Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya) thuộc Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) trong Kinh tạng Pali (Phật giáo Nam truyền / Nguyên thủy / Thượng tọa bộ). Đây là bộ đại kinh thứ năm – cũng là bộ kinh có số lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú nhất trong hệ thống năm bộ kinh Nikāya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ).
Trong hệ thống Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền), không có một bộ tạng tương đương hoàn chỉnh cho Kinh Tiểu Bộ giống như bốn bộ A-hàm. Thay vào đó, các tác phẩm của Tiểu Bộ nằm rải rác trong nhiều bộ loại khác nhau của Hán tạng (như Kinh Tập bộ, Bản Duyên bộ, hay Tạng Luận).

Cấu trúc đặc biệt của Kinh Tiểu Bộ

Mặc dù mang tên là "Tiểu" (nghĩa gốc là nhỏ nhặt, hỗn hợp, nhặt nhạnh), bộ kinh này không hề nhỏ về mặt dung lượng. Chữ "Tiểu" ở đây ám chỉ tập hợp các bài kinh, thể thơ, sự tích mang nhiều phong cách văn học khác nhau mà không thể xếp vào bốn bộ kinh trước.
Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền (đặc biệt là bản kết tập tại Giáo hội Miến Điện), Kinh Tiểu Bộ gồm 15 tập tác phẩm độc lập (một số nơi tính là 18 tập):
1. Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha): Tập hợp các bài kinh ngắn dùng cho người mới xuất gia hoặc tụng niệm hằng ngày.
2. Kinh Pháp Cú (Dhammapada): 423 câu kệ ngôn tinh hoa, là tác phẩm Phật giáo phổ biến nhất thế giới.
3. Phật Tự Thuyết (Udāna): Những lời dạy bộc phát từ tâm đắc của Đức Phật khi chứng kiến các sự kiện đặc biệt.
4. Như Thị Thuyết (Itivuttaka): Các bài kinh ngắn bắt đầu bằng cụm từ "Đây là điều Đức Phật đã nói".
5. Kinh Tập (Sutta Nipāta): Tập hợp các bài kinh cổ xưa nhất viết bằng thể thơ, chứa đựng triết lý nguyên sơ sâu sắc.
6. Thiên Cung Sự Tích (Vimānavatthu): Kể về phước báu và cảnh giới an lạc của các vị chư thiên cõi trời.
7. Ngạ Quỷ Sự Tích (Petavatthu): Kể về quả báo đau khổ của các chúng sinh đọa làm ngạ quỷ do ác nghiệp đời trước.
8. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā): Những bài thơ tự sự, ca ngợi niềm vui giải thoát của các vị Đại Đức tăng.
9. Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā): Những bài thơ chứng ngộ đầy xúc động của các vị Tỳ-kheo-ni.
10. Bản Sanh / Kinh Bổn Sanh (Jātaka): Tập hợp 547 câu chuyện tiền thân, kể về các kiếp tu hành Bồ-tát của Đức Phật Thích Ca (như chuyện xả thân cứu cọp, chuyện thỏ hy sinh...).
11. Nghĩa Thích (Niddesa): Tập tài liệu cổ giải thích ý nghĩa các bài kinh trong Kinh Tập.
12. Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga): Tập luận giải mang tính phân tích phân biện sâu sắc về giáo lý.
13. Thí Dụ (Apadāna): Các câu chuyện tiểu sử bằng thơ về tiền kiếp của Phật và các vị A-la-hán.
14. Phật Chủng Tánh (Buaddhavamsa): Lịch sử và tiền kiếp của 24 vị Đức Phật quá khứ trước Đức Phật Thích Ca.
15. Sở Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka): Các bài thơ kể về cách Đức Phật thực hành mười ba-la-mật trong các tiền kiếp.
(Lưu ý: Một số bài kinh hoặc cuốn kinh riêng lẻ đã xuất hiện trong các câu hỏi trước của bạn như Kinh Hiền Ngu Pali hay Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên đều có mối liên hệ mật thiết hoặc nằm trong hệ thống phân loại mở rộng của bộ Kinh Tiểu Bộ này).
Bản dịch tiếng Việt trọn vẹn và uy tín nhất của bộ Kinh Tiểu Bộ (từ tập 1 đến tập 10) từ tiếng Pali do Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu thực hiện, các tập còn lại do các bậc giáo phẩm hệ phái Nam truyền dịch thuật.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ đại kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về Kinh Pháp Cú (tác phẩm nổi tiếng nhất trong bộ này)?
• Hoặc bạn muốn khám phá một câu chuyện tiền thân ý nghĩa trong tập Kinh Bổn Sanh (Jātaka)?

Chương 95:                                 525. CHUYỆN TIỂU SUTASOMA - Phần 8 (trang 663-669)

       Tất cả đều lưng thon yểu điệu,
       Yêu kiều dung sắc vượt liên hoa,
       Kìa xem, chúng chỉ chiều tôn ý,
       Xin nhận lời ban tặng của ta.
Aḷāra nói tiếp:
27.     Một năm thiên lạc hưởng tràn đầy,
         Ta hỏi Long vương một chuyện này:
         “Sao được tiên cung làm nội thất,
          Làm sao cung điện đến phần ngài?
28.    Tiên cảnh này thành tựu ngẫu nhiên,
          Được ngài xây, tặng vật chư Thiên?
           Long vương xin nói điều chân thật,
          Sao đến an nhàn ở cảnh tiên?”
Sau đây là các vần kệ đối đáp nhau giữa đôi bên:
Long vương:
29.     Chẳng phải tình cờ, chẳng tự nhiên,
         Chẳng do ta tạo, hoặc chư Thiên,
          Chính nhờ thiện nghiệp ta, ngài biết,
          Nhờ đức hạnh, ta hưởng cảnh tiên.
Aḷāra:
30.      Hạnh nguyện gì, đâu Thánh đạo cao,
           Đức gì tích trữ phước ngày sau?
           Long vương, xin nói, ta mong biết
           Ngài hưởng tiên cung bởi cách nào?
Long vương:
31.      Ma-kiệt-đà, xưa chính đại vương,
           Duy-yo vương tử, tiếng hùng cường,
           Thấy đời hèn hạ và không ổn
           Nếu chẳng tinh thông đạt thiện toàn.
32.      Rượu, thịt, ta đem lễ cúng dâng
            Phát ban mọi chốn, khắp xa gần,
            Nhà như quán trọ, bao người đến,
            Hiền, Thánh giải lao, đỡ nhọc thân
33.       Ta nguyện lời kia, sống trọn đời
          Tu nhân, tích đức góp gom hoài,
         Cung này, nhờ đó, sau cùng hưởng
          Thực phẩm tràn đầy chứa khắp nơi.
Aḷāra:
34.     Cuộc đời dù sáng rực bao ngày,
           Vũ khúc, hoan ca chẳng kéo dài,
           Kẻ yếu hại ngài vì đại lực,
            Lũ hèn làm dũng sĩ xa bay;
           Răng thần sao đấu không cân sức,
          Ngài chịu thua bầy hạ tiên vầy?
35.     Ngài chịu đau vì quá hãi hung,
          Do đâu nọc độc đã tiêu vong?
         Sao ngài thần lực đầy răng ấy,
         Mà phải chịu đau bởi ác nhân?
Long vương:
36.      Ta chẳng thua vì quá hãi hùng,
           Chẳng ai làm đại lực tiêu vong,
           Mọi người thừa nhận bao công đức
           Như biển bờ cao, chẳng ngập tràn.
37.      Ngày trai mỗi tháng giữ hai lần,
          Chính buổi kia ngăn chặn bước đàng,
          Mười sáu chàng trai, tay nắm đủ
          Dây thừng, thòng lọng cực kỳ sang.
38.     Bọn ác nhân đâm thủng mũi ta,
          Xuyên dây thừng ấy, kéo ta qua,
         Đớn đau ta chịu, ôi đành phận,
        Giữ Thánh nhật cho khỏi phạm mà.
Aḷāra:
39.     Thấy trên đường vắng, trải giăng dài
          Hình đẹp, khổng lồ, đại lực oai,
         “Bậc trí hiển vinh,” ta hét lớn,
         “Sao nguyền đời khổ hạnh, thưa ngài?”
Long vương:
40.     Ta chẳng cầu con, chẳng ước giàu,
         Chẳng mong thọ mạng được dài lâu,
         Song trên nhân thế t among sống
         Nỗ lực, anh hùng đạt đích cao.
Aḷāra:
41.    Tóc râu chải chuốt, dáng oai hùng,
         Phục sức hoàng y, mắt lửa bừng,
         Đỏ thắm chiên-đàn, ngài rực rỡ
         Xa xa, nào khác Nhạc thiên thần.
42.    Hưởng bao ân huệ lộc trời cho,
          Đầy đủ mọi điều dạ ước mơ,
          Ta hỏi Long vương, xin nói thật,
          Cõi người sao lại muốn an cư?
Long vương:
43.     Không đâu trừ thế giới người đời
          Thanh tịnh, điều thân được thấy rồi,
          Chỉ sống giữa đời người thế tục,
           Đoạn trừ sinh tử kiếp sau thôi.
Aḷāra:
44.      Dù hưởng đầy hoan lạc dị thường,
          Cùng Long vương sống suốt năm trường,
          Giờ ta vĩnh biệt, ra đi mãi,
          Không ở nữa, vì xa cố hương.
Long vương:
45.    Thê nhi trẫm với lũ cung nhân
         Được luyện hầu ngài, lệnh phục tuân,
        Chắc chẳng kẻ nào gây xúc phạm,
        Vì ngài, trẫm thấy rất thương thân.
Aḷāra:
46.   Đủ mặt mẹ cha thắm thiết tình,
        Hân hoan tràn ngập cả gia đình,
       Còn nhiều người quý yêu con trẻ,
       Song lạc tối cao giữa chúng sinh
       Ta được thấy đây Long đế hỡi,
       Vì ngài đầy thắm thiết bên mình.
Long vương:
47.      Bảo châu trẫm có điểm hồng vân
           Đem đại phú cho kẻ thiếu phần,
          Nhận lấy về nhà, khi phú quý
          Xin đưa trả ngọc lại Long quân.
Ẩn sĩ sau khi nói xong những lời này, liền tiếp tục như sau:
- Tâu Đại vương, sau đó ta đáp lời Long vương: “Tâu Đại đế, ta không màng giàu sang, ta chỉ muốn xuất gia tu hành”
Sau khi xin ban đủ mọi vật cần thiết cho đời sống tu hành ẩn sĩ, ta từ giã cảnh giới Nāga cùng với Long vương, và khi đã mời ngài trở lui về, phần ta vào vùng Tuyết sơn tu tập.
Nói xong, ẩn sĩ này lại thuyết giáo cho vua Ba-la-nại và ngâm thêm hai vần kệ:
48.     Dục tham trần thế thoáng qua nhanh,
          Chẳng phục tuân quy luật trưởng thành,
         Thấy khổ phát sinh từ ái dục,
          Tín tâm dẫn bước đến tu hành.
49.      Người tàn như trái rụng, tiêu vong,
          Già trẻ, muôn loài rã mục thân,
         Ta chỉ trú an trong Thánh hạnh,
         Tối ưu là thực thể thuần chân.
Nghe lời này, vua ngâm kệ đáp lời:
50.     Bậc hiền có trí tuệ uyên thâm,
         Chư vị tu hiền định chú tâm
         Đề mục tối cao, mà tất cả
         Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
          Nghe lời ngài dạy cùng Long đế,
        Trẫm thực hành toàn nghiệp thiện chân.
Vị ẩn sĩ muốn khuyến khích tinh tấn lực của vua, liền ngâm kệ kết thúc:
51.     Bậc hiền có trí tuệ uyên thâm,
         Chư vị tu hiền định chú tâm
         Đề mục tối cao, mà tất cả
         Chúng ta phải luyện tập tinh cần;
          Nghe lời ta dạy, cùng Long đế,
          Chúa thượng thực hành nghiệp thiện chân.
   Vị này thuyết giáo như vậy với vua và sau khi ở lại đó bốn tháng mùa mưa, liền trở về Tuyết sơn sống và tu tập Tứ vô lượng tâm đến khi mạng chung, được tái sinh Phạm thiên giới.
   Còn vua Saṅkhapāla trong suốt quãng đời còn lại, chuyên tâm hành trì các ngày trai giới, bố thí cùng nhiều thiện sự khác, nên sau khi mạng chung, ngài đi theo nghiệp của mình.
                                                       *
    Khi Pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
   Thời bấy giờ, vị vua cha trở thành ẩn sĩ khổ hạnh chính là Kassapa (Ca-diếp), vua Ba-la-nại là Ānanda (A-nan), ẩn sĩ Aḷāra là Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Long vương Saṅkhapāla chính là Ta.
                                525. CHUYỆN TIỂU SUTASOMA
                                 (TIỀN THÂN CULLA SUTASOMA)
   Hiền hữu, thần dân tụ họp đây…
   Câu chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự tu tập viên mãn hạnh xuất gia của Ngài.
   Phần đầu câu chuyện tương ứng với phần đầu của Tiền thân Mahā Nārada Kassapa (số 544, tập VII).
                                                           *
   Ngày xưa, tại thành Ba-la-nại, ngày nay là kinh thành Sudassana, có vua Brahmadatta trị vì. Chánh hậu của ngài sinh ra Bồ-tát. Khuôn mặt ngài sáng rực như trăng rằm, vì thế ngài được đặt tên Somakumāra (Nguyệt Cung vương tử). Khi ngài đến tuổi trưởng thành, vì ngài thích uống nước trái cây soma và hay có thói quen tưới rượu lễ vào đó nên ngài được mệnh danh Sutasoma (người làm rượu Soma)
  Đến tuổi khôn lớn, ngài được truyền dạy các môn học thuật tại Takkasilā và khi trở về nhà, ngài được vua cha ban chiếc lọng trắng. Ngài trị vì quốc độ rất đúng pháp, cai quản cả một lãnh thổ rộng lớn cùng mười sáu ngàn cung tần, với nàng Candadevī làm chánh hậu. Dần dần, hoàng gia càng thêm đông đúc, ngài đâm nhàm chán với cuộc sống gia đình nên lui vào rừng, mong ước thọ trì giới luật tu hành. Một ngày kia, ngài triệu người hớt tóc vào, phán bảo:
-  Khi nào khanh thấy sợi tóc bạc trên đầu trẫm, khanh phải nói cho trẫm biết.
   Người hớt tóc tuân lệnh, sau đó thấy một sợi tóc bạc, liền tâu với ngài ngay. Vua bảo:
  -  Vậy khanh hãy nhổ ra và đưa cho trẫm.
 Người hớt tóc lấy cái nhíp vàng nhổ ra và đặt vào tay ngài. Bậc Đại sĩ thấy sợi tóc bạc , kêu to:
-  Thân ta sắp bị tuổi già tàn phá.
Rồi ngài kinh hoàng cầm sợi tóc bạc bước xuống lầu, ngự lên ngai đặt trước thần dân.
 Sau đó, ngài triệu tám mươi ngàn triều thần do vị đại tướng cầm đầu và sáu mươi ngàn Bà-la-môn do vị tế sư của triều đình lãnh đạo, cùng nhiều cận thần và dân chúng đến bảo:
- Tóc bạc đã xuất hiện trên đầu trẫm, trẫm đã già rồi, các khanh phải biết rằng trẫm muốn thành ẩn sĩ.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1.      Hiền hữu, thần dân tụ tập đây,
        Quân sư tin cẩn, hãy nghe vầy:
        “Giờ đầu tóc bạc ta dần hiện,
       Ta muốn trở thành ẩn sĩ ngay.”
Nghe vậy, mỗi người trong đám kia đều thất vọng ngâm vần kệ này:
2.     Bất xứng lời kia đã thốt ra,
        Mũi tên Hoàng thượng thấu tim ta,
       Bảy trăm cung nữ, tâu Hoàng thượng,
        Sẽ thế nào khi chúa xuất gia?
Tiếp theo, bậc Đại sĩ ngâm vần kệ thứ ba:
3.    Kẻ khác sẽ khuyên chúng hết buồn,
       Chúng đều kiều diễm, tuổi thanh xuân,
      Còn ta hướng đích lên Thiên giới,
      Nên muốn làm tu sĩ ẩn thân.
Các vị quân sư không thể nào đáp lời vua được liền đi yết kiến thái hậu và trình câu chuyện với bà. Thái hậu liền vội vã đi đến hỏi vua:
-  Này vương nhi, quần thần bảo rằng vương nhi muốn làm ẩn sĩ, có đúng chăng?
Bà lại ngâm hai vần kệ:
4.     Than ôi!Ngày bất hạnh như vầy,
        Ngày được vương nhi gọi mẹ đây,
       Vì quá vô tình nhìn lệ thảm,
       Con đành làm ẩn sĩ từ nay.
5.    Bạc phận, than ôi, quả đúng thời
       Soma yêu quý đã chào đời!
/107
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »