài ngủ. Khi trở về rừng Kỳ Hoàn, tôi đem đất làm theo lời Ngài dạy. Ngài bảo rằng:
- A Nan vừa rồi đứa nhỏ hoan hỷ cúng đất công đức ấy sau khi ta vào Niết Bàn, khoảng độ trăm năm; nó sẽ được làm vua tên là A Du Ca còn các trẻ nhỏ đồng bạn, được làm quan đại thần cai trị tất cả các nước Châu Diêm Phù Đề; làm hưng long cho ngôi Tam Bảo phân phát Xá Lợi, xây tám vạn bốn ngàn ngọn tháp, khắp Châu Diêm Phù Đề cúng dàng ta.
Tôi vui mừng bạch Phật rằng:
- Kính lạy đức Thế Tôn! Đời quá khứ Ngài tu công đức gì, mà được phú báu nhiều tháp như thế? Cúi xin chỉ bảo cho chúng con được rõ?
- Phật dạy: - A Nan ông muốn biết hãy nghe cho kỹ ta sẽ nói cho hay!
- Dạ, lạy đức Thế Tôn con xin chú ý nghe!
- A Nan, thuở đời quá khứ đã xa xưa, có một ông vua nước lớn tên là Ba Tắc Kỳ, cai trị tám vạn bốn ngàn nước nhỏ, thời đó có đức Phật tên là Phất Sa ra đời. Nhà vua và nhân dân tôn sùng đạo Phật, thường ngày dâng lên bốn món cúng dàng thức ăn uống, áo mặc, giường tòa, thuốc thang rất trịnh trọng. Nhà vua nghĩ thầm như vầy:
- Đức Phật là phúc điền cõi nhân gian thiên thượng, ai trồng nhân lành gì được kết quả ấy, nhân dân nước ta thường được thấy Phật lễ Phật; cúng dàng Phật, còn các nước nhỏ ở xa xôi, nhân dân không biết nương đâu tu phúc, vậy ta hãy thuê người vẽ hình tượng Phật, ban phát cho các nước để cúng dàng cầu phước.
Nghĩ thế rồi gọi họa sĩ đến chốn Phật, nhìn vẽ cho đúng tướng của Ngài. Song họ vẽ mãi không thành. Sau
/47
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »