LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 109
LUẬN
BIỆN TRUNG BIÊN
SỐ 1600
( QUYỂN THƯỢNG - TRUNG - HẠ )
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
.LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
SỐ 1600
LUẬN BIỆN TRUNG BIÊN
Tác giả: Bồ-tát Thế Thân.
Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang Đời Đường
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm 1: NÓI VỀ TƯỚNG
Đảnh lễ người soạn luận
Từ thể Thiện Thệ sinh
Và các Thầy dạy tôi
Phải siêng bày nghĩa nầy.
Đầu tiên là an lập thể của luận, tụng rằng:
Chỉ tướng, chướng, chân thật
Và tu các đối trị
Tức tu phần vị nầy
Đắc quả thừa Vô thượng.
Luận chép: luận nầy chỉ nói bảy nghĩa như vầy: một là tướng; hai là chướng; ba là chân thật; bốn là tu các đối trị; năm là tu phần vị nầy; sáu là đắc quả; bảy là Vô thượng thừa. Nay ở đây, trước nói rõ về tướng. Tụng rằng:
Phân biệt luống dối có
Hai pháp nầy đều không
Trong đây chỉ có không
Nơi kia cũng có đây.
Luận chép: “Phân biệt luống dối có” nghĩa là có chia ra năng thủ và sở thủ, “Hai pháp nầy đều không” nghĩa là ở chỗ phân biệt luống
dối nầy, hoàn toàn không có hai tánh năng thủ và sở thủ. “Trong đó chỉ có không” nghĩa là trong phân biệt luống dối chỉ có lìa tánh không của năng thủ và sở thủ. “Nơi kia cũng có đây” nghĩa là ở trong hai tánh không kia, cũng chỉ có phân biệt luống dối nầy. Nếu ở đây chẳng có thì do kia quán là không, cái khác chẳng phải không nên biết như thật là có. Nếu người như vậy thì có thể không điên đảo, hiển bày tướng không, tụng rằng:
Nên nói tất cả pháp
Chẳng không chẳng bất không
Vì có vô và hữu
Là khế hợp Trung đạo.
Luận chép: Tất cả pháp nghĩa là các pháp hữu vi và vô vi. Phân biệt luống dối gọi là hữu vi, tánh không của hai thủ gọi là vô vi. Nương vào lý trên, nên nói tất cả pháp nầy chẳng phải không, chẳng phải bất không. Do có phân biệt luống dối về tánh không nên nói chẳng phải không, do không có tánh của năng thủ và sở thủ nên gọi là chẳng phải bất không. Có, nghĩa là có phân biệt luống dối tánh không. Không nghĩa là chẳng có hai tánh sở thủ năng thủ. Và vì có, nghĩa là có tánh không trong phân biệt luống dối và vì trong tánh không có phân biệt luống dối. Là khế hợp Trung đạo, nghĩa là tất cả pháp chẳng phải hoàn toàn không, cũng chẳng phải hoàn toàn bất không. Như vậy là lý thú khế hợp mầu nhiệm của Trung đạo, cũng là khéo thuận hợp với Bát-nhã… nên kinh nói tất cả pháp chẳng phải không, chẳng phải có. Đã hiển bày tướng có tướng không của phân biệt luống dối như vậy. Nay sẽ nói về tự tướng nầy, tụng rằng:
Thức sinh nghĩa biến tự
Hữu tình, ngã và liễu
Cảnh nầy chẳng có thật
Cảnh không nên thức không.
Luận chép: Nghĩa biến tự, nghĩa là các tánh cảnh hiển hiện tương tự sắc… Biến tự hữu tình, nghĩa là hiển hiện tương tự như tánh năm căn của thân mình và người. Biến tự ngã nghĩa là vì Mạt na nhiễm ô thường tương ưng với ngã si… Biến tự liễu, nghĩa là biết rõ tướng thô của sáu thức còn lại. Cảnh nầy chẳng có thật, nghĩa là vì không có hành tướng tự nghĩa tự căn, vì chẳng thật hiển hiện tự ngã, tự liễu nên đều chẳng có thật. Cảnh không nên thức không, nghĩa là bốn cảnh như: nghĩa năng thủ, v.v… là không nên các thức sở thủ cũng chẳng thật có. Lại nữa tụng rằng:
Tánh phân biệt luống dối
Do nghĩa nầy được thành
Chẳng thật có, đều không
Cho là diệt, giải thoát.
Luận chép: Phân biệt luống dối, do nghĩa nầy nên thành sự chẳng thật có như đã hiện khởi, chẳng thật có, cũng chẳng phải đều không. Trong đó, ít có sinh ra thức loạn, vì sao không cho là tánh nầy đều không? Vì cho sự diệt nầy là được giải thoát. Nếu khác đây, nghĩa là ràng buộc và giải thoát thì phải đều không. Như vậy thì thành lỗi bác bỏ sự không tạp nhiễm và thanh tịnh. Đã hiển bày tự tướng phân biệt luống dối, Nay sẽ nói về tướng nhiếp giữ nầy. Chỉ có phân biệt luống dối như vậy thì có thể đầy đủ tự tánh ba nhiếp giữ. Tụng rằng:
Chỉ sở chấp, y tha
Và tánh viên thành thật
Vì cảnh nên phân biệt
Và hai không nên nói.
Luận chép: Vì nương vào cảnh phân biệt luống dối nên nói có tự tánh biến kế sở chấp. Vì nương vào tánh phân biệt luống dối nên nói có tự tánh y tha khởi. Vì nương vào năng thủ và sở thủ là không nên nói có tự tánh viên thành thật. Đã hiển bày về tướng nhiếp giữ của phân biệt luống dối, nay sẽ nói nhập vào tướng phương tiện vô tướng của phân biệt luống dối. Tụng rằng:
Y thức có sở đắc
Cảnh vô sở đắc sinh
Y cảnh vô sở đắc
Thức vô sở đắc sinh.
Luận chép: Vì nương tựa vào vô sở đắc nên trước có sinh ở cảnh vô sở đắc, lại vì nương vào cảnh vô sở đắc nên sau đó có sinh ở thức vô sở đắc. Do phương tiện nầy mà được nhập năng thủ và sở thủ vô tướng. Lại có bài tụng rằng:
Do thức có tánh đắc
Cũng thành vô sở đắc
Nên biết hai hữu đắc
Tánh vô đắc bình đẳng.
Luận chép: Lúc duy thức sinh, thì hiện các cảnh dường như luống dối nên gọi là có sở đắc. Vì cảnh sở đắc không có thật tánh, nên thật tánh năng đắc cũng không được thành. Vì thức năng đắc là vô sở đắc nên cả hai sở thủ và năng thủ đều có sở đắc và cùng thành tựu bình đẳng
tánh vô sở đắc. Đã hiển nhập về tướng phương tiện vô tướng của phân biệt luống dối, nay sẽ nói về tướng dị môn sai khác nầy. Tụng rằng:
Tâm, tâm sở ba cõi
Là phân biệt luống dối
Chỉ rõ cảnh là tâm
Cũng tên khác tâm sở.
Luận chép: Tướng sai khác của phân biệt luống dối tức là các tâm, tâm sở của cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Tướng dị môn là tướng chung của cảnh rõ biết gọi là tâm, cũng rõ biết sự sai khác gọi là các pháp tâm sở như: Thọ… Nay sẽ nói tướng sinh khởi nầy. Tụng rằng:
Một gọi là duyên thức
Hai gọi là thọ giả
Năng thọ dụng trong đây
Phân biệt là tâm sở.
Luận chép: Duyên thức là tàng thức, vì là sinh duyên cho các thức khác nên tàng thức làm duyên sinh ra chuyển thức, vì thọ dụng là chính nên gọi là thọ giả. Trong các thức nầy, có công năng thọ lạc dụng, tưởng có công năng phân biệt. Các tương ưng hành như: tư tác ý… có thể thúc đẩy các thức, vì ba thứ trợ tâm nầy nên gọi là tâm sở. Nay sẽ lần lượt nói tướng tạp nhiễm nầy. Tụng rằng:
Che lấp và an lập
Dẫn dắt (tương đạo), nhiếp, tròn đầy
Ba phân biệt, thọ dụng
Dẫn khởi cùng trói buộc
Vì quả khổ hiện tiền
Chỉ não thế gian này
Ba, hai, bảy tạp nhiễm
Do phân biệt luống dối.
Luận chép: Vì che lấp, nghĩa là do vô minh che lấp lý như thật và chướng ngại chân kiến. An lập, nghĩa là do các hành gieo trồng trong bản thức, nghiệp huân tập. Dẫn dắt, nghĩa là có thức nắm giữ dẫn hữu tình đến chỗ thọ sinh. Nhiếp (nhiếp giữ), nghĩa là danh, sắc thuộc tự thể hữu tình. Tròn đầy, nghĩa là sáu nội xứ khiến cho thể các hữu tình được đầy đủ. Ba phân biệt, nghĩa là xúc có thể phân biệt ba thuận, ba thọ của căn, cảnh, thức. Thọ dụng, nghĩa là do chi: thọ lãnh nạp thuận và nghịch chẳng phải hai cảnh. Dẫn khởi nghĩa là do ái lực khiến cho nghiệp trước dẫn nghiệp sau mà được khởi. Ràng buộc nối liền nghĩa là sự chấp lấy khiến thức duyên với thuận dục, v.v… sinh ra sự ràng buộc nối tiếp. Hiện
tiền nghĩa là do có lực khiến cho nghiệp đã tạo tác cùng các quả dị thục của hậu hữu được hiện tiền. Quả khổ: là tánh của sinh, già, chết có ép ngặt và đáp trả nhân trước. Mười hai chi hữu mà luận nầy đã nói ép ngặt thế gian làm cho không an ổn. Ba tạp nhiễm: Một là tạp nhiễm phiền não: là vô minh, ái, thủ; Hai là nghiệp tạp nhiễm là hành, hữu; Ba là sinh tạp nhiễm, là các chi còn lại. Hai tạp nhiễm gồm: Một là nhân tạp nhiễm, đó là nghiệp phiền não; Hai là quả tạp nhiễm, đó là các chi còn lại. Bảy tạp nhiễm nghĩa là bảy thứ nhân: Một là nhân điên đảo, đó là vô minh; Hai là nhân dẫn kéo, đó là hành; Ba là nhân dẫn dắt, đó là thức; Bốn là nhân nhiếp thọ, đó là sáu xứ danh sắc; Năm là nhân thọ dụng, đó là xúc, thọ; Sáu là nhân dẫn khởi, đó là ái, thủ, hữu; Bảy là nhân chán sợ, đó là sinh, già, chết. Các tạp nhiễm nầy, đều do phân biệt luống dối mà được sinh trưởng. Hiển bày chung về phân biệt luống dối, trước đây có chín thứ tướng: Một là tướng có; hai là tướng không; ba là tự tướng; bốn là tướng nhiếp giữ; năm là tướng phương tiện nhập vô tướng; sáu là tướng sai khác; bảy là tướng dị môn; tám là tướng sinh khởi; chín là tướng tạp nhiễm. Đã hiển bày về phân biệt luống dối như vậy, nay sẽ nói về tánh sở tri không. Tụng rằng:
Các tướng và dị môn
Thành lập nghĩa sai khác
Phải biết hai tánh không
Nói lược chỉ do đây.
Luận chép: Phải biết về năng thủ và sở thủ về tánh không, nói lược chỉ cho năm thứ như tướng, v.v… nầy. Tánh không đã biết, tướng nó thế nào? Tụng rằng:
Vì không hai hữu, vô
Chẳng có cũng chẳng không
Chẳng khác cũng chẳng một
Là nói về tướng không.
Luận chép: Không hai là không có sở thủ và năng thủ. Hữu vô là hai sự chấp giữ ấy là không. Đây là hiển bày về cái không vô tánh làm tánh, nên tướng không nầy chẳng phải có chẳng phải không. Vì sao chẳng phải có chẳng phải không? Vì cả hai đều có. Vì sao chẳng phải không có? Vì cả hai đều không. Đây là hiển bày về sự chẳng phải có, chẳng phải không của tướng không. Không nầy và phân biệt luống dối kia chẳng phải khác, chẳng phải một. Nếu là khác thì phải thành pháp tánh pháp khác, điều nầy trái với chánh lý. Như các tánh: khổ, v.v… nếu là một thì phải là trí cảnh chẳng phải tịnh, cũng chẳng phải tướng cộng.
Đây là hiển bày cái không và phân biệt luống dối để lìa tướng một, khác. Biết về tánh dị môn không như thế nào? Tụng rằng:
Nói lược không dị môn
Là thật tế chân như
Tánh thắng nghĩa vô tướng
Phải biết pháp giới… thảy.
Luận chép: Nói lược về tánh không có dị môn nầy làm sao phải biết nghĩa dị môn nầy? Tụng rằng:
Do không đổi không đảo
Cảnh Thánh trí tướng diệt
Và nhân các Thánh pháp
Nghĩa dị môn thứ lớp.
Luận chép: Tức trong đó nói về sở tri tánh không do nghĩa không biến đổi nên gọi là chân như, chân tánh thường như, vì không đổi khác. Do nghĩa không đảo nên gọi là chân tế, vì chẳng phải các điên đảo nương vào duyên sự. Do nghĩa diệt nên gọi là vô tướng, vì trong đó dứt hẳn tất cả tướng. Do nghĩa cảnh Thánh trí nên gọi là tánh thắng nghĩa, là nghĩa sở hành của trí Tối thắng. Do nghĩa nhân của Thánh pháp nên gọi là pháp giới, vì tất cả pháp Thánh duyên trong đời nầy. Trong đó giới nghĩa là phải biết như lý của nghĩa nhân, nghĩa vô ngã, v.v…, làm sao biết tánh không sai khác? Tụng rằng:
Tạp nhiễm, thanh tịnh nầy
Do hữu cấu vô cấu
Như thủy giới đều không
Tịnh nên cho là tịnh.
Luận chép: Tánh không sai khác, nói lược có hai thứ: Một là tạp nhiễm; hai là thanh tịnh. Sự thành tựu nhiễm, tịnh nầy là do phần vị khác nhau. Nghĩa là ở vị trí có cấu, gọi là tạp nhiễm, lúc xuất ly cấu nhiễm gọi là thanh tịnh. Tuy trước tạp nhiễm, sau thành thanh tịnh nhưng thành lỗi vô thường, chẳng phải chuyển biến. Như ra khỏi khách trần của thủy giới, v.v… bất tịnh cũng vậy, chẳng phải tánh chuyển biến. Không sai khác nầy lại có mười sáu thứ: một là nội không; hai là ngoại không; ba là nội ngoại không; bốn là đại không; năm là không không; sáu là thắng nghĩa không; bảy là hữu vi không; tám là vô vi không; chín là rốt ráo không; mười là vô tế không; mười một là vô tán không; mười hai là bản tánh không; mười ba là tướng không; mười bốn là tất cả pháp không; mười lăm là vô tánh không, mười sáu vô tánh tự tánh không. Làm sao biết nghĩa lược của các không này? Tụng rằng:
Năng thực và sở thực
Đây nương thân làm trụ
Thấy được đây đúng lý
Hai tịnh mong cầu không
Vì thường lợi hữu tình
Vì không xả sinh tử
Vì thiện vô cùng tận
Nên quán đó là không
Vì chủng tánh thanh tịnh
Vì được các tướng tốt
Vì tịnh pháp Chư Phật
Nên Bồ-tát quán không.
Luận chép: Năng thực (người ăn) là không, nghĩa là nương theo nội xứ mà nói tức là nội không. Sở thực (vật bị ăn) không, nghĩa là nương theo ngoại xứ mà nói tức là ngoại không. Nương theo thân nầy, nghĩa là người ăn và vật bị ăn nương vào thân, vì thân nầy không, nên gọi là nội ngoại không. Các khí thế gian gọi là chỗ trú, vì tướng nầy rộng lớn nên gọi là Đại. Vì chỗ trú không nên gọi là Đại không. Thấy trước đây: nghĩa là trí thấy được nội xứ… là không, vì trí không là không, nên gọi là không không. Như lý, nghĩa là thắng nghĩa, tức là hành như thật. Sự quán về chân lý thắng nghĩa nầy tức là không, nên gọi là thắng nghĩa không. Bồ-tát tu hành vì đắc hai tịnh, tức là các pháp thiện hữu vi, vô vi. Vì hai không nầy nên gọi là hữu vi không và vô vi không. Vì đối với hữu tình thường làm lợi ích nhưng vì quán không nên gọi là rốt ráo không. Sinh tử dài lâu vô tận không có đầu cuối, quán không nầy nên gọi là không, không có bờ mé. Chẳng quán là không thì mau chóng chán lìa. Vì không chán lìa sinh tử nầy, nên quán sinh tử không bờ mé nầy là không, vì chỗ tu thiện cho đến địa vị nhập Niết-bàn vô dư y, cũng là không lìa tán mà quán không nên gọi là không phải tán không. Tự thể chủng tánh của các Thánh vốn có chẳng phải do huân tập mà thành nên gọi là bản tánh. Bồ-tát vì muốn mau đắc thanh tịnh nầy mà quán không, nên gọi là không bản tánh. Bồ-tát vì đắc tướng tốt Đại sĩ mà quán không nên gọi là tướng không. Bồ-tát vì muốn cho tất cả pháp Chư Phật như: Lực, vô úy, v.v… đều được thanh tịnh mà quán không nầy nên gọi là tất cả pháp không.
Mười bốn không nầy tùy chỗ mà an lập khác nhau, trong đó vì sao gọi là Không? Tụng rằng:
Pháp Bổ-đặc-già-la
Thật tánh đều chẳng có
Vô tánh hữu tánh này
Nên lập riêng hai không.
Luận chép: Vì thật tánh của Bổ-đặc-già-la và pháp đều chẳng thật có nên gọi là không vô tánh. Không vô tánh nầy chẳng phải không có tự tánh, không nầy lấy vô tánh làm tự tánh, nên gọi là tự tánh không vô tánh. Như ở trước đã nói năng thực là không, v.v… vì hiển bày tướng không nên lập riêng hai không. Đây là ngăn dứt chấp không tăng thêm và chấp tổn giảm của pháp Bổ-đặc-già-la. Như thứ lớp của nó mà lập hai không sau. Đã hiển bày tánh Không khác nhau như vậy, sự thành lập nghĩa nầy làm sao biết? Tụng rằng:
Đây nếu không tạp nhiễm
Thì lẽ ra tự thoát
Đây, nếu không thanh tịnh
Thì lẽ ra không quả.
Luận chép: Nếu các pháp không, chưa sinh đối trị, không chứa tạp nhiễm, nghĩa là tất cả hữu tình không do công dụng mà ứng tự nhiên giải thoát. Nếu đã sinh đối trị cũng không thanh tịnh thì phải cầu giải thoát, siêng năng cần khổ mà không quả là vậy. Tụng chép:
Chẳng nhiễm chẳng bất nhiễm
Chẳng tịnh chẳng bất tịnh
Vì tâm tánh vốn tịnh
Do bị khách trần nhiễm.
Luận chép: thế nào là chẳng nhiễm chẳng bất nhiễm? Là vì tâm tánh vốn tịnh. Thế nào là chẳng tịnh chẳng bất tịnh? Vì bị khách trần nhiễm. Đó là thành lập nghĩa không sai khác, nhiếp chung nghĩa không, ở trước có hai thứ: Là tướng an lập. Tướng lại có hai thứ: Là không và có; không tánh mà có tướng là lìa có lìa không, lìa khác lìa một, vì lấy làm tướng của nó nên phải biết an lập tức là dị môn, v.v…
----------------------------
Phẩm 2: NÓI VỀ CHƯỚNG
Đã biện luận rõ về tướng ấy, nay sẽ nói về chướng. Tụng rằng:
Cụ phần và nhất phần
Tăng thịnh và bình đẳng
Đối sinh tử, thủ xả
Nói hai thứ tánh chướng.
Luận chép: Cụ phần chướng nghĩa là chướng phiền não và chướng sở tri, nó làm chướng đầy đủ ở trong pháp chủng tánh của các Bồ-tát. Nhất phần chướng là chướng phiền não, vì chướng pháp chủng tánh của Thanh văn… Tăng thạnh chướng là hành vi tham… kia. Chướng bình đẳng nghĩa là phần hành của chướng kia, v.v… là bình đẳng. Thủ xả sinh tử, có thể chướng chủng tánh của Bồ-tát, Niết-bàn sở đắc vô trú nên gọi là đối với sinh tử có chướng thủ, xả. Năm thứ chướng như vậy tùy theo chỗ thích ứng mà nói về chướng hai thứ chủng tánh là Bồ-tát và Thanh văn… lại có bài tụng:
Chín thứ tướng phiền não
Là chín kiết: ái, thảy,
Hai chướng đầu chán, xả
Còn bảy chướng chân kiến
Là thân kiến năng chướng
Việc ấy diệt, đạo báu
Lợi dưỡng cung kính thảy
Vì xa lìa biến tri.
Luận chép: Tướng của chướng phiền não nói lược có chín thứ, đó là chín thứ kiết như: ái… Ái kiết chướng chán lìa, vì ái kiết nầy đối với cảnh thuận không thể chán lìa. Nhuế kiết chướng xả, vì kiết nhuế nầy đối với cảnh nghịch không thể xả bỏ. Bảy kiết còn lại chướng chân kiến, vì chướng như thứ lớp bảy thứ biến tri. Nghĩa là kiến mạn có thể chướng biến tri ngụy thân kiến. Lúc tu hiện quán, ngã mạn khởi có đứt quãng và không đứt quãng, do thế lực nầy nên ngã mạn kia không dứt. Kiết vô minh có thể chướng biến tri thân kiến sự. Do vô minh nầy nên không biết các thủ ấm. Kiết kiến có công năng chướng biến tri Diệt đế. Do diệt sự sợ hãi của Tát-ca-da-kiết (hữu thân kiến) và biên kiến, và do diệt sự hủy báng của tà kiến, nên Kiết thủ có thể chướng biến tri Đạo đế, vì chấp lấy pháp khác làm tịnh. Kiết nghi có thể chướng biến tri Tam bảo, do kiết nầy mà không tin nhận công đức Tam bảo. Kiết tật là có thể chướng biến tri lợi dưỡng và cung kính. Do đó không thấy lỗi kia.
San kiết có công năng chướng xa lìa biến tri, v.v …, do kiết nầy mà tham nhiễm vật chất tài sản. Lại có các chướng khác có thể chướng mười thứ pháp tịnh như: Thiện… Tướng ấy thế nào? Tụng rằng:
Không gia hạnh, phi xứ
Không như lý, bất sinh
Không khởi chánh tư duy
Tư lương chưa tròn đầy
Thiếu chủng tánh bạn lành
Tánh tâm rất chán nhọc
Và thiếu sót chánh hạnh
Ở chung với người ác
Còn ba đảo, thô, trọng
Bát-nhã chưa thành thục
Và bản tánh thô, trọng
Tánh biếng nhác, buông lung
Đắm hữu, đắm của cải
Và tâm tánh thấp kém
Bất tín không thắng giải,
Theo lời suy tư nghĩa
Khinh pháp, trọng danh lợi
Không thương xót hữu tình
Thiếu nghe và ít nghe
Không tu trị định mầu.
Luận chép: Như vậy, gọi là pháp chướng như: Thiện, v.v… sự chướng pháp thiện…, tướng ấy thế nào? Tụng rằng:
Thiện Bồ-đề nhiếp thọ,
Có tuệ chẳng loạn chướng
Hồi hướng không sợ, san,
Tự tại gọi thiện… thảy.
Luận chép: Mười thứ pháp tịnh: thiện… như vậy, ai đã có nói trước mấy thứ chướng chăng? Tụng rằng:
Mười: Thiện… như vậy thảy
Đều có ba chướng trước.
Luận chép: Thiện có ba chướng: Một là không gia hạnh; hai là phi xứ gia hạnh; ba là không như lý gia hạnh.
Bồ-đề có ba chướng: Một là bất sinh pháp thiện; hai là không khởi chánh tư duy; ba là tư lương chưa tròn đầy.
Phát tâm Bồ-đề gọi là nhiếp thọ ở đây có ba chướng: Một là thiếu
chủng tánh; hai là thiếu bạn lành; ba là tâm có tánh rất chán mệt.
Người có tuệ nghĩa là Bồ-tát rõ biết tánh nầy có ba chướng: Một là thiếu chánh hạnh; hai là ở chung với người thô bỉ; ba là ở chung với người ác. Trong đó, người thô bỉ nghĩa là thứ người ngu si, thích chê bai người gọi là người ác.
Không loạn có ba chướng: Một là điên đảo thô nặng; hai là trong ba chướng như: phiền não, v.v… hễ chướng bất cứ một chướng nào đều có tánh khác; ba là có khả năng thành thục giải thoát, trí tuệ chưa thành thục.
Tánh chướng đoạn diệt gọi là vô chướng, ở đây có ba chướng: Một là câu sinh thô nặng; hai là tánh biếng nhác; ba là tánh buông lung.
Hồi hướng có ba chướng khiến tâm hướng đến nơi khác không hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề: Một là tham đắm các cõi; hai là tham đắm của cải; ba là tâm tánh thấp kém.
Không sợ có ba chướng: Một là không tin, trọng Bổ-đặc-già-la; hai là không hiểu rõ pháp; ba là theo như lời nói mà suy nghĩ nghĩa lý. Không keo kiệt có ba chướng: Một là không tôn trọng Chánh pháp; hai là tôn trọng danh dự, lợi dưỡng, cung kính; ba là không có
lòng thương xót các hữu tình.
Tự tại có ba chướng khiến cho không được tự tại: Một là thiếu nghe có thể phát sinh và nuôi lớn nghiệp cảm thiếu pháp; hai là ít nghe; ba là không tu trị Tam-ma-địa cao siêu.
Lại nữa, các chướng như vậy đối với mười thứ như: Thiện, v.v… tùy đối với các nghĩa còn lại mà có mười năng tác, tức là nương vào nghĩa kia mà biết được danh nầy. Mười năng tác gồm: Một là năng làm cho sinh khởi, như mắt, v.v… đối với nhãn thức; hai là năng làm cho an trú, như bốn thức ăn đối với hữu tình; ba là năng làm cho nhậm trì, nghĩa là năng nhậm trì như khí thế gian đối với hữu tình thế gian; bốn là năng làm cho chiếu sáng, như ánh sáng đối với các sắc; năm là năng làm cho biến hoại, như lửa… và sự nấu chín…; sáu là năng làm cho phân ly, như lưỡi liềm… và sự cắt đứt…; bảy là năng làm cho chuyển biến, như thợ vàng chuyển vàng… thành vòng xuyến…; tám là năng làm cho tin hiểu, như khói… đối với lửa; chín là năng làm cho hiện rõ như nhân đối với tông; mười là năng làm cho chí đắc như Thánh đạo… đối với Niết-bàn… Vì nương theo nghĩa như vậy nên Tụng rằng:
Năng tác có mười thứ
Là sinh, trú, trì, chiếu
Biến, phân ly, chuyển biến
Tín hiểu, hiển, chí đắc
Như thức, nhân, thực, địa
Đèn, lửa, liềm, thợ khéo
Khói, nhân, Thánh đạo thảy
Chỗ làm đối thức… thảy.
Đối với chướng thiện, v.v… phải biết cũng vậy:
1.Chướng sinh khởi, nghĩa là đối với thiện thì dùng các pháp thiện sinh khởi.
2.Chướng an trú, nghĩa là đối với Bồ-đề, dùng Đại Bồ-đề, thì không thể lay động.
3.Chướng nhậm trì, nghĩa là đối với sự nhiếp thọ dùng tâm Bồ-đề, có công năng nhậm trì.
4.Chướng soi rõ, nghĩa là đối với hữu tuệ, dùng tánh hữu tuệ, vì thích ứng với sự soi rõ.
5.Chướng biến hoại, là đối với sự không hoại chuyển diệt mê loạn gọi là biến hoại.
6.Chướng phân ly, nghĩa là đối với sự không chướng, lìa sự ràng buộc chướng này.
7.Chướng chuyển biến, là đối với việc hồi hướng, dùng tâm Bồ- đề chuyển biến tướng.
8.Chướng tin hiểu, nghĩa là không sợ chẳng tin hiểu mà có sợ hãi.
9.Chướng hiện rõ, nghĩa là đối với sự không keo kiệt, không keo kiệt về pháp là vì người hiển bày một cách rõ ràng.
10.Chướng chí đắc, nghĩa là đối với sự tự tại, đây là tướng năng đắc tự tại.
Nghĩa thứ lớp của mười pháp đã làm chướng, đó là sắp chứng Bồ-đề Vô thượng thì trước phải sinh khởi gốc lành cao siêu, vì sự nắm giữ của sức gốc lành cao siêu nên phải được an trú Bồ-đề Vô thượng. Vì muốn làm cho gốc lành được thêm lớn nên phải lần lượt phát khởi tâm Đại Bồ-đề. Tâm Bồ-đề nầy làm chỗ nương tựa tánh Bồ-tát. Bồ-tát như vậy, do đã phát khởi tâm Đại Bồ-đề và sự giữ gìn của sức căn lành cao siêu nên dứt trừ các loạn đảo, khởi không loạn đảo. Do không loạn đảo trong kiến đạo nên lần lượt đối với tu đạo dứt trừ tất cả chướng. Đã dứt chướng rồi, giữ gìn các căn lành hồi hướng Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng. Nhờ nhậm trì sức hồi hướng, nên đối với pháp sâu rộng liền không sợ hãi. Đã không sợ hãi liền thấy công đức cao siêu của pháp kia, có thể rộng vì người giảng nói bày. Nhờ sức giữ gìn của các thứ
công đức của Bồ-tát như vậy nên mau chóng chứng đắc Chánh đẳng Bồ-đề Vô thượng. Đối với tất cả pháp đều được tự tại, đó gọi là thứ lớp mười nghĩa như : thiện, v.v... Tuy các pháp như: thiện, v.v… tức là giác phần Ba-la-mật-đa, công đức các địa nhưng có chung và riêng khác nhau. Nay phải hiển bày các chướng sai khác của Bồ-đề phần kia. Tụng rằng:
Nơi giác phần độ địa
Phải biết có chướng riêng.
Luận chép: Công đức các địa nơi giác phần Ba-la-mật-đa, đều có chướng riêng, đối với Bồ-đề phần đều có chướng riêng. Tụng rằng:
Đối việc không khéo léo
Biếng nhác định giảm hai
Không gieo tánh yếu kém
Thấy lỗi thô nặng.
Luận chép: Đối với bốn niệm trú có chướng, không khéo léo đối với các sự. Đối với bốn chánh đoạn có chướng biếng nhác. Đối với bốn thần túc có chướng Tam-ma-địa giảm hai việc: Một là đối với tròn đầy dục, tâm siêng năng quán tùy giảm một; hai là tu tập trong tám dứt hạnh, tùy giảm một. Đối với năm căn có chướng thắng gốc lành: không gieo phần giải thoát tròn đầy. Đối với năm lực có chướng tánh yếu kém, nghĩa là năm căn do sự xen lẫn của chướng tánh yếu kém. Đối với bảy giác chi có chướng thấy lỗi, vì đây là điều mà kiến đạo làm sáng tỏ. Đối với tám Thánh đạo, có chướng lỗi thô nặng, vì đây là điều mà tu đạo làm sáng tỏ. Đối với đến bờ kia, có chướng riêng. Tụng rằng:
Chướng giàu sang, đường lành
Không bỏ các hữu tình
Đối lỗi, đức giảm tăng
Khiến đi vào giải thoát
Chướng thiện: như thí… thảy
Vô tận, không, xen hở
Thiện đã làm quyết định
Thọ dụng pháp thành thục.
Luận chép: Đây là nói về sở đắc quả chướng của mười thứ Ba- la-mật-đa, để hiển bày chướng tự tánh mười thứ Ba-la-mật-đa, nghĩa là đối với bố thí Ba-la-mật-đa nói chướng tự tại giàu sang. Đối với tịnh giới Ba-la-mật-đa nói chướng đường lành. Đối với nhẫn nhục Ba-la- mật-đa nói chướng không bỏ hữu tình. Đối với tinh tấn Ba-la-mật-đa nói
chướng giảm lỗi tăng công đức. Đối với thiền định Ba-la-mật-đa nói về chướng người được hóa độ thú nhập pháp. Đối với Bát-nhã Ba-la-mật- đa nói chướng giải thoát. Đối với phương tiện khéo léo Ba-la-mật-đa nói chướng thiện như: bố thí, v.v… không cùng tận. Do đây hồi hướng Vô thượng Bồ-đề, khiến đều thiện như thí, v.v… không cùng tận. Đối với nguyện Ba-la-mật-đa nói chướng thiện rồi tất cả đời chuyển biến không đứt quãng. Do sự nhiếp giữ của sức đại nguyện, nên sẽ thuận theo pháp thiện mà sinh. Đối lực Ba-la-mật-đa nói chướng về sự làm thiện được quyết định. Nhờ sức tư duy chọn lựa và sức tu tập nên sẽ hàng phục được chướng kia, chứ chẳng phải bị chướng kia hàng phục. Đối với trí Ba-la-mật-đa nói chướng pháp thành thục của mình và người thọ dụng. Không bằng nghe nói mà biết nghĩa, nên đối với công đức mười địa có chướng riêng. Tụng rằng:
Biến hành và tối thắng
Thắng lưu và vô nhiếp
Nối tiếp không khác nhau
Không tạp nhiễm, thanh tịnh
Vô số pháp không khác
Và không thêm không bớt
Đều không phân biệt… thảy.
Bốn tự tại y nghĩa
Đối mười pháp giới nầy
Có bất nhiễm vô minh
Chướng công đức mười địa
Nên gọi là mười chướng.
Luận chép: trong mười pháp giới như: Biến hành, v.v… có chướng vô tri bất nhiễm, như công đức mười địa lần lượt kiến lập làm chướng mười địa.
1. Đã chứng pháp giới trong sơ địa, gọi là nghĩa biến hành. Do thông đạt sự chứng đắc nầy nên pháp giới mình và người đều bình đẳng.
2. Đã chứng pháp giới trong địa thứ hai gọi là nghĩa tối thắng, do thông đạt tư duy nầy nên nay ta đồng ra khỏi, tu tập khắp tất cả hành tương ưng khắp, đó là siêng tu tương ưng xuất ly.
3. Đã chứng pháp giới trong địa thứ ba gọi là nghĩa thắng lưu, do thông đạt nghĩa nầy nên biết sự nghe pháp là dòng tịnh pháp tối thắng, v.v… để cầu pháp nầy, nếu có hầm lửa lớn bằng Tam thiên đại thiên thế giới mà lao thân vào đó cũng không phải là khó.
4. Đã chứng pháp giới trong địa thứ tư gọi là nghĩa không thâu nhiếp, do thông đạt nghĩa nầy cho đến pháp ái cũng đều chuyển diệt;
5. Đã chứng pháp giới trong địa thứ năm gọi là nghĩa nối tiếp không sai khác, do thông đạt nghĩa nầy mà được ý lạc tịnh tâm bình đẳng.
6. Đã chứng pháp giới trong địa thứ sáu gọi là nghĩa không tạp nhiễm không thanh tịnh, do thông đạt nghĩa nầy nên biết pháp duyên khởi vô nhiễm vô tịnh.
7. Đã chứng pháp giới trong địa thứ bảy gọi là nghĩa các thứ pháp không sai khác, nhờ thông đạt nghĩa nầy mà biết pháp vô tướng, không hành các thứ pháp tướng trong khế kinh.
8. Đã chứng pháp giới trong địa thứ tám gọi là nghĩa không thêm không bớt, do thông đạt nghĩa nầy tròn đầy nên chứng đắc pháp nhẫn vô sinh ở trong các pháp thanh tịnh, nhiễm ô, không thấy một pháp có thêm có bớt.
Có bốn thứ lớp tại.
1. Không phân biệt tự tại.
2. Tịnh độ tự tại.
3. Trí tự tại.
4. Nghiệp tự tại.
Pháp giới là chỗ nương của bốn thứ lớp tại nầy gọi là nghĩa y chỉ của bốn tự tại. Trong địa thứ tám chỉ có thể thông đạt nghĩa sở y chỉ của hai thứ lớp tại đầu. Trong địa thứ chín cũng có thể thông đạt nghĩa sở y chỉ của trí tự tại, chứng đắc tròn đầy vô ngại giải. Trong địa thứ mười lại có thể thông đạt nghĩa sở y của nghiệp tự tại, hóa thân tùy ý làm rất nhiều việc lợi ích hữu tình. Lại lược tụng rằng:
Đã nói các phiền não
Và các chướng sở tri
Vì hai chướng nầy hết
Thì giải thoát mọi chướng.
Luận chép: Do hai thứ chướng nầy thâu nhiếp tất cả chướng. Khi hai chướng nầy hết thì tất cả chướng giải thoát. Nghĩa chung của chướng trước có mười một thứ: Một là chướng rộng lớn, nghĩa là cụ phần chướng; hai là chướng nhỏ hẹp, đó là nhất phần chướng; ba là chướng gia hành, đó là chướng tăng thạnh; bốn là chướng chí đắc, đó là chướng bình đẳng; năm là chướng cao siêu, đó là chướng thủ xả sinh tử; sáu là chướng chánh gia hành, nghĩa là chín chướng phiền não; bảy là chướng nhân, nghĩa là mười thứ chướng năng tác đối với thiện, v.v…;
tám là chướng nhập chân thật, đó là chướng giác phần; chín là chướng Vô thượng thanh tịnh, đó là chướng đến bờ kia; mười là chướng các đường khác nhau, đó là chướng mười địa; mười một là chướng nhiếp giữ, đó là lược hai chướng.