Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Tác giả: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2003. Số trang: 163.

Chương 5: Tụng Phẩm Thứ Ba (Trang 56 - 83)

TỤNG PHẨM III

1.- Rồi đức Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y và bát, vào Vesali để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesali, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Ngài nói với Đại đức Ananda:
“Này Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến đến Capala để nghỉ trưa”.
- “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng đức Thế Tôn.
2. – Đức Thế Tôn đi đến đền Capala, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Đại đức Ananda đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda đang ngồi một bên:
“Này Ananda, khả ái thay Vesali, khả ái thay đền Udena, khả ái thay đền Gotamaka, khả ái thay đền Sattambaka, khả ái thay đền Bahuputta, khả ái thay đền Sarandada, khả ái thay đền Capala”.
3. – Này Ananda, những ai đã tu bốn Thầ túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến mốt kiếp hay một phần
 
 
kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
          4. – Nhưng Đại đức Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của đức Thế Tôn, Đại đức không thỉnh cầu đức Thế Tôn: “ Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp; Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Vì tâm Đại đức bị Ma vương ám ảnh.
          5. – Lần thứ hai, đức Thế Tôn... lần thứ ba đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda:
“ Này Ananda, khả ái thay Vesali, khả ái thay đền Udena, khả ái thay đền Gotamaka, khả ái thay đền Sattambaka, khả ái thay đền Bahuputta, khả ái thay đền Sarandada, khả ái thay đền Capala!
Này Ananda, những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này
Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
Nhưng Đại đức Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của đức Thế Tôn, Đại đức không thỉnh cầu đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp; Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Vì tâm Đại đức bị Ma vương ám ảnh.
6. – Rồi đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, hãy đi và làm những gì ngươi nghĩ là phải thời”.
“Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Thế Tôn và ra đi.
7. – Đại đức Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác Ma liền đến chỗ đức Thế Tôn, khi đến xong liền đứng
 
 
một bên. Sau khi đứng một bên, Ác Ma nói với đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
8. – “ Bạch Thế Tôn, nay những vị Tỷ-kheo của đức Thế Tôn đã trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có lỷ luật, sãn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá
 
Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay đức Thế Tôn hãy diệt độ, đức Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ!”
“Bạch Thế Tôn, đây là lời đức Thế Tôn đã nói: Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo-ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật... Khi nào những vị nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những vị Tỷ-kheo-ni... nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt... đã có thể diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn... truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, đức Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ”.
 
 
 
 
- Bạch Thế Tôn, đây là lời đức Thế Tôn đã nói:
          “ Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ”.
          - Bạch Thế Tôn, đây là lời đức Thế Tôn đã nói:
          “ Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Pháp hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo
giảng dạy cho loài người: “ Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
          9. – Khi được nói vậy, đức Thế Tôn nói với Ác Ma:
          “ Này Ác Ma hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
          10. – Và tại đền Capala, đức Thế Tôn chánh niệm giác tỉnh, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi đức Thế Tôn từ bỏ không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Đức Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa sự kiện ấy, liền thốt lên bài kệ cảm khái như sau:
          “Mạng sống có hạn hay vô hạn,
          Tu sĩ từ bỏ không kéo dài.
          Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
          Như cỡi thoát áo giáp đang mặc”.
          11. – Lúc bấy giờ, Đại đức Ananda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, đại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng
 
ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”
          12. – Rồi Đại đức Ananda đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, Đại đức Ananda bạch Thế Tôn:
          - “ Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, đại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”
          13. – “ Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước có trên gió và gió ở tại hư không. Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Đó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động”.
          14. – “Lại nữa, này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự hay hàng Chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực, những vị này quán đại tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động,
chấn động mạnh. Đó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động”.
          15. – “Lại nữa này Ananda, khi đức Bồ-tát ở cõi Tusita (Đâu-suất) từ bỏ thân, chánh niệm, giác tỉnh, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động”.
          16. – “Lại nữa, này Ananda, khi đức Bồ-tát chánh niệm, giác tỉnh ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động”.
          17. – “Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động”.
          18. – “Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, khiến đại địa chấn động”.
          19. – “Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chánh niệm, giác tỉnh, từ bỏ không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động
 
mạnh. Đó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy khiến đại địa chấn động”.
          20. – “Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập Vô dư y Niết-bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Đó là nhân thứ tám, duyên thứ tám khiến quả đất này rung động, chấn động mạnh. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này khiến đại địa chấn động”.
          21. – “Này Ananda, có tám chúng. Thế nào là tám? Chúng Sát-đế-ly, chúng Bà-la-môn, chúng cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Tứ thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên”.
          22. – “Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát-đế-ly hơn một trăm lần (?) tại đây trước khi ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của ta cũng như vậy, giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài Pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết : “Kẻ nói ấy là ai. Là chư Thiên chăng, là người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài Pháp thoại Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là người chăng?”
23. – Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần... chúng cư sĩ... chúng Sa-môn,... chúng Tứ thiên vương... chúng Tam thập tam thiên...chúng Ma... chúng Phạm thiên hơn một trăm lần. Tại đây trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy, giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài Pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài Pháp thoại Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là người chăng?” Này Ananda, vậy là tám chung”.
          24. – “Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?
          25. – Một vị, quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
          26. – Một vị, quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng:
 
 
“Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
          27. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
          28. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
          29. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, ánh sáng xanh như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh – như lụa sa Ba-la-nại, cả hai mặt tráng lơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
          30. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, ánh sáng vàng như bông gai màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng – như lụa sa Ba-la-nại,
cả hai mặt tráng lơn, màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
          31. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, ánh sáng đỏ như bông gai màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ – như lụa sa Ba-la-nại, cả hai mặt tráng lơn, màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
          32. – Một vị, quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, ánh sáng trắng  như bông gai màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng – như lụa sa Ba-la-nại, cả hai mặt tráng lơn, màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắctrắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết,
Ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ananda, như vậy là tám thắng xứ”.
          33. – “ Này Ananda, có tám giải thoát. Thế nào là tám?
          Tự mình có sắc, thấy các sắc, đó là sự giải thoát thứ nhất.
          Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc, đó là sự giải thoát thứ hai.
          Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy, đó là sự giải thoát thứ ba.
          Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng sân hận, không suy tư đến những sân hận, không suy tư đến những khác biệt với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không-vô-biên-xứ, đó là sự giải thoát thứ tư.
          Vượt khỏi hoàn toàn Không-vô-biên-xứ, với suy tư “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”, đó là sự giải thoát thứ năm.
          Vượt khỏi hoàn toàn Vô-sở-hữu-xứ, chứng và trú “Phi-tưởng Phi-phi-tưởng-xứ”, đó là sự giải thoát thứ bảy.
          Vượt khỏi hoàn toàn Phi-tưởng Phi-phi-tưởng-xứ, chứng và trú Diệt-thọ-tưởng, đó là sự giải thoát thứ tám.
 
 
Này Ananda, như vậy là tám giải thoát”.
          34. – “Này Ananda, một thời Ta ở lại Uruvela, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapala-nigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ananda, lúc bấy giờ Ác Ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ananda, sau khi đứng dậy một bên, Ác Ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ”.
          35. – “Này Ananda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác Ma:
          - “ Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyển bá Chánh pháp thần diệu”.
          “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo-ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử
chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
- “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
- “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị nữ Cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và
giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
          - Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh mà Ta giảng chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”.
          36. – “Này Ananda, hôm nay tại đền Capala, Ác Ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác Ma đứng một bên nói với Ta như sau:
          - “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Bạch Thế Tôn, nay những vị Tỷ-kheo của đức
Thế Tôn đã trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp – khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay đức Thế Tôn hãy diệt độ, đức Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời đức Thế Tôn diệt độ”.
- Bạch Thế Tôn, đây là lời đức Thế Tôn đã nói: “Này Ác Ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những vị Tỷ-kheo-ni của Ta,.. khi nào những vị nam cư sĩ của Ta... khi nào những vị nữ cư sĩ của Ta,... khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được kheo giảng dạy cho loài người. Như vậy nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
37. – Khi được nói như vậy, Ta nói với Ác Ma:
“Này Ác Ma hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
“Này Ananda, hôm nay tại đền Capala, đức Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa)”.
38. – Khi được nói vậy, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho loài trời và loài người”.
“Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời”.
39. – Lần thứ hai, Đại đức Ananda... Lần thứ ba, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:
- “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”.
“Này Ananda, người có tin sự Giác ngộ đức Thế Tôn không?”
- “ Bạch Thế Tôn, con có tin”.
“Vậy sao, này Ananda, ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần”.
40. – “Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau:
“ Này Ananda, những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
“Này Ananda, ngươi có tin tưởng không?”
- “Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng”.
“Này Ananda, như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi, đã không nhận sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Này Ananda, nếu ngươi cầu thỉnh Như
 
Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời, này Ananda như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi.
          41. – “Này Ananda, một thời Ta ở tại Vương-xá, tại núi Linh-thứu. Tại đây, Ta nói với ngươi: Này Ananda, những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Này Ananda, nếu ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời.
Này Ananda, như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi”.
          42. – “Này Ananda, một thời Ta ở thành Vương-xá, tại Nigrodharama... Ta cũng ở thành Vương-xá tại Corapapata... Ta cũng ở thành Vương-xá tại hang Sattapanni trên núi Vebhara... Ta cũng ở thành Vương-xá, tại hang đá Kalasila trên núi Isigili... Ta cũng ở thành Vương-xá, tại rừng Dita trong hang đá Sappasondika... Ta cũng ở thành Vương-xá tại Tapodarama... Ta cũng ở thành Vương-xá Trúc Lâm hồ Kalandaka... Ta cũng ở thành Vương-xá tại rừng Jiva-Kambavana... Ta cũng ở thành Vương-xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.
          43. – Này Ananda, tại đây Ta nói: Này Ananda, khả ái thay thành Vương-xá, khả ái thay núi Linh-thứu, khả ái thay Nigrodharama, khả ái thay Corapapata, khả ái thay hang Sattapanni trên núi Vebhara, khả ái thay hang đá Sappasondika trong rừng Sita, khả ái thay suối nước nóng Tapodarama, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jivakambala, khả ái thay vườn nai ở tại Maddakucchi”.
          44. – “Này Ananda, những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy
 
muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai, đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ananda, ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Này Ananda, nếu người cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi”.
          45. – Này Ananda, một thời Ta ở Vesali tại đền Udena. Tại đây, này Ananda, Ta cũng nói: “ Này Ananda, khả ái thay Vesali, khả ái thay đền Udena. Này Ananda, những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều
lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Dầu vậy, này Ananda, ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Này Ananda, nếu ngươi thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi”.
          46. – “Này Ananda, một thời Ta ở thành Vesali tại đền Gotama... Ta cũng ở thành Vesali tại đền Sattambaka... Ta cũng nói ở thành Vesali tại đền Bahuputta.. Ta cũng ở thành Vesali tại đền Sarandada...
          47. – Này Ananda, hôm nay tại đền Capala, Ta nói với ngươi: “Này Ananda, khả ái thay Vesali, khả ái thay đền Udena, khả ái thay đền Gotama, khả ái thay Sattambaka, khả ái thay đền Bahuputta, khả ái thay đền Sarandada, đền Capala. Này Ananda,
 
 
những ai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn Thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn đức Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Dầu vậy, này Ananda, ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”. Này Ananda, nếu ngươi thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của ngươi, như vậy là khuyết điểm của ngươi”.
          48. – “Này Ananda, phải chăng ngay từ đầu, ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân tình đều phải bị thay đổi trở về hư không, biến dịch. Này Ananda, làm sao có thể được như vậy? Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong
 
 
 
 
 
 
khỏi có sự biến diệt, thật không có sự trạng ấy. Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thật không có sự trạng ấy”.
          “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kutagara tại rừng Đại Lâm”.
          - “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn.
          49. – Rồi đức Thế Tôn cùng với Đại đức Ananda đi đến giảng đường Kutagara vườn Đại Lâm, khi đi đến Kutagara, đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda:
          “Này Ananda, hãy đi mời tất cả các vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesai tụ họp tại giảng đường này”.
          - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn, đi mời tất cả các vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesali tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:
          - “Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài cho là hợp thời”.
50. Đức Thế Tôn liền đi đến giảng đường vì ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, đức Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
          “Này các Tỷ-kheo, nay những Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi, các ngươi phải khéo học, thực chứng tu tập, và truyền rộng Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các ngươi phải khéo học, thực chứng tu tập, và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người? Chính là bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Bồ-đề phần, tám Thánh đạo. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta Chứng ngộ và giảng dạy, mà các ngươi phải khéo học, thực chứng tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài trời và loài người”.
 
 
 
51. – Rồi đức Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
          “ Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắc nhủ các ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ, sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
          Đó là lời đức Thế Tôn dạy, sau khi nói vậy, đức Thiện Thệ lại nói thêm:
          “Tuổi Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao nhiêu. Từ biệt các ngươi, Ta sẽ ra đi một mình, tự mình làm chỗ sở y cho chính mình. Này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn không phóng dật, sống an trú chánh niệm, và hộ trì giới luật, tự nhiếp thúc ý chí, khéo bảo hộ tự tâm. Những ai tinh tấn trong Pháp Luật của Ta sẽ diệt trừ sanh tử, chấm dứt khổ đau”.
 
/9
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »