Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Những Ngày Những Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật

Tác giả: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2003. Số trang: 163.

Chương 6: Tụng Phẩm Thứ Tư (Trang 84 - 105)

TỤNG PHẨM THỨ TƯ

1. – Rồi đức Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesali để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesali, ăn xong và trên đường khất thực trở về, đức Thế Tôn nhìn Vesali với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, lần này là lần cuối cùng, đức Như Lai nhìn Vesali, này Ananda, chúng ta hãy đi đến Bhandagama”.
- “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bahuputta. Tại đây, đức Thế Tôn ở tại Bhandagama.
2. – Rồi đức Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn pháp mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử, thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giới mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh định mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng
 
 
đạt Thánh tuệ mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng Thánh giải thoát mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh định được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh tuệ được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được diệt trừ, những gì đưa đến một đời sống được diệt trừ, những gì đưa đến một lối sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa”.
          3. – Đó là lời đức Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, đức Thiện Thệ lại nói thêm:
          “ Giới, Định, Tuệ và giải thoát vô thượng, Gotama danh xưng đã chứng ngộ, Đấng Giác ngộ giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo. Đạo sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.
          4. – Trong thời gian đức Thế Tôn ở tại Bhandagama, Pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát
 
 
hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.
`        5. – Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với Đại đức Ananda:
          “ Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigama... Ambapali... Jambugama..., hãy đi đến Bhoganara”.
- “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”, Đại đức Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.
6. – Tại đây, đức Thế Tôn ở Bhoganagara, tại đền Ananda. Ngài nói với các vị Tỷ-kheo:
“ Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Đại Giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”.
- “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo vâng đáp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn giảng như sau:
8. – “ Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Này hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng đức Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng , mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
 
được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh, đối chiếu, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại Giáo pháp thứ nhất, các ngươi hãy thọ trì”.
9. – “ Này các Tỷ-kheo, nếu có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với vị thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo sư”. Này các Tỷ-kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng , mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh, đối chiếu, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không
 
 
 
tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại Giáo pháp thứ hai, các ngươi hãy thọ trì”.
10. – “ Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có nhiều vị Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo sư. Này các Tỷ-kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng , mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh, đối chiếu, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này
 
 
các Tỷ-kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại Giáo pháp thứ ba, các ngươi hãy thọ trì”.
11. – “Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Đạo sư. Này các Tỷ-kheo, các ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của vị Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng , mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh, đối chiếu, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với
Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Đại Giáo pháp thứ tư, các ngươi hãy thọ trì”.
          “ Này các Tỷ-kheo, bốn Đại Giáo pháp này, các ngươi hãy thọ trì”.
          12.  – Trong khi đức Thế Tôn ở tại Bhoganagara, Pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”.
          13. – Rồi đức Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo Đại đức Ananda: “ Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pava”.
          - “ Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn. Và đức Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pava. Tại đây, đức Thế Tôn ở tại Pava tại rừng xoài của Cunda, một người thợ sắt.
 
 
 
14. – Thợ sắt Cunda nghe: “ Nay đức Thế Tôn đã đến Pava và hiện ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ đức Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và đức Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
          15. – Và thợ sắt Cunda, sau khi được đức Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
          16. – Thợ sắt Cunda, sau khi được biết đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về phía Ngài và từ biệt.
          17. – Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sukara-maddave (một loại mộc nhĩ), và đến báo tin cho đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
          18. – Và đức Thế Tôn, buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda. Khi đến xong, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, đức Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
“Này Cunda, loại mộc nhĩ đã được soạn sẵn, hãy dọn cho Ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo”.
          - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Thợ sắt Cunda vâng đáp đức Thế Tôn, dọn cho đức Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
          19. – Rồi đức Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda: “Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại, ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ái, này Cunda, ở cõi trời, cõi người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào, trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thế tiêu hóa được, trừ đức Như Lai”.
          - “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Thợ sắt Cunda vâng theo đức Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Rồi đức Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
          20. – Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, đức Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh ly huyết, đau đớn
gần như chết. Và đức Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh.
          Rồi đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinara”.
          - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn.
          [Tôi nghe: Sau khi ăn cơm của thợ sắt Cunda, bỗng khởi lên cơn bệnh khốc liệt gần như chết. Sau khi dùng món ăn tên là mộc nhĩ, kịch bệnh khởi lên nơi bậc Đạo sư. Điều phục bệnh hoạn, đức Thế Tôn nói: “Ta đi đến thành Kusinara”]
          21. – Rồi đức Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, hãy xếp tư áo Sanghati. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ”.
          - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn và xếp tư áo Shanghati lại.
          22. – Đức Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát nước và muốn uống nước”.
          Khi được nói như vậy, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng
500 cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakuttha không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái, tại đó đức Thế Tôn có thể uống nước và làm mát dịu chân tay”.
          23. – Lần thứ hai, đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát nước và muốn uống nước”.
          Lần thứ hai, Đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn vừa mới có khoảng 500 cỗ xe chay qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakuttha không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái, tại đó đức Thế Tôn có thể uống nước và làm mát dịu chân tay”.
          24. - Lần thứ ba, đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda: “Này Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát nước và muốn uống nước”.
          - “ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi Đại đức Ananda đến liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
25. – Đại đức Ananda tự nghĩ: “ Thật kỳ diệu thay, thậy hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi Ta đến liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi lấy bát nước, Đại đức Ananda đến chỗ đức Thế Tôn và bạch:
          “ Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!” Và đức Thế Tôn uống nước.
          26. – Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Malla, đệ tử của Ngài Alara Kalama đang đi trên con đường từ Kusinara đến Pava.
          Pukkusa, dòng họ Malla thấy đức Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Malla, bạch đức Thế Tôn:
          “ Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia”.
 
 
 
27. – Bạch Thế Tôn, thuở xưa, Ngài Alara Kalama đang đi trên đường. Rồi Ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng 500 cỗ xe đi ngang qua gần Ngài Alara Kalama. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đến chỗ Ngài Alara Kalam và nói với Ngài:
          - “ Tôn giả có thấy khoảng 500 cỗ xe vừa đi qua không?”
          - “Này hiền giả, Ta không thấy”.
          - “Tôn giả có nghe thấy tiếng chuông?”
          - “Này hiền giả, Ta không nghe tiếng”.
          - “Có phải Tôn giả đang ngủ không?”
          - “Này hiền giả, không phải Ta đang ngủ”.
          - “Vậy có phải tôn giả đang thức tỉnh?”
          - “Này hiền giả, Ta đang thức tỉnh”.
          - “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng 500 cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”.
          - “Này hiền giả, phải áo ta bị lấm bụi”.
- “ Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy 500 cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với Ngài Alara Kalama, vị ấy từ biệt”.
28. – “ Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy 500 cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng”.
29. – “Bạch Thế Tôn, nói gì đến 500 cỗ xe này – cho đến hoặc 600, hoặc 700, hoặc 800, hoặc 900, hoặc 1000 cho đến trăm ngàn cỗ xe – cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng”.
30. – “Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atuma, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh
 
 
 
 
 
em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atuma đi ra đến chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết...”
          31. - “ Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa. Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chỗ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:
          32. – “ Này hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?”
          - “Bạch Thế Tôn, vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Bạch Thế Tôn, một số đông người từ Atuma đi ra đến chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy, mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?”
          “ Này hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”.
          - “ Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?”
          “Này hiền giả, Ta không thấy gì”.
          - “ Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?”
 
 
 
 
 
 
 
 
“ Này hiền giả, Ta không nghe tiếng gì”.
          - “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ phải không?”
          “Này hiền giả, không phải Ta đang ngủ”.
          - “ Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?”
          “Này hiền giả, phải”.
          - “ Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt”.
          34. – Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Malla bạch Thế Tôn:
 
 
 
 
 
 
“Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với Alara Kalama, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong đức Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy y ngưỡng”.
          35. – Rồi Pukkusa, dòng họ Malla nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”.
          - “Tôn giả, xin vâng!” Người ấy đáp ứng Pukkusa, dòng họ Malla và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
          Rồi Pukkusa, dòng họ Malla đem dâng cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho đức Thế Tôn và nói: “ Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc này, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho”.
 
 
 
“ Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo”.
          - “ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Pukkusa, dòng họ Malla vâng lời đức Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho Đại đức Ananda.
          36. – Rồi đức Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, dòng họ Malla, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Malla, sau khi được đức Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thân phía hữu hướng về đức Thế Tôn và từ biệt.
          37. – Khi Pukkusa, dòng họ Mallsa đi chưa được bao lâu, Đại đức Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân đức Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Đại đức Ananda bạch Thế Tôn:
          - “ Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật là hy hữu, sự thanh tịnh, và sáng chói màu da của Như Lai. Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi”.
          “ Thật vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thannh tịnh và
sáng chói. Thế nào là hai? Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh đẳng giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử. Này Ananda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói”.
          38. – “ Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattna ở Kusinara, trong rừng Sala của dòng họ Malla, giữa hai cây Sala song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng ta hãy đi đến sông Kakuttha”.
          - “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Ananda vâng đáp đức Thế Tôn.
          “ Cặp áo kim sắc do Pukkusa mang đến.
          Đắp áo này, sắc da đức Đạo sư sáng chói”.
          39. – Rồi đức Thế Tôn cùng với đại chúng  Tỷ-kheo đi đến con sông Kakuttha, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với Đại đức Cundaka:
          “ Này Cundaka, hãy xếp áo Shanghati làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ”.
          - “ Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Đại đức Cundaka vâng đáp đức Thế Tôn và xếp cái áo Shanghati làm bốn.
 
40. – Rồi đức Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và Đại đức Cundaka ngồi phía trước đức Thế Tôn.
          41. – Đức Phật đi đến con sông Kukuttha:
          “Con sông trong sáng mát lạnh và thanh tinh
          Vị Đạo sư mệt mỏi đi dần xuống sông.
          Đức Như Lai đấng vô thượng ở trên đời.
          Tắm xong uống nước, lội qua bên kia sông.
          Đức Đạo sư đi trước giữa chúng Tỷ-kheo,
          Vừa đi vừa diễn giảng Chánh pháp vi diệu.
          Và gọi vị Tỷ-kheo tên Cundaka:
          ‘Hãy gấp tư và trải áo cho Ta nằm.’
          Được lệnh, Cundaka tức tốc vâng lời.
          Gấp tư và trải áo một cách mau lẹ.
          Đức Đạo sư mệt mỏi liền nằm xuống
          Và Cundaka ngồi phía trước mặt Ngài”.
          42. – Rồi đức Thế Tôn nói với Đại đức Ananda:
          “ Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “ Này hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho ngươi, thật là tai hại cho ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ ngươi cúng dường, và
 
nhập diệt”. Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda”.
          “ Này hiền giả, thật lợi ích cho bạn, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt”. “ Này hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Thế nào là hai? Một bữa ăn trước khi Như Lai chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hai là trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới không còn di hương sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng an lạc; bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng cõi trời; bởi hành động này, hiền giả Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.
          “ Này Ananda, cần phải làm cho tiêu tan sự hối hận của thợ sắt Cunda”.
43. – Rồi đức Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lên lời cảm khái như sau:
          “ Người bố thí, công đức được tăng trưởng,
          Tâm hận thù không chất chứa, chế ngự.
          Kẻ chí thiện từ bỏ mọi ác hành,
          Diệt tham, sân, si, tâm tư thoái tịnh”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
/9
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »