Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 145, Bộ Luật Sớ III, Số 1809- 1815 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Đại Tập 145, Bộ Luật Sớ III, Số 1809- 1815 (Quyển Thượng- Trung- Hạ)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 801.

Chương 23: Số 1815- Phạm Võng Kinh Cổ Tích Ký, Quyển Thượng (Trang 702 - 732)

SỐ 1961
 
                                                    LỜI TỰA
 
        TỊNH ĐỘ THẬP NGHI LUẬN
Đời Tống, Dương Kiệt hiệu Vô Vi Tử kính soạn.
 
Từng nghe: Ái tâm chẳng nhiễm nặng chẳng sinh Ta-bà, niệm Phật chẳng chuyên nhất chẳng về Tịnh độ. Ta-bà là chốn uế độ, Cực lạc là miền Tịnh độ. Thọ mạng của cõi Ta-bà có hạn lượng, thọ mạng ở cõi Cực lạc thì vô cùng. Cõi Ta-bà đủ các khổ não, miền Cực lạc tìm cái khổ chẳng có. Ta-bà tùy nghiệp mà luân chuyển tam đồ, cõi Cực lạc một khi được sinh thì vĩnh viễn chứng Vô sinh pháp nhẫn. Nếu muốn hóa độ chúng sinh, thì tùy ý tự tại, hoàn toàn không bị nghiệp hoặc buộc ràng. Xét sơ qua hai cõi, các sự sinh tử, phiền não an vui; tinh uế, thọ lượng mãi vốn sai khác. Như thế mà chúng sinh lại mê mờ không hiểu, thật đáng thương thay!
Đức Phật A-di-đà là Bậc Giáo Chủ tiếp dẫn chúng sinh ở cõi Tịnh độ. Đức Thích-ca là bậc đạo sư chỉ đạo Tịnh độ ở thế giới Ta-bà. Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí là hai bậc phụ trợ Phật tuyên dương hóa độ. Do đó, trong các kinh điển một đời thuyết pháp của Đức Thích-ca, phần nhiều đều ân cần khuyến khích chúng sinh phát nguyện vãng sinh Cực lạc. Đức A-di-đà và hai vị Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí cùng chèo thuyền đại nguyện, vào biển sinh tử, chẳng trụ bờ bên này, chẳng trụ bờ bên kia, chẳng trụ ở giữa dòng, duy chỉ lấy việc tế độ chúng sinh, lấy đó làm Phật sự.
Trong kinh A-di-đà nói: “Nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ,
nghe nói danh hiệu Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày cho
đến bảy ngày, một lòng không loạn, thời khi lâm chung, Phật A-di-đà cùng với Thánh chúng, hiện thân ra trước mặt, người đó lúc bấy giờ tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về thế giới Cực lạc.” Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Chúng sinh mười phương nghe danh hiệu ta, nghĩ tưởng quốc độ ta, rồi gieo trồng các cội đức, hết lòng hồi hướng nguyện sinh về nước ta. Nếu chẳng được vãng sinh, ta nguyện không thành chánh giác.” Vì thế, ở viện Vô Thường tại tịnh xá Kỳ-hoàn, Đức Phật dạy người bệnh day mặt về hướng Tây, khởi lòng mong cầu vãng sinh Cực lạc. Do vì ánh sáng của Đức Phật A-di-đà rọi chiếu khắp pháp giới, nhiếp lấy mọi chúng sinh niệm Phật không bỏ. Bởi vì Thánh phàm đều đồng một thể, cơ cảm có sự tương ưng. Chúng sinh trong tâm chư Phật, nơi nơi đều là Cực lạc. Tịnh độ cũng trong tâm chúng sinh, niệm niệm đều là Di-đà.
Lấy lý này để quan sát: Thời người có trí tuệ dễ vãng sinh, bởi tâm không còn nghi hoặc. Người thiền định dễ vãng sinh, bởi tâm không còn tán loạn. Người trì giới dễ vãng sinh, bởi tâm lìa các ô nhiễm. Người bố thí dễ vãng sinh, bởi tâm không còn ngã chấp. Người nhẫn nhục dễ vãng sinh, bởi tâm không còn sân nhuế. Người tinh tấn dễ vãng sinh, bởi tâm không còn thoái chuyển. Người không làm thiện, không làm ác dễ vãng sinh, bởi tâm dễ chuyên nhất. Người tạo các nghiệp ác khi nghiệp báo đã phát hiện dễ vãng sinh vì sinh tâm hổ thẹn, khiếp sợ. Trong đây chỉ có hạng người không có tâm chí thành, tâm tin tưởng, không có tâm hồi hướng phát nguyện; hạng người này thì không thể liệt vào hàng Thượng phẩm thượng sinh.
Ôi danh hiệu Phật A-di-đà rất dễ niệm, cảnh Tịnh độ rất dễ sinh. Chúng sinh không chịu niệm Phật, không muốn cầu sinh, dẫu Phật có xót thương cũng đành cam chịu. Xét người tạo các nghiệp ác, đọa vào đường dữ, phát tâm niệm Phật Di-đà, thời quyết được vãng sinh. Hai điều này đều do Phật nói. Người thế gian sợ đọa địa ngục mà nghi ngờ vãng sinh, há chẳng mê lầm ư?
Kể từ đời Tấn, pháp sư Huệ Viễn cùng với các vị cao sĩ đương thời như Lưu Di Dân kết Bạch Liên xã ở Lô sơn, hết lòng tinh tấn tu pháp môn này. Từ đó đến khoảng bảy trăm năm về sau, kẻ tăng người tục tu theo pháp môn niệm Phật, thâu hoạch được sự lợi ích, không sao kể xiết. Những sự cảm ứng đó, đã được ghi lại một cách đầy đủ trong các bộ truyện ký của Tịnh độ, há đây là luống dối ư?
Nhưng xưa nay, trong các sách tán thán, luận giải về giáo nghĩa Tịnh độ, chất cao như núi, thì có bộ Thập Nghi Luận của Thiên Thai
Trí Giả Đại sư là rốt ráo hơn hết. Đại sư đã dẫn các lời Thánh, để dẹp tan các mối nghi lầm. Ví như nhà tối vạn năm, một khi mặt trời mọc thì bóng tối tự mất. Ví như biển rộng muôn trùng, nhưng trong tay có thuyền rồi thì ngại gì không đến bến. Đại sư nếu không phải là thân sau của Di-đà, thì làm sao có thể soạn được như thế. Kiệt tôi xem qua các bộ, may mắn gặp được bộ này. Đọc đến chỗ nào không thể không sinh tin tưởng. bản thân đang gặp hoạn nạn, mà cảm ngộ sự ích lợi vô cùng, muốn đem sự lợi ích này truyền rộng nhân gian, do đó bèn viết lời tựa.
 
/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »