Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.
Ý kiến bạn đọc
Tâm chánh trực thanh tịnh tinh tấn, vì không dối, không dua bợ, không vạy vò, không hư giả tất cả siêng tu không thối chuyển.
Tâm tăng thắng thanh tịnh tinh tấn, vì thường xu cầu thượng thượng trí huệ nguyện đủ tất cả pháp bạch tịnh.
Thanh tịnh tinh tấn chẳng luống bỏ vì nhiếp lấy bố thí, giới, nhẫn, đa văn và bất phóng dật nhẫn đến Bồ đề không nghỉ giữa chừng.
Dẹp phục tất cả ma thanh tịnh tinh tấn, vì đều có thể trừ diệt tham dục, sân hận, ngu si, tà kiến, tất cả phiền não, những cái triền.
Thành tựu viên mãn trí huệ quang minh thanh tịnh tinh tấn, có làm việc chi đều khéo quán sát, đều khiến rốt ráo chẳng cho ăn năn về sau, được Phật bất cộng pháp.
Vô lai, vô khứ thanh tịnh tinh tấn, vì được trí như thiệt nhập môn pháp giới, thân ngữ và tâm thảy đều bình đẳng, rõ tướng tức là phi tướng không chấp trước.
Thành tựu pháp quang thanh tịnh tinh tấn, vì vượt quá các địa được Phật quán đảnh, dùng thân vô lậu mà thị hiện mất, thọ, sanh, xuất gia, thành
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này, thời được đại thanh tịnh tinh tấn vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh thiền:
Thanh tịnh thiền, thường thích xuất gia, vì rời bỏ tất cả sở hữu. Thanh tịnh thiền, được chơn thiện hữu, vì chỉ dạy chánh đạo. Thanh tịnh thiền, ở a lan nhã nhẫn chịu mưa gió, vì lìa ngã và ngã sở. Thanh tịnh thiền, lìa chúng sanh ồn náo, vì thường thích tịch tịnh. Thanh tịnh thiền, tâm nghiệp điều nhu, vì thủ hộ các căn. Thanh tịnh thiền, tâm trí tịch diệt, vì tất cả âm thanh những chướng thiền định chẳng thể làm loạn. Thanh tịnh thiền, giác đạo phương tiện, vì quán sát tất cả đều hiện chứng. Thanh tịnh thiền, rời tham đắm, vì chẳng bỏ cõi dục. Thanh tịnh thiền, phát khởi thông minh, vì biết tất cả căn tánh chúng sanh. Thanh tịnh thiền, tự tại du hý, vì nhập Phật tam muội biết vô ngã.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được đại thanh tịnh thiền vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh huệ:
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây, thời được đại trí huệ vô ngại của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh từ:
Thanh tịnh từ, tâm bình đẳng, vì nhiếp khắp chúng sanh không lựa chọn. Thanh tịnh từ lợi ích,
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh từ quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh bi:
Thạnh tịnh bi, không bạn bè, vì riêng mình phát tâm đó.
Thạnh tịnh bi, không mỏi nhàm, vì thay thế tất cả chúng sanh thọ khổ chẳng cho là nhọc.
Thạnh tịnh bi thọ sanh ở xứ nạn, vì cứu độ chúng sanh bị nạn.
Thạnh tịnh bi thọ sanh ở đường lành, vì thị hiện vô thường.
Thạnh tịnh bi, chẳng nhiễm trước sự vui của mình, vì cho khắp chúng sanh sự sung sướng.
Thạnh tịnh bi, chẳng cầu báo ân, vì tu tâm trong sạch.
Thạnh tịnh bi, có thể trừ điên đảo vì nói pháp như thiệt.
Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp bổn tánh thanh tịnh không nhiễm trước không nhiệt não, vì do khắp trần phiền não nên thọ những điều khổ. Biết như vậy rồi Bồ Tát ở nơi chúng sanh mà khởi đại bi gọi là bổn tánh thanh tịnh, vì họ mà diễn thuyết pháp vô cấu thanh tịnh, quang minh.
Ðại Bồ Tát biết tất cả pháp như dấu chim bay giữa không gian, chúng sanh si lòa chẳng thể quán sát biết rõ các pháp Bồ Tát phát khởi tâm đại bi tên là chơn thiệt trí, vì họ mà khai thị pháp Niết Bàn.
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thì được thanh tịnh bi quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh hỷ:
Thanh tịnh hỷ, phát Bồ đề tâm. Thanh tịnh hỷ đều xả bỏ sở hữu. Thanh tịnh hỷ chẳng ghét bỏ
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được thanh tịnh hỷ quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thanh tịnh xả:
Thanh tịnh xả đối với sự cung kính cúng dường của tất cả chúng sanh, Bồ Tát chẳng sanh lòng ái trước.
Thanh tịnh xả đối với sự khinh mạn hủy nhục của tất cả chúng sanh, Bồ Tát chẳng sanh lòng giận hờn.
Thanh tịnh xả thường đi trong thế gian chẳng
Thanh tịnh xả đối với pháp khí chúng sanh chờ thời mà hóa độ, với chúng sanh chẳng phải pháp khí cũng chẳng hiềm ghét.
Thanh tịnh xả chẳng cầu pháp Học và Vô học của Nhị thừa.
Thanh tịnh xả tâm thường xa lìa tất cả dục lạc thuận theo phiền não.
Thanh tịnh xả chẳng khen hàng Nhị thừa nhàm lìa sanh tử.
Thanh tịnh xả xa lìa tất cả lời thế gian, lời chẳng phải Niết Bàn, lời phải ly dục, lời chẳng thuận lý, lời não loạn người khác, lời Thanh Văn, Duyên Giác, nhẫn đến những chướng Bồ Tát đạo đều xa lìa tất cả.
Thanh tịnh xả hoặc có chúng sanh căn tánh đã thành thục phát sanh niệm huệ mà chưa biết được pháp tối thượng thì chờ thời tiết mới hóa độ; hoặc có chúng sanh đã được Bồ tát giáo hóa thuở trước, đến Phật địa mới điều phục được, Bồ tát cũng chờ thời tiết.
Thanh tịnh xả đối với hai hạng chúng sanh trên, Bồ Tát không có quan niệm cao hạ thủ xả, xa lìa tất cả những phân biệt, hằng trụ chánh định,
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thì được thanh tịnh xả quảng đại vô thượng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười nghĩa:
Ða văn nghĩa, vì kiên cố tu hành. Pháp nghĩa, vì khéo léo suy gẫm lựa chọn. Không nghĩa, vì đệ nhứt nghĩa không. Tịch tịnh nghĩa, rời những chúng sanh ồn náo. Bất khả thuyết nghĩa, vì chẳng chấp tất cả ngữ ngôn. Như thiệt nghĩa, vì rõ thấu tam thế bình đẳng. Pháp giới nghĩa, vì tất cả các pháp đồng một vị. Chơn như nghĩa, vì tất cả Như Lai thuận nhập. Thiệt tế nghĩa, vì biết rõ rốt ráo như thiệt. Ðại Bát Niết Bàn nghĩa, vì diệt tất cả khổ mà tu những hạnh Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong pháp này thời được Nhứt thiết trí vô thượng nghĩa.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười pháp:
Chơn thiệt pháp, vì như thuyết tu hành. Ly thủ pháp, vì đều lìa năng thủ và sở thủ. Vô tránh pháp, vì không có tất cả mê lầm gây gỗ. Tịch diệt pháp, vì trừ diệt tất cả nhiệt não. Ly dục pháp, vì tất cả tham dục đều dứt trừ. Vô phân biệt pháp, vì dứt hẳn phan duyên phân biệt. Vô sanh pháp, vì dường như hư không bất động. Vô vi pháp, vì lìa những tướng sanh, trụ, diệt. Bổn tánh
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được pháp quảng đại vô thượng của Ðức Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười công cụ trợ đạo phước đức:
Khuyên chúng sanh phát khởi tâm Bồ đề là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì chẳng dứt ngôi Tam Bảo. Tùy thuận Thập hồi hướng là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì dứt tất cả pháp bất thiện, chứa nhóm tất cả thiện pháp. Trí huệ dạy dỗ là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì vượt hơn phước đức tam giới. Tâm không mỏi mệt là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì rốt ráo độ thoát tất cả chúng sanh. Xả bỏ tất cả sở hữu trong thân ngoài thân là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì nơi tất cả vật chẳng chấp trước. Vì đầy đủ tướng hảo mà tinh tấn bất thối là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì mở cử đại thí không hạn cuộc. Thượng, trung, hạ, ba phẩm thiện căn đều đem hồi hướng vô thượng Bồ đề tâm không khinh trọng là công cụ trợ đạo phước đức của Bồ Tát, vì tương ứng với thiện xảo phương tiện. Với chúng sanh tà định hạ
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời đầy đủ phước đức quảng đại vô thựơng của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười công cụ trợ đạo trí huệ:
Gần gũi chơn thiện tri thức đa văn, cung kính, cúng dường, tôn trọng, lễ bái tùy thuận mọi việc chẳng trái lời dạy bảo. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ nhứt, vì tất cả chánh trực không hư dối.
Lìa hẳn kiêu mạng thường có hạnh khiêm hạ cung kính, thân ngữ ý ba nghiệp không thô bạo, nhu hòa thiện thuận, chẳng dối trá, chẳng cong
Niệm huệ tùy giác chưa từng tán loạn, hổ thẹn, nhu hòa tâm an bất động, thường nhớ lục niệm, thường thực hành lục hòa kính, thường tùy thuận trụ sáu pháp kiên cố. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ ba, vì làm phương tiện cho mười trí.
Thích pháp thích nghĩa, lấy pháp làm vui, thường thích lóng nghe chánh pháp không nhàm đủ, bỏ rời thế luận và ngôn thuyết thế gian, xa lìa Tiểu thừa, nhập Ðại thừa huệ. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ tư, vì nhứt tâm ghi nhớ không tán động.
Tâm chuyên gánh vác sáu môn Ba la mật, thực hành đã thành thục bốn pháp phạm trụ, đều khéo tu hành tùy thuận minh pháp, đều siêng thỉnh hỏi người trí thông mẫn, xa lìa ác thú quy hướng đường lành, tâm thường mến thích chánh niệm quán sát, điều phục lòng mình, thủ hộ ý người. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ năm, vì kiên cố tu hành chơn thiệt hạnh.
Thừơng thích xuất ly chẳng chấp ba cõi, hằng giác tự tâm không bao giờ có ác niệm, ba giác quán đã tuyệt, ba nghiệp đều lành, quyết định biết rõ tự tánh của tâm. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ
Quán sát ngủ uẩn đều như huyễn sự, thập bát giới như độc xà, thập nhị xứ như hư không, tất cả pháp như huyễn, như diệm, như trăng trong nước, như mộng, như ảnh, như hưởng, như tượng, như vẽ giữa hư không, như vòng lửa quây, như màu mống rán, như ánh sáng mặt nhựt mặt nguyệt, vô tứơng vô hình, phi thừơng phi đoạn, chẳng đến chẳng đi, cũng không sở trụ, quán sát như vậy biệt tất cả pháp vô sanh vô diệt. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ bảy, vì biết tất cả pháp tánh không tịch.
Ðại Bồ Tát nghe tất cả pháp không ngã, không chúng sanh, không thọ giã, không bổ đặc già la, không tâm không cảnh, không tham sân si, không thân, không vật, không chủ, không đối đãi, không chấp trước, không hành động, như vậy, tất cả đều vô sở hữu, trọn về nơi tịch diệt. Nghe rồi tin sâu chẳng nghi chẳng hủy báng. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ tám, vì có thể thành tựu tri giải viân mãn.
Ðại Bồ Tát khéo điều phục các căn như lý tu hành, hằng trụ chỉ quán tâm ý tịch tịnh, tất cả động niệm đều trọn chẳng phát khởi, vô ngã, vô
Ðại Bồ Tát thấy pháp duyên khởi nên thấy pháp thanh tịnh, vì thấy pháp thanh tịnh nên thấy quốc độ thanh tịnh, vì thấy quốc độ thanh tịnh nên thấy hư không thanh tịnh, vì thấy hư không thanh tịnh nên thấy pháp giới thanh tịnh, vì thấy pháp giới thanh tịnh nên thấy trí huệ thanh tịnh. Ðây là công cụ trợ đạo trí huệ thứ mười của Bồ Tát, vì tu hành tích tập nhứt thiết trí.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp này thời được trí huệ vi diệu thanh tịnh vô ngại nơi tất cả pháp của Ðức Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười minh túc:
Minh túc, khéo phân biệt các pháp. Minh túc, chẳng chấp trước các pháp. Minh túc, lìa điên đảo
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại quang minh vô thượng nơi tất cả Phật pháp của Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười điều cầu pháp:
Trực tâm cầu pháp, vì không dua nịnh phỉnh phờ. Tinh tấn cầu pháp, vì xa lìa lười biếng khinh mạn. Nhứt hướng cầu pháp, vì chẳng tiếc thân mạng. Vì trừ phiền não cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng vì danh lợi cung kính. Vì lợi ích mình và người tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng riêng tự lợi. Vì nhập trí huệ mà cầu pháp, vì chẳng thích văn tự. Vì thoát khỏi sanh tử mà cầu pháp, vì chẳng tham thế lạc. Vì độ chúng sanh mà cầu pháp, vì phát Bồ đề tâm. Vì dứt nghi cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì làm cho họ không do dự. Vì đầy đủ Phật pháp mà cầu pháp, vì chẳng thích những thừa khác.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười pháp minh liễu:
Tùy thuận thế tục sanh trưởng thiện căn, đây là minh liễu pháp của hàng phàm phu mới vào đạo. Ðược bất hoại tín vô ngại, tỏ ngộ tự tánh của các pháp, đây là minh liễu pháp của hàng Tùy tín. Siêng tu tập chánh pháp, tùy thuận chánh pháp mà an trụ, đây là minh liễu pháp của hàng Tùy pháp hành. Xa lìa bát tà, hướng về Bát chánh đạo, đây là minh liễu pháp của hàng thứ Tám. Trừ diệt những kiết sử, dứt lậu sanh tử thấy chơn thiệt đế, đây là minh liễu pháp của hàng Tu đà hoàn. Quán sát ham muốn là họa hoạn, biết không qua lại, đây là minh liễu pháp của bậc Tư đà hàm. Chẳng luyến tam giới, cầu hết hữu lậu, đối với pháp thọ sanh, nhẫn đến chẳng sanh một niệm ái trước, đây là minh liễu pháp của bậc A na hàm. Chứng lục thần thông, được bát giải thoát, cửu định, tứ biện tài thảy đều thành tựu, đây là minh liễu pháp của bậc A la hán. Tánh thích quán sát nhứt vị duyên khởi, tâm thường tịch tịnh, tri túc, ít việc, tỏ ngộ do mình được chẳng do người, thành tựu các môn thần thông trí huệ, đây là minh liễu pháp của bậc Bích Chi Phật. Trí huệ rộng lớn, các
Nếu chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được đại trí nhơn minh liễu pháp vô thượng của Ðức Như Lai.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười pháp tu hành:
Cung kính tôn trọng chư Thiện tri thức, là pháp tu hành của Bồ Tát. Thường làm chư Thiên giác ngộ, là pháp tu hành của Bồ Tát. Ðối với chư Phật thường có lòng tàm quý, là pháp tu hành của Bồ Tát. Thương xót chúng sanh chẳng bỏ sanh tử, là pháp tu hành của Bồ Tát. Công việc tất làm đến rốt ráo tâm không biến động, là pháp tu hành của Bồ Tát. Chuyên niệm theo dõi chúng Bồ Tát phát tâm Ðại thừa tinh cần tu học, là pháp tu hành của Bồ Tát. Xa lìa tà kiến siêng cầu chánh đạo, là pháp tu hành của Bồ Tát. Dẹp phá chúng ma và nghiệp phiền não, là pháp tu hành của Bồ Tát. Biết các chúng sanh căn tánh thắng liệt mà vì họ thuyết pháp cho họ an trụ nơi Phật địa, là pháp tu hành của Bồ Tát. An trụ pháp giới quảng đại vô biên, diệt trừ phiền não cho thân thanh tịnh, là pháp tu hành của Bồ Tát.
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp tu hành vô thượng của Như Lai.
Ngũ uẩn ma, vì sanh các chấp thủ. Phiền não ma, vì hằng tạp nhiễm. Nghiệp ma, vì hay chướng ngại. Tâm ma, vì khởi cao mạn. Tử ma, vì bỏ chỗ sanh. Thiên ma, vì tự kiêu căn phóng túng. Thiện căn ma, vì hằng chấp thủ. Tam muội ma, vì từ lâu say đắm. Thiện tri thức ma, vì phát khởi tâm chấp trước. Bồ đề pháp trí ma, vì chẳng nguyện xả lìa.
Ðại Bồ Tát phải dùng phương tiện mau cầu xa rời mười thứ ma này.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười thứ ma nghiệp:
Quên mất Bồ đề tâm tu các thiện căn, đây là ma nghiệp.
Ác tâm bố thí, sân tâm trì giới, bỏ người tánh ác, xa kẻ lười biếng, khinh mạn kẻ loạn ý, cơ hiềm người ác huệ, đây là ma nghiệp.
Nơi pháp thậm thâm tâm sanh xan lẫn, có người kham được hóa độ mà chẳng vì họ thuyết pháp. Nếu được tài lợi cung kính cúng dường, dầu chẳng phải pháp khí mà cũng gượng vì họ thuyết pháp. Ðây là ma nghiệp.
Chẳng thích lắng nghe các môn Ba la mật, giả sử nghe nói mà chẳng tu hành, dầu cũng tu hành
Xa thiện tri thức, gần ác tri thức, thích cầu Nhị thừa, chẳng thích thọ sanh, chỉ chuộng Niết Bàn ly dục tịch tịnh. Ðây là ma nghiệp.
Ở chỗ Bồ Tát, khởi tâm sân hận ác nhãn nhìn ngó tìm cầu tội hở để nói kể lỗi lầm, ngăn dứt tài lợi cúng dường. Ðây là ma nghiệp.
Phỉ báng chánh pháp chẳng thích lắng nghe, giả sử được nghe liền sanh lòng chê bai, thấy người thuyết pháp chẳng sanh lòng tôn trọng, cho lời mình nói là phải, lời của người là quấy. Ðây là ma nghiệp.
Thích học thế luận xảo thuật văn từ, khai xiển thâm pháp ẩn phú của Nhị thừa, hoặc dùng diệu nghĩa truyền dạy cho người chẳng đáng dạy, xa rời Bồ đề, trụ nơi tà đạo. Ðây là ma nghiệp.
Người đã được giải thoát đã được an ổn thời thường thích gần gũi mà cúng dường. Người chưa giải thoát chưa an ổn thời chẳng chịu thân cận, cũng chẳng giáo hoá. Ðây là ma nghiệp.
Thêm lớn ngã mạn không cung kính. Với các chúng sanh làm nhiều sự não hại, chẳng cầu
Chư Bồ Tát phải mau xa lìa mười ma nghiệp này mà siêng cầu Phật nghiệp.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười điều bỏ rời ma nghiệp:
Gần thiện tri thức cung kính cúng dường. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Chẳng tụ cao tự đại, chẳng tự khen ngợi. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Nơi thâm pháp của Phật tin hiểu chẳng chê. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Chưa từng quên mất tâm nhứt thiết trí. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Siêng tu diệu hạnh hằng chẳng phóng dật. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Thường cầu tất cả pháp Bồ Tát tạng. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Hằng diễn thuyết chánh pháp tâm không mỏi nhọc. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Quy y tất cả chư Phật mười phương, phát khởi tưởng niệm được cứu hộ. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Tin thọ ức niệm tất cả chư Phật thần lực gia trì. Ðây là bỏ rời ma nghiệp. Cùng tất cả Bồ Tát đồng gieo căn lành bình đẳng không hai. Ðây là bỏ rời ma nghiệp.
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười pháp này thời có thể ra khỏi tất cả ma đạo.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười môn kiến Phật:
Nếu chư Bồ Tát an trụ mười môn kiến Phật này thời thường được thấy Ðức Như Lai vô thượng.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười Phật nghiệp:
Tùy thời tiết để khai đạo, là Phật nghiệp, vì làm cho tu hành Chánh pháp.
Trong chiêm bao khiến thấy, là Phật nghiệp, vì giác ngộ thiện căn thưở xưa.
Vì người mà diễn thuyết kinh chưa được nghe, là Phật nghiệp, vì làm cho sanh trí dừt nghi.
Vì người ăn năn bị kiết sử triền phược mà nói pháp xuất ly, là Phật nghiệp, vì làm cho lìa tâm nghi.
Nếu có chúng sanh khởi tâm xan lẫn nhẫn đến khởi tâm ác huệ, tâm Nhị thừa, tâm tổn hại, tâm nghi hoặc, tâm tán động, tâm kiêu mạn, Bồ Tát vì
Lúc khó gặp Chánh pháp, vì họ mà rộng thuyết pháp, làm cho họ nghe xong được trí Ðà la ni, trí thần thông, khắp có thể lợi ích vô lượng chúng sanh, là Phật nghiệp, vì thắng giải thanh tịnh.
Nếu có ma sự khởi lên, có thể dùng phương tiện hiện tiếng khắp hư không giới thuyết pháp chẳng tổn não người khác, dùng đây để đối trị làm cho họ được khai ngộ. Chúng ma nghe xong, oai quang tắt mất. Ðây là Phật nghiệp, vì chí thích oai đức lớn thù thắng.
Tâm Bồ Tát không xen hở thường tự giữ gìn, chẳng cho chứng nhập chánh vị Nhị thừa. Nếu có chúng sanh căn tánh chưa thành thục thời trọn chẳng vì họ mà nói cảnh giới giải thoát. Ðây là Phật nghiệp vì bổn nguyện mà làm.
Sanh tử kiết lậu tất cả đều lìa, tu hạnh Bồ Tát nối tiếp chẳng dứt, dùnh tâm đại bi nhiếp thủ chúng sanh làm cho họ khởi hạnh rốt ráo giải thoát. Ðây là Phật nghiệp, vì chẳng dứt tu hành hạnh Bồ Tát.
Ðại Bồ Tát thấu rõ tự thân cùng với chúng sanh bổn lai tịch diệt, chẳng kinh sợ, mà siêng tu phước trí không nhàm dủ. Dầu biết tất cả Pháp không tạo
Nếu chư Bồ Tát an trụ trong mười Phật nghiệp này, thời được nghiệp quảng đại vô thượng vô sư chẳng do người dạy.
Chư Phật tử ! Ðại Bồ Tát có mười nghiệp khinh mạn:
Ðối với Sư, Tăng, Cha, Mẹ, Sa Môn, Bà La Môn trụ nơi chánh đạo hoặc hướng chánh đạo, là
Hoặc có Pháp Sư được pháp tối thắng ngồi Ðại thừa, biết đạo xuất yếu đắc đà la ni, diễn thuyết pháp quảng đại trong khế kinh không thôi nghỉ. Mà đối với bực ấy phát khởi tâm cao mạn và đối với pháp của bực ấy giảng nói chẳng có lòng cung kính. Ðây là mạn nghiệp.
Ở trong chúng hội nghe thuyết diệu pháp chẳng chịu khen là hay cho người khác tin thọ. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Ưa sanh lòng quá mạn, tự cao ngạo lấn người, chẳng thấy mình lỗi, chẳng biết mình dở. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Ưa sanh lòng quá quá mạn, thấy có đức hạng đáng tán thán không tán thán, nghe người khác tán thán sanh lòng không vui.
Ưa sanh lòng quá quá mạn, thấy có Pháp Sư và người thuyết pháp, biết là pháp, là luật, là chơn thiệt, là lời Phật, mà vì ghét người nên cũng ghét pháp, tự mình hủy báng cũng bảo người hủy báng. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Tự cầu tòa cao, tự xưng Pháp Sư, ưng thọ người cung cấp, chẳng ưng chấp sự. Thấy bực kỳ cựu người tu hành lâu, chẳng chịu đứng dậy tiếp rước,
Thấy người có đức thời nhíu mày chẳng vui, nói lời thô lỗ tìm tòi lỗi lầm của bực ấy. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Thấy có người thông minh biết chánh pháp, chẳng chịu gần gũi cung kính cúng dường, chẳng chịu hỏi han gì là thiện, gì là bất thiện, những gì nên làm, những gì chẳng nên làm, làm những công hạnh gì mà được mãi mãi lợi ích an lạc. Là kẻ ngu si ngoan cố chìm trong ngã mạn, trọn không thấy được đạo xuất yếu. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Lại có chúng sanh tâm khinh mạn che đậy, chư Phật xuất thế chẳng có thể thân cận cung kính cúng dường, thiện căn mới chẳng sanh, thiện căn cũ tiêu mất, chẳng nên nói lại nói, chẳng nên cãi lại cãi. Ở vị lai tất cả phải đọa hầm sâu hiểm nạn trong trăm ngàn kiếp còn chẳng gặp Phật huống là được nghe pháp. Chỉ do từ trước đã từng phát Bồ đề tâm nên trọn tự tỉnh ngộ. Ðây là nghiệp khinh mạn.
Nếu chư Bồ Tát lìa mười mạn nghiệp này thời được mười trí nghiệp. Ðây là mười trí nghiệp:
Tin hiểu nghiệp báo chẳng hoại nhơn quả. Ðây là trí nghiệp.
Gần thiện tri thức cung kính cúng dường hết lòng tôn trọng, trọn không chán không lười. Ðây là trí nghiệp.
Thích pháp thích nghĩa không nhàm đủ, xa lìa tà niệm, siêng tu chánh niệm. Ðây là trí nghiệp.
Ðối với tất cả chúng sanh, lìa ngã mạn. Ðối với chư Bồ Tát tưởng như Phật. Mến trọng chánh pháp chẳng tiếc thân mình. Tôn thờ Như Lai như hộ mạng mình. Với người tu hành tưởng là Phật. Ðây là trí nghiệp.
Ba nghiệp thân, khẩu và ý không có sự bất thiện, ca ngợi bực Hiền Thánh, tùy thuận Bồ đề. Ðây là trí nghiệp.
Chẳng hoại duyên khởi, lìa những tà kiến phá si ám được sáng suốt chiếu rõ tất cả pháp. Ðây là trí nghiệp.
Mười môn hồi hướng tùy thuận tu hành. Nơi các môn Ba la mật tưởng là từ mẫu. Nơi thiện xảo phương tiện tưởng là từ phụ. Dùng tâm thâm tịnh nhập nhà Bồ đề. Ðây là trí nghiệp.
Thí, giới, đa văn, chỉ, quán, phước và huệ, tất cả pháp trợ đạo như vậy thường siêng chứa nhóm không nhàm, không mỏi. Ðây là trí nghiệp.