(CUỐN TRUNG)
(1) Bốn Không Định: Bốn nơi Không ở bốn cõi trời Vô Sắc: 1. Không Vô Biên Xứ, 2. Thức Vô Biên Xứ, 3. Vô Sở Hữu Xứ, 4. Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ.
(2) Tứ Cú: Bốn câu: 1. Có; 2. Không; 3. Cũng có cũng không; 4. Không phải có cũng không phải không. Lối chấp này là của ngoại đạo.
(3) Bách Phi: Trăm lỗi: Trong bốn câu, mỗi câu đủ bốn câu, nhân thành 16 câu, tính cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai thành 48 câu, lại chia một phần đã khởi, một phần chưa khởi thành 96 câu họp lại với bốn câu chánh thành 100 câu. Hai danh từ Tứ Cú và Bách Phi thường được dùng để nói lên những chấp trước của ngoại đạo. Các bậc Giác Ngộ đã dứt bỏ tất cả mọi chấp trước nên thường được ca tụng là đã lìa tứ cú, dứt bách phi.
(4) Bảy phương tiện:
4.1. Pháp Ngũ Đình Tâm Quán:
(a) Quán bất tịnh để đối trị lòng tham dục;
(b) Quán từ bi để đối trị lòng sân hận;
(c) Quán sổ tức (đếm hơi thở) để đối trị tâm tán loạn;
(d) Quán nhân duyên để đối trị tâm si mê;
(đ) Quán niệm Phật để đối trị nghi chướng
4.2 Biệt tướng quan niệm: Quán riêng từng tướng như tứ niệm xứ; quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.
4.3 Tổng tướng niệm: Trong một niệm quán đủ cả thân, thọ tâm pháp, như quán thân bất tịnh thì biết cả thọ, tâm, pháp cũng thế.
4.4 Noãn vị: Lấy chỗ biệt tướng cùng tổng tướng, quán cảnh tứ đế phát ra phần hiểu biết tương tự, phục phiền não hoặc, được chút khí phần của Phật cũng như cọ cây lấy lửa, lửa tuy chưa thấy nhưng trước đã được hơi ấm.
4.5 Đảnh vị: Tu theo noãn vị càng ngày càng tăng thông đạo quán phân minh (ở trên noãn vị như lên đỉnh núi thấy cả bốn phương).
4.6 Nhẫn vị: Bởi công tu trước, thiện căn ngày càng tăng tiến, đối với cảnh tứ đế kham nhẫn làm vui.
4.7 Thế đệ nhất vị: Tu phép tứ đế đến đây lần thấy pháp tánh sắp vào bậc sơ quả tuy chưa vào bậc chánh đạo mà đối với thế gian là đệ nhất.
(5) Bốn công da hạnh: Còn gọi là bốn Thiện căn: Noãn Vị, Đảnh Vị, Nhẫn Vị và Thế Đệ Nhất Vị. Điều cần nói là tu đến Noãn và Đảnh vị thì có thể chuyển chúng tánh Thanh Văn thành chủng tánh Bồ Tát. Đến Nhẫn vị thì hết chuyển được, vì Nhẫn vị không còn thoái đọa ác đạo, mà Bồ Tát thì phải vào đó mà lợi tha.
(6) Tam Quán: Quán không: Xét ra sự vật đều không có thật tánh, thật tướng, mọi pháp vốn không. Quán
giả: Xét rằng muôn vật đều thay đổi, vô thường và giả tạm. Quán trung: Phải quán cho ra nghĩa trung đạo: Không phải không, không phải giả. Đó là ba pháp quán trọng yếu của Phật giáo.
(7) Tứ Niệm Xứ: Bốn chỗ hành giả phải suy nghĩ luôn. Ấy là: Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngã.
(8) Năm căn: Năm căn lành: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn. Năm căn lành này được xếp vào trong 37 phẩm trợ đạo.
(9) Năm lực: Năm lực đạt được do tu tập năm thiện pháp căn bản (Ngũ thiện căn): Tín lực, tinh tiến hay tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
(10) Bốn thứ thần túc: Cũng còn gọi là bốn Như Ý túc, được xếp vào 37 phẩm trợ đạo. Là pháp tu giúp hành giả thực hành như ý muốn và mau đạt đạo quả, gồm có: 1. Lòng muốn được thần thông; 2. Lòng thệ nguyện tu đến Niết Bàn; 3. Giữ gìn tư tưởng tinh tấn; 4. Tham cứu đạo lý (tư duy và ý túc)
(11) Băm Bảy phẩm đạo: Ba mươi bảy phẩm thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ đề, gồm có: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi và bát chánh đạo. Nhà tu hành mà có được 37 phẩm đạo ấy cho đầy đủ, thì thành đạo. Bục La Hán, bực Duyên Giác hay bực Phật Như Lai đều có tu hành 37 phẩm ấy. Đó là chỗ tu chung của Tam thừa. Bồ Tát tu Lục độ và tu 37 phẩm đạo xong thì đắc quả vị Như Lai
(12) Tam Minh: Ba thuật sáng suốt của hàng Thánh Giả, gồm có:
1. Túc mạng minh, biết những đời trước cuả mình và của người luân chuyển thế nào, vượt yếu tố thời gian;
2. Thiên nhãn minh, thấy rõ khắp nơi trong vũ trụ, vượt yếu tố không gian;
3. Lậu tận minh, diệt hết mọi phiền não.
(13) Tứ Trí: Bốn thứ trí của bực Thánh, bực Phật. Gồm có: 1. Đạo huệ trí: tức Phật tánh; 2. Đạo huệ chủng trí: Cái trí biết các đạo trong mười pháp giới; 3. Nhứt thiết trí: Cái trí biết tất cả, biết rằng các pháp, các tướng đều dịch tiệt, biết hết các hành động, trạng mạo.
(14) Bốn đạo vô ngại: Cái trí huệ có bốn đức không bị trệ ngại. Đó là bốn món trí biện tự tại thuyết pháp của các bực Bồ Tát lớn. Còn được gọi là Tứ Vô Ngại Biện, Tứ Vô Ngại Giải. Gọi tắt là Tứ Vô Ngại. Gồm có:
1. Pháp Vô Ngại Trí: Có cái trí huệ biết hết các pháp và tên của pháp, biết và diễn giảng không ngăn ngại;
2. Nghĩa Vô Ngại Trí: Có cái trí huệ hiểu biết nghĩa lý của các pháp, tùy theo tên của mỗi pháp mà giải nghĩa, không hề bị ngăn ngại;
3. Từ Vô Ngại Trí: Có cái trí huệ hiểu biết các danh tự, các ngôn từ một cách không trệ ngại, cho nên diễn
giảng, biện luận rất thông;
4. Lạc Thuyết Vô Ngại Trí: Có cái trí huệ biết căn tánh của chúng sanh, vui thuyết không hề bị chướng ngại, không thối lui, không sợ sệt, không bị ai đốn phá.
(15) Sáu Ba La Mật: Sáu hạnh Ba La Mật (paramitas), còn được gọi là Lục Độ là sáu nền đại hạnh có thể đưa (độ) người từ bến Mê đến bờ Giác, từ luân hồi đến Niết Bàn, từ địa vị chúng sanh đến địa vị Phật, gồm có:
15.1 Đàn Ba La Mật (Dâna- Paramita) hay bố thí độ: Là hạnh bố thí của Bồ Tát. Hạnh này trừ diệt lòng tham lam, keo kiết.
15.2 Thi La Ba La Mật (Sila- Paramita) hay Trì giới độ: Là hạnh giữ gìn giới luật của Bồ Tát. Hạnh này trừ diệt nghiệp tà ác của Thân, Miệng và Ý.
15.3 Sàn Đề Ba La Mật (Kshânti- Paramita) hay Nhẫn nhục độ. Là hạnh nhẫn nhục của Bồ Tát. Hạnh này diệt trừ lòng giận hờn, oán ghét.
15.4 Tỳ- Lê- Da Ba La Mật (Virya- Paramita) hay Tinh tấn độ: Là hạnh tinh tấn trừ phiền não và làm các điều thiện của Bồ Tát. Hạnh dõng mãnh này trừ diệt lòng biếng nhác.
15.5 Thiền ba la Mật ( Dhyana-Paramita) hay Thiền tịnh độ: Là hạnh tu tĩnh lự của Bồ Tát. Hạnh này trừ diệt lòng tán loạn.
15.6 Bát Nhã Ba La Mật (Prajnâ- Paramita) hay Trí
tuệ độ: Là hạnh tu trí tuệ và đắc trí tuệ của Bồ Tát. Hạnh này diệt trừ tâm tánh ngu si, tà kiến.
(16) Tứ Nhiếp Pháp: Gồm có:
16.1 Bố thí nhiếp pháp: Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sinh trụ nơi chân lý.
16.2 Ái ngữ nhiếp pháp: Bồ Tát hay tùy thuận căn tánh chúng sinh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chân lý.
16.3 Lợi hành nhiếp pháp: Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơi thân, khẩu ý làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhân đó họ được trụ nơi chân lý.
16.4 Đồng sự nhiếp pháp: Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sinh, tùy theo chỗ ưa mu ốn của hòa phân thân thị hiện khiến họ được thấm nhuần lợi ích, nhân đó họ được an trụ nơi chân lý.
(17) Đại Thừa bốn thệ: Còn gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện:
17.1 Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ: nơi cảnh khổ đế, Bồ Tát quán thấy chúng sinh vô biên bị khổ sanh tử áp bức nên phát nguyện độ thoát họ ra khỏi ba cõi.
17.2 Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Y nơi cảnh tập đế, Bồ Tát thẩm sát phiền não hoặc nghiệp vô lượng hay chiêu tập quả khổ sanh tử nên phát nguyện đoạn trừ và khiến cho chúng sanh cũng đoạn trừ.
17.3 Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Y nơi cảnh đạo đế, Bồ Tát thẩm sát đạo pháp vô lượng có thể
đưa tới Niết Bàn, tự mình biết rồi lại nguyện cho tất cả chúng sinh đều chứng biết.
17.4 Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Y nơi cảnh diệt đế, Bồ Tát thẩm sát quả Bồ Đề tối thắng không chỉ hơn tự mình thành tựu lại nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thành tựu.
(18) Mười minh: Chỉ cho Thập Tín: 1. Tín tâm; 2.Niệm tâm; 3.Tinh tấn tâm; 4. Tuệ tâm; 5. Định tâm; 6. Bất thối tâm; 7.Hộ pháp tâm; 8. Hồi hướng tâm; 9. Giới tâm; 10. Nguyện tâm.
(19) Mười hạnh:
1. Hoan hỷ hạnh;
2. Nhiêu ích hạnh;
3. Vô sân hận hạnh
4. Lợi ích hạnh
5. Ly si loạn hạnh
6. Thiện hiện hạnh
7. Vô trước hạnh;
8. Tôn trọng hạnh;
9. Thiện pháp hạnh;
10. Chân thật hạnh.
(20) Mười hướng: Chỉ cho Thập hồi hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay
chuyển căn lành của mười hạnh hướng về ba chỗ:
a) chỗ sở chứng chân như thật tế;
b) chỗ sở cầu vô thượng Bồ Đề;
c) chỗ sở độ tất cả chúng sanh.
Thập hồi hướng gồm có:
1. Cứu tất cả chúng sanh mà lìa tướng chúng sanh bị độ;
2. Bất hoại: trước lìa chúng sanh tướng là hoại hoại tức không, bất hoại tức giả, không và giả chẳng phải hai. Chính rõ trung đạo mà qui thú nơi bổn giác;
3. Đẳng nhất thiết Phật: tánh bổn giác trạm nhiên thường trú mà cái tri năng giác ngang hàng Phật giác;
4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: được trí năng giác trước kia cùng khắp tất cả chỗ;
5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: công đức nhiều không cùng nên tất cả thế giới của các đức Như Lai có thể xen lẫn cùng nhau không ngăn ngại;
6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: đối với lý địa của chư Phật, khởi nhân chân chánh của muôn hạnh và hiển chứng được đạo nhất thừa tịch diệt.
7. Tùy thuận đẳng quán nhứt thiết chúng sanh hồi hướng: đã tu những nhân chân chánh thì thiện căn thành tựu có thể quán biết mười phương chúng sinh
đồng một tánh, tánh đã bình đẳng thì mới làm cho thiện căn chúng sanh thành tựu, không sơ sót, không cao thấp;
8. Chân như tướng hồi hướng: lìa vọng là chân, không khác là như, nghĩa là tất cả pháp tánh vốn chân như;
9. Vô phược giải thoát hồi hướng: tướng chân như đã hiện thì trí tuệ rõ ràng, trí tuệ rõ ràng thì y báo chánh báo trong mười phương thấy nhiếp một cách viên dung tự tại vô ngại;
10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: khi đã chứng được tánh đức chân như thành tựu viên mãn trùm nhiếp cùng khắp thì không còn phân biệt sự sai khác các tướng của mười cõi.
(21) Mười nguyện: Thập nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền:
1. Lễ kính chư Phật;
2. Xưng tán Như Lai
3. Quảng tu cúng dường,
4. Sám hối nghiệp chướng
5. Tùy hỷ công đức;
6. Thỉnh chuyển pháp luân;
7. Thỉnh Phật trụ thế;
8. Thường tùy Phật học
9. Hằng thuận chúng sanh;
10. Phổ giai hồi hướng.
(22) Bồ Tát mười địa: Mười đẳng cấp của Bồ Tát, thường gọi là Thập Địa Bồ Tát:
Sơ địa: Hoan hỳ địa. Bồ Tát thấy chúng sanh tâm bị tà kiến chướng ngại, nên khởi tâm tu theo hạnh xả trong thân tâm ngoài của cải không lẫn tiếc. Do đó cảm quả tâm được hoan hỷ.
Nhị địa: Ly cấu địa. Bồ Tát thấy chúng sinh tạo mười nghiệp ác tâm đọa vào hạnh tà nên phát từ tâm tu mười nghiệp lành xa lìa được dục cấu.
Tam địa: Phát quang địa: Bồ Tát thấy chúng sanh mê hoặc tối tăm che mất pháp lành nên phát tâm quảng đại đúng như pháp mà tu hành, nhân đó trí huệ phát ra sáng suốt.
Tứ địa: Diệm Tuệ địa: Bồ Tát thấy chúng sanh phiền não nên phát tâm đại từ tu 37 phẩm trợ đạo, nhân đó phát ra diệm tuệ.
Ngũ địa: Nan Thắng địa: Bồ Tát thấy các bậc hạ thừa đắm trệ vào cảnh hữu dư Niết Bàn, ưa sự vắng lặng độc thiện nên phát từ tâm tu lập bình đẳng giác hạnh ngộ được chân đế và tục đế, được trí không sai biệt
Lục địa: Thiện Hiện địa: Bồ Tát thấy chúng sanh bị đọa vào sanh tử nên phát tâm đại bi nên tu hành bình đẳng lợi sanh, nhân đó trí tuệ được hiện tiền.
Thất địa: Viễn Hành địa: Bồ Tát vì thệ nguyện độ sinh nên phát tâm từ bi gia công tu tập tất cả những 'pháp bồ đề phận' ngộ được không, vô tướng, vô nguyện tam muội.
Bát địa: Bất động địa: Bồ Tát không bỏ nhiệm vụ độ sinh gia công tu tập đạo hạnh thanh tịnh, lìa sự phân biệt chấp trước về tâm, ý, thức, chứng được vô sinh pháp nhẫn, tất cả phiền não không còn lay động được.
Cửu địa: Thiện Huệ địa: Bồ Tát dùng vô lượng trí quán sát cảnh giới chúng sanh đều biết như thật, được trí tuệ vô ngại; khôn khéo nói khắp các pháp khiến cho chúng sanh đều lợi ích.
Thập địa: Pháp vân địa: Bồ Tát dùng vô lượng trí tuệ quán sát và hiểu biết rõ ràng pháp tam muội hiện tiền chứng được đại pháp dùng thân làm mây trùm khắp tất cả chúng sinh đầy đủ tự tại.
Từ sơ địa đến tứ địa thiên về Không, nên gọi là Minh Giải vì có nhiều công soi xét được bên trong
Từ ngũ địa đến thất địa thiên về Giả nên gọi là Tri kiến, vì dùng bên ngoài nhiều.
Từ địa thứ tám trở đi chuyển được tạng thức rồi mới được bình đẳng cho nên địa sau cùng gọi là Song Chiếu (chiếu Không, chiếu Giả).
(23) Năm tội sâu: Tiếng Hán gọi là Ngũ Nghịch, gồm có các trọng tội như sau: 1.Giết cha; 2.Giết mẹ; 3. Giết A La Hán; 4. Phá hòa hiệp của chúng tăng; 5.
Làm cho thân Phật chảy máu.
(24) Vô Gián Ngục: Còn gọi là địa ngục A Tỳ. Trong ngục này từ sự chịu khổ cho đến tâm hạnh đều không gián đoạn một lúc nào nên gọi là Vô Gián...
(25) Nhất Xiển Đề: Danh từ phiên âm của Phạn ngữ (Sanskrit) Icchantika. Hán âm là Ychawnti, dịch nghĩa là đoạn thiện căn, là người phá bỏ mọi căn lành của mình, hoặc cũng được dịch là bất tín cụ, là người không có đủ niềm tin vào Phật pháp. Người đã đoạn diệt những căn lành và vì vậy, khó được cứu độ, dù họ có tu tập tinh cần đến mức nào cũng không thể đạt giải thoát.
(26) Mười thiện: (Thập thiện) Là mười việc thiện được thực hiện qua Thân (3), Khẩu(4) và Ý(3).
Thập thiện bao gồm:
1. Bất sát sinh: Không hại mạng sống chúng sanh;
2. Bất thâu đạo: Không trộm cắp tức là không lấy những tài vật người ta không cho;
3. Bất tà dâm: Không làm việc dâm dục không chánh đáng;
4. Bất vọng ngữ: Không nói dối hay nói điều xằng bậy;
5. Bất lưỡng thiệt: Không nói lời hai chiều;
6. Bất ác khẩu: Không xấu người hay nói lời ác hại;
7. Bất ỷ ngữ: Không nói thêu dệt, bịa đặt;
8. Bất tham dục: Không tham lam;
9. Bất thận khuể: Không giận dữ;
10. Bất tà kiến: Không ôm ấp những ý niệm và hiểu biết sai lầm.
(27) Năm giới: Năm giới cấm của hàng Phật tử tại gia, gồm có: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối và 5. Không uống rượu hay dùng những chất làm say sưa.
(28) Bốn Tâm Vô Lượng: Bốn lòng vô lượng, bốn đức vô lượng mà Phật và Bồ Tát thi hành để làm lợi ích, an lạc, độ khổ não, hoạn nạn cho vô lượng chúng sanh trong vô lượng Thế Giới. Gồm có:
1. Lòng Đại Từ: tấm lòng lành, do tấm lòng ấy mà làm lợi ích, an lạc cho chúng sanh, không phân biệt thân hay sơ, hữu tình hay vô tình, theo đạo Phật hay không theo đạo Phật.
2. Lòng Đại Bi: tấm lòng thương xót, do tấm lòng ấy mà cứu tai nạn, khổ não cho tất cả chúng sanh mọi loài.
3. Lòng Đại Hỷ: lòng vui mừng, tự mình vui và mừng cho tất cả chúng sanh khi họ đều làm được điều lành.
4. Lòng Thí Xả: tha thứ cho người, tự mình hy sinh để giúp cho chúng sanh được an lạc, không kể kẻ lạ người quen, kẻ oán người thân.
Trong Kinh Niết Bàn, Đức Phật nói: tu lòng Từ để dứt lòng tham dục. Tu lòng Bi để dứt trừ lòng sân hận. Tu lòng Hỷ để dứt trừ lòng chẳng vui. Tu lòng Xả để dứt trừ lòng tham dục và sân hận của chúng sanh.
Tứ Vô Lượng có hai thứ: thế gian Tứ Vô Lượng và Xuất thế gian Tứ Vô Lượng. Bồ Tát trước tu và đắc Thế gian Tứ Vô Lượng, tức là làm xong những việc Từ, Bi, Hỷ, Xả giúp ích cho đời. Kế đó, Bồ Tát phát nguyện cầu thành Phật. Sau khi ấy, mới tu và đắc Xuất Thế Gian Tứ Vô Lượng, tức là làm xong những việc Từ, Bi, Hỷ, Xả độ thoát cho các nhà tu hành. Chừng ấy mới kêu là Đại Tứ Vô Lượng, tức là đủ bốn đức Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ và Đại Xả.
(29) Mười Trí Lực: Gồm có:
1. Thế tục trí: Trí khôn của kẻ phàm phu hay là trí khôn do tục sự ở thế gian.
2. Pháp trí: Trí khôn quán tưởng bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo nơi Dục Giới.
3. Loại trí: Trí khôn quán tưởng bốn đế về hai thế gian và dục giới, biết này, biết kia, đồng loại.
4. Khổ trí: Lúc dứt trừ kiến hoặc trong Tam giới, quán tưởng Khổ đế nơi Dục giới mà dứt đi, nghĩa là cái trí về đạo Giải Thoát vậy.
5. Tập trí: Cái trí giải thoát được nghiệp khổ báo Tam giới và Lục thú nhóm lại.
6. Diệt trí: Cái trí chiếu rõ cái lý Diệt đế nơi Dục giới
mà giải thoát.
7. Đạo trí: Cái trí chứng được lý Đạo đế.
8. Tha tâm trí: Cái trí biết tâm niệm của người khác.
9. Tận trí: Tức Lậu tận trí là cái trí dứt được các phiền não.
10. Vô sanh trí: Cái trí chứng được lý vô sanh của hàng Thánh Nhân.
Mười trí trên do Tiểu Thừa giáo lập ra đặng thâu nhiếp hết thảy các trí.
Đại thừa giáo lại nói về thuyết Mười Trí mà Đức Như Lai có đủ:
1. Tam thế trí: cái trí thông đạt ba đời
2. Phật pháp trí: Cái trí thông đạt pháp Phật
3. Pháp giải vô ngại trí: Cái trí chứng được lý vô ngại của các pháp.
4. Pháp giới vô biên trí: Cái trí rộng bao quát tất cả các pháp vô cùng tận.
5. Sung mãn nhất thiết thế giới trí: Cái trí đầy khắp cả hết thảy các thế giới
6. Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí: Cái trí chiếu khắp hết thảy thế gian.
7. Trụ trì nhất thiết thế giới trí: Cái trí thường trụ tại hết thảy các thế giới
8. Tri nhất thiết chúng sanh trí: Cái trí biết hết thảy chúng sanh
9. Tri nhất thiết pháp trí: Cái trí biết hết thảy các pháp
10. Tri vô biên chư Phật trí: Cái trí biết cả vô biên chư Phật.
(30) Đại Bi ba niệm: Ba lòng đại bi thường trụ của Phật nhiếp hóa chúng sanh:
1. Chúng sanh tin Phật Phật chẳng sinh lòng vui mừng, thường trú yên vào chánh niệm, chánh trí.
2. Chúng sanh chẳng tin Phật, Phật chẳng sanh lòng lo buồn, thường trú yên vào chánh niệm, chánh trí.
3. Đồng thời một hạng tin, một hạng chẳng tin, Phật biết vậy, chẳng sanh lòng vui mừng và lo buồn, thường trú yên vào chánh niệm, chánh trí.
(31) Bốn vô úy: Cũng gọi là Tứ Vô Sở Úy, nghĩa là bốn đức dạn dĩ, chẳng sợ:
1. Nhứt thiết vô sở úy: Có trí biết tất cả nên chẳng sợ chi hết.
2. Lậu tận vô sở úy: Dứt hết các phiền não nên chẳng sợ chi hết.
3. Thuyết chướng đạo vô sở úy: Giải thuyết chỉ chỗ ngăn hại đạo nên chẳng sợ chi hết.
4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy: Giảng thuyết dạy dứt hết các sự khổ nên chẳng sợ chi hết.
(32) Tám tự tại ngã: Tám đức tự tại của Phật. Như Lai đắc Niết Bàn là thể nhập Đại Ngã, hoàn toàn tự tại, có đủ tám đức:
1. Ngài dùng một thân mà thị hiện ra rất nhiều thân, nhiều như số vi trần.
2. Thân như vi trần của Ngài bủa khắp tam thiên đại thiên giới.
3. Cái đại thân của Ngài nhẹ nhàng bay lên trên không, bay đến các thế giới khác.
4. Ngài hiện ra vô lượng hình thể các loại mà ở tại một cõi.
5. Sáu căn của Ngài đều tự tại. Ngài có thể dùng một căn mà thế cho các căn.
6. Ngài đắc tất cả các pháp nhưng trong tâm Ngài vẫn tưởng là không đắc.
7. Ngài thuyết pháp một cách tự tại, những lẽ ngài giảng nói đều tự tại, dầu trải qua vô lượng kiếp, ý nghĩa cũng vẫn còn.
8. Ngài tự bủa mình khắp nơi mà người ta chẳng thấy, dường như hư không.
Muốn biết thêm chi tiết, xin đọc kinh Đại Bát Niết Bàn, quyển 23.
(33) Băm hai tướng tốt: ba mươi hai tướng đặc biệt của Phật:
(1) Bàn chân bằng phẳng;
(2) Chỉ dưới bàn chân có ngàn cái xoay tròn như hình cả ngàn cây căm bánh xe;
(3) Ngón tay dài, đầu ngón tay nhỏ và nhọn;
(4) Tay, chân đều diệu mềm;
(5) Trong kẽ tay và kẽ chân có da mỏng như giăng lưới;
(6) Gót chân đầy đặn;
(7) Trên bàn chân nổi cao đầy đặn; (8) Bắp vế tròn như bắp chuối;
(9) Khi đứng, hai tay dài quá gối;
(10) Nam căn ẩn kín;
(11) Thân hình cao lớn và cân phân;
(12) Những lỗ chân lông thường ánh ra sắc xanh;
(13) Những lông trên mình uốn về bên hữu;
(14) Thân thể sáng chói như vàng thắm;
(15) Quanh mình thường có hào quang chiếu ra một tầm;
(16) Da mỏng và mịn;
(17) Lòng bàn chân, bàn tay, hai vai và trên đảnh, bảy chỗ ấy đầy đặn;
(18) Hai nách đầy đặn;
(19) Thân thể oai nghiêm như sư tử;
(20) Thân thể vuông chắn, ngay thẳng
(21) Hai vai tròn trịa, cân phân
(22) Bốn mươi cái răng
(23) Răng trắng, trong đều nhau và khít;
(24) Bốn cái răng cửa lớn hơn;
(25) Gò má nổi cao như hai mép của sư tử
(26) Nước miếng đủ chất thơm ngon;
(27) Lưỡi rộng dài, mềm mỏng, khi le ra đến chân tóc;
(28) Giọng nói trong trẻo, nghe xa như giọng nói của Phạm thiên;
(29) Mắt xanh biếc
(30) Lông nheo dài, đẹp;
(31) Chòm lông trắng giữa hai chân mày thường chiếu sáng;
(32) Trên đỉnh đầu, thịt nổi cao lên như một bới tóc.
(34) Tám mươi vẻ đẹp: 80 tướng tốt phụ theo 32 tướng trang nghiêm của Phật:
(1) Móng tay bầu tròn;
(2) Móng tay màu như đồng đỏ;
(3) Móng tay láng
(4) Ngón tay tròn trịa
(5) Ngón tay đẹp
(6) Ngón tay nhọn hàng đầu
(7) Gân máu ẩn kín
(8) Mắt cá ẩn kín
(9) Những khớp xương chắc chắn;
(10) Hai bàn chân bằng nhau;
(11) Gót chân rộng rãi
(12) Đường chỉ trong bàn tay thì láng
(13) Đường chỉ trong bàn tay thì bằng nhau
(14) Đường chỉ trong bàn tay ăn sâu
(15) Đường chỉ trong bàn tay không quanh quẹo
(16) Đường chỉ trong bàn tay thì chạy dài
(17) Môi đỏ như trái tần bà
(18) Tiếng thốt ra không to lắm
(19) Lưỡi mềm, mịn và đỏ
(20) Tiếng nói dịu ngọt và trong, nghe như tiếng voi hay tiếng sấm
(21) Nam căn đầy đủ
(22) Cánh tay dài;
(23) Tay chân sáng láng
(24) Tay chân mịn màng
(25) Tay chân rộng rãi
(26) Tay chân không có lệch xệ
(27) Tay chân không cợm xương;
(28) Tay chân đều đủ và mạnh mẽ
(29) Tay chân rất cân phân với nhau
(30) Xương đầu gối rộng lớn và đầy
(31) Tay chân tròn trịa
(32) Tay chân rất láng
(33) Tay chân đều
(34) Rún sâu;
(35) Rún đều
(36) Cánh hạnh của Ngài thanh tịnh
(37) Ngài dễ chịu, dễ thương
(38) Ngài tỏa ra chung quanh mình hào quang rất sáng, rất trong làm tan mất sự mờ ám;
(39) Tướng đi đằm thắm oai nghiêm như tượng vương
(40) Tướng đi oanh liệt như sư tử;
(41) Tướng đi trang nhã như bò thần
(42) Tướng đi như nga vương;
(43) Vừa đi vừa xoay về phía hữu;
(44) Từ hông chí bàn tọa tròn trịa;
(45) Từ hông chí bàn tọa thì láng
(46) Từ hông chí bàn tọa không có chênh lệch;
(47) Cái bụng hình cây cung;
(48) Một cái thân thể mà không vật gì làm lu mờ hoặc lem luốc được;
(49) Mấy cái răng cửa thì bầu tròn;
(50) Mấy cái răng cửa thì nhọn hàng đầu
(51) Mấy cái răng cửa đều với nhau
(52) Cái mũi rộng lớn
(53) Cặp mắt sáng
(54) Cặp mắt trong
(55) Cặp mắt hiền
(56) Cặp mắt dài
(57) Cặp mắt mở lớn
(58) Cặp mắt như hai kiến hoa sen xanh
(59) Cặp chân mày bằng nhau;
(60) Cặp chân mày đẹp
(61) Cặp chân mày đâu với nhau
(62) Cặp chân mày rất cân phân đều đặn;
(63) Cặp chân mày đen
(64)Hai gò má đầy đặn
(65) Hai gò má bằng với nhau
(66) Hai gò má đều, xinh đẹp
(67) Thấy Ngài, không ai dám mắng và rầy, vì hình thể Ngài tốt đẹp đủ điều
(68) Ngũ quan và trí giác của Ngài chịu quyền chế ngự của Ngài một cách nghiêm chỉnh;
(69) Các cơ thể đầy đủ và trang trọng
(70) Mặt và trán đối nhau rất cân phân
(71) Cái đầu rất nở nang
(72) Tóc đen
(73) Tóc bằng ngọn với nhau
(74) Tóc có hàng ngũ vén khéo
(75) Tóc có mùi thơm
(76) Tóc không cứng sợi
(77) Tóc không rối
(78) Tóc rất đều
(79) Tóc uốn lại
(80) Tóc có hình những chữ thánh, như chữ Srivatsam, chữ Savastika, chữ Nandyàvasta, chữ Vardhmàna
(35) Thân Kim Cang: Cũng được gọi là Kim cang thể hay Vóc kim cang để chỉ cho cái hình vóc đầy đủ, bền bỉ, chẳng hoại. Thân thể của Phật kiên cố như chất kim cương.
(36) Ngọc Như Ý: hay Như Ý Châu. Một thứ châu báu, nhờ nó mà cầu lấy mọi vật đều được theo như ý mình. Tiếng Phạn gọi là Ma Ni Châu (Cintamani). Nghĩa bóng chỉ sự quý báu của Phật pháp.
(37) Xích thằng: Sợi dây màu đỏ, ràng buộc ái ân.
(38) Phạm hạnh: Hạnh tu thanh tịnh của người xuất gia đoạn tuyệt dâm dục. Người tu phạm hạnh đạo Phật sẽ đạt quả Niết Bàn, vãng sanh về cõi Tịnh độ hay sanh lên cõi Trời (Phạm chí) thanh tịnh.