Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 145, Bộ Luật Sớ III, Số 1809- 1815 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Đại Tập 145, Bộ Luật Sớ III, Số 1809- 1815 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 801.

Chương 13: Số 1813- Sớ Giải Giới Bản Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng, Quyển 2 (Trang 426 - 449)

PHẦN 12

Trong phần thứ mười hai này chỉ có một nội dung, tức lấy kinh Thập Vãng Sinh làm chứng để khuyên cầu vãng sinh. Như Phật nói, sinh về nước Tịnh độ của Phật A-di-đà, và vì đại chúng thuyết quán thân chánh niệm giải thoát.
Trong Thập Vãng Sinh kinh có nói:
A-nan bạch Phật rằng:
-Bạch Thế Tôn! Pháp quán thân của tất cả chúng sinh là thế nào?
Nguyện xin Đức Thế Tôn nói rõ?
Phật bảo: Pháp quán thân, là không quán Đông tây, không quán Nam bắc, không quán bốn phương trên dưới, không quán hư không, không quán ngoại duyên, không quán nội duyên, không quán thân sắc, không quán sắc thinh, không quán sắc tượng, duy chỉ quán vô duyên, đó mới là pháp quán thân chân chánh vậy. Pháp quán thân này mười phương đều mong cầu, nơi nơi chỗ chỗ đều không phân biệt pháp mà được giải thoát.
Phật lại bảo A-nan:
-Chỉ tự quán thân, thì thiện lực sẽ tự nhiên, chánh niệm tự nhiên, giải thoát tự nhiên. Vì sao? Ví như có người tinh tấn trực tâm mà được chánh giải thoát, kẻ đó không cần giải thoát thì giải thoát cũng tự đến.
A-nan lại bạch Phật:
-Bạch Thế Tôn! Chúng sinh ở thế gian, nếu có chánh niệm giải thoát như thế, thì không còn rơi vào ba đường ác.
Phật bảo A-nan:
-Chúng sinh ở thế gian không được giải thoát. Vì sao? Vì do đa hư mà ít thật, không có chánh niệm, do đó mà sa vào địa ngục thì nhiều mà sự giải thoát thì ít. Ví như có người đối với cha mẹ và sư tăng, bên ngoài thì tỏ ra hiếu thuận mà bên trong thì bất kính. Ngoài thì ra vẻ tinh thuần, trong thì không thật. Người này quả báo chưa đến, nhưng con đường tam ác nào có cách xa. Không có chánh niệm thì không được giải thoát.
A-nan lại bạch Phật:
-Như vậy thì cần tu thiện căn nào để được giải thoát? Phật bảo A-nan:
-Ông nên lắng nghe, ta nay vì ông mà diễn nói về mười pháp vãng sinh có thể đạt được sự giải thoát. Những gì là mười pháp?
1)Quán thân chánh niệm, thường ôm lòng hoan hỷ. Đem thức ăn, y phục cúng dường Phật và chư Tăng, phát nguyện vãng sinh về nước An lạc.

2)Chánh niệm đem các loại thuốc men lương dược cúng thí cho Tỳ-kheo và người bệnh, cầu vãng sinh về Tịnh quốc.
3)Chánh niệm bất hoại sinh mạng, đem lòng Từ bi ban trải tất cả, cầu sinh về nước An lạc.
4)Chánh niệm lãnh thọ giới pháp với thầy, pháp tuệ tịnh tu phạm hạnh, tâm thường ôm lòng hoan hỷ, cầu vãng sinh về nước An lạc.
5)Chánh niệm hiếu thuận đối với cha mẹ, kính phụng Sư trưởng, không khởi tâm kiêu mạn, cầu vãng sinh An lạc quốc.
6)Chánh niệm qua lại Tăng phòng, cung kính đối với tháp tự, nghe pháp hiểu nghĩa, cầu vãng sinh nước An lạc.
7)Chánh niệm trong một ngày một đêm, thọ trì tám trai giới, không phá một giới nào, cầu vãng sinh nước An lạc.
8)Chánh niệm giữ trai giới một tháng, một ngày, xa rời phòng xá, thường nghe pháp ở bậc thiện sư, cầu vãng sinh nước An lạc.
9)Chánh niệm thường trì tịnh giới, khuyến tu thiền định, hộ pháp không hề có ác khẩu. Nếu hành trì như thế, tất được vãng sinh về nước An lạc.
10)Chánh niệm ở trong đạo Vô thượng, không khởi tâm phỉ báng, tinh tấn trì tịnh giới, lại đem kinh pháp lưu hành, khuyến hóa người vô trí, giáo hóa vô lượng chúng sinh, người như thế tất cả được vãng sinh.
Bấy giờ, trong tăng có một vị Bồ-tát tên là Sơn Hải Huệ, bạch
Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Nước Cực lạc kia vì sao lại có các việc diệu lạc thù thắng, và tất cả chúng sinh đều nguyện sinh về?

Khi ấy, Phật bảo Bồ-tát Sơn Hải Huệ rằng:

-Ông nên chánh thân chấp tay niệm Phật hướng về Tây phương, chánh niệm quán nước Cực lạc của Phật A-di-đà, nguyện trông thấy Phật.

Bấy giờ, tất cả đại chúng cũng chấp tay khởi niệm quán Phật A- di-đà. Thế là Phật A-di-đà hiện ra Đại thần thông, phóng ánh quang minh, chiếu sáng khắp thân của Bồ-tát Sơn Hải Huệ. Bồ-tát cùng chư Đại chúng cũng nhìn thấy cõi nước Cực lạc và Phật, cùng các việc trang nghiêm diệu hảo. Khắp cõi Cực lạc đều là bảy báu, núi bảy báu, Quốc độ bảy báu, nước chim cây rừng thường diễn nói pháp âm. Cõi nước kia hằng ngày thường chuyển pháp luân, nhân dân không học theo ngoại sự, chánh tu nội điển. Miệng nói pháp Phương đẳng, tai nghe tiếng Phương đẳng, tâm giải nghĩa Phương đẳng.
Bấy giờ, Bồ-tát Sơn Hải Huệ bạch Phật:


-Bạch Thế Tôn! Chúng con nay được trông thấy cõi nước kia thật là thắng diệu, lợi ích không thể nghĩ bàn. Con nay nguyện cho tất cả chúng sinh đều được vãng sinh, sau đó con cũng phát nguyện sinh về đó.

Phật thọ ký và nói:

-Chánh quán, chánh niệm thì được chánh giải thoát, tất cả đều được vãng sinh. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào, đem sự chánh tín ái lạc kinh này khuyến hóa chúng sinh, thì người nói người nghe đều được vãng sinh. Nếu có những người như thế, ta sẽ khiến cho hai mươi lăm vị Bồ-tát theo hộ trì, làm cho người đó không còn bệnh não. Nếu người hay loài phi nhân không làm hại được, hành trụ tọa ngọa, bất kể ngày đêm, đều được an ổn.

Bồ-tát Sơn Hải Huệ bạch Phật:

-Bạch Thế Tôn! Con nay lãnh thọ lời của Thế Tôn, không dám có lòng nghi. Nhưng nếu có chúng sinh nào, phần lớn ưa tranh chấp phỉ báng, không tin kinh pháp, thì về sau như thế nào?

Phật bảo: Về sau, ở trong cõi Diêm-phù-đề này, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thấy người đọc tụng kinh điển, hoặc có tướng sân giận, ôm lòng hủy báng, do sự hủy báng chánh pháp này thì người đó hiện ra thân tướng trọng bệnh xấu xa, thân căn không đầy đủ, câm ngọng đui điếc, gặp các loài quỷ mị, ngồi đứng không an, cầu sống không được, cầu chết không xong. Hoặc có chết liền đọa vào địa ngục, ở trong tám vạn kiếp chịu đại khổ não, trăm ngàn vạn đời chưa từng nghe tiếng ăn uống. Sau khi ra khỏi địa ngục, đọa vào trong các loài trâu ngựa heo dê, bị người giết hại, chịu thống khổ vô cùng. Sau đó được làm người, thường sinh vào chốn hạ tiện, trăm ngàn muôn kiếp không được tự tại, vĩnh viễn không nghe được Tam bảo. Cho nên, với người vô trí vô tín không nên nói kinh này.

Soạn tập lưu thông đức
Phổ thí khắp tất cả

Trước phát tâm Bồ-đề
Đồng quy hướng Tịnh quốc
Đều cùng thành Phật đạo.

Tập này có cả kim lẫn cổ, bản cổ thời có nhiều chỗ sai lầm mà đang hiện hành ở đời. Bao gồm sáu quyển:
-Khoan Nguyên (Vãng Thành in).
-Hoằng An (Ngộ A in lại, nay gọi là cổ bản).
-Chánh Bảo, Minh Lịch, Khoan Văn (Ba bản này đều lấy cổ bản làm chuẩn).
Nguyên Lộc (do ngài Nghĩa Sơn khắc gọi là các bản hiệu, tầm hoằng... sữa chữa lại văn tự nay gọi là Sơn bổn). Lại chỉ có Kỳ Dương đã in một bổn (nay gọi là Kỳ Dương bổn, chẳng phân biệt theo điều đã ghi chép). Những quyển khác thì phần âm nghĩa của Huệ Lâm trở về sau các nhà chú giải cũng không làm rõ ràng, thường thường thì mỗi nhà biện biệt về Ngư Lỗ ắt có đôi chỗ thiếu sót. Chỉ đến khi lão sư Bổn Lập nối nhau qua đời thì học thuyết của hai vị giảng chủ được diễn rộng rãi, bèn đính chính lại bản sai lầm để làm căn cứ mà phân biệt rõ, hai bậc kỳ lão đồng thất đó là Phương Sơn và Tăng Phát, mỗi vị bổ vào chỗ sai sót của mình. Ngõ hầu gặp được cội nguồn của Song Hà và đã từng nói với lão sư bổn lập rằng: in ấn tỉ mĩ tập này để nối thạnh ý sư. Việc làm ấy mong một ngày nào đó được hoàn mãn tốt đẹp mà Tịch Lão sư tôi là tiên sư của nghĩa huynh tiên sư, cũng có chí hiệu đính và khắc in. Song ngài đã về già, mong ngài chấp nhận. Bởi khi thân này, đã trở thành tuổi già xế bóng thì hẳng phải nương nhờ quyến thuộc của mình. Đối với kẻ bất tiếu này vẫn nhớ việc ấy. Than ôi! Phác tôi là kẻ vô danh tiểu tốt nên không dám đương việc này, nhưng vì hoài bão của người quá cố nên không nỡ chối từ. Miễn cưỡng chấp nhận, bởi huyễn duyên xưa nay làm lao nhọc thân thể mà cũng hay bệnh hoạn, ốm yếu, thấm thoát đã ba canh và tang chế đã xong, bất giác mũi lòng tham rằng: Hai bị lão sư đã quy tịch mà một quyển cũng chưa khắc vào gỗ. Than ôi! Trong chuyện ấy có liên quan gì đến chuyện này, mà hoài bảo của người mất không phải như vậy. Tuy Phác tôi là kẻ bất tiếu, đâu đủ can đảm phế bỏ. Thế thì đối với bản thân sao không tự đắn đo để gắng gỏi làm việc, lại dựa cả vào bản hiệu đính lại của Diễn Từ Viện.
Phán Thích và hiệu đính rõ lại những bản dị đồng, đồng thời sữa đổi cho văn nghĩa ăn khớp, thì tôi đâu dám. Còn trích những điểm thiết yếu đã sữa chữa thì tôi tự xét mình chưa được hoàn hảo như hai sư kia. Phác tôi đã phụ lòng ân sư vì đã không bằng quý ngài, mong rằng những người cùng chí hướng trong thiên hạ duyệt lại (gọt bớt hoặc thêm vào).
Khoan Chánh, Long tập thứ bảy, mùa thu năm Kỷ Mão.
Nam Hồ, Song Vinh huyễn trụ Thích Long Khê Phác Tố Khâm
Thức.
Hai quyển Khoan Nguyên trong một tập An lạc trở về sau in ấn trang nhã để lưu hành ở đời, song văn nghĩa trong đó có sai lầm, nay ngần ấy bổn, tụ hội trong Hoành Xuyên quán như Tam Tỉnh Tôn Hoằng. Mỗ Vỹ Minh Huệ, Căn Lai Thâm Uyên, Mặc Cốc Huệ Trấn... chợt gặp để cùng đối chiếu với bổn kia. Song lúc đó không biện biệt mà chỉ phán bỏ cả phần kia nay để làm một bổn. Thế mà vẫn còn do dự chưa dám quyết trạch, vậy thì để mặc cho người học đời sau vậy. Còn ngắt câu (phẩy) mà kèm tứ thanh để khiến cho người đọc được dễ dàng.
Ngày 25 tháng giêng năm Bính Dần thứ 11 Nguyên Lộc. Thích Nghĩa Sơn ở Thiền Liên xã tập hợp để in ấn.
 
/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »