Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Giáo Dục Phật Giáo Và Chương Trình Đại Học

Giáo Dục Phật Giáo Và Chương Trình Đại Học

Tác giả: TT.TS. Thích Nhật Từ - TT.TS. Thích Đức Thiên. Năm xuất bản: 2014. Số trang: 348.

Chương 23: Đề Dẫn (Trang 337 - 348)

ĐỀ DẪN*
Trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi lớn trong việc hoàn thành những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (MDGs) ở nhiều nước đang phát triển như được thể hiện trong báo cáo gần đây nhất năm 2013. Bản chất của những thay đổi này và những vấn đề chúng đặt ra đối với sự đóng góp của Phật giáo là những mối quan tâm chủ đạo của quyển sách này. Những cuốn sách trước đây đã cho thấy làm thế nào mà một phần phản ứng của Phật giáo liên quan đến sự biến đổi xã hội là nhận thức thay đổi về vai trò đóng góp của phương pháp tiếp cận Phật giáo.
Trong khi thực hiện các MDGs, người ta dần dần thừa nhận rằng Phật giáo nên đóng một vai trò nào đó trong việc giải quyết những vấn đề xã hội và trong việc tạo ra những công dân có trách nhiệm. Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quá trình này là sự can thiệp của Phật giáo trong lĩnh vực giáo dục. Cuốn sách này khảo cứu cách thức mà giáo dục Phật giáo và chương trình học bậc Đại học như là giải pháp cho những vấn đề về hiệu quả và đạo đức trong hệ thống giáo dục quốc gia trên toàn cầu.
Rõ ràng, ở một số quốc gia, đề xuất này được nhìn nhận như một sự cảnh báo quan trọng, vì phương pháp giáo dục Phật giáo xuất hiện
__________________
* Thích Nữ Như Nguyệt dịch
vào thời điểm khi cải cách giáo dục trở nên thiết yếu cho tương lai của đất nước. Nền tảng đạo đức của gia đình hạnh phúc và tình thân ái trong xã hội, sự đấu tranh vượt qua tập cấp xã hội bằng phương pháp hòa bình và sự trổi dậy của lòng từ bi xã hội và bất bạo động. đóng vai trò quan trọng trong phương pháp tiếp cận của giáo dục Phật giáo.
Vì lý do này, quyển sách này đề cập tới một khía cạnh cơ bản của những cải cách này: Giáo dục Phật giáo và Chương trình ở bậc Đại học (Buddhist Education and University Level Curriculum). Quyển sách này phân tích những cách thức mà các MDGs đã được lồng ghép vào những nỗ lực cải cách của hệ thống giáo dục quốc gia.
Khi chúng tôi biện luận rằng sự can thiệp gia tăng của Phật giáo trong giáo dục nằm ở tâm điểm của những tiến trình này, chúng tôi đề nghị các tác giả nhìn lại việc thực hiện hệ thống giáo dục công dân trong quá khứ và cho chúng ta biết hệ thống giáo dục thế tục đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành ở mức độ nào và như thế nào. Trong khi làm như vậy, các học giả cũng đánh giá tiềm năng của phương pháp Phật giáo đối với đối với vấn đề trên. Quyển sách này phản ánh sự trải nghiệm chung của các tác giả trên cương vị những học giả Phật giáo và những chuyên gia về cải cách giáo dục. Họ giúp chúng ta hiểu làm thế nào mà phương pháp Phật giáo có thể đóng góp vào sự thay đổi của hệ thống giáo dục.
Dựa trên một loạt nghiên cứu trường hợp đề cập đến phương pháp tiếp cận Phật giáo trong những cải cách đương đại ở một vài nước Phật giáo, quyển sách này tháo gỡ sự đan cài giữa mục đích tâm linh và mục đích thế tục của giáo dục. Quan trọng nhất, các tác giả đưa ra những gợi ý về sự thay đổi trong các chương trình và chính sách giáo dục, đặc biệt là chương trình ở bậc đại học, sẽ góp phần cải thiện chất lượng giáo dục ở những quốc gia sẵn đang dành nguồn lực Phật giáo để thực hiện chúng.
Bối cảnh vấn đề
Quyển sách này tập hợp một số bài nghiên cứu được trình bày tại diễn đàn quốc tế về Giáo dục Phật giáo và Chương trình ở bậc Đại học (Buddhist Education and University Level Curriculum,) diễn ra vào ngày Đại lễ Vesak LHQ 2014 tại Việt Nam. Hầu hết những bài viết này
đã được biên tập, để có thể bao gồm những phản hồi nhận được trong ngày diễn đàn.
Nhóm nghiên cứu tham gia tại workshop này chắc chắn không phải là đại diện của tư tưởng chính thống hay trí tuệ truyền thống của lĩnh vực này, mặc dù cuốn sách này phản ánh sự phong phú và đa dạng của nó. Từ kinh nghiệm đáng kể trong nghiên cứu, chắc hẳn tất cả những người tham dự đều chia sẻ một trong những giả định quan trọng nhất: Nguồn giáo dục Phật giáo mang tính thế tục, sáng tạo và phù hợp với động lực then chốt của những mục tiêu MDGs đang tiến triển hiện nay, đặc biệt là đối với những cải cách đương đại của hệ thống giáo dục quốc gia. Đề xuất đối với phương pháp tiếp cận Phật giáo có tiềm năng mang lại sự chuyển đổi. Nó xuất hiện vào thời điểm khi cải cách của hệ thống giáo dục đương đại của tất cả các nước đang càng ngày càng bị xuống cấp bởi sự gián đoạn, kém hiệu quả và sự tình trạng trì trệ về chính sách kéo dài.
Tóm tắt nội dung
Quyển sách này bao gồm hai phần. Phần thứ nhất đề cập đến những khía cạnh lý thuyết của giáo dục Phật giáo.
Ở Chương 1, GS. TS. Padmasiri de Silva đề cập đến vấn đề: Tích hợp việc thực hành Thiền vào Chương trình ở bậc Đại học: Thúc đẩy sự khoan dung và đồng cảm trong bối cảnh đa văn hóa và đa tín ngưỡng (Integrating Mindfulness Practice to University Level Curriculum: Promoting tolerance and empathy in a multi-cultural and multi faith setting). Dựa vào sự hiểu biết về truyền thống thiền và nền tảng nhận thức luận về tri thức thiền, tác giả phát triển một nền đạo đức học thiền và phương pháp trị liệu bằng thiền và phương pháp trị liệu dựa trên chánh định. Những mối quan tâm chủ đạo của bài viết này như sau: chánh niệm (mindfulness) đang càng ngày càng được sử dụng nhiều trong các môi trường giáo dục. Mục đích của việc dạy chính niệm là nhằm bổ sung chứ không phải thay thể những kỹ năng của sự suy luận logic, biện luận và nghiên cứu thống kê và thực nghiệm bằng một mô hình của sự tập trung lắng nghe, tự nhận thức, tự phản ánh và khía cạnh thực nghiệm trong học tập. Ông ủng hộ những mục tiêu hiệu quả cần được thực hiện, bao gồm làm thế nào để học tập hiệu quả hơn, phát triển nhân cách, nâng cao sức khỏe thể chất và tình cảm
và đối phó với việc học tập và các kỳ thi ở bất cứ môn nào. Quan trọng nhất, ông cũng chỉ ra cách phát triển sự đồng cảm và những mối quan hệ giữa các nhóm.
Ở Chương 2, TT. Polgaswatte Paramananda đặt câu hỏi: Làm thế nào để sử dụng những khái niệm giáo dục Phật giáo để xây dựng chương trình ở bậc đại học (How to use the Buddhist education concepts in making a university level curriculum). Tác giả phàn nàn rằng hệ thống giáo dục hiện đại đã thất bại trong việc truyền cảm hứng về những giá trị đạo đức đối với sinh viên. Đối mặt với thách thức này, ông cố gắng phân tích phương pháp luận của Đức Phật về việc dạy chánh pháp bằng cách nhắc đến một số ví dụ quan trọng để làm sáng tỏ những bài học đạo đức của giáo dục Phật giáo.
Ở Chương 3, TS. Hudaya Kandahjaya phân tích Đóng góp có thể thực hiện được của Phật giáo đối với việc học phổ cập vì sự phát triển toàn cầu (Viable Buddhist Contribution to Universal Learning for Global Development). Tác giả lưu ý rằng bị thách thức bởi cuộc khủng hoảng về học vấn toàn cầu, UNESCO đã đưa ra khuyến nghị nhằm xây dựng sự đồng thuận đối với việc học phổ cập. Bằng việc theo đuổi chiến lược này, chúng ta có thể hoàn thành những mục tiêu về giáo dục của thế kỷ 21. Tuy nhiên, quan điểm của ông là tính hiệu quả của hệ thống giáo dục thường được đo bằng sự tiến bộ của xã hội so với sức mạnh của nguồn nhân lực xã hội. Ông biện luận rằng trong sự lựa chọn việc học về tâm linh thì bên cạnh việc học chính quy và thế tục, giáo dục thuộc chính thể luận (holistic) có thể giúp xã hội tạo ra hạnh phúc về tâm linh bổ sung cho sự giàu có về thể chất. Dưới ánh sáng này, Phật giáo trên thực tế có thể cung cấp không chỉ mô hình thay thế mà còn là một phương thức làm việc hiệu quả mà theo đó một xã hội có thể tạo nên sự tiến bộ cân bằng, về thể chất cũng như về tâm linh.
Ở Chương 4, TT. Dilbhadra Maharjan gợi ý một cách suy nghĩ mới về Giáo dục Phật giáo và Chương trình ở bậc Đại học (Buddhist Education and University Level Curriculum). Ông thảo luận sâu hơn về việc làm thế nào để áp dụng yêu cầu hiện nay của giáo dục Phật giáo vào chương trình ở bậc đại học. Từ góc nhìn của Phật giáo về giáo dục như thế, ông cho rằng chương trình ở bậc đại học Phật giáo nên được phát triển bằng hệ thống giáo dục của nhà nước. Quan điểm của ông là có bốn cách để tuân theo: vấn đề chủ đề, phương pháp giảng
dạy, mối quan hệ qua lại giữa giảng viên và sinh viên và mục đích cuối cùng nên giống nhau với mọi sinh viên thực hiện việc đào tạo về hành vi đạo đức trước khi họ tốt nghiệp. Ông hi vọng rằng nếu cách giáo dục này của Phật giáo được thực hiện thành công thì chúng ta có thể xây dựng một thế giới hòa bình và ổn định.
Ở Chương 5, TS. Chintala Venkata Sivasai so sánh Những cơ hội và Thách thức đối với Giáo dục Phật giáo và Ngành sư phạm ở Châu Âu và Ấn Độ (Opportunities and Challenges for Buddhist Education and Pedagogy in Europe and India). Tác giả đồng ý rằng thách thức đối với giáo dục Phật giáo ở châu Âu có vẻ như rất lớn. Vì vậy, khó có thể phát triển một khuôn mẫu về thể chế mà không có sự phân biệt giữa tôn giáo và học thuật. Khi làm như vậy, chúng ta cũng nên tránh việc nhấn mạnh một chiều vào việc đào tạo tri thức hay tâm linh, giúp gìn giữ tính toàn vẹn của kinh nghiệm con người. Theo nghĩa này, giáo dục Phật giáo là một chương trình giáo dục thuộc chính thể luận, dựa trên việc thực hành và sự áp dụng thực tế của Dhamma. Quan trọng nhất, giáo dục Phật giáo kêu gọi sự tự nỗ lực kiên trì và sự tự cam kết vững chắc không chỉ đối với việc học mà còn đối với việc tự rèn luyện bản thân một cách khéo léo về những lời dạy của Đức Phật, đồng thời khai thác mọi khả năng của con người - tình cảm cũng như trí tuệ và ý chí.
Ở Chương 6, TS. Saw Yee Mon tìm kiếm Tối ưu hóa những thành tựu tri thức bằng việc giới thiệu Giáo dục Phật giáo (Optimizing Intellectual Achievements by Introducing Buddhist Education). Ông nhận xét rằng cả trên lý thuyết và trong thực tế, chất xúc tác phổ biến và nổi trội nhất đối với sự phát triển chính là một nền giáo dục tốt. Ông đặt dấu hỏi: Một nền giáo dục tốt nghĩa là thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể phân phát một nền giáo dục tốt cho những người theo đuổi nó? Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá thành tựu của một nền giáo dục tốt? Nền giáo dục tốt có thể đóng góp cho nhu cầu của thế giới đầy thách thức hiện nay ở mức độ nào? Đây là những vấn đề cơ bản mà tác giả đề cập đến. Như một nghiên cứu trường hợp, ông tập trung vào kinh nghiệm giáo dục của Myanmar. Vì vậy, ông đề cập đến những thách thức mà các trường đại học ở Myanmar phải đối mặt chẳng hạn như việc duy chì chuẩn nghiên cứu và học thuật cao, chất lượng giảng viên, sự công nhận quốc tế và sự tự do tri thức. Do đó, ông nhấn mạnh việc áp dụng nền Giáo dục Phật giáo xuyên biên giới quốc gia và những ranh giới khác để có thể đóng góp tốt hơn cho việc
hoàn thành các mục tiêu MDGs.
Ở Chương 7, TS. Praneeth Abayasundera đề cập tới Đóng góp về tổ chức của Phật giáo đối với việc hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ về giáo dục tiểu học phổ cập; một nghiên cứu về những chương trình phát triển trẻ em do Giáo hội Ceylon thực hiện ở Sri Lanka (Buddhist organizational contribution to the achievement of UN millennium development goal of universal primary education; a study on the child development programs conducted by the All Ceylon Buddhist Congress in Sri Lanka). Ông quan tâm đến việc chăm sóc trẻ em và vai trò của giáo dục được thực hiện bởi Giáo hội Phật giáo Ceylon (All Ceylon Buddhist Congress (ACBC). Những trung tâm phát triển trẻ em của ACBC cung cấp giáo dục tiểu học và cơ sở cho hơn 800 trẻ em. Mẫu nghiên cứu được thực hiện với 5 trung tâm gồm 80 trẻ em. Tất cả trẻ em tìm kiếm sự chăm sóc của tổ chức sau khi bị tước bỏ sự chăm sóc của cha mẹ. Việc cung cấp những nhu cầu cơ bản, giáo dục tiểu học, phát triển các kỹ năng sống và nhân cách thấm nhuần giá trị Phật giáo, là những chức năng nổi bật. Như những kết quả nghiên cứu chỉ ra, hơn 65 % số trẻ em có sự tiến triển tốt. Theo đó, có thể kết luận rằng việc cung cấp giáo dục tiểu học cho những trẻ em ngoài lề xã hội có thể được thực hiện thành công thông qua sự can thiệp về mặt thể chế của các tổ chức Phật giáo...
Ở Chương 8, TS. J. Abraham Vélez de Cea xem xét vấn đề Chánh định vì các mục đích thế tục: sự bóp méo hay sự thích ứng những lời dạy của Đức Phật (Mindfulness for secular purposes: distortion or adaptation of the Buddha’s teachings). Ông so sánh những khái niệm của Phật giáo và khái niệm thế tục về chánh định. Dựa trên những đặc điểm khác nhau này, ông cũng chỉ ra rằng các phương pháp thế tục đối với chánh định có thể là một sự bóp méo hoặc là một sự thích ứng với những lời dạy của Đức Phật. Nó chủ yếu phụ thuộc vào cách mà chánh định được dạy trong mối quan hệ với chánh định của Phật giáo. Cuối cùng, ông khuyến khích Phật tử từ tất cả các nước và các truyền thống nghiên cứu cả phương pháp thế tục và phương pháp Phật giáo đối với chánh định. Và có lẽ điều cấp bách nhất, ông cho rằng chúng ta nên đóng một vai trò tích cực hơn trong quá trình tích hợp chánh định vào hệ thống giáo dục.
Ở Chương 9, Tiến sĩ Maurits Kwee khám phá vấn đề: Chương
trình giảng dạy về tâm lý học và trị liệu/huấn luyện (Curriculum on Buddhist Psychology and Therapy/Coaching). Tác giả cho rằng chủ đề tâm lý học Phật giáo tương đối thiếu trong các sách giáo khoa được sử dụng trong các chương trình ở bậc đại học; hơn nữa, thuật ngữ tâm lý học trị liệu rõ ràng vắng bóng. Quan điểm của ông là phương pháp trị liệu Phật giáo nghe có vẻ như là người đồng sang kỳ lạ kết hợp với Phật giáo. Ông giải thích rằng điều này có thể là do bản chất của khái niệm tâm trí, là thứ bị rút phép thông công trong một giáo lý thừa nhận tính trống rỗng của bản ngã. Ông đặt dấu hỏi: Tâm lý học trị liệu Phật giáo có thể là cái gì? Tác giả giới thiệu tài liệu tích hợp đầu tiên về tâm lý học trị liệu và huấn luyện Phật giáo thông qua cuốn sách của ông tựa đề Tâm lý học trị liệu bằng việc chuyển đổi nghiệp (Psychotherapy by Karma Transformation). Gợi ý của ông là một bức khảm hướng về thực hành những nguyên tắc Phật giáo và Trị liệu Hành vi Cảm xúc Lý trí (Rational Emotive Behavior Therapy). Cơ sở của Chuyển đổi Karma là một phương pháp trị liệu Phật giáo có dấu hiệu của hành vi - nhận thức.
Ở Chương 10, TT.TS. Thích Viên Trí so sánh Giáo dục và Giáo dục Phật giáo (Education and Buddhist Education) như câu hỏi nghiên cứu của mình. Trước tiên, ông cho rằng giáo dục là nền tảng căn bản của nền văn hóa dân tộc và tiến trình phát triển của mọi xã hội. Tất cả những thành tựu về vật chất và tinh thần có thể được thấy là đã bắt nguồn từ những hệ thống giáo dục hiện có và triết học của những nước đang phát triển. Tuy nhiên, chúng cũng đã cho thấy một số dấu hiệu của sự mất cân bằng gây nên những cuộc khủng hoảng liên quan đến đời sống của con người và tự nhiên. Dựa trên lý thuyết của Phật giáo về Ngũ uẩn và Nhân duyên, ông kết luận rằng triết lý giáo dục Phật giáo trở thành một giải pháp cho những vấn đề của thế giới chúng ta hiện nay.
***
Ở phần hai của cuốn sách này, các tác giả tập trung nhiều hơn vào vấn đề cơ bản của Chương trình ở bậc Đại học Phật giáo.
Ở Chương 11, Tiến sĩ W. M. Dhanapala xem xét Một nghiên cứu về vai trò của giáo dục trường Dhamma Phật giáo trong việc đối phó với những vấn đề của việc hoàn thành những mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ ở Sri Lanka (A study of the role of Buddhist Dhamma school education in dealing with the issues of achieving millennium development goals in Sri Lanka). Bài viết này đề cập đến những vấn đề liên quan đến chất lượng của việc hoàn thành các mục tiêu MDGs, và việc xác định những chiến lược mới có khả năng đạt được những mục tiêu về phát triển bền vững trong tương lai. Trong khi thảo luận những vấn đề về việc hoàn thành các MDG ở Sri Lanka, ông tập trung vào vai trò mà hệ thống trường Dhamma Phật giáo Chủ nhật có thể đóng góp trong việc đối phó với những vấn đề còn tồn đọng của việc hoàn thành các MDG và củng cố tính bền vững của chúng. 100 sinh viên tham dự một trường Dhamma được lựa chọn ở Colombo làm mẫu nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh hình thức phỏng vấn, nghiên cứu này có quan sát sự thay đổi mà họ đã trải qua cùng với các thành viên của gia đình họ.
Ở Chương 12, Đại đức Juewei Shi thể hiện một dự án thú vị về thực tế: Giáo dục Sau đại học mang tính nhập thế: Biến tầm nhìn thành hiện thực ở Học viện Nam Thiên (Engaged and Engaging Postgraduate Education: Turning Vision into Reality in Nan Tien Institute). Học viện Nan Tien (NTI) là thể chế cấp ba đầu tiên của Australia dựa trên trí tuệ Phật giáo ứng dụng. Là một thể chế khuyến khích việc tìm hiểu và nhạy bén với các vấn đề thế giới và hành trình quán chiếu nội tâm và tu tập để cải thiện xã hội nơi mà các sinh viên đó sinh sống, NTI cho rằng sự thay đổi xã hội và sự thay đổi bên trong là không thể tách rời. Chương trình bao gồm nền giáo dục bậc sau đại học, giúp những người tham gia nhận thức được những vấn đề toàn cầu và tìm kiếm giải pháp, bắt đầu từ việc thay đổi bản thân về mặt tư duy, tình cảm và trí tuệ. Một chương trình giảng dạy dựa trên trí tuệ và giá trị Phật giáo nuôi dưỡng những công dân toàn cầu có trách nhiệm và chu đáo, giúp kết nối giới học thuật và “thế giới thực sự”, để truyền cảm hứng cho sinh viên theo đuổi một mục đích lớn hơn bản ngã và xây dựng một xã hội hòa bình, thịnh vượng và công bằng hơn.
Ở Chương 13, nhóm nghiên cứu gồm M. A. Latifah, A.Budiyanto và Metta Pupita hướng sự chú ý của độc giả đến những vấn đề cụ thể: Phật pháp của hi vọng: Kinh nghiệm của Trường Phật giáo Kertarajasa (The Dhamma of Hope: Kertarajasa Buddhist College’s Experience). Các tác giả đồng ý rằng đối với việc giải quyết vấn đề chất lượng giáo dục, những trường nhánh về tôn giáo, đặc biệt là Trường Phật giáo,
đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cộng đồng nhận được giáo dục bậc cao hơn thông qua việc tham gia trực tiếp vào cộng đồng. Bằng sự tham gia của Sangha và cộng đồng, sự tồn tại của Trường Phật giáo Kertarjasa là một nỗ lực nhằm cải thiện đạo đức huấn luyện học, đạo đức và tinh thần Phật giáo Indonesia và Phật giáo Java nói riêng. Bằng việc tập trung vào Trường Phật giáo Kertarajasa và sử dụng nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu và quan sát trực tiếp trên cương vị giáo viên của Trường, các tác giả thảo luận nhiều khía cạnh của những thứ được bao hàm trong sự tham gia của cộng đồng trong giáo dục và tiến trình diễn ra như thế nào được nhìn nhận đặc biệt thông qua góc nhìn của những sinh viên (cựu sinh viên) và những người giữ tiền đặt cược của Trường.
Ở Chương 14, GS. Cho Cho Aung đưa ra một cái nhìn khái quát về Đánh giá về Giáo dục Phật giáo và Chương trình của Trường Đại học Truyền giáo Phật giáo Nguyên thủy Quốc tế ở Myanmar (Evaluation on Buddhist Education and Curriculum of International Theravãda Buddhist Missionary University in Myanmar). Bà trình bày chi tiết sự phát triển lịch sử của hệ thống giáo dục ở Myanmar. Bà nhận xét rằng mặc dù có năm trường đại học Phật giáo ở Myanmar nhưng Trường Đại học Truyền giáo Phật giáo Tiểu thừa Quốc tế là trường duy nhất nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của chính phủ. Trong ánh sáng này, bà khai thác vắn tắt hệ thống giáo dục Phật giáo và điều tra và đánh giá Chương trình của Trường Đại học Truyền giáo Phật giáo Tiểu thừa Quốc tế (ITBMU). Nó sẽ bao gồm mục tiêu, các khoa, các khóa cấp văn bằng, chương trình cử nhân, chương trình cao học, chương trình tiến sĩ trao chứng chỉ và bằng cấp, hệ thống tín chỉ v.v. Về phương pháp luận, cả nguồn tài liệu gốc và tài liệu thứ cấp đều được sử dụng. Bà kết luận rằng để thúc đẩy tư duy sáng tạo trong quá trình giảng dạy và học tập thì giáo viên nên tự đánh giá bản thân và sau đó đánh giá sinh viên.
Ở Chương 15, TS. Leena Seneheweera tìm hiểu thêm chủ đề Giảng dạy và học tập Dhamma thông qua Những kiểu mẫu Kiến trúc trong các Tu viện Phật giáo ở Sri Lanka như được nhấn mạnh trong Chương trình ở bậc đại học (Teaching and Learning the Dhamma through Architectural Designs in the Buddhist Monasteries of Sri Lanka as Focused in the Undergraduate Curriculum). Những tu viện cổ đại ở Anuradhapura cung cấp tài liệu nghe nhìn đáng kể cho việc dạy và
việc học Dhamma của cộng đồng trường đại học và toàn thể xã hội. Nó giảng dạy về sự soi sáng của Phật giáo thông qua những đơn vị cấu trúc, vị trí của tu viện, mối quan hệ của mỗi cấu trúc, mô hình hình học hay mô hình đối xứng và sự sắp xếp của mục đích kiến trúc đối với Phật giáo và nhu cầu xã hội v.v.
Ở Chương 16, Sermsap Vorapanya và Diane Dunlap xem xét Hệ tư tưởng Phật giáo đối với Trẻ em khuyết tật ở Thái Lan: Thông qua lăng kính của những Hiệu trưởng Trường hòa nhập (Buddhist Ideology towards Children with Disabilities in Thailand: Through the Lens of Inclusive School Principals). Đây là một nghiên cứu trường hợp đề cập đến hệ thống giáo dục đặc biệt cho trẻ em khuyết tật. Mười trường học ở khu vực miền trung Thái Lan tham gia vào cuộc điều tra này. Những vấn đề chính của nghiên cứu này là: nhận thức của xã hội và văn hóa Thái Lan, dạy trẻ em có những nhu cầu đặc biệt: giá trị và thái độ, những tác động của văn hóa Thái đối với việc thực hành hòa nhập: góc nhìn Phật giáo và việc học về những khác biệt.
Ở Chương 17, Tammy Cheng đặt dấu hỏi Làm thế nào để vượt lên trên tính Nhị nguyên? (How to Transcend Duality?). Chúng sinh trưởng thành bằng việc phát triển những khái niệm nhị nguyên, một mặt cho phép họ công nhận mọi hiện tượng trong vũ trụ này nhưng mặt khác đánh lừa họ vào lối suy nghĩ về những mặt đối lập, xung đột và loại trừ lẫn nhau. Những bậc giác ngộ có khả năng vượt lên trên lối tư duy nhị nguyên này và họ đã đưa ra phương pháp vượt lên trên này ở chương đầu tiên của Kinh Lăng già, ở hai nơi trong Kinh Hoa Nghiêm, và ở chương cuối của Lục Tổ Đàn Kinh. Để đơn giản hóa việc hiểu những điều sâu sắc được giảng giải trong Hoa Nghiêm Kinh, bao gồm những số bình phương từ đơn vị 1 koti (10 triệu = 10,000,000 = 8 chữ số) đến đơn vị không thể đọc được (18609191940988822220653298843924824065 chữ số) trên 123 phép tính bình phương, chúng tôi giới thiệu ba mô đun (module) giảng dạy tiên quyết: (1) Mô đun Phát triển trẻ em; (2) Mô đun 10n+1; (3) Mô đun 102. Bài viết này nhấn mạnh lợi ích của việc dạy như thế này, bao gồm (1) Mở cửa tâm, (2) Vượt lên trên nhị nguyên, (3) Thực hành chánh niệm, (4) Thống nhất ba truyền thống, cụ thể là Avatamsaka (Hoa Nghiêm), Thiền và Bí truyền và (5) Chương trình tiên quyết đối với mọi chính trị gia và các nhà lãnh đạo nhằm nâng cao những kỹ năng
giải quyết xung đột cho họ.
Ở Chương 18, Thượng tọa Tapan Barua đánh giá Tác động của giáo dục ở Tu viện Phật giáo trong việc xóa bỏ đói nghèo: Một nghiên cứu so sánh giữa Sri Lanka và Bangladesh (Impact of Buddhist monastery- based education in the removal of poverty: A comparative study of Sri Lanka and Bangladesh). Sau khi trình bày ngắn gọn bối cảnh của hai quốc gia liên quan, ông so sánh một số vấn đề cơ bản: giáo dục tôn giáo và một số vấn đề về di cư trong nước và lựa chọn trường học, càng ít đặc ân - càng nhiều cơ hội được vào Sasana, xung đột của những nhu cầu, triển vọng của sự vân động và phát triển xã hội nhanh hơn và những giới hạn và thách thức của chính quyền. Cuối cùng, ông kết luận rằng giáo dục ở tu viện chủ yếu giới hạn trong một nhóm người nhất định, những người có sự tiếp cận rất hạn chế đối với những phương tiện hiện đại. Lãnh đạo Phật giáo của hai quốc gia này cần phải giải quyết vấn đề này. Bằng một kế hoạch thích hợp trên diện rộng toàn quốc, tôn giáo cũng có thể thúc đẩy đóng góp của mình trong sự phát triển của thế giới.
Ở Chương 19, GS. Bimalendra Kumar xem xét Mahavihara như là một Trung tâm của giáo dục Phật giáo cao cấp và Đạo đức học đạo đức. (Mahãvihãra as a Centre of Higher Buddhist Education and Moral Ethics). Ông đồng ý rằng có hai khía cạnh trong giáo lý Phật giáo khuyến khích sự phát triển của tư duy khoa học. Đặc điểm đầu tiên là tính duy lý và khía cạnh thứ hai là sự nhấn mạnh vào nguyên nhân trong Phật giáo. Sau khi thảo luận vấn đề chính của các tu viện như là những trung tâm của Pariyatti và Patipatti, ông kết luận rằng mahãvihãras, được phát triển thành phức hợp bao gồm vài vihãras hay nhà ở trở thành trung tâm giáo dục cấp cao nơi những học giả Phật giáo thông minh uyên bác thường cư trú. Những người mong muốn được dạy và rèn luyện thường gia nhập giáo dục bậc cao hơn. Hệ thống giáo dục thu được từ hệ thống giáo dục Phật giáo những vấn đề về mục tiêu của sự thịnh vượng thực sự và việc đạt được mục đích cuối cùng của cuộc đời.
Ở Chương 20, Santosh K. Gupta thảo luận Khía cạnh Phúc lợi Xã hội của Phật giáo Won ở Hàn Quốc hiện đại. Một vài Dòng tu Phật giáo và tổ chức Phật giáo ở Hàn Quốc đã đóng góp đáng kể cho xã hội Hàn Quốc hiện đại. Tuy nhiên, Phật giáo Won là tổ chức Phật giáo duy
nhất của Hàn Quốc có tên trong danh sách của “Liên Hiệp quốc” như là một tổ chức phi chính phủ Phật giáo (NGO). Phật giáo Won không giới hạn trong phạm vi những thực hành của tu viện; họ nhập thế sâu vào xã hội hiện đại của Hàn Quốc cũng như ở nước ngoài. Hơn nữa, sự trao quyền xã hội cho những người yếu thế là mục tiêu chính của Phật giáo Won, và họ đã và đang đóng vai trò quan trọng kể từ khi Phật giáo Won ra đời. Chương trình nghị sự xã hội của họ nhấn mạnh vào giáo dục và hạnh phúc của giới trẻ và những nhiệm vụ phúc lợi xã hội khác. Ông nhấn mạnh những nỗ lực về giáo dục, phúc lợi xã hội của giới trẻ và cơ chế hoạt động của nó. Ông cũng cố gắng xem xét có tính phê bình những mục tiêu của nỗ lực giáo dục và những chương trình phúc lợi trong khuôn khổ lịch sử. Ông đánh giá vai trò quan trọng của Phật giáo Won về giáo dục, trao quyền xã hội và sự hình thành của vốn xã hội ở Hàn Quốc.
TT.TS. Thích Nhật Từ
Phó Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM
Phó Tổng thư ký Đại lễ Vesak LHQ 2014
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »