Tu vô lượng nghĩa kinh,
sống trong vô lượng nghĩa định,
thâm nhập hội Pháp Hoa.
(Bài giảng trường hạ chùa Phổ Quang, quận Tân Bình,
ngày 22-6-2010)
Chúng ta có thể đi vào kinh Pháp Hoa bằng con đường của kinh Nguyên thủy, hay xây dựng con người đạo đức mới thâm nhập được thế giới Pháp Hoa. Nếu không xây dựng đạo đức của Thanh văn mà muốn có Thánh quả của tam thừa là điều không bao giờ được.
Con đường đạo đức xây dựng bằng 37 trợ đạo phẩm là con đường Thanh văn tiến lên quả vị A la hán ra khỏi sinh tử. Nói cách khác, từ thế giới vật chất chúng ta bước sang thế giới tâm linh, hay Niết bàn. Vì vậy, hàng nhị thừa chứng được Niết bàn Không do loại bỏ được tất cả phiền não, nghiệp chướng và trần lao, lòng vắng lặng, nên được an lạc. Hàng Thanh văn Tăng như chúng ta tuy tu hành tốt, nhưng chưa được quần
chúng kính ngưỡng; vì chúng ta chỉ trong sạch mà chưa làm lợi ích cho người, chưa tạo được công đức. Đương nhiên người không quấy rầy chúng ta, nhưng họ không kính trọng chúng ta; đó là Thanh văn đạo.
Và con đường thứ hai để vào cửa đạo là Duyên giác thừa tu pháp quán 12 nhân duyên, gọi là thuyết duyên khởi. Đối với mọi người trên cuộc đời này, duyên luôn luôn khởi lên theo vọng trần, hay nói một cách đầy đủ là Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu. Và có Hữu thì sanh, lão, tử, ưu bi khổ não sanh ra. Đó là con đường duyên sanh của kiếp con người.
Từ khởi lên Vô minh nghĩa là từ trong tâm niệm khởi sai lầm gọi là Hành, Hành này là hành động của nội tâm, chứ không phải hành động bên ngoài. Từ Vô minh khởi lên tham lam thì dẫn chúng ta vào con đường khổ đau; từ Vô minh khởi lên sân hận thì dẫn chúng ta vào sinh tử.
Vô minh duyên Hành. Hành duyên Thức. Thức là ý niệm, nhận thức của chúng ta đều phiền não, nên gọi là vọng thức. Và khi có vọng thức sai lầm, chúng ta mới nói người này tốt, người kia xấu, việc này phải, việc kia trái; đó chính là sự phán đoán theo nghiệp của chúng ta. Từ nhận định sai lầm của Thức mới sanh ra hai pháp tương đối là Sắc và Tâm (hay Danh và Sắc).
Có Sắc và Tâm, hay nói cách khác, có sáu căn tiếp xúc với sáu trần mới sanh ra sáu Thức. Vì vậy, Tổ Quy Sơn dạy không cho căn và trần tiếp xúc thì vọng nghiệp không sanh ra; vì do mắt thấy những điều chúng ta không bằng lòng, do tai nghe những điều chúng ta không thích. Chúng ta phải cắt đứt những điều chướng tai gai mắt là duyên trần chấm dứt thì lục nhập mất, phiền não của vọng thức mới không có điều kiện sanh khởi. Còn để sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì sanh ra vô biên tội, đi vào biển khổ và vào đường tà (Lục căn lục trần vọng tác vô biên chi tội, mê luân khổ hải, thâm nịch tà đồ). Tất cả những kết quả khổ đau sinh tử này đều do từ lục Nhập sanh.
Và có lục Nhập mới sanh ra Xúc. Từ Xúc mới sanh Thọ hay cảm thọ. Cảm thọ gồm có Khổ thọ, Lạc thọ và Xả thọ. Trong ba Thọ này, hàng nhị thừa tu Xả thọ là chính, nghĩa là tất cả mọi việc chúng ta bỏ lại phía sau, không để ý nữa thì nghiệp thức không sanh. Trước kia, chúng ta cách ly trần, nên nghiệp không sanh; nhưng nay chúng ta tiếp xúc với trần thì nghiệp sanh ra, cho nên chúng ta phải xả bỏ. Lỡ thấy một việc gì, quý Thầy nên tập bỏ. Tôi có kinh nghiệm này, vì sống trong đại chúng là những người tập sự tu, không phải là Thánh, cho nên người có sai lầm này, người có sai lầm nọ. Nếu chúng ta chấp vào sai lầm của người khác là vô tình chúng ta để sai lầm đó vô tâm mình, khiến chúng ta buồn khổ. Trong trường hạ lỡ có một Thầy làm việc không đúng, Phật tử trông thấy mất tín tâm, nên mình cảm thấy bực bội, nghĩ
rằng tại sao người này làm mà mình phải mang họa, đó là duyên khởi của chúng ta như thế.
Điển hình như lớp trước tôi có Thầy Quảng Minh sáng lập hội Phật học Nam Việt. Bấy giờ, cụ Mai Thọ Truyền gom tiền của Phật tử để cho Thầy Quảng Minh sang Nhật học; vì các Phật tử trí thức nghĩ rằng Thầy tu mà không học thì kiến thức sẽ không bắt kịp thời đại. Nhưng sang Nhật học, đậu Tiến sĩ xong, Thầy này ở Nhật luôn, không về Việt Nam. Thầy làm công chức cho Nhật và lập gia đình. Vì vậy, những Phật tử đóng góp cho Ban Bảo trợ mới nghĩ rằng cho quý Thầy đi học nước ngoài, không về tu, thà để ở nhà dốt mà tu được !
Tôi nhớ Hòa thượng Trí Thủ nói rằng "Có Tú không tu, có tu không Tú”. (Tú là bằng Tú Tài, tức tốt nghiệp cấp 3 bây giờ).Vì vào thời kỳ tôi, có bằng Tú tài rất khó, nhưng các Thầy đậu Tú tài xong thì không tu nữa. Còn người cặm cụi lạy Phật, tụng kinh, sám hối, công quả lại ở trong đạo được. Chính vì lý do như vậy mà các Hòa thượng không muốn cho quý Thầy đi học. Lúc bấy giờ, tôi cảm thấy bực bội vì Thầy Quảng Minh tốt nghiệp mà không về nước khiến cho lớp sau như tôi muốn đi du học thì các Hòa thượng không cho, làm con đường học vấn của mình bị cắt đứt ngang. Trong lòng khởi bực tức quá, nên trần lao nghiệp chướng nhân đây sanh ra. Hòa thượng Thiện Hoa mới bảo tôi nên xả, tất cả mọi việc trên cuộc đời này mình coi như Không.
Người tu tập tánh Không ngơ, không biết gì, khen hay chê cũng được, ta không bận tâm. Dù không đắc Thánh quả, không có học vị, không có trí tuệ, nhưng vẫn là người tu. Xả để không vướng bận trong lòng mình. Đi đến chặng đường nào của duyên khởi, chúng ta tu ngay pháp đó. Cho nên, đến phần cảm thọ, chúng ta phải xả bỏ hết; vì nếu còn cảm thọ, thì chúng ta sẽ sanh ra Ái. Ái có hai là thương và ghét làm chúng ta thêm phiền não; nghĩa là nghiệp này sanh ra nghiệp khác, phiền não này sanh ra phiền não khác. Nhận biết rõ tới đâu, ta chận ngay chỗ đó; đừng cho đi xa thêm con đường phiền não.
Khi Ái sanh ra rồi thì thương hay ghét ai, chúng ta cũng giữ trong lòng. Ai gây khó khăn cho ta, thì đánh trả liền; nhưng nếu là người bình tĩnh sẽ có thái độ "Hãy đợi đó”, để ta cố gắng học và làm việc, có vị trí trong xã hội, mới quay lại "tính sổ”. Còn tức giận, kiềm lòng không được, mà đối đầu là ta chết lập tức.
Tất cả mọi việc tốt xấu, vui buồn, ân oán đều giữ lại trong lòng gọi là Thủ sẽ dẫn chúng ta đi thọ sanh, nên Hữu sanh. "Hữu” là trong tiềm thức chúng ta có ý thức trả thù, hay trả ơn, hay làm gì đó. Chính cái Hữu này dẫn chúng ta sanh lại cuộc đời mang thân tứ đại ngũ uẩn. Và có Sanh là có lão, tử, ưu bi, khổ não. Đó là Duyên sanh, từ vô minh duyên khởi và có nhiều mắt xích nối tiếp nhau. Ta tu tới mắt xích nào thì cắt
bỏ ngay mắt xích đó; thành tựu được như vậy, ta về Niết bàn một cách nhẹ nhàng. Hàng Duyên giác dùng trí quán sát từng mắt xích như vậy trên bước đường tu, chứ không phải quán đủ một vòng trong một lần một cách máy móc.
Quán Duyên khởi theo chiều thuận xong rồi, bây giờ, quán ngược lại là Vô minh diệt thì Hành diệt. Trên bước đường tu, do thực hành pháp của Phật làm cho trí tuệ sanh, thì Vô minh diệt. Ta thấy phiền não bên ngoài, nhưng nhờ thiện tri thức nhắc nhở, ta không khởi niệm nữa. Thuở nhỏ, thấy điều chướng tai gai mắt, tôi thường bực tức. Hòa thượng Trí Quang dạy tôi không nên bực, mà nên nghĩ ngay đến quá khứ nghiệp của mình để sám hối cho tiêu nghiệp.
Có trí tuệ như Phật thấy rõ ba đời nhân quả, nên Ngài thấy được tất cả mọi việc trong sinh diệt một cách rõ ràng như thấy trái táo trong lòng bàn tay, mọi việc đều có nguyên nhân. Còn chúng ta không thấy nguyên nhân, nên cứ hỏi tại sao thế này, tại sao thế kia là thấy theo vọng nghiệp. Vì vậy, Hòa thượng dạy tôi lúc còn là Sa di, nên nghĩ tại sao họ kính trọng người kia mà lại khinh ghét mình. Ta không vội kết luận họ xấu, mà chiếu theo nhân quả để thấy giữa họ và người có quan hệ tốt, nên họ kính trọng người đó. Còn họ ghét ta vì ta và họ đã từng có ân oán trong quá khứ. Thấy theo nhân quả như vậy, chúng ta không còn thắc mắc gì cả.
Các anh em còn nhớ câu chuyện Chí Công Hòa thượng thời vua Lương Võ Đế. Hòa thượng này rất hiền và tốt, được nhiều người kính trọng, nhưng hoàng hậu của vua Lương Võ Đế lại ghét cay ghét đắng Hòa thượng, trong khi nhà vua rất kính nể Ngài. Nếu không đắc đạo sẽ thấy điều này vô lý; nhưng Minh sanh hay tuệ sanh thì sẽ hóa giải được. Hòa thượng Chí Công dùng trí tuệ quán nhân duyên, thấy rõ kiếp trước của Ngài là một chú tiểu ở chùa và lúc đó, tiền kiếp của hoàng hậu là con dế mèn ở cạnh liêu của chú tiểu. Vì con dế cứ kêu rả rích làm chú không ngủ được, nên bỏ công phu, bị Hòa thượng rày. Chú bực quá, một hôm nhân lúc Hòa thượng đi vắng, chú tìm con dế và ngắt đầu nó, liệng ở gốc cây chuối. Oan gia phát sinh từ đây. Con dế ở chùa nghe kinh và được Hòa thượng đắc đạo, thọ ký cho nó; nên mỗi lần Hòa thượng đi đâu về là dế bò ra kêu. Nhưng lần này, Hòa thượng về, không nghe dế kêu, Ngài đi tìm và gặp xác nó, Ngài trì chú rồi gói xác nó lại, chôn ở gốc cây. Nhờ chú lực của Hòa thượng và công đức nghe kinh của con dế, mà nó tái sanh được làm Hoàng hậu. Và chú tiểu cũng tiến tu, làm Hòa thượng Chí Công.
Câu chuyện gợi cho chúng ta suy nghĩ chúng ta tu hành có gieo nhân tốt, nhưng cũng có phạm lỗi lầm trong quá khứ, nên đương nhiên đời này cũng có oan gia. Suy nghĩ như vậy, gặp lại oan gia, chúng ta cố trả cho xong; vì ta muốn lên Niết bàn thì phải trả nợ đời
cho hết là điều tất yếu. Tuy nhiên, khi chưa có khả năng trả nợ, ta trốn vô chùa, xuất gia, bỏ lại phía sau mọi việc; nhưng oan gia quá khứ vẫn còn nguyên vẹn chứ.
Các anh em quán nhân duyên, lần lần tuệ sanh. Tôi thể nghiệm pháp quán này, khi tiếp xúc với người, thấy thái độ của họ đối với tôi mà tôi tìm ra nhân duyên kiếp này và kiếp trước giữa họ với mình. Mỗi lần chúng ta thấy được nhân duyên là Minh sanh, nghĩa là ánh sáng trí tuệ phát lên trong lòng chúng ta thì Vô minh diệt, ví như mặt trời mọc thì bóng tối tự mất. Bóng tối ví cho phiền não, trần lao và nghiệp chướng ngăn che tâm ta.
Trên bước đường tu, thực hành pháp quán, tâm ta sáng lần, thấy rõ được mọi vật, mọi người, mọi tâm tưởng là Minh sanh thì Vô minh diệt. Vô minh diệt thì Hành diệt, nghĩa là tâm ta trong sáng, thì lòng tham mất, lòng giận dữ mất. Vì ta giận người, chẳng những không làm gì được họ mà còn chuốc họa vào thân. Người sáng suốt cắn răng nhịn chịu hoàn cảnh bức ngặt giống như Việt Vương Câu Tiển nằm gai nếm mật, hay nghĩ rằng mười năm trả thù cũng chưa muộn. Ông này mới sáng suốt được một chút, biết rằng nước Việt thua nước Ngô, nếu nói gì, làm gì cũng sẽ bị vua Ngô giết chết, nên ông cắn răng chịu đựng để sống. Đó là người trí nhẫn để trả thù, không phải nhẫn của Phật.
Chúng ta nhẫn, hay xả để trả nghiệp, để lòng chúng ta trong sạch, nên "Minh” lần lần sanh ra, nhờ đó ta thấy
được người và vật một cách đúng đắn, việc làm đạo mới dễ dàng. Tâm trí sáng thì ta đến chỗ đáng đến, tiếp xúc với người nên tiếp xúc. Còn lúc trước, vì Vô minh ngăn che, lòng tham khởi lên, nên tìm đến người giàu có để xin; nhưng họ không cúng mà còn khinh ghét. Nay trí sáng, không dại gì tạo oan nghiệp như vậy.
Tuệ sanh rồi, gặp lại người nợ ta và họ trả nợ ta; nhưng người tu khôn khéo không cho họ trả, vì mình làm chủ nợ vẫn sướng hơn. Chúng ta thấy rõ Đức Phật Thích Ca tu hành vô lượng kiếp, Ngài chỉ tạo thêm công đức, chứ không tiêu xài, không hưởng thụ. Có bao nhiêu công đức Ngài đều đưa vào kho vô tận công đức, thì công đức này cứ nối tiếp sanh ra công đức khác. Ngài nói trong kinh Pháp Hoa rằng công đức của Ngài không bao giờ hết, mà chỉ lớn thêm. Các anh em nên nhớ đừng tiêu xài quá đáng công đức có được. Một số Thầy đời trước đã tu được một ít công đức, nên đời này được cung kính cúng dường, nhưng hưởng hết thì cuộc đời tu hành sẽ gặp nhiều trở ngại.
Câu chuyện Hòa thượng Thiện Tường kể, khiến tôi suy nghĩ và ứng dụng trong cuộc sống. Khi Hòa thượng tu hành, không có ý niệm cần tiền; nhưng người ta cứ đem tiền của cúng dường Hòa thượng. Và số tiền cúng dường nhiều thì Ngài xây dựng Tổ đình Giác Nguyên, quận 4, chứ không tiêu cho cá nhân Ngài, nên công đức Hòa thượng lớn lần thêm.
Khi công đức lớn, sẽ làm được nhiều việc lớn nữa; nhưng nếu làm mà không cân nhắc thì ta cần nhiều nhưng không được giúp đỡ nữa. Vì vậy, nên cân nhắc trong kho tư lương của mình, mức cầu cao thì mức cung sẽ giảm. Trên bước đường tu, chúng ta đừng mong cầu nhiều, để mức cung tự tăng lên và đừng lấy ra tiêu xài để có được sự thặng dư công đức, sau này mới thành Phật.
Nhờ quán nhân duyên, Minh sanh, hành giả trở thành bậc minh triết là Bích Chi Phật hay Duyên giác. Hàng nhị thừa gồm Thanh văn và Duyên giác đều được giải thoát và con đường thứ ba đi vào đạo là con đường của Bồ tát tu sáu pháp ba la mật. Tuy nhiên, chính yếu Bồ tát muốn ra khỏi sinh tử, phải có định và huệ, còn bốn pháp là bố thí, trì giới, nhẫn nhục và tinh tấn chỉ là phụ. Vì vậy, không có huệ mà bố thí, ta dễ bị người khác lợi dụng. Người đáng cho, ta không cho; chỗ nên cúng dường, ta không cúng, mà làm ngược lại là kết thân với bạn ác. Trong kinh Pháp Hoa nói rằng dù tu năm pháp ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định trải qua vô số kiếp, nhưng chưa có trí tuệ thì công đức cũng dễ dàng bị mất.
Cho nên, khi chưa có trí tuệ, ta tìm người tốt và giỏi có quyết đoán đúng để hợp tác. Ta không cầu danh, ta không cần đứng lãnh đạo, mà ta hợp tác với họ để được chia công đức. Vì vậy, có bao nhiêu công đức, chúng
ta đầu tư cho Phật, cho Phật Pháp, cho Bồ tát. Nói cách khác, ta hồi hướng Phật đạo là làm việc cho Phật thì sẽ nhận được công đức Phật cho chúng ta. Người tu Pháp Hoa thường làm quyến thuộc Bồ đề, tức là quyến thuộc của Phật, của Pháp, của Bồ tát; nhờ đó, khi tái sanh trên cuộc đời, chúng ta luôn gặp được minh sư, gặp được thiện tri thức để có thể tiếp tục hành Bồ tát đạo.
Các vị tu sáu pháp ba la mật, nhưng chủ yếu phát huy cho được Định và Huệ. Thật vậy, Bồ tát cứu chúng sinh, nhưng vô Định thì chúng sinh không làm vướng mắc Bồ tát, vì chúng sinh này là mộng huyễn bào ảnh. Do đó, Bồ tát độ tận chúng sinh, nhưng không có chúng sinh nào lệ thuộc Bồ tát và Bồ tát cũng không cưu mang chúng sinh. Vì nếu cưu mang chúng sinh thì đi không nổi, không vào Định được, mà lại không có Huệ, thì càng bị trầm luân trong sinh tử.
Ba chúng là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nương theo tứ Thánh đế, thập nhị nhân duyên và sáu pháp ba la mật, ra khỏi sinh tử, được giải thoát, đến bãi đất trống. Ngài Trí Giả ví bãi đất trống là Bát nhã, nghĩa là trí tuệ sanh thì quét sạch Vô minh, tâm trống không, không còn phiền não, nghiệp chướng và trần lao. Bấy giờ, hành giả mới thấy Phật, nghe pháp và sống với Bồ tát Tăng. Chúng ta nghiệm kỹ yếu lý này để áp dụng đúng thì cuộc đời tu của chúng ta phải thăng hoa; còn không thăng hoa là vì chúng ta phạm sai lầm.
Nương theo tam thừa giáo, vượt ra khỏi Nhà lửa sinh tử tam giới, chúng ta tới Niết bàn; đó là Niết bàn của Bồ tát, của nhị thừa Thanh văn, Duyên giác. Và đến Niết bàn, việc gì xảy ra, chúng ta không biết được, vì chúng ta chưa tới chỗ này. Chúng ta chỉ biết rằng ở trong sinh tử thì phải dùng tứ niệm xứ quán, thập nhị nhân duyên và sáu pháp ba la mật để ra ngoài sinh tử. Nhưng khi thoát ra được sinh tử rồi và đến Niết bàn thì chúng ta học pháp gì của Phật; đó là điều bí mật. Tôi cũng không biết, hay có biết cũng không nói được, vì Phật còn không nói được, làm sao ta nói được. Chúng ta chỉ nói được phương tiện ở trong sinh tử mà thôi, còn những gì ở trong Thiền định mà trí tuệ sáng lên thì không thể nói.
Từ tam thừa giáo thâm nhập Pháp Hoa gọi là tam thừa đồng quy nhứt Phật thừa, tức pháp tu của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát khác nhau, nhưng đều chứng quả giải thoát giống nhau. Còn thấy khác là không được. Đắc đạo rồi, tất cả sẽ về chung một mối, nghĩa là các pháp tu của chúng ta đều dẫn tới kinh Pháp Hoa.
Và đến thời Pháp Hoa, để mở đầu kinh này, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa. Kinh Vô Lượng Nghĩa nhằm diễn tả pháp Phật có nhiều nghĩa, tùy theo trình độ tu chứng mà có kiến giải khác nhau; cho nên kinh thường nói rằng có 84000 pháp khác nhau. Vì vậy, nếu chúng ta cố chấp rằng pháp của mình hành trì là nhất và xem thường các pháp tu khác, thì đó là sai lầm lớn.
Muốn vào kinh Pháp Hoa, phải hiểu kinh Vô Lượng Nghĩa. Kinh Vô Lượng Nghĩa có ba ý chính quan trọng là đạo đức của Thanh văn, trí tuệ của Bích Chi Phật và việc làm lợi ích của Bồ tát. Thiếu ba sở đắc này, thì không hiểu Vô Lượng Nghĩa và không thâm nhập được Pháp Hoa. Vì kinh Pháp Hoa ở ngoài sinh tử, nên phải dùng ba xe ra khỏi Nhà lửa tam giới, mới có Pháp Hoa, gọi là đại bạch ngưu xa. Trong kinh Pháp Hoa nói rằng ở trong sinh tử, ông trưởng giả hứa cho xe dê, xe nai, xe trâu; nhưng ra đến bãi đất trống, ông cho xe trâu trắng tiêu biểu cho sạch nghiệp, tâm trống không. Vì vậy, khi tâm chúng ta còn vướng mắc bất cứ điều gì trong sinh tử thì không thể tới bãi đất trống. Ra vào sinh tử tự tại chỉ cho Bồ tát tu Pháp Hoa.
Và thông được Vô Lượng Nghĩa rồi, thì 84000 pháp sai biệt chỉ có một nghĩa duy nhất là giải thoát. Cho nên, nếu thấy ai làm gì mà chúng ta không bằng lòng, phải tự biết rằng mình sai. Có người làm việc này, người làm việc khác, có người phạm lỗi này, người mắc sai lầm khác mà chúng ta thường nói rằng nhân vô thập toàn. Ngay cả sai lầm của người vẫn có lợi ích, giúp chúng ta không vướng vào đó.
Quán sát như vậy, tâm tôi cởi mở lần; vì chấp một pháp nào cũng không được. Thật vậy, thế gian có nhiều mặt, thì Phật pháp có một mặt không được. Mỗi người một việc, nhưng việc nào cũng cần thiết. Ta giảng kinh
được, nhưng người khác không giảng được, mà họ đi cúng cũng độ sanh được, hay người nấu ăn cũng tốt. Tất cả mọi việc được làm bằng tâm thành đều sanh công đức. Tất cả mọi việc đều là Phật sự. Chấp một pháp cố định nào đều sai.
Kinh Vô Lượng Nghĩa tổng hợp ba pháp là đạo đức của Thanh văn, hiểu biết của Duyên giác và lợi ích của Bồ tát. Hay đó chính là Phật giáo tổng hợp được ba điều quan trọng này thì Phật pháp mới hưng thạnh, mới có thế giới Pháp Hoa.
Vì vậy, nhập Vô Lượng Nghĩa kinh và Vô Lượng Nghĩa Xứ Định sẽ thấy tất cả hành giả tu theo Phật đều là Bồ tát. Chưa vào Vô Lượng Nghĩa Xứ Định, thì còn thấy có Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, có người tốt, người xấu; nhưng vào Định Vô Lượng Nghĩa rồi, thấy việc nào cũng lợi ích. Ví dụ có người bị nhốt vô tù, họ mới phát tâm tu, mới hiểu đạo và họ có thể cảm hóa được tù nhân khác. Vì cùng mang thân phận của tù nhân thì dễ hiểu tâm trạng của bạn tù và bạn tù cũng dễ nghe, dễ chấp nhận lời khuyên của họ. Còn chúng ta làm sao vô đó mà giáo hóa.
Cái nhìn đúng đắn như thật của kinh Pháp Hoa có được sau khi thâm nhập Vô Lượng Nghĩa kinh và vào Vô Lượng Nghĩa Xứ Định, mở ra bức tranh muôn màu muôn vẻ, thấy người nào cũng tốt, việc nào cũng hay. Cho nên mới có 84000 pháp môn tu để chuyển hóa
84000 phiền não trần lao, thì pháp Phật mới trở thành thực dụng cho mọi người trong cuộc sống này.
Nếu chúng ta tu hành, nhưng không có đối tác, làm sao thực hiện pháp Phật dạy. Ví dụ đơn giản như không có người đánh mắng làm sao tôi nhẫn nhịn. Tất cả pháp Phật đều là phương tiện để chúng ta tu hành, hay giúp chúng ta nhận thức theo Phật pháp, tức là huệ sanh. Thật vậy, trong cuộc đời tu của tôi, nhờ trước mặt diễn ra vô số sai lầm, vô số khổ đau, tôi mới nhận ra điều đúng, điều an lạc. Như vậy, Vô minh của người chính là sự trợ giúp cho Minh của ta sanh ra, để ta không giẫm lên sự sai lầm như họ. Có thể nói sự thấy rõ bức tranh xã hội cho mình nhận thức đúng đắn, đó là Minh sanh.
Trong hội Pháp Hoa có tám vạn Bồ tát chuyển được pháp luân bất thoái, tâm từ trải khắp trong các cõi nước, được Phật khen ngợi. Chúng ta đọc một câu này và suy nghĩ trong Thiền định, cho đến thực tập trong cuộc sống, sẽ nhận thấy ý nghĩa sâu xa. Tám vạn Bồ tát dự hội Pháp Hoa tương ưng với tám Thức của chúng ta, tức tổng hợp những gì mà chúng ta mắt thấy tai nghe, suy nghĩ, nhận thức trong cuộc đời đều được tàng trữ trong Thức của chúng ta. Nói chung, toàn bức tranh xã hội và cả pháp hội gồm có người tốt, người xấu đều là Bồ tát dưới mắt của người tu Pháp Hoa. Thấy như vậy, chúng ta mới an lạc được. Và các vị Bồ tát đó, người thì trụ Thiền định, người thì lang thang làm việc này, hay việc khác đều là
tấm gương cho cuộc đời. Thật vậy, tôi tiếp xúc với các vị cao Tăng, các ngài cho biết đã từng trải qua những giai đoạn trong cuộc đời có lúc sai lầm, có lúc tạo được công đức. Từng người chúng ta cũng vậy, những sai lầm hôm qua cho chúng ta thành quả đúng đắn ngày hôm nay, những sai lầm trong địa ngục cho chúng ta quả Sa môn hiện tại. Đức Phật cũng từng ở địa ngục, nhưng Ngài đã phát tâm Bồ đề, xuất gia, thành Phật.
Tóm lại, chúng ta thâm nhập hội Pháp Hoa, sẽ thấy được bức tranh muôn màu muôn vẻ, trong đó tất cả mọi người, mọi việc đều đẹp, đều cần thiết, đều nói pháp vi diệu. Tuy nhiên, phải đến bãi đất trống, tâm hoàn toàn vắng lặng, trong sáng thì mới tiếp nhận được thế giới tuyệt mỹ ấy. Trái lại, còn trần lao, tham vọng và phiền não, nghiệp chướng phủ đầy thân tâm thì không thể nhìn đời đẹp được, mà chỉ thấy một màu xám xịt bao phủ đến vô cùng.