Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Tác giả: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2003. Số trang: 163.

Chương 2: Lời Nói Đầu (Trang 5 - 10)

 
Lời nói đầu
 
          Kinh này là kinh thứ 16 trong tập Digha Nikaya (Trường bộ kinh), diễn tả những ngày cuối cùng của đức Phật và những lời di giáo của Ngài trước khi thị tịch. Sau 45 năm thuyết pháp, tự thấy đã già yếu và sống không bao lâu nữa, đức Phật tin trước ngày Nhập diệt ba tháng và dành những giờ phút cuối cùng căn dặn nhắc nhủ những giáo lý căn bản cho đệ tử xuất gia và tại gia của mình. Cứ đi theo cuộc hành trình cuối cùng của Ngài, chúng ta cũng cảm thấy tất cả sự nỗ lực của một Bậc Đạo sư dùng những ngày cuối cuộc đời của mình để phục vụ chúng sanh, không một phút ngừng nghỉ.
          Từ Vương-xá tại núi Linh-thứu, Ngài đi đến Ambalathika, Nalanda, Pataligama, Vesali, Beluva. Tại đây, đức Phật an cư trong ba tháng và viếng thăm đền Capala, giảng đường Kutagara ở Mahavana. Rồi Ngài đi đến Bhandagama, Hatthigama, Ambagama, Jambugama, Bhoganagara, Pava, và cuối cùng là Kusinara. Nhìn những hoạt động trong những ngày tháng cuối cùng, chúng ta càng rõ
tâm trạng của một vị Đạo sư, không nghĩ gì đến sức khỏe của mình, chỉ lo làm sao đệ tử của mình khỏi bơ vơ lạc lõng một khi mình không còn nữa để dạy bảo. Tại Vương-xá, vua Ajatasattu (A-xà-thế) cử vị Đại thần Vassakara đến yết kiến đức Phật để hỏi có nên cử quân tàn sát dân Vaiji hay không. Đức Phật không trả lời thẳng câu hỏi này, Ngài hỏi Đại đức Ananda về những đức tánh của dân Vaiji hiện tại và gián tiếp chỉ cho vua Ajatasattu thấy sự cường thịnh và hùng mạnh của nước Vajji.
          Ở đây, chúng ta thấy thái độ sáng suốt, hợp tình, hợp lý của Ngài. Nếu đức Phật khuyên vua Ajatasattu nên cử binh tàn sát dân Vaiji, thời như vậy đã trực tiếp khuyên nhà vua tàn hại sanh linh, trái hẳn với lòng từ bi của chính mình. Nếu đức Phật khuyên vua chớ có dấy binh đánh dân Vaiji, thời dân Vaiji có thể nổi lên cướp xứ Magadha và như vậy đức Phật gián tiếp chịu trách nhiệm về sự mất nước của nước Magadha. Đức Phật tránh hai cử chỉ trên, gián tiếp hỏi Đại đức Ananda về những đức tánh, đời sống, cách tổ chức của dân Vajji thường hay tụ họp đông đảo, tụ họp trong niệm đoàn kết, không ban hành những luật lệ không được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajji như đã ban hành thời xưa; tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc
Trưởng lão Vajji, nghe theo lời dạy của những vị này; không có bắt cóc và cưỡng ép phụ nữ, thiếu nữ Vajji phải sống với mình; tôn sùng, kính trọng, cúng dường các tự miếu của Vajji, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp; bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajji. Đại thần Vassakara vị sứ giả của vua Ajatasattu nghe Đại đức Ananda trình bày đời sống và những đức tánh của dân Vajji, nên Đại thần kết luận là không thể đánh bại dân Vajji ở chiến trận, và vua Ajatasattu lẽ dĩ nhiên không còn dám mưu toan thôn tính Vajji nữa. Thái độ sáng suốt và thận trọng của đức Phật khi được hỏi đến những vấn đề liên quan đến quân sự và chính trị là cả một sự khuyến cáo cho các vị Tỷ-kheo sau này, phải hết sức thận trọng khi được hỏi đến những vấn đề quân sự hay chính trị, kẻo tự mình phản lại giáo lý của đức Phật mà không hay.
          Luôn dịp đức Phật dạy những điều kiện căn bản để chúng Tỷ-kheo được cường thịnh, không bị suy giảm. Khi các vị Tỷ-kheo tụ họp đông đảo, làm việc Tăng sự, giải tán trong niệm đoàn kết, kính trọng, gìn giữ những luật lệ, những học giới ban hành trong giáo hội, kính trọng và nghe lời dạy các Tỷ-kheo Thượng tọa, không bị tham ái chi phối, an trú chánh niệm,
không thích thế sự, không ưa phiếm luận, không bạn bè với ác dục vọng...thời nhất định chúng Tỷ-kheo được cường thịnh, không bị suy giảm.
          Trong những ngày cuối cùng của Ngài, đức Phật nhắc đi nhắc lại những giáo lý chính yếu trong những lời dạy của Ngài. Tại Vương-xá, Ambalathika, Nadika, Kotigama, vườn Ambapali, Bhandagama, Hatthigama, Ambagama, Jambugama, Bhoganagara, đức Phật nhấn mạnh và nhắc lại nhiều lần ba pháp vô lậu học Giới, Định và Tuệ, đường hướng hay phương pháp tu hành căn bản của đạo Phật.
          Tại Kutagara, đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo nên khéo léo học hỏi, thực chứng, tu tập, truyền bá rộng rãi những pháp Ngài đã dạy trong khi sanh tiền vì hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh; và những pháp ấy là Bốn Niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn Như Ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ-đề phần và Tám Thánh đạo. Trước khi nhập diệt tại Kusinara, đức Phật tuyên bố hết sức rõ ràng là pháp luật nào có Tám Thánh đạo mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn và đệ tứ Sa-môn, ngoài Tám Thánh đạo ra không thể có Thánh quả, không thể có giải thoát.
          Tại Kotigama, đức Phật đề cập đến vấn đề nguyên nhân của sanh tử và tuyên bố với các vị Tỷ-
kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu bốn Thánh đế, Khổ, Tập, Diệt, Đạo mà đức Phật và tất cả chúng sanh phải luân hồi sanh tử.
          Tại Vadika, đức Thế Tôn giảng gương Chánh pháp; gương này soi sáng cho chúng ta thấy rõ khi chúng ta có Chánh Tín đối với Phật, Pháp, Tăng thời nhất định chúng ta không thác sanh vào ác đạo.
          Chính tại Beluva, khi đức Thế Tôn bị nhuốm bệnh, Ngài lại căn dặn một lần nữa, những lời dạy thật là khắc cốt ghi tâm : “Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài, vì này Ananda, đối với các Pháp, đức Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay...”
          “Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa nơi chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.”
          Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa tức là “đối với thân quán thân, tinh tấn, giác tỉnh, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ...đối với tâm...đối với pháp quán pháp, tinh tấn, giác tỉnh,
Hạnh
          chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời.”
          Và lời dạy cuối cùng của đức Phật, khi Ngài sắp nhập diệt là : “Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, hãy tinh tấn lên để tự giải thoát”.
 
                                                              Tỷ-kheo Thích Vạn Minh Châu
                                                                                             Viện trưởng
                                                                                Viện Đại học (1967)
/9
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »