(CUỐN HẠ)
(1) Tâm tàm: Cảm giác xấu hổ với bản thân do việc xấu mình đã làm.
(2) Tâm Qúy: Cảm giác xấu hổ khi làm việc xấu mà để người khác thấy hoặc biết
(3) Phát lộ: Tự nguyện sám hối trước đại chúng hay trước Tam Bảo
(4) Năm tướng suy: Năm tướng xuất hiện ra nơi thân của một vị Trời như điềm báo trước vị Trời ấy khi mạng chung sẽ bị đọa lạc vào ba cõi dữ (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).
(5) Năm thiên sứ: Vì người ta gọi Vua Diêm Vương là Ngũ điện Thiên tử nên sứ giả của Ngài gọi là Ngũ Thiên Sứ Giả.
(6) Lam Phất: Gọi đủ là Uất Đầu Lam Phất, tiếng Phạn là Udraka- Ramaputra. Ông tu theo phái Du-Già ở gần thành Vương Xá, nước Ma-kiệt Đà. Ông là một trong hai vị thầy giỏi nhất và đầu tiên của thái tử Tất- Đạt- Đa. Thái tử tu theo ông và chứng được định Phi- tưởng phi- phi- tưởng. Nhưng vì không tìm ra câu trả lời cho mục đích giải thoát nên Tất Đạt- Đa đã từ giã Ông để đi tìm chân lý cao cả hơn.
(7) Thân chồn: Trong Kinh có chép rằng mặc dầu đắc phép Phi- tưởng Phi- phi- tưởng định nhưng vì một lúc chẳng kìm hãm được vọng tưởng, mà thành sa ngã.
Trong khi ngồi nhập định trên núi, nghe chim thú kêu la, tọa thiền gần sông nước bị tôm cá làm rối loạn, tâm thần bất định, nhân đó nổi sân, Ông Lam Phất lỡ lời nguyện sẽ làm con Phi-ly (chồn bay) để bắt chim trên trời và lặn xuống nước để giết loài tôm cá, nên dù có được sanh lên cõi Trời Vô Sắc, khi hết phước báu, Ông phải đọa làm thân chồn Phi-ly năm trăm đời như đã nguyện trong cơn sân hận.
(8) Giây đen địa ngục: Tiếng Hán là Hắc thằng địa ngục; tiếng Phạn là Kalasutra, địa ngục dây đen. Là một trong 8 tám đại địa ngục. Trong địa ngục này, dây trói, cưa, dao màu đen. Kẻ đọa vào địa ngục này thấy ngục tốt lấy dây sắt nóng mà trói mình rồi mới đem chém, cưa và có gió độc thổi làm cho những dây sắt nóng trói họ, thiêu đốt cháy cả da thịt, khổ sở muôn bề.
(9) Hắc nhĩ: Tai đen (Trong Câu Xá Luận cuốn 8, coi Phật học đại từ điển, trang 1066d) là nhiều hình cụ họp chung, không hở một chút, nên tai mắt đều đen tối, đó là lời giải thích của ngài Tri Chứng.
(10) Ba Ba bốn ngục: A ba ba là một trong bốn ngục cực lạnh; 3 ngục kia là A tra tra, A la la và A bà bà.
(11) Tu La: Gọi đủ là A-tu- la, là hạng Trời nhưng không có hình thể đoan chính. Là một trong 6 nẻo luân hồi, khi thì được xem là hạnh phúc hơn người, khi thì bị xem là đau khổ hơn người. Loại A- tu- la hạnh phúc là các loài chư thiên cấp thấp, sống trên núi Tu Di hoặc trong các lâu đài trong hư không. Loại
A-tu-la đau khổ là loài luôn luôn sống trong giận dữ và chống lại chư thiên.
(12) Cưu Bàn Trà: Một loài quỷ hung dữ, chuyên ăn lấy tinh khí của người. Tiếng Phạn là Kumbhawnda.
(13) La Sát: Loại hung thần ác quỷ có hình tướng và mặt mày rất ghê tởm, thích ăn thịt người. Giống đực kêu là La-Sát-bà (Râkchasas), giống cái kêu là La- Sát- Tư (Raakchasis). Hồi Đức Phật hoằng pháp tại Na-càn-ha-la (Nagarahâra), có năm con quỷ La sát cái thường biến ra loài rồng mà phá hại người. Nhân dân đến thỉnh cầu Ngài hàng phục. Đức Phật hóa độ được chúng và làm cho năm con quỷ La Sát này quy y Phật. Như vậy loài quỷ La Sát cũng có thể phát tâm Bồ đề trở thành Hộ Pháp.
(14) Ứng hiện: Còn gọi là ứng hóa thân hay người thân, Hóa thân. Ấy là một trong ba thân của Phật. Đức Phật vì lòng từ bi, tùy theo cơ duyên của chúng sanh mà hiện thân ra để giáo hóa và cứu độ. Ngoài sự hóa ra thân Phật, Ngài cũng hiện ra thân khác như Bồ Tát, Thanh Văn, chư thiên và loài người v.v...
Sự hóa hiện của Ngài rất nhiệm mầu và không thể lường.
(15) Cõi Diêm Phù: Còn gọi là Diêm Phù Đề. Tiếng Phạn là Jambudvipa, là một trong bốn châu ở địa cầu. Nó ở về phía nam núi Tu Di, cũng kêu là Thiềm Bộ Châu, tức là trái đất mà chúng ta đang sống. Tên Diêm Phù Đề có bởi cây Diêm Phù (Jambul) mà khi còn là Thái Tử, Đức Phật đã ngồi dưới gốc cây này
nhập Sơ thiền, trong khi theo Vua cha tham dự lễ Hạ Điền.
(16) Ba ác: Ba cõi khổ: Súc sanh, Ngạ Qủy và Địa ngục.
(17) Tám nạn: Tám nạn rủi, tám chỗ chướng nạn. Nếu chẳng may sanh vào tám chỗ (cảnh ngộ) này chẳng có thể tu học cho thành đạo được:
(1) Địa ngục
(2) Ngạ quỷ
(3) Súc sanh
(4) Châu Uất Đan Việt (tức là Bắc Câu Lư Châu) vì người ở xứ này cứ hưởng sự sung sướng mãi nên tu học không được
(5) Cảnh Trời trường thọ (Vô Tưởng Thiên), ở đây không có tâm tư tưởng nên không tu học được;
(6) Manh (đui mù), lung (điếc), ấm á (câm ngọng);
(7) Thế trí biện thông: Vì ỷ mình thông minh biện bác theo thế sự mà không lo tu học;
(8) Sanh ra trước hay sau Phật: hai thời kỳ này không có Phật pháp nên chẳng thể tu học.
(18) Bốn loài: Bốn cách chúng sanh được sanh ra
(1) Noãn sanh: sanh ra từ trứng như loài chim;
(2) Thai sanh: sanh ra từ bào thai như người, lừa
ngựa;
(3) Thấp sanh: sanh ra từ nơi ẩm ướt như giun, rắn, cá;
(4) Hóa sanh: tự nhiên mà hóa ra, sanh ra do sức mạnh của Nghiệp, như những thần thức sanh ra tại cõi Tiên, cõi Cực Lạc hoặc đi đọa địa ngục, ngạ quỷ, hoặc những vật cởi lốt,đổi hình như loài bướm bởi sâu, tầm mà hóa sanh ra.
(19) Sáu nẻo lòng vòng: Sáu đường lộn đi lộn lại. Chúng sanh từ vô thỉ tới nay, sanh ra rồi chết đi, rồi lại sanh ra, lòng vòng mãi trong sáu cõi Trời, Người, A-tu-la (thần), Súc sanh, Ngạ quỷ và Địa ngục, như một cái bánh xe xoay tròn, hết lên rồi xuống, hết xuống rồi lên, không bao giờ chấm dứt.
(20) Ba tai ách: Ba họa lớn (đại tai): Thủy tai, Hỏa tai, Phong tai, hoặc ba họa nhỏ (tiểu tai): Cơ cẩn tai (nạn đói), Tật dịch tai (nạn bệnh dịch), Đao binh tai (nạn chiến tranh).