1604 - Luận Biện Trung Biên - Quyển Trung (Trang 19 - 35)">
Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 109 - Bộ Du Già VI - Số 1600 -> 1604

Đại Tập 109 - Bộ Du Già VI - Số 1600 -> 1604

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 809.

Chương 2: Luận Biện Trung Biên - Quyển Trung (Trang 19 - 35)

LUẬN BIỆN TRUNG BIÊN

QUYỂN TRUNG
 
Phẩm 3: BIỆN CHÂN THẬT
 
Đã nói về chướng ấy, nay sẽ nói về chân thật, Tụng chép:
Chân thật chỉ có mười
Là căn bản và tướng
Nhân quả không điên đảo,
Và thô tế chân thật
Cực thành, sở hành tịnh
Nhiếp thọ và sai khác
Mười khéo léo chân thật
Đều vì trừ ngã kiến.
Luận chép: Phải biết chân thật chỉ có mười thứ: Một là căn bản chân thật; hai là tướng chân thật; ba là không điên đảo chân thật; bốn là nhân quả chân thật; năm là thô tế chân thật; sáu là cực thành chân thật; bảy là sở hành tịnh chân thật; tám là nhiếp giữ chân thật; chín là sai khác chân thật; mười là thiện xảo chân thật. Thiện xảo nầy lại có mười thứ, để trừ bỏ mười ngã kiến. Mười thiện xảo gồm: Một là uẩn thiện xảo; hai là giới thiện xảo; ba là xứ thiện xảo; bốn là duyên khởi thiện xảo; năm là xứ phi xứ thiện xảo; sáu là căn thiện xảo; bảy là thế thiện xảo; tám là đế thiện xảo; chín là thừa thiện xảo; mười là pháp hữu vi vô vi thiện xảo. Trong đó, thế nào là căn bản chân thật? Đó là ba tự tánh: một là tự tánh biến kế sở chấp; hai là tự tánh y tha khởi; ba là tự tánh viên thành thật. Nương theo ba tự tánh nầy mà kiến lập chân thật khác, ba tự tánh đã được nói ở đây, chấp nhận nghĩa nào là chân thật?
Tụng rằng:
Chấp nhận ba tự tánh
Duy nhất thường chẳng có
Một có mà không thật
Một có không chân thật.
Luận chép: Ngay trong ba tự tánh như vậy, tướng biến kế sở chấp thường chẳng có. Chỉ thường chẳng có, đối với tánh nầy chấp nhận là chân thật. Vì không điên đảo nên tướng y tha khởi có mà không thật. Chỉ có mà chẳng thật, đối với y tha khởi chấp nhận là chân thật. Vì có tánh loạn nên tướng viên thành thật cũng có chi chẳng phải có. Chỉ có chẳng phải có ở trong tánh nầy chấp nhận là chân thật. Vì có tánh không nên thế nào là tướng chân thật? Tụng rằng:
Sác thủ thú nơi pháp
Và năng thủ sở thủ
Trong tánh có chẳng có
Kiến tăng thêm, tổn giảm
Biết đây nên không chuyển
Gọi là tướng chân thật.
Luận chép: Tất cả kiến tăng thêm và kiến tổn giảm đối với tất cả pháp Bổ-đặc-già-la, nếu biết kiến nầy thì kiến kia liền không chuyển, đó là tướng chân thật của tự tánh biến kế sở chấp. Tất cả kiến tăng thêm và kiến tổn giảm đối với các pháp sở thủ và năng thủ, nếu biết kiến nầy thì kiến kia liền không chuyển, đó gọi là tướng chân thật của tự tánh y tha khởi. Tất cả kiến tăng thêm và kiến tổn giảm đối với hữu và phi hữu, nếu biết kiến nầy thì kiến kia liền không chuyển, đó gọi là tướng chân thật của tự tánh viên thành thật. Đây là đối với tướng chân thật căn bản, không có điên đảo nên gọi là tướng chân thật. Chân thật không điên đảo nghĩa là tánh vô thường, khổ, không, vô ngã. Do đối trị bốn đảo như: thường, v.v… kia, vì sao phải biết vô thường… nầy nương vào chân thật căn bản kia mà lập? Tụng rằng:
Vô tánh và sinh diệt
Cấu, tịnh, ba vô thường
Sở thủ và sự tướng
Hòa hợp ba thứ khổ
Không cũng có ba thứ
Là tự tánh không khác
Vô tướng và dị tướng
Tự tướng, ba vô ngã
Thứ lớp bốn, ba thứ
Nương chân thật căn bản.
Luận chép: Vô thường có ba thứ: Một là vô tánh vô thường, nghĩa là vì biến kế sở chấp, vì thường là không. Hai là sinh diệt vô thường, nghĩa là vì y tha khởi có khởi, có tận diệt. Ba là cấu tịnh vô thường,
nghĩa là vì giai vị viên thành thật có chuyển biến.
Ba thứ khổ: Một là khổ sở thủ, nghĩa là biến kế sở chấp, là pháp chấp sở thủ của Bổ-đặc-già-la. Hai là khổ sự tướng, đó là y tha khởi, vì có ba tướng khổ. Ba là hòa hợp khổ, nghĩa là vì viên thành thật hòa hợp với tướng khổ.
Có ba thứ không: Một là vô tánh không, là biến kế sở chấp, vì tánh không nầy không có lý thú để nói là có, do sự chẳng có nầy nên gọi là không. Hai là dị tánh không là y tha khởi như sở chấp luống dối không phải có như vậy, vì chẳng phải tất cả chủng tánh đều là không. Ba là tự tánh không, là viên thành thật, vì đã hiển bày hai không trên làm tự tánh.
Vô ngã có ba: Một là vô tướng vô ngã, là biến kế sở chấp, vì tướng nầy vốn không, nên gọi là vô tướng, tức vô tướng nầy nên gọi là vô ngã. Hai là dị tướng vô ngã, là y tha khởi, tướng nầy tuy có nhưng vì không như biến kế sở chấp kia, nên gọi là tướng khác, vì tướng khác nầy nên gọi là vô ngã. Ba là tự tướng vô ngã, là viên thành thật, lấy sự hiển bày vô ngã làm tự tướng, vì tự tướng nầy nên gọi là vô ngã. Đã nói về bốn thứ: vô thường, khổ, không, vô ngã như vậy, nương vào chân thật căn bản theo thứ lớp như trên mà mỗi thứ đều chia làm ba thứ. Bốn thứ nầy (vô thường, khổ…) mỗi thứ có ba thứ như trên phải biết. Nhân quả chân thật nghĩa là bốn Thánh đế. Vì sao bốn Thánh đế nầy nương vào chân thật căn bản? Tụng rằng:
Đã nói ba tướng khổ
Tập cũng có ba thứ
Là sinh khởi: tập khí…
Và chưa lìa, buộc nhau
Tự tánh hai bất sinh
Cấu tịch hai, ba diệt
Biến tri và dứt hẳn
Chứng đắc ba Đạo đế.
Luận chép: Khổ đế có ba: là bốn thứ như: Vô thường, khổ, v.v… mỗi thứ có ba tướng. Như đã nói ở trước, Tập đế có ba thứ: Một tập khí tập, nghĩa là tập khí chấp của tự tánh biến kế sở chấp. Hai là đẳng khởi tập, là nghiệp phiền não. Ba là tập đế chưa lìa sự ràng buộc, nghĩa là chưa lìa chướng chân như.
Diệt đế có ba thứ: Một là tự tánh diệt, nghĩa là vì tự tánh bất sinh. Hai là hai thủ diệt, nghĩa là hai thứ sở thủ và năng thủ bất sinh. Ba là bản tánh diệt nghĩa là hai cấu và tịnh, tức là trạch diệt và chân như.
Đạo đế có ba thứ: Một là đạo biến tri; hai là đạo dứt hẳn; ba là đạo chứng đắc. Phải biết trong đó, ở biến kế sở chấp chỉ có biến tri, ở y tha khởi có biến tri và dứt hẳn, ở viên thành thật có biến tri và chứng đắc. Cho nên nương theo ba thứ nầy mà kiến lập Đạo đế.
Thô tế chân thật là thế tục đế và thắng nghĩa đế. Vì sao thô tế chân thật nầy nương vào chân thật căn bản? Tụng rằng:
Phải biết thế tục đế
Có ba thứ khác nhau
Là giả, hành, hiển rõ
Thứ lớp dựa gốc ba
Thắng nghĩa đế cũng ba
Là nghĩa, đắc, chánh hạnh
Dựa gốc một không biến
Vô đảo hai viên thật.
Luận chép: Thế tục đế có ba thứ: một là giả thế tục; hai là hành thế tục; ba là hiển bày rõ thế tục. Ba thứ thế tục nầy theo thứ lớp của nó nương vào chân thật căn bản mà kiến lập.
Thắng nghĩa đế cũng có ba thứ: Một là nghĩa thắng nghĩa, nghĩa là cảnh của thắng trí chân như gọi là thắng nghĩa. Hai là đắc thắng nghĩa, nghĩa là Niết-bàn, Niết-bàn nầy là thắng quả cũng là nghĩa lợi. Ba là chánh hạnh thắng nghĩa, tức là Thánh đạo, vì lấy thắng pháp làm nghĩa. Ba thắng nghĩa nầy phải biết là chỉ nương vào viên thành thật trong ba căn bản để lập viên thành thật nầy, gồm có hai thứ: là hữu vi và vô vi vì có khác nhau. Vô vi nhiếp cả Niết-bàn chân như, vì không biến khác nên gọi là viên thành thật. Hữu vi gồm nhiếp tất cả Thánh đạo, vì không điên đảo đối với cảnh nên gọi là Viên thành thật.
Cực thành chân thật lược có hai thứ: Một là thế gian cực thành chân thật; hai là đạo lý cực thành chân thật. Vì sao hai thứ chân thật nầy nương vào căn bản chân thật kia mà lập nên? Tụng rằng:
Thế cực thành nương một
Lý cực thành nương ba.
Luận chép: Nếu cùng an lập với sự thế gian, thói quen huân tập tùy chỗ nhập vào chấp giữ của giác tuệ, thì tất cả thế gian cùng chấp việc nầy. Địa nầy chẳng phải lửa, sắc, chẳng phải âm thanh, v.v… đó gọi là thế gian cực thành chân thật. Chân thật nầy trong ba chân thật căn bản, chỉ nương vào biến kế sở chấp mà lập. Nếu có nghĩa lý của hiền thiện thông minh, có thể khéo tầm tư, nghĩa là nương tựa vào ba lượng mà chứng thành sự kiến lập, nêu bày của đạo lý, đó gọi là đạo
lý cực thành chân thật. Chân thật nầy nương vào ba chân thật căn bản mà kiến lập.
Sở hành thanh tịnh chân thật nói lược có hai thứ: Một là chân thật của sở hành tịnh trí về chướng phiền não; hai là chân thật của sở hành tịnh trí về chướng sở tri. Vì sao chân thật nầy nương vào chân thật căn bản kia mà lập? Tụng rằng:
Sở hành tịnh có hai
Nương một viên thành thật.
Luận chép: Hai thứ chân thật của sở hành tịnh trí về chướng phiền não và chướng sở tri chỉ nương vào viên thành thật trong ba chân thật căn bản mà lập, còn hai tánh kia chẳng phải là cảnh tịnh trí nầy, làm sao phải biết tướng, danh, phân biệt, chân như, chánh trí thuộc ba chân thật căn bản? Tụng rằng:
Danh - biến kế sở chấp
Tướng - phân biệt y tha
Chân như và chánh trí
Thuộc về viên thành thật.
Luận chép: Năm việc như: Tướng, v.v… tùy theo chỗ thích ứng mà thuộc ba thứ chân thật căn bản. Danh thuộc về biến kế sở chấp, tướng và phân biệt thuộc ở y tha, chân như và chánh trí thuộc về viên thành thật.
Chân thật sai khác lược có bảy thứ: Một là chân thật chuyển lưu; hai là chân thật thật tướng; ba là chân thật duy thức; bốn là chân thật an lập; năm là chân thật tà hạnh; sáu là chân thật thanh tịnh; bảy là chân thật chánh hạnh. Vì sao biết bảy thứ chân thật nầy nương vào ba chân thật căn bản mà lập? Tụng rằng:
Lưu chuyển và an lập
Tà hạnh nương một, hai
Thật tướng, duy thức, tịnh
Chánh hạnh nương một sau.
Luận chép: Bảy thứ như: Chuyển lưu, v.v… tùy theo sự thích ứng của nó mà thuộc về ba thứ chân thật căn bản. Nghĩa là chuyển lưu, an lập, tà hạnh nương vào biến kế sở chấp và y tha khởi trong căn bản, còn thật tướng, duy thức, thanh tịnh, chánh hạnh nương vào viên thành thật trong căn bản mà lập.
Chân thật thiện xảo là đối trị mười ngã kiến nên nói có mười thứ.
Vì sao khởi mười ngã kiến như uẩn…? Tụng rằng:
Ngã kiến đối uẩn thảy
Chấp một, nhân, thọ giả
Tác giả tự tại chuyển
Nghĩa tăng thượng và thường
Nương tạp nhiễm, thanh tịnh
Quán tánh người buộc, mở.
Luận chép: Đối với mười pháp như: Uẩn, v.v… khởi mười thứ ngã kiến: Một là chấp một tánh; hai là chấp tánh nhân; ba là chấp tánh thọ giả; bốn là chấp tánh tác giả; năm là chấp tánh tự tại chuyển; sáu là chấp tánh nghĩa tăng thượng; bảy là chấp tánh thường; tám là chấp tánh sở y nhiễm, tịnh; chín là chấp tánh của hành giả quán; mười là chấp tánh của người buộc, mở. Để trừ kiến nầy phải tu mười khéo léo. Vì sao mười thứ chân thật khéo léo nương vào ba thứ chân thật căn bản mà kiến lập? Vì mười pháp như: uẩn, v.v… không pháp nào mà không thuộc về ba thứ lớp tánh căn bản, nên thuộc về ba tự tánh như vậy.
Tụng rằng:
Sở chấp, phân biệt nầy
Nghĩa pháp tánh ở đó.
Luận chép: Mười pháp như: Uẩn, v.v… nầy, mỗi pháp đều có ba nghĩa. Trong sắc uẩn có ba nghĩa: Một là sắc nghĩa sở chấp, là tánh biến kế sở chấp về sắc. Hai là sắc nghĩa phân biệt, là tánh y tha khởi của sắc. Ba là sắc nghĩa pháp tánh, là tánh viên thành thật của sắc, như trong sắc uẩn có ba nghĩa nầy. Bốn uẩn như: Thọ… chín pháp: Giới… mỗi một đều có ba nghĩa tùy theo chỗ thích ứng phải biết. Uẩn như vậy, v.v… do ba nghĩa riêng, không có nghĩa nào chẳng thuộc về ba tánh kia. Cho nên phải biết mười thiện xảo chân thật đều phải nương vào ba chân thật căn bản mà lập. Như vậy, tuy nói vì muốn đối trị mười thứ ngã kiến nên tu các thiện xảo như: uẩn, v.v… nhưng chưa nói nghĩa khác như uẩn, v.v… nầy. Vả lại, làm sao biết nghĩa uẩn đầu tiên? Tụng rằng:
Chẳng một và tổng, lược
Nghĩa phần đoạn gọi uẩn.
Luận chép: Phải biết nghĩa uẩn nói lược có ba thứ: Một là nghĩa chẳng phải một, như khế kinh nói: tất cả các sắc, v.v… hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc kém, hoặc hơn, hoặc xa, hoặc gần. Hai là nghĩa tổng lược, như khế kinh nói tất cả lược như vậy làm một nhóm. Ba là nghĩa phần đoạn, như khế kinh nói: nói danh, sắc, uẩn, v.v… đều an lập riêng các tướng như: sắc, v.v… Do nghĩa nhóm ấy nên nghĩa uẩn được thành. Lại nữa, nghĩa nhóm của kiến thế gian gọi là uẩn. Đã nói nghĩa uẩn, còn thế nào là
nghĩa giới (cõi)? Tụng rằng:
Năng, sở thủ, thủ kia
Nghĩa hạt giống là giới.
Luận chép: Nghĩa hạt giống năng thủ đó là sáu nội giới như: Nhãn, v.v… Nghĩa hạt giống sở thủ là sáu ngoại giới như: sắc, v.v… Nghĩa hạt giống thủ kia là sáu thức giới như: Nhãn thức, v.v… Đã nói về nghĩa giới, còn thế nào là nghĩa xứ? Tụng rằng:
Năng thọ, cảnh sở liễu
Nghĩa dụng môn gọi xứ.
Luận chép: Trong đó nghĩa của môn năng thọ thọ dụng là sáu nội xứ, hoặc nghĩa của cảnh đối tượng rõ biết (sở liễu) thọ dụng là sáu ngoại xứ. Đã nói về nghĩa xứ, còn nghĩa duyên khởi thế nào? Tụng rằng:
Nghĩa duyên khởi ở nhân
Quả dụng không thêm bớt.
Luận chép: Đối với dụng của nhân quả, nếu không có tăng thêm và không có tổn giảm thì đó là nghĩa duyên khởi. Phải biết, nhân tăng ích ở đây nghĩa là chấp hành, v.v… hữu số có nhân bất bình đẳng, Nhân tổn giảm là chấp vô nhiễm kia không có nhân. Quả tăng ích nghĩa là chấp có ngã hành… duyên vô minh, v.v… mà sinh. Quả tổn giảm nghĩa là chấp quả vô minh, v.v… vô hành, v.v… Dụng tăng thêm: nghĩa là chấp vô minh, v.v… đối với sinh, hành, v.v… có tác dụng riêng. Dụng tổn giảm nghĩa là chấp vô minh đối với sinh, hành… hoàn toàn không có công năng. Nếu không có ba thứ chấp thêm bớt như vậy thì phải biết nghĩa kia ở duyên khởi khéo léo. Đã nói về nghĩa duyên khởi, còn thế nào là xứ phi xứ? Tụng rằng:
Đối phi ái ái tịnh
Câu sinh và thắng chủ
Được hành không tự tại
Là nghĩa xứ phi xứ.
Luận chép: Nghĩa xứ phi xứ nói lược do bảy thứ không được tự tại, nên biết tướng của nó. Một là đối với phi ái không được tự tại, nghĩa là do hành vi ác tuy không có ái dục nhưng đọa đường ác. Hai là đối với khả ái không được tự tại, nghĩa là do diệu hạnh tuy không có ái dục nhưng được lên đường lành. Ba là ở chỗ thanh tịnh không được tự tại, nghĩa là không dứt năm cái, không tu bảy giác chi, thì chắc chắn không thể tạo tác bờ mé khổ. Bốn là không tự tại đối với câu sinh (sinh cùng lúc), nghĩa là không có hai Như Lai, hai vua Chuyển Luân cùng xuất hiện một lúc trong một thế giới. Năm là đối với thắng chủ không được
tự tại nghĩa là người nữ không thể làm Chuyển Luân Vương… Sáu là không được tự tại đối với chứng đắc, nghĩa là người nữ không thể chứng Độc giác, Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng. Bảy là không được tự tại đối với hiện hành, nghĩa là người kiến đế sẽ không hiện làm việc hại sinh, v.v… các loài dị sinh thì có thể hiện hành. Trong kinh Đa Giới nói rộng về việc nầy, phải tùy theo mà chắc chắn biết rõ là xứ hay phi xứ. Đã nói về nghĩa của xứ phi xứ như vậy rồi, còn thế nào là nghĩa căn? Tụng rằng:
Căn nơi thủ, trú, tục
Dùng hai tịnh tăng thượng.
Luận chép: Hai mươi hai căn nương vào sáu việc nghĩa tăng thượng mà lập, nghĩa là đối với sự chấp lấy cảnh, sáu căn như: Mắt… có nghĩa tăng thượng. Mạng căn trú nơi một kỳ hạn nối tiếp có nghĩa tăng thượng. Hai căn nam, nữ đối với sự nối tiếp dòng họ là có nghĩa tăng thượng. Đối với chủ thể thọ dụng nghiệp quả thiện ác, năm căn như: lạc căn,v.v… có nghĩa tăng thượng, đối với năm căn như: Tịnh tín, v.v… của thế gian có nghĩa tăng thượng, đối với tịnh, xuất thế chưa biết…, có nghĩa tăng thượng. Đã nói về nghĩa căn, còn thế nào là nghĩa thế? Tụng rằng:
Nhân quả đã, chưa dùng
Là nghĩa thế nên biết.
Luận chép: Nên biết nhân quả đã và chưa thọ dụng, thì tùy theo chỗ thích ứng mà có nghĩa ba đời khác nhau. Nghĩa là nhân quả đều đã thọ dụng là nghĩa quá khứ. Đối với nhân quả đều cùng chưa thọ dụng là nghĩa vị lai. Nếu nhân đã thọ dụng, quả thì chưa thọ dụng và đã thọ dụng là nghĩa hiện tại. Đã nói về nghĩa thế (ba đời), còn thế nào là nghĩa đế? Tụng rằng:
Thọ và tư lương thọ
Các hành sở nhân kia
Hai tịch diệt đối trị
Là nghĩa đế nên biết.
Luận chép: Nên biết đế là bốn Thánh đế: Một là Khổ Thánh đế, đó là tất cả thọ và tư lương thọ. Trong khế kinh nói: tất cả các thọ đều là khổ, tư lương thọ là thuận theo pháp thọ. Hai là Tập Thánh đế, đã làm nhân các hành của khổ kia. Ba là Diệt Thánh đế là hai thứ trước là vắng lặng rốt ráo. Bốn là Đạo Thánh đế là đạo có thể đối trị khổ, tập. Đã nói về nghĩa đế, còn thế nào là nghĩa Thừa? Tụng rằng:
Do công đức, lỗi
Và trí vô phân biệt
Y tha tự xuất ly
Là nghĩa thừa nên biết.
Luận chép: Nên biết thừa là ba thừa, trong đó tùy theo sự thích ứng mà hiển bày nghĩa của nó. Nếu nghe từ người về lỗi sinh tử và công đức Niết-bàn thì khởi lên trí ấy. Nhờ trí ấy mà được xuất ly, nghĩa là thừa Thanh văn, không từ người nghe nói về lỗi sinh tử và công đức Niết-bàn. Nhờ trí ấy mà được xuất ly nghĩa là thừa Độc giác, nếu tự khởi lên trí không phân biệt. Nhờ trí ấy mà được xuất ly gọi là thừa Vô thượng. Đã nói về nghĩa thừa, thế nào là nghĩa của pháp hữu vi, vô vi? Tụng rằng:
Nghĩa hữu vi, vô vi
Là hoặc giả, hoặc nhân
Hoặc tướng, hoặc vắng lặng.
Hoặc nghĩa sở quán kia.
Luận chép: Phải biết trong đó, giả là danh… nhân, nghĩa là hạt giống thuộc tàng thức. Tướng, nghĩa là khí, thân và vật thọ dụng và chuyển thức nhiếp ý, thủ, tư duy, ý nghĩa là tánh thức tư lường trong mọi lúc, thủ là năm thức nhiếp lấy hiện cảnh, tư duy tức là ý thức thứ sáu, vì có thể phân biệt tất cả cảnh. Tất cả hoặc giả, hoặc nhân, hoặc tướng, và pháp tương ưng như vậy đều gọi là hữu vi. Hoặc vắng lặng nghĩa là đối tượng chứng diệt và chủ thể chứng đạo, vì chủ thể vắng lặng. Nghĩa sở quán của vắng lặng kia là chân như, vì cảnh sở duyên là đạo vắng lặng. Đã nói như vậy, hoặc các vắng lặng hoặc nghĩa sở duyên gọi chung là vô vi. Phải biết trong đó mười nghĩa như: duyên uẩn, v.v… là đã khởi chánh tri gọi là thiện xảo như: Uẩn, v.v…
Nghĩa chung của chân thật nói lược có hai thứ, đó là năng hiển sở hiển chân thật. Năng hiển chân thật là ba thứ căn bản tối sơ, có công năng làm sáng cái khác. Đối tượng hiển bày chân thật nghĩa là chín thứ sau, vì chỗ hiển bày là căn bản đầu tiên nầy nên chín thứ đối tượng hiển bày gồm:
1. Đối tượng hiển bảy chân thật lìa tăng thượng mạn.
2. Đối tượng hiển bày chân thật đối trị điên đảo.
3. Đối tượng hiển bày chân thật thừa Thanh văn xuất ly.
4. Đối tượng hiển bày chân thật thừa Vô thượng xuất ly, vì thô có thể thành thục, còn tế có thể giải thoát.
5. Đối tượng hiển bày chân thật là có thể hàng phục luận khác, nhờ nương vào thí dụ đạo lý mà hàng phục được người.
6. Đối tượng hiển bày chân thật là hiển bày Đại thừa.
7. Đối tượng hiển bày chân thật là nhập vào tất cả thứ sở tri.
8. Đối tượng hiển bày chân thật là hiện bày chân như không luống dối.
9. Đối tượng hiển bày chân thật là tất cả bí mật nhập vào việc chấp ngã.
 
------------------------------
Phẩm 4: NÓI VỀ TU ĐỐI TRỊ
 
Đã nói về chân thật, nay kế sẽ nói về tu các đối trị, tức tu tất cả phần pháp Bồ-đề, trong đó phải nói đến tu niệm trú. Tụng rằng:
Dùng nhân ái thô nặng
Vì không mê việc ngã
Để nhập bốn Thánh đế
Phải biết tu niệm trú.
Luận chép: Sự thô nặng do thân mà được hiện rõ nên quán sát thân nầy mà được nhập Khổ Thánh đế, vì thân lấy các hành thô nặng làm tướng, dùng các thô nặng tức là tánh hành khổ. Nhờ Thánh đế nầy mà quán hữu lậu đều là khổ, các thọ hữu lậu gọi là nhân của ái nên quán sát nhân nầy được nhập Tập Thánh đế. Vì tâm là chỗ nương của duyên sự chấp ngã nên quán sát chấp nầy mà được nhập Diệt Thánh đế. Vì sợ ngã đoạn diệt, do đây mà được xa lìa, nhờ quán sát pháp nên đối với pháp nhiễm và tịnh xa lìa sự ngu mê, được nhập Đạo Thánh đế. Cho nên để nhập lý bốn Thánh đế, đầu tiên nói về sự tu bốn niệm trú quán. Đã nói về tu niệm trú, nay sẽ nói tu chánh đoạn. Tụng rằng:
Đã trị chướng biết khắp
Tất cả thứ khác nhau
Vì xa lìa tu tập
Siêng tu bốn chánh đoạn.
Luận chép: Tu niệm trú trước, đã có thể đối trị tất cả chướng biết khắp của các phẩm thứ khác nhau. Nay vì xa lìa chướng sở tri và để tu tập đạo năng đối trị nên đối với bốn chánh đoạn luôn siêng năng tu tập. Như nói: đã sinh pháp ác bất thiện, thì khiến nó dứt trừ cho đến nói rộng. Đã nói về tu chánh đoạn, nay sẽ nói về tu thần túc. Tụng rằng:
Nương trú tánh chịu đựng,
Là tất cả việc thành
Diệt trừ hết năm lỗi
Siêng tu tám hạnh đoạn.
Luận chép: Nương theo đã tu tập ở trước mà xa lìa tập tinh tấn, tâm liền an trú có chỗ nhẫn chịu. Vì để thành tựu thắng sự nên tu bốn thần túc, những cái mà ta mong muốn là nhân của thắng sự. Trú là tâm trú, tâm trú nầy tức là Đẳng trì. Kế chánh đoạn là nói bốn thần túc. Tánh có thể nhẫn chịu nầy nghĩa là có thể dứt trừ năm lỗi và tu tám hạnh đoạn. Năm lỗi là: Tụng rằng:
Biếng nhác quên lời Thánh
Và hôn trầm, trạo cử
Không tác hành, tác hành
Phải biết năm lỗi nầy.
Luận chép: Phải biết trong đây, hôn trầm và trạo cử hợp thành một lỗi. Nếu vì hôn trầm, trạo cử mà không khởi gia hạnh, hoặc đã diệt trừ hôn trầm, trạo cử lại khởi gia hạnh thì đều có lỗi. Vì trừ năm lỗi nầy nên tu tám hạnh đoạn. Làm sao an lập hành tướng kia? Tụng rằng:
Vì dứt trừ biếng nhác
Tu dục, cần, tín, an
Tức sở y, năng y
Và sở nhân, năng quả
Vì trừ bốn lỗi khác
Tu niệm trí tư xả
Ký ngôn giác trầm trạo
Phục hành diệt đẳng lưu.
Luận chép: Vì diệt biếng nhác nên tu bốn hạnh đoạn: Một là dục; hai là chánh cần; ba là tín; bốn là khinh an, phải biết theo thứ lớp như vậy. Tức sở y…, sở y là chỗ nương tựa của dục và chánh cần, năng y là chánh cần nương theo dục mà khởi. Sở nhân là tín là chỗ nương tựa, dục sinh khởi nhân gần, nếu tin nhận nhân đó thì liền hy vọng. Năng quả là an là năng y, siêng năng thì gần với quả sở sinh. Người siêng năng tinh tấn thì được thắng định, vì muốn đối trị bốn lỗi sau. Như thường tu bốn hạnh đoạn còn lại: một là niệm; hai là chánh tri; ba là tư; bốn là xả, phải biết theo thứ lớp. Tức “ký ngôn, v.v…”, ký ngôn nghĩa là niệm có thể không quên cảnh, vì ghi nhớ lời bậc Thánh dạy. Giác, trầm, trạo nghĩa là chánh tri do ghi nhớ lời dạy liền có thể thuận theo giác hai lỗi hôn trầm, trạo cử. Phục hạnh nghĩa là tư, do có thể đã tùy giác lỗi hôn trầm, trạo cử, vì muốn phục trừ nên phát khởi gia hành. Diệt đẳng lưu nghĩa là hôn trầm, trạo cử kia đã dứt diệt rồi, tâm liền trú xả bình đẳng mà lưu chuyển. Đã nói về tu thần túc, nay sẽ nói về tu năm căn. Sự tu năm căn an lập thế nào? Tụng rằng:
Đã trồng thuận giải thoát
Lại tu năm tăng thượng
Là dục hành không quên
Không tán loạn, tư trạch.
Luận chép: Do bốn thần túc nên tâm có sự nhẫn chịu, gốc lành thuận phần giải thoát đã tròn đầy. Lại phải tu tập năm thứ tăng thượng: Một là dục tăng thượng. Hai là gia hành tăng thượng. Ba là không quên
cảnh tăng thượng. Bốn là không tán loạn tăng thượng. Năm là tư duy chọn lựa tăng thượng. Năm thứ nầy như thứ lớp của năm căn như: là tín căn, v.v… Đã nói về tu năm căn, nay sẽ nói tu năm lực, năm lực là gì? Thứ lớp thế nào? Tụng rằng:
Chướng tổn gọi là lực
Nhân quả lập thứ lớp.
Luận chép: Tức nói năm căn như: tín căn, v.v… đã nói ở trước có thế dụng cao siêu, lại gọi là lực, nghĩa là thường diệt trừ chướng bất tín…, cũng không bị bất tín kia xen lẫn. Thứ lớp của năm thứ nầy nương vào nhân quả mà lập, vì nương vào nhân trước nên dẫn đến quả sau. Nghĩa là nếu tin chắc chắn có nhân quả, vì để đắc quả nầy nên phát siêng năng tinh tấn, siêng năng tinh tấn rồi liền trú chánh niệm, trú chánh niệm rồi, thì tâm liền đắc định, tâm được định rồi có thể biết như thật. Đã biết như thật thì không việc gì chẳng làm xong, nên thứ lớp nầy nương vào nhân quả mà lập. Như đã nói trước, thuận phần giải thoát đã tròn đầy rồi lại tu năm căn. Địa vị nào tu tập thuận phần quyết trạch, là địa vị năm căn, năm lực phải chăng? Tụng rằng:
Thuận quyết trạch hai hai
Ở năm căn năm lực.
Luận chép: Trong thuận phần quyết trạch, hai thứ Noãn, Đảnh ở địa vị năm căn; Nhẫn, Pháp Thế đệ nhất ở địa vị năm lực. Đã nói về tu năm lực, nay sẽ nói về tu giác chi, làm sao an lập sự tu giác chi?
Tụng rằng:
Giác chi lược có năm
Là tự tánh sở y
Xuất ly và lợi ích
Và ba chi vô nhiễm.
Luận chép: Vì hai chi nầy giúp cho việc tỉnh giác nên gọi là chi giác. Do địa vị giác chi nầy ở tại kiến đạo nên nói rộng có bảy thứ, lược gọi là năm chi. Một là chi giác nương tựa, đó là niệm; hai là chi giác tự tánh, đó là trạch pháp; ba là chi giác xuất ly, đó là tinh tấn; bốn là chi giác lợi ích, đó là hỷ; năm là chi giác vô nhiễm, chi nầy lại có ba thứ: Là an, định và xả. Vì sao lại nói chi vô nhiễm là ba thứ? Tụng rằng:
Do chỗ nương nhân duyên
Nghĩa tự tánh khác nhau
Nên khinh an, định, xả
Gọi là chi vô nhiễm.
Luận chép: Khinh an tức là nhân duyên vô nhiễm, thô nặng là
nhân sinh các tạp nhiễm, khinh an là đối trị gần tạp nhiễm kia. Sở y nghĩa là tự tánh định, tức là xả. Nghĩa vô nhiễm nầy, có ba thứ khác nhau. Đã nói về tu giác chi, nay sẽ nói tu đạo chi, làm sao an lập việc tu đạo chi? Tụng rằng:
Phân biệt và chỉ dạy
Khiến người tin có ba
Đối trị chướng cũng ba
Nên đạo chi thành tám.
Luận chép: Ở địa vị tu đạo mà kiến lập đạo chi nên đạo chi nầy nói rộng có tám, nói lược có bốn: Một là chi phân biệt, đó là chánh kiến. Chánh kiến nầy tuy là thế gian nhưng về sau được xuất thế gian, do điều mà mình chứng có khả năng phân biệt trong địa vị kiến đạo. Hai là chi chỉ dạy người, nghĩa là cùng khởi một phần của chánh tư duy và chánh ngữ, vì để phát lời chỉ dạy người. Ba là chi làm cho người tin theo, chi nầy có ba thứ là chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Bốn là chi đối trị chướng cũng có ba thứ, đó là chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Do đạo chi nầy nói lược có bốn thứ, nói rộng có tám thứ, vì sao hai chi sau, mỗi chi đều chia làm ba? Tụng rằng:
Xa lìa biểu kiến giới
Khiến người tin nhận sâu
Đối trị gốc tùy hoặc
Và vì chướng tự tại.
Luận chép: Ba thứ: chánh ngữ, chánh nghiệp, v.v… đã lần lượt nêu bày, rồi xa lìa kiến giới khiến cho người tin nhận. Nghĩa là dùng chánh ngữ để nghị luận (quyết trạch) phân chọn một cách chắc rõ khiến cho người tin biết. Đã có thắng tuệ, vì có chánh nghiệp nên không làm tà nghiệp, làm cho người tin hiểu. Đã có tịnh giới, vì có chánh mạng nên hợp thời hợp lượng như pháp mà khất cầu các vật như: y bát, v.v… làm cho người kính tin. Đã có sự xa lìa cao siêu, ba thứ: Chánh tinh tấn, chánh niệm… vốn tùy theo chướng phiền não và chướng tự tại mà đối trị theo thứ lớp. Sự đối trị nầy nói lược có ba thứ: Một là phiền não căn bản, đó là do tu mà dứt; hai là phiền não tùy thuộc, đó là hôn trầm, trạo cử; ba là chướng tự tại, nghĩa là chướng điều dẫn dắt công đức thắng phẩm. Trong đó, chánh tinh tấn có thể đối trị riêng, ban đầu là đối trị phiền não vì sự siêng năng tu đạo. Chánh niệm có thể đối trị riêng thứ hai là trong các tướng như: chỉ, v.v… hộ niệm an trú, xa lìa hôn trầm và trạo cử. Chánh định có thể đối trị thứ ba riêng là nương vào tĩnh lự cao siêu có thể mau chóng dẫn phát công đức cao siêu của các thần thông,
v.v… làm sao phải biết tu trị sai khác? Tụng rằng:
Hữu đảo thuận vô đảo
Vô đảo theo hữu đảo
Vô đảo theo vô đảo
Là tu trị khác nhau.
Luận chép: Sự tu trị nầy nói lược có ba thứ: Một là có điên đảo thuận theo không điên đảo. Hai là không điên đảo có khi theo điên đảo. Ba là không điên đảo tùy theo không điên đảo. Ba thứ tu tập đối trị sai khác như vậy theo thứ lớp là sự tu đối trị của dị sinh, địa vị Hữu học, Vô học, Bồ-tát, Nhị thừa đều có tướng sai khác, làm sao để biết? Tụng rằng:
Chỗ Bồ-tát tu tập
Do sở duyên tác ý
Nhờ chứng đắc cao siêu
Sai khác với Nhị thừa.
Luận chép: Thanh văn và Độc giác dùng thân nối tiếp của mình làm cảnh mà tu tập đối trị. Bồ-tát quen dùng thân nối tiếp của mình và người làm cảnh mà tu tập đối trị. Thanh văn, Độc giác đối với các cảnh như, thân, v.v… để tư duy các hành tướng như: vô thường, v.v… mà tu đối trị. Nếu các Bồ-tát đối với các cảnh, như thân, v.v… để tư duy hành tướng vô sở đắc mà tu đối trị. Thanh văn, Độc giác tu niệm trú, v.v… chỉ vì thân để mau chóng được lìa ràng buộc, còn các Bồ-tát tu niệm trú… không vì thân để mau chóng được xa lìa ràng buộc, mà chỉ vì chứng đắc Niết-bàn vô trụ. Việc tu đối trị của Bồ-tát và Nhị thừa do ba duyên nầy mà có sai khác.
Nghĩa chung của tu đối trị nghĩa là tu khai giác, tu tổn giảm, tu trang nghiêm, tu phát khởi hướng thượng, tu lân cận. Nghĩa là vì kiến đạo lân cận nên tu chứng nhập, tu thêm lớn sự cao siêu, tu sơ vị, tu trung vị, tu hậu vị, tu hữu thượng (có quả vị cao hơn nữa), tu vô thượng (không có quả vị nào hơn nữa). Nghĩa là sở duyên của tác ý đạt đến cao siêu.
 
-------------------------------------
Phẩm 5: BIỆN TU PHẦN VỊ
 
Đã nói tu đối trị, còn thế nào là tu phần vị? Tụng rằng:
Đã nói tu đối trị
Phần vị có mười tám
Làm nhân, nhập, hạnh, quả
Tác, vô tác cao quý
Vô thượng, giải hạnh trên
Nhập, xuất ly, ký ngôn
Quán, đảnh và chứng đắc
Thắng lợi thành chỗ làm.
Luận chép: Như đã nói ở trước, phần vị sai khác của tu tập các đối trị có mười tám thứ. Một là nhân vị, nghĩa là trú chủng tánh Bổ-đặc-già- la. Hai là nhập vị, nghĩa là đã phát tâm. Ba là gia hạnh vị, nghĩa là đã phát tâm mà chưa chứng đắc quả. Bốn là quả vị, nghĩa là đã đắc quả. Năm là phần vị có chỗ làm, là trụ hàng Hữu học. Sáu là phần vị không có chỗ làm, là trụ Vô học. Bảy là địa vị cao siêu, nghĩa là đã thành tựu công đức cao siêu của các thần thông… Tám là địa vị hữu thượng, nghĩa là đã vượt lên địa vị Thanh văn, v.v… và đã vào địa Bồ-tát. Chín là địa vị Vô thượng, nghĩa là đã thành Phật, vì từ địa vị nầy trở lên không còn địa vị nào cao siêu hơn nữa. Mười là địa vị Thắng giải hạnh, là tất cả Bồ-tát của địa Thắng giải hạnh. Mười một là địa vị chứng nhập, là địa Cực hỷ. Mười hai là địa vị xuất ly, là sáu địa kế. Mười ba là địa vị thọ ký, là địa thứ tám. Mười bốn là địa vị biện thuyết, là địa thứ chín. Mười lăm là địa vị quán Đảnh, là địa thứ mười. Mười sáu là địa vị chứng đắc, là Pháp thân Phật. Mười bảy là địa vị thắng lợi, là thân thọ dụng. Mười tám là địa vị thành tựu công việc làm, là thân biến hóa. Các phần vị sai khác nầy tuy nhiều nhưng phải biết là nói lược chỉ có ba thứ. Ba loại là gì? Tụng rằng:
Nên biết trong pháp giới
Lược có ba phần vị
Bất tịnh tịnh bất tịnh
Thanh tịnh tùy thích ứng.
Luận chép: Đối với địa vị chân pháp giới nói lược có ba thứ, tùy theo sự thích ứng mà nhiếp giữ các địa vị trước. Một là vị bất tịnh, nghĩa là từ nhân vị cho đến gia hạnh. Hai là tịnh địa vị bất tịnh, là địa vị Hữu học. Ba là địa vị thanh tịnh, là địa vị Vô học. Vì sao phải biết nương vào các địa vị sai khác ở trước mà kiến lập Bổ-đặc-già-la? Tụng rằng:
Nương vào các vị trước
Tất cả tướng sai khác
Kiến lập tùy thích ứng
Các Bổ-đặc-già-la.
Luận chép: Phải biết nương vào tướng riêng các vị ở trước, tùy theo sự thích ứng mà kiến lập Bổ-đặc-già-la, nghĩa là đây là trụ chủng tánh, đây là đã phát tâm, v.v…
Nghĩa chung của phần vị tu, là địa vị có khả năng kham nhận, là vị chủng tánh; vị phát thú tức là nhập vị gia hạnh; vị bất tịnh, vị tịnh bất tịnh và vị thanh tịnh có vị trang nghiêm và vị biến mãn, nghĩa là vì cùng khắp mười địa nên gọi là địa vị Vô thượng.
 
/40
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »