Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 3 - Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.

 

Chương 19: Phẩm Ly Thế Gian Thứ Ba Mươi Tám - Phần 2 (trang 350-374)

       Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được pháp xảo thuyết vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp trì:
      Trì tất cả phước đức thiện căn đã chứa nhóm. Trì pháp của tất cả Như Lai diễn thuyết. Trì tất cả ví dụ. Trì môn lý thú của tất cả pháp. Trì tất cả môn xuất sanh đà la ni. Trì tất cả trừ nghi hoặc. Trì pháp thành tựu tất cả Bồ Tát. Trì môn bình đẳng tam muội của tất cả Như Lai nói. Trì môn chiếu minh của tất cả pháp. Trì năng lực thần thông du hí của tất cả chư Phật.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời được năng lực trụ trì đại trí vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ biện tài:
      Biện tài vô phân biệt nơi tất cả pháp. Biện tài vô sở tác nơi tất cả pháp. Biện tài vô sở trước nơi tất cả pháp. Biện tài thấu rõ tánh không nơi tất cả pháp. Biện tài không nghi tối nơi tất cả pháp. Biện tài Phật gia bị nơi tất cả pháp. Biện tài tự giác ngộ nơi tất cả pháp. Biện tài văn cú sai biệt thiện xảo nơi tất cả pháp. Biện tài nói chơn thật nơi tất cả pháp. Biện tài tùy theo tâm của tất cả chúng sanh làm cho họ hoan hỷ.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được biện tài xảo diệu vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ tự tại:
      Tự tại giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Tự tại chiếu khắp tất cả pháp. Tự tại tu tất cả hạnh thiện căn. Tự tại trí quảng đại. Tự tại cấm giới vô sở ý. Tự tại tất cả thiện căn hồi hướng bồ đề. Tự tại tinh tấn bất thối chuyển. Tự tại trí huệ dẹp phá tất cả chúng ma. Tự tại tùy sở thích khiến phát tâm bồ đề. Tự tại tùy sở ưng hóa hiện thành chánh giác.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời được tự tại đại trí vô thượng của Như Lai.
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp vô trước:
     Không dính mắc nơi tất cả thế giới. Không dính mắc nơi tất cả chúng sanh. Không dính mắc nơi tất cả pháp. Không dính mắc nơi tất cả sở tác. Không dính mắc nơi tất cả thiện căn. Không dính mắc nơi tất cả nguyện. Không dính mắc nơi tất cả hạnh. Không dính mắc nơi tất cả Bồ tát. Không dính mắc nơi tất cả Phật.
     Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời có thể mau chuyển tất cả tưởng được trí huệ thanh tịnh vô thượng.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ tâm bình đẳng:
      Tâm bình đẳng chứa nhóm tất cả công đức. Tâm bình đẳng phát tất cả nguyện sai biệt. Tâm bình đẳng nơi tất cả thân chúng sanh. Tâm bình đẳng nơi nghiệp báo của tất cả chúng sanh. Tâm bình đẳng nơi tất cả pháp. Tâm bình đẳng nơi tất cả quốc độ tịnh uế. Tâm bình đẳng nơi tất cả tri giải của chúng sanh. Tâm bình đẳng nơi tất cả hạnh không phân biệt. Tâm bình đẳng nơi lực và vô úy của tất cả Phật. Tâm bình đẳng nơi trí huệ của tất cả Như Lai.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được tâm đại bình đẳng vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp xuất sanh trí huệ:
      Biết tất cả chúng sanh tri giải xuất sanh trí huệ. Biết tất cả cõi Phật nhiều thứ sai biệt xuất sanh trí huệ. Biết chừng ngằn mười phương xuất sanh trí huệ. Biết tất cả thế giới úp ngửa vân vân xuất sanh trí huệ. Biết tất cả pháp một tánh, nhiều tánh, trụ rộng lớn xuất sanh trí huệ. Biết tất cả nhiều loại thân xuất sanh trí huệ. Biết tất cả thế gian điên đảo vọng tưởng đều vô sở trước xuất sanh trí huệ. Biết tất cả pháp rốt ráo đều do một đạo xuất ly xuất sanh trí huệ. Biết Như Lai thần
 lực hay nhập tất cả pháp giới xuất sanh trí huệ. Biết tam thế tất cả chúng sanh Phật chủng không dứt xuất sanh trí huệ.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời nơi tất cả pháp đều hiểu thấu tất cả.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp biến hóa:
       Tất cả chúng sanh biến hóa. Tất cả thân biến hóa. Tất cả cõi biến hóa. Tất cả cúng dường biến hóa. Tất cả âm thanh biến hóa. Tất cả hạnh nguyện biến hóa. Tất cả giáo hóa điều phục chúng sanh biến hóa. Tất cả thành chánh giác biến hóa. Tất cả thuyết pháp biến hóa. Tất cả gia trì biến hóa.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được đầy đủ tất cả pháp biến hóa vô thượng.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp lực trì:
      Phật lực trì. Pháp lực trì. Chúng sanh lực trì. Nghiệp lực trì. Hạnh lực trì. Nguyện lực trì. Cảnh giới lực trì. Thời lực trì. Thiện lực trì. Trí lực trì.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời nơi tất cả pháp được lực trì tự tại vô thượng.
      * Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp rất an vui thanh thản:
____________________
* Hán bộ quyển thứ 54.
      Chư Bồ Tát phát tâm như vầy: Tột đời vị lai có bao nhiêu chư Phật xuất thế tôi đều sẽ được theo gần hầu hạ cho Phật hoan hỷ. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
      Lại nghĩ rằng: Chư Phật đó xuất thế, tôi đều đem đồ cúng dường vô thượng mà cung kính dâng lên chư Phật. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
      Lại nghĩ rằng: Tôi ở chỗ chư Phật, lúc cúng dường, chư Như Lai đó tất dạy chánh pháp cho tôi, tôi đều dùng thâm tâm cung kính nghe  nhận, tu hành đúng theo lời Phật dạy, nơi bực Bồ Tát tất được đã sanh, nay sanh, sẽ sanh. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
     Lại nghĩ rằng: Tôi phải nơi bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thật hành bồ tát hạnh. Thường cùng tất cả chư Phật Bồ Tát ở chung. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
     Lại nghĩ rằng: Tôi thuở xưa chưa phát tâm vô thượng bồ đề có những bố úy: Sợ chẳng đủ nuôi sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa ác thú, sợ oai ức của đại chúng. Từ khi một phen phát tâm thời đều xa lìa chẳng còn kinh sợ. Tất cả chúng ma và các ngoại đạo không phá hoại được. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
       Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh thành vô thượng bồ đề. Thành bồ đề rồi, tôi sẽ ở nơi Ðức Phật đó tu hạnh bồ tát, trọn đời dùng lòng tin lớn sắm sửa những đồ đáng cúng dường chư Phật để dâng cúng. Sau khi chư Phật nhập diệt, tôi đều dựng vô lượng tháp để cúng dường xá lợi và thọ trì thủ hộ pháp của Phật để lại. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
      Lại nghĩ rằng: Mười phương có bao nhiêu thế giới, tôi phải đều dùng đồ vô thượng trang nghiêm để trang nghiêm, đều làm cho đầy đủ các thú kỳ diệu bình đẳng thanh tịnh. Lại dùng những sức đại thần thông trụ trì chấn động quang minh chói sáng cùng khắp tất cả. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
      Lại nghĩ rằng: Tôi phải dứt nghi hoặc cho tất cả chúng sanh, làm sạch tất cả dục lạc của tất cả chúng sanh, mở tâm ý cho tất cả chúng sanh, diệt phiền não cho tất cả chúng sanh, đóng cửa ác đạo cho tất cả chúng sanh, mở cửa thiện đạo cho tất cả chúng sanh, phá hắc ám cho tất cả chúng sanh, ban quang minh cho tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh rời những nghiệp ma, khiến tất cả chúng sanh đến chỗ an ổn. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
        Lại nghĩ rằng: Chư Phật Như Lai như hoa ưu đàm khó gặp được, trong vô lượng kiếp chẳng được thấy một lần, tôi phải ở đời vị lai muốn thấy Như Lai thời bèn được thấy. Chư Phật Như Lai thường chẳng bỏ tôi, hằng ở chỗ tôi cho tôi được thấy, thuyết pháp cho tôi không dứt mất, đã nghe pháp rồi tâm ý tôi thanh tịnh, xa rời siểm khúc, chất trực không hư ngụy, trong mỗi niệm thường thấy chư Phật. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
       Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi thuở vị lai sẽ được thành Phật, do thần lực của Phật nơi tất cả thế giới vì tất cả chúng sanh đều riêng thị hiện thành Ðẳng Chánh Giác, thanh tịnh vô úy đại sư tử hống, do bốn đại nguyện cùng khắp pháp giới, đánh đại pháp cổ, mưa đại pháp vũ, làm đại pháp thí. Trong vô lượng kiếp thường diễn chánh pháp, đại bi nhiếp trì, thân ngữ ý ba nghiệp không nhàm mỏi. Suy nghĩ như vậy tâm rất an vui thanh thản.
      Ðây là mười pháp đại hân ủy của đại Bồ Tát. Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được trí huệ đại hân ủy vô thượng thành Ðẳng Chánh Giác.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười điều thâm nhập Phật pháp:
        Nhập tất cả thế giới đời quá khứ. Nhập tất cả thế giới đời vị lai. Nhập tất cả thế giới đời hiện tại, thế giới hạnh, thế giới thuyết, thế giới thanh tịnh. Nhập các thứ tánh của tất cả thế giới. Nhập các thứ nghiệp báo của tất cả chúng sanh. Nhập các thứ hạnh của tất cả Bồ Tát. Biết quá khứ tất cả Phật thứ đệ. Biết vị lai tất cả Phật thứ đệ. Biết hiện tại thập phương hư không pháp giới tất cả Phật, quốc độ, chúng hội, thuyết pháp, điều phục. Biết thế gian pháp, Thanh Văn pháp, Ðộc Giác pháp, Bồ Tát pháp, Như Lai pháp, dầu biết các pháp đều không phân biệt mà thuyết các pháp, vì đều nhập pháp giới mà không sở nhập, như chỗ thuyết pháp không hề thủ trước.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời được nhập nơi tánh thậm thâm đại trí huệ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp y chỉ, Bồ Tát nương ở nơi đây mà thật hành hạnh Bồ Tát:
     Y chỉ cúng dường tất cả chư Phật thật hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ điều phục tất cả chúng sanh thật hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ gần gũi tất cả thiện hữu thật hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ chứa nhóm tất cả thiện căn, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ nghiêm tịnh tất cả cõi Phật, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ
chẳng bỏ tất cả chúng sanh, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ thâm nhập tất cả ba la mật, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ đầy đủ tất cả Bồ Tát nguyện, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ vô lượng bồ đề tâm, thực hành hạnh Bồ Tát. Y chỉ tất cả Phật bồ đề, thực hành hạnh Bồ Tát.
       Bồ Tát nương nơi đây để, thực hành hạnh Bồ Tát.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp phát tâm vô úy:
       Diệt tất cả nghiệp chướng ngại, phát tâm vô úy. Sau khi Phật diệt độ hộ trì chánh pháp, phát tâm vô úy. Hàng phục tất cả ma, phát tâm vô úy. Chẳng tiếc thân mạng, phát tâm vô úy. Xô dẹp tất cả ngoại đạo tà luận, phát tâm vô úy. Khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ, phát tâm vô úy. Khiến tất cả chúng hội đều hoan hỷ, phát tâm vô úy. Ðiều phục tất cả Thiên, Long, Bát Bộ, phát tâm vô úy. Rời bực nhị thừa nhập pháp thậm thâm, phát tâm vô úy. Trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thật hành hạnh Bồ Tát, tâm không mỏi nhàm, phát tâm vô úy.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được tâm vô sở úy đại trí vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát phát mười tâm không nghi, nơi tất cả Phật pháp tâm không nghi lầm.
Ðại Bồ Tát phát tâm như vầy:
       Tôi sẽ dùng bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ, bi, hỉ, xả, nhiếp tất cả chúng sanh. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Vị lai chư Phật xuất thế, tôi sẽ thừa sự cúng dường tất cả. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ dùng các thứ lưới quang minh kỳ diệu cùng khắp trang nghiêm tất cả thế giới. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ tột kiếp vị lai tu hạnh Bồ Tát, vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, bất khả thuyết bất khả thuyết, quá những toán số, rốt ráo pháp giới hư không giới tất cả chúng sanh, tôi sẽ dùng pháp giáo hóa điều phục vô thượng mà thành thục họ.  Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
      Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ tu Bồ Tát hạnh, viên mãn đại nguyện, đủ nhứt thiết trí an trụ trong đó. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
     Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ khắp vì tất cả thế gian mà thực hành hạnh Bồ Tát, làm quang minh thanh
tịnh của tất cả pháp chiếu sáng tất cả Phật pháp. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ biết tất cả pháp đều là Phật pháp, tùy tâm chúng sanh mà vì họ diễn thuyết đều khiến khai ngộ. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Tôi sẽ ở nơi tất cả pháp được môn vô chướng ngại, vì biết tất cả chướng ngại vô sở đắc. Tâm như vậy không có nghi hoặc, trụ tánh chơn thiệt nhẫn đến thành vô thượng bồ đề. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Lại nghĩ rằng: Tôi phải biết tất cả pháp đều là pháp xuất thế gian, xa lìa tất cả vọng tưởng điên đảo. Dùng một trang nghiêm để tự trang nghiêm, mà không chỗ trang nghiêm. Nơi đây tự tỏ biết không do người. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
       Ðại Bồ Tát lại nghĩ rằng: Tôi sẽ ở nơi tất cả pháp thành Tối Chánh Giác, vì lìa tất cả vọng tưởng điên đảo, vì được nhứt niệm tương ưng trí, vì bất khả đắc hoặc một hoặc khác, vì rời tất cả số, vì rốt ráo vô vi, vì rời tất cả ngôn thuyết, vì trụ bất khả thuyết cảnh giới tế. Lúc phát tâm nầy quyết định không nghi.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời nơi tất cả
Phật pháp tâm không chỗ nghi.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp bất tư nghì:
       Tất cả thiện căn bất tư nghì.
       Tất cả thệ nguyện bất tư nghì.
       Biết tất cả pháp như huyễn bất tư nghì.
       Phát tâm bồ đề tu hạnh Bồ Tát, thiện căn chẳng mất, không chỗ phân biệt, bất tư nghì.
       Dầu thâm nhập tất cả pháp cũng chẳng lấy diệt độ, vì tất cả nguyện chưa thành mãn, bất tư nghì.
      Tu Bồ Tát đạo mà thị hiện giáng thần, nhập thai, đản sanh, xuất gia, khổ hạnh, đến đạo tràng, hàng phục chúng ma, thành tối chánh giác, chuyển chánh pháp luân, nhập đại Niết Bàn, thần biến tự tại không thôi nghỉ, chẳng bỏ bi nguyện cứu hộ chúng sanh, bất tư nghì.
      Dầu hay thị hiện thập lực thần biến tự tại của Như Lai mà chẳng bỏ tâm khắp pháp giới giáo hóa chúng sanh, bất tư nghì.
      Biết tất cả pháp vô tướng là tướng, tướng là vô tướng, vô phân biệt là phân biệt, phân biệt là vô phân biệt, phi hữu là hữu, hữu là phi hữu, vô tác là tác, tác là vô tác, phi thuyết là thuyết, thuyết là phi thuyết, bất tư nghì.
       Biết tâm cùng bồ đề đồng, biết bồ đề cùng tâm đồng. Tâm và bồ đề cùng chúng sanh đồng. Cũng chẳng sanh tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, bất tư nghì.
      Ở trong mỗi niệm nhập diệt tận định sạch hết tất cả hữu lậu, mà chẳng chứng thiệt tế, cũng chẳng hết thiện căn hữu lậu. Dầu biết tất cả pháp vô lậu, mà biết lậu tận cũng biết lậu diệt. Dầu biết Phật pháp tức thế gian pháp, thế gian pháp tức Phật pháp, mà chẳng ở trong Phật pháp phân biệt thế gian pháp, chẳng ở trong thế gian pháp phân biệt Phật pháp. Tất cả pháp đều nhập pháp giới vì vô sở nhập. Biết tất cả pháp đều không hai vì không biến đổi.
      Ðây là pháp bất tư nghì thứ mười của đại Bồ Tát. Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp bất tư nghì nầy thời được pháp bất tư nghì vô thượng của chư Phật.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười xảo mật ngữ:
     Xảo mật ngữ ở trong tất cả Phật kinh.
     Xảo mật ngữ nơi tất cả chỗ thọ sanh.
     Xảo mật ngữ nơi tất cả Bồ Tát thần thông biến hiện thành Đẳng Chánh Giác.
     Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh nghiệp báo.
       Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh phát khởi nhiễm tịnh.
      Xảo mật ngữ nơi môn tất cả pháp rốt ráo vô chướng ngại.
      Xảo mật ngữ nơi tất cả hư không giới, mỗi nơi mỗi chỗ đều có thế giới hoặc thành hoặc hoại, trong đó không có chỗ trống.
      Xảo mật ngữ nơi tất cả pháp giới tất cả mười phương nhẫn đến chỗ vi tế, đều có Như Lai thị hiện sơ sanh nhẫn đến thành Phật nhập đại Niết Bàn đầy khắp pháp giới, đều phân biệt thấy.
     Xảo mật ngữ ở chỗ thấy tất cả chúng sanh bình đẳng Niết Bàn vì không biến đổi mà chẳng bỏ đại nguyện, vì tất cả trí nguyện chưa được viên mãn làm cho viên mãn.
      Xảo mật ngữ ở chỗ dầu biết tất cả pháp tỏ ngộ chẳng do người khác mà chẳng rời bỏ các bực thiện tri thức, đối với Như Lai càng thêm tôn kính, cùng thiện tri thức hòa hiệp không hai. Nơi những thiện căn thời tu tập gieo trồng hồi hướng an trụ. Ðồng một sở tác, đồng một thể tánh, đồng một xuất ly, đồng một thành tựu.
     Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được vi mật ngữ thiện xảo vô thượng của Như Lai.
      Ðại Bồ Tát có mười trí xảo phân biệt :
Trí xảo phân biệt nhập tất cả cõi. Trí xảo phân biệt nhập tất cả chỗ của các chúng sanh. Trí xảo phân biệt nhập tất cả tâm hành của các chúng sanh. Trí xảo phân biệt nhập căn tánh của tất cả chúng sanh. Trí xảo phân biệt nhập nghiệp báo của tất cả chúng sanh. Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh Thanh Văn. Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh Ðộc Giác. Trí xảo phân biệt nhập tất cả hạnh Bồ Tát. Trí xảo phân biệt nhập tất cả pháp thế gian. Trí xảo phân biệt nhập tất cả Phật pháp.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được trí phân biệt các pháp thiện xảo vô thượng của tất cả chư Phật.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp nhập tam muội:
      Nơi tất cả thế giới nhập tam muội. Nơi thân tất cả chúng sanh nhập tam muội. Nơi tất cả pháp nhập tam muội. Thấy tất cả Phật nhập tam muội. Trụ tất cả kiếp nhập tam muội. Từ tam muội khởi hiện bất tư nghì thân nhập tam muội. Nơi thân tất cả Phật nhập tam muội. Giác ngộ tất cả chúng sanh bình đẳng nhập tam muội.  Trong một niệm nhập trí tam muội của tất cả Bồ Tát, nhập tam muội. Trong một niệm dùng vô ngại trí thành tựu tất cả bồ tát hạnh nguyện chẳng thôi nghỉ, nhập tam muội.

 
       Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp tam muội thiện xảo vô thượng của tất cả chư Phật.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp biến nhập:
       Vào khắp chúng sanh. Vào khắp quốc độ. Vào khắp các loại hình tướng của thế gian. Vào khắp hỏa tai. Vào khắp thủy tai. Vào khắp Phật. Vào khắp trang nghiêm. Vào khắp thân vô biên công đức của Như Lai. Vào khắp tất cả sự thuyết pháp. Vào khắp những sự cúng dường tất cả Như Lai.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp biến nhập đại trí vô thượng của Như Lai.
       Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười môn giải thoát:
       Môn giải thoát một thân cùng khắp tất cả thế giới. Môn giải thoát thị hiện vô lượng những loại sắc tướng nơi tất cả thế giới. Môn giải thoát đem tất cả thế giới vào một cõi Phật. Môn giải thoát khắp gia trì tất cả chúng sanh giới. Môn giải thoát dùng thân trang nghiêm của tất cả Phật đầy khắp tất cả thế giới. Môn giải thoát trong thân mình thấy tất cả thế giới. Môn giải thoát trong một niệm qua tất cả thế giới. Môn giải thoát thị hiện tất cả Như Lai xuất thế. Môn giải thoát một thân đầy khắp tất cả pháp giới. Môn giải thoát trong
một niệm thị hiện tất cả Phật du hí thần thông.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được môn giải thoát vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp thần thông:
      Phương tiện trí thông ghi nhớ túc mạng. Phương tiện trí thông thiên nhĩ vô ngại. Phương tiện trí thông biết bất tư nghì tâm hành của chúng sanh. Phương tiện trí thông thiên nhãn quán sát vô ngại. Phương tiện trí thông tùy theo tâm chúng sanh hiện bất tư nghì đại thần thông lực. Phương tiện trí thông một thân hiện khắp vô lượng thế giới. Phương tiện trí thông một niệm vào khắp bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới. Phương tiện trí thông xuất sanh vô lượng đồ trang nghiêm để trang nghiêm bất tư nghì thế giới. Phương tiện trí thông thị hiện bất khả thuyết thân biến hóa. Phương tiện trí thông tùy theo bất tư nghì tâm chúng sanh nơi bất khả thuyết thế giới thị hiện thành vô thượng chánh giác.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được thần thông đại thiện xảo vô thượng của Như Lai, vì tất cả chúng sanh thị hiện nhiều sự việc khiến họ tu học.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ Minh:
      Trí minh thiện xảo biết nghiệp báo của tất cả chúng sanh.
      Trí minh thiện xảo biết cảnh giới tịch diệt thanh tịnh không hí luận của tất cả chúng sanh.
      Trí minh thiện xảo biết những cảnh sở duyên của tất cả chúng sanh chỉ là một tướng đều bất khả đắc, tất cả pháp đều như kim cang.
      Trí minh thiện xảo hay dùng vô lượng âm thanh, vi diệu vang khắp thập phương thế giới.
      Trí minh thiện xảo phá hoại khắp tất cả tâm nhiễm trước.
      Trí minh thiện xảo hay dùng phương tiện thọ sanh hay chẳng thọ sanh.
      Trí minh thiện xảo bỏ rời tất cả cảnh giới thọ tưởng.
      Trí minh thiện xảo biết tất cả pháp chẳng tướng chẳng vô tướng, một tánh vô tánh vô phân biệt mà hay rõ biết các loại pháp, trong vô lượng kiếp phân biệt diễn thuyết, trụ nơi pháp giới, thành vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
     Trí minh duyên khởi thiện xảo biết tất cả chúng sanh, sanh vốn không sanh vì tỏ thấu thọ sanh bất khả đắc. Mà biết nhơn, biết duyên, biết sự, biết cảnh giới, biết hạnh, biết sanh, biết diệt,
biết ngôn thuyết, biết mê hoặc, biết lìa mê hoặc, biết điên đảo, biết lìa điên đảo, biết tạp nhiễm, biết thanh tịnh, biết sanh tử, biết Niết Bàn, biết khả đắc, biết bất khả đắc, biết chấp trước, biết không chấp trước, biết trụ, biết động, biết đi, biết về, biết khởi, biết chẳng khởi, biết hư mất, biết xuất ly, biết thành thục, biết các căn, biết điều phục, tùy theo sở nghi mà nhiều cách giáo hóa, chưa từng quên mất công hạnh bồ tát. Vì Bồ Tát chỉ vì lợi ích chúng sanh nên phát tâm vô thượng bồ đề không bỏ sót việc làm vì chúng sanh. Thế nên Bồ Tát thường giáo hóa chúng sanh thân không mỏi nhọc, chẳng trái tất cả chỗ làm của thế gian.
         Trí minh thiện xảo nơi Phật vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước, nơi pháp vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước, nơi cõi vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước, nơi chúng sanh vô trước chẳng sanh tâm nhiễm trước. Chẳng thấy có chúng sanh mà thật hành giáo hóa điều phục thuyết pháp, nhưng cũng chẳng bỏ bồ tát đại bi đại nguyện, thấy Phật, nghe Pháp, tùy thuận tu hành, y chỉ nơi những thiện căn của Như Lai cung kính cúng dường không thôi nghỉ. Hay dùng thần lực chấn động thập phương vô lượng thế giới, vì tâm quảng đại khắp pháp giới. Biết những cách
thuyết pháp, biết số chúng sanh, biết chúng sanh sai biệt, biết khổ sanh, biết khổ diệt, biết tất cả hạnh đều như bóng tượng, thật hành hạnh Bồ Tát dứt hẳn tất cả căn bổn thọ sanh. Chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh nên thật hành hạnh bồ tát mà không chỗ làm, tùy thuận chủng tánh của tất cả chư Phật mà phát tâm quảng đại như Tu Di. Biết tất cả hư vọng điên đảo vào môn nhứt thiết chủng trí. Trí huệ rộng lớn chẳng lay động được, sẽ thành chánh giác. Ở biển sanh tử bình đẳng tế độ tất cả chúng sanh.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp giải thoát:
      Phiền não giải thoát. Tà kiến giải thoát. Những chấp thủ giải thoát. Uẩn, xứ, giới giải thoát. Siêu nhị thừa giải thoát. Vô sanh pháp nhẫn giải thoát. Nơi tất cả thế gian, tất cả cõi, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, lìa chấp trước giải thoát. Vô biên trụ giải thoát. Phát khởi tất cả hạnh bồ tát nhập bực Phật vô phân biệt giải thoát. Ở trong một niệm đều có thể rõ biết tất cả tam thế giải thoát.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp giải thoát nầy thời có thể ra làm Phật sự vô thượng, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười viên lâm:
      Sanh tử là viên lâm của Bồ Tát, vì không nhàm bỏ. Giáo hóa chúng sanh là viên lâm của Bồ Tát, vì không mỏi nhọc. Trụ tất cả kiếp là viên lâm của Bồ Tát, vì nhiếp những hạnh lớn. Thanh tịnh thế giới là viên lâm của Bồ Tát, vì là chỗ dừng ở của Bồ Tát. Tất cả cung điện ma là viên lâm của Bồ Tát, vì hàng phục chúng ma. Tư duy pháp đã được nghe là viên lâm của Bồ Tát, vì đúng như lý quán sát. Sáu pháp ba la mật, bốn nhiếp pháp, ba mươi bảy pháp bồ đề phần là viên lâm của Bồ Tát, vì là cảnh giới tiếp nối đức Từ Phụ.
       Thập lực, tứ vô úy, thập bát pháp bất công, nhẫn đến tất cả Phật pháp là viên lâm của Bồ Tát, vì chẳng niệm nhớ những pháp khác. Thị hiện tất cả bồ tát oai lực tự tại thần thông là viên lâm của Bồ Tát, vì dùng đại thần lực chuyển chánh pháp luân điều phục chúng sanh không thôi nghĩ. Một niệm ở tất cả xứ vì tất cả chúng sanh thị hiện thành chánh giác là viên lâm của Bồ Tát, vì pháp thân cùng khắp hư không tất cả thế giới.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được hạnh đại an lạc lìa ưu não vô thượng của Như Lai.
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ cung điện:
       Bồ đề tâm là cung điện của Bồ Tát, vì hằng không quên mất.
      Thập thiện nghiệp đạo phước đức trí huệ là cung điện của Bồ Tát, vì giáo hóa chúng sanh cõi dục.
      Tứ phạm trụ thiền định là cung điện của Bồ Tát, vì giáo hóa chúng sanh cõi sắc.
      Sanh Tịnh Cư Thiên là cung điện của Bồ Tát, vì tất cả phiền não chẳng nhiễm.
      Sanh vô sắc giới là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh lìa chỗ nạn.
      Sanh thế giới tạp nhiễm là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh dứt phiền não.
     Thị hiện ở nội cung thê tử quyến thuộc là cung điện của Bồ Tát, vì thành tựu chúng sanh đồng hạnh thuở xưa.
      Thị hiện ở ngôi Luân Vương Tứ Thiên Vương, Ðế Thích, Phạm Vương là cung điện của Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh tâm tự tại.
      Trụ tất cả bồ tát hạnh du hí thần thông đều được tự tại là cung điện của Bồ Tát, vì giỏi du hí các thiền giải thoát tam muội trí huệ.
     Tất cả chư Phật thọ ký nhứt thiết trí quán đảnh tự tại vô thượng là cung điện của Bồ Tát, vì
trụ thập lực trang nghiêm làm việc tự tại của Pháp Vương.
         Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp quán đảnh nơi tất cả thế gian thần lực tự tại.
        Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười điều vui thích:
       Thích chánh niệm, vì tâm chẳng tán loạn. Thích trí huệ, vì phân biệt các pháp. Thích qua đến tất cả chỗ Phật, vì nghe pháp không nhàm. Thích chư Phật, vì đầy khắp mười phương không biên tế. Thích Bồ Tát tự tại, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà hiện thân. Thích các môn tam muội, vì nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội. Thích đà la ni, vì thọ trì pháp chẳng quên, dạy lại cho chúng sanh.  Thích vô ngại biện tài, vì nơi một đoạn một câu, phân biệt diễn thuyết trải qua bất khả thuyết kiếp không
cùng tận. Thích thành chánh giác, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà thị hiện thân thành chánh giác. Thích chuyển pháp luân, vì dẹp trừ tất cả pháp dị đạo.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được pháp lạc vô thượng của chư Phật Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười thứ trang nghiêm:
        Lực trang nghiêm, vì chẳng thể hư hoại. Vô úy trang nghiêm, vì hay dẹp phục. Nghĩa trang nghiêm, vì nói bất khả thuyết nghĩa vô cùng tận. Pháp trang nghiêm, vì quán sát diễn thuyết không quên mất tám vạn bốn ngàn pháp tu. Nguyện trang nghiêm, vì không thối chuyển nơi hoằng thệ của chư Bồ Tát đã phát. Hạnh trang nghiêm, vì tu hạnh phổ hiền mà xuất ly. Sát độ trang nghiêm, vì đem tất cả cõi làm một cõi. Phổ âm trang nghiêm, vì mưa pháp vũ cùng khắp tất cả thế giới của chư Phật. Lực trì trang nghiêm, vì trong tất cả kiếp thật hành vô số hạnh chẳng đoạn tuyệt. Biến hóa trang nghiêm, vì nơi thân một chúng sanh thị hiện thân bằng số tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh đều thấy biết cầu nhứt thiết trí không thối chuyển.
       Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được tất cả pháp trang nghiêm vô thượng của Như Lai.
      Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát phát mười tâm bất động:
      Tâm bất động: nơi tất cả sở hữu thảy đều xả được.
      Tâm bất động: tư duy quán sát tất cả Phật pháp.
      Tâm bất động: ghi nhớ cúng dường tất cả chư Phật.
      Tâm bất động: nơi tất cả chúng sanh thệ không não hại.
      Tâm bất động: khắp nhiếp chúng sanh chẳng lựa oán thân.
      Tâm bất động: cầu tất cả Phật pháp không thôi nghỉ.
      Tâm bất động: số kiếp bằng số chúng sanh thực hành hạnh bồ tát chẳng mỏi nhàm, cũng không thối chuyển.
      Tâm bất động: thành tựu lòng tin hữu căn, lòng tin vô trược, lòng tin thanh tịnh ,  lòng tin cực thanh tịnh, lòng tin ly cấu, lòng tin minh triệt, lòng tin cung kính cúng dường tất cả chư Phật, lòng tin bất thối chuyển, lòng tin bất khả tận, lòng tin vô năng hoại, lòng tin đại hoan hỷ mạnh mẽ.
      Tâm bất động: thành tựu đạo phương tiện xuất sanh Nhứt thiết trí.
      Tâm bất động: nghe tất cả bồ tát hạnh pháp thời tin thọ chẳng hủy báng.
      Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được tâm bất động nhứt thiết trí vô thượng.
     Chư Phật tử! Ðại Bồ Tát có mười pháp chẳng bỏ tâm thâm đại:
     Chẳng bỏ tâm thâm đại thành tựu viên mãn tất
/27
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây