Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Địa Tạng

Tư Tưởng Kinh Địa Tạng

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 127.

Chương 4: Chương II: Nội Dung Kinh (Trang 18 - 106)

Chương II
              NỘI DUNG KINH

Trong tập sách này phần nội dung kinh sẽ được trình bày dưới hai hình thức:
I. Trình bày từng phẩm kinh.
II. Trình bày qua từng phần giáo lý, bao gồm:
1. Hiếu đạo.
2. Bố thí.
3. Trì giới.
4. Thiền định.
5. Trí tuệ.
6. Bồ tát hạnh của Địa Tạng đại sĩ
7. Nhân quả.

 
                          Tiết I
                      Phần thứ nhất
THẦN THÔNG TẠI CUNG TRỜI ĐAO LỢI

 
Thiết tưởng chúng ta cần có một cái nhìn tổng quát về hình thức xây dựng của kinh, trước khi đi vào nội dung của từng phẩm.
Kinh không trình bày giáo lý một cách trực tiếp, cũng không trình bày giáo lý dưới hình thức vấn đáp giảng giải, mà gián tiếp nói lên giáo lý qua các cảnh đời khổ đọa và giải thoát, diễn tiến như một tiểu thuyết với các tình tiết được sắp đặt chặt chẽ. Tại đây ,chúng ta không quá câu nệ một số điểm trình bày, mà chỉ cốt nắm vững trọng tâm giáo lý của kinh.

 
Phần thứ nhất nói lên một số điểm:
1- Xác định chung cảnh đức Thích Tôn thuyết Kinh Địa Tạng tại cung trời Đao Lợi của Dục Thiên Giới, cõi trời có nhiều lạc thú nhất của dục giới.
2- Thời pháp này Thế Tôn nói cho Thánh Mẫu Ma-gia nghe, dù thích chúng vân tập gồm đủ các hàng phàm thánh, trước khi Thế Tôn vào Niết bàn. Đây là thời pháp độ Thánh Mẫu, vừa giáo hóa chúng sanh như là thời kinh hiếu.
3- Xác định mục đích Thế Tôn thuyết pháp chỉ nhằm: “ Chiết phục chúng sanh ương ngạnh, làm cho họ biết được cái gì là thống khổ và cái gì là hạnh phúc”.
( Địa Tạng, bản dịch của TT Trí Quang, Sài Gòn, 1970, phẩm một, trang 134)
Hệt như giáo lý truyền thống của A-hàm và Nikàya xác định.
4- Các vừng hào quang chiếu sang nói lên kết quả của đại định và đại tuệ của Thế Tôn. Âm thanh xuất ra đủ tiếng nói của giáo lý phật giáo mà ba đời chư Phật giảng dạy: Giới, Định, Tuệ Lục Độ, Tứ vô lượng tâm.

 
5- Chúng hội gồm đủ Tứ thánh và Lục phàm, từ cực ác đến cực thiện. chúng hội này có thể do thần lực của Thế Tôn hóa hiện; Cũng có thể do nương vào thần lực của Như Lai mà tất cả có thể vân tập về Đao Lợi. Điểm nổi bật nhất của hình ảnh vân tập là hiện rõ tiếng nói dung nhiếp vô ngại của các pháp, vượt ra ngoài các ngăn ngại của ngã tính của thời gian và khong gian ( tất cả đã tụ về Đao Lợi Tiên mà không bị vướng ngại), vừa nói lên rằng đó là hội chúng của tâm thức mỗi chúng sanh.
6- Thế Tôn dạy: Tất cả vô lượng chúng sanh đủ mọi cảnh giới đều đã, đang và sẽ được Địa Tạng Đại sĩ giáo hóa ( trang 138), tác thành. Ở đây nói lên rõ Địa tạng là biểu tượng của tâm thể. Thời gian lâu xa vô lượng kiếp mà địa sĩ đã hóa độ là chỉ thời gian của thực tại như thực. Để vào thực tại đó, hành giả phải hành Bồ-tát phải hạnh cho đến ngày khổ đau và vô minh bị diệt tận. (Trang 141).
7- Con đường dẫn đến Phật trí là Bồ-tát đạo phát triển lòng đại từ đại bi. Cơ sở của tâm đại bi là tâm hiếu thảo.

 
8-  Đường vào các thống khổ của địa ngục là tà kiến, si mê, bất tín nhân quả, phỉ báng tam bảo ( Bà Duyệt Đế Lợi).
9-  Bà Duyệt Đế Lợi là mẹ của thiếu nữ Bà-la-môn ( tiền thân của Địa Tạng đại sĩ) là ý nghĩa tất cả đều có mật chân tâm, chỉ vì không nghe tiếng nói  của chân tâm, đi theo tà kiến bà mới bị khổ đọa.
10- Khi tâm của bà Duyệt Đế Lợi giác tỉnh, hướng về chân tánh, thì tất cả các vọng niệm, ác niệm đều được chuyển thành chánh niệm thiện niệm, thoát ly hẳn ác đạo. Đây là ý nghĩa của Kinh Địa Tạng dạy: Địa Tạng Đại sĩ đã cầu Thế Tôn Giác Hoa Định Tự Tại chỉ cảnh giới mẹ thác sinh để tìm phương cứu độ bằng bố thí và cúng dường.
11- Khi tâm đã hướng thiện thì các ác niệm, vọng niệm cũ dứt, do đó kinh nói: Tất cả tội nhân cũng được ra khỏi địa ngục và sinh Thiên giới một lượt với Bà Duyệt Đế Lợi.
Tại đây, nếu hiểu rằng chính Địa Tạng Đại sĩ đã cứu mẹ và các tội nhân địa ngục thì trái với luật nhân quả. Vả lại, ba đời chư

 
 Phật và Bồ-tát đều hồi hướng công đức cho hết thảy chúng sanh, nếu tha lực đã cứu độ, thì hóa ra không có chúng sanh sa vào địa ngục; hoặc nếu sa vào thì cũng lại được thoát ra mà không cần tu niệm. Kinh Địa Tạng chẳng đã dạy: “ chí thân như tình phụ tử đi nữa, cũng đường ai nấy đi”. ( trang 184).
12- Thế Tôn Giác Hoa Định Tự Tại đã không chỉ liền cảnh giới thác sinh của Bà Duyệt Đế Lợi mà bảo thiếu nữ nhiếp tâm niệm danh hiệu Ngài: Đây là cách bảo thiếu nữ tập trung tâm thức để tu thiền định; do nhờ có định mà thiếu nữ mới biết được cảnh khổ đọa của mẹ, biết rõ kết quả của ác niệm và con đường đi ra khỏi ác niệm. Định lực ấy là cần thiết, như kinh xác nhận: “ Phi thần lực thì nghiệp lực, ngoài hai năng lực ấy không thể nào đến đây được” ( trang 146).
13- Sau khi chết, Bà Duyệt Đế Lợi sa vào bể khổ thứ nhất của địa ngục. Tại đây, sau 49 ngày nếu không có thiện nhân bà đã tạo từ trước, hoặc nếu không nhờ công đức hồi hướng của thân nhân, thì bà

 
sẽ rơi vào bể khổ thứ hai, thứ ba, thực sự thọ báo địa ngục. (Trang 146-147).
Thế là, truyền thống của thât thất trai tuần có thể được xem là xuất phát từ Kinh Địa Tạng. Thân thọ khổ trong bể thứ nhất là thân trước của địa ngục mà không phải là thân trung ấm. Phật giáo không chủ trương có thân trung ấm. Chết liền thác sanh (theo Nikaya, A-hàm, luận A-tỳ-đàm và Kinh Địa Tạng), như Cảnh Sách Văn viết: “ Chuyển tức tức thị lai sanh” dứt hơi thở liền sanh kiếp khác.
Một số Phật tử ở Việt Nam tin tưởng Kinh Địa Tạng có năng lực cứu thoát địa ngục nên trì tụng để cầu nguyện cho thân nhân khi chết hoặc trong các ngày lễ kỵ. Đây là một tin tưởng đã rời xa Kinh Địa Tạng.
Lẽ đáng, xem Kinh Địa Tạng như một Hiếu Kinh cần được giới thiệu ý nghĩa cho những người đang sống hiểu rõ để xây dựng chánh kiến và chánh tín, hầu có một tập quán nghiệp và một cận tử nghiệp tốt mở đường đi vào thiện thú, Thiên giới sau khi chết. Trì tụng chỉ là bước đầu sửa soạn

 
cho mình phát khởi thiện tâm để hành các thiện hạnh. Với công đức tu tập này, nếu hồi hướng, cha mẹ qua đời chỉ hướng một phần bảy (1/7) – tr.204 – Công đức đó chỉ là trợ duyên tốt, ví như một là gió mát xoa dịu khách bộ hành đước trời nắng cháy. Nhân tố chuyển nghiệp chính vẫn là ở thiện tâm của mỗi người tự cứu.
Cảnh giới địa ngục được kinh mở ra như một tấm gương soi cho người thấy rõ tâm mình mà cảnh giác xa rời các ác niệm và ác hạnh. Nó không hoàn toàn là một cảnh giới, mà là các tâm tà kiến, độc hại có thể thiêu cháy bởi các hiếu tâm, từ tâm và thiện tâm. Ý nghĩa Địa Tạng Đại sĩ cứu thoát chúng sanh địa ngục là thế.
Hiếu tâm, từ tâm chẳng những xóa sạch được các ác tâm, mà còn khai nguồn cho đại bi tâm của một Bồ-tát.

 
                Phẩm Thứ Hai
THÂN PHÂN HÓA TẬP HỢP LẠI

Sau phần Thế Tôn giới thiệu Địa Tạng Đại sĩ và hạnh nguyện độ khổ của Người, Đại sĩ xuất hiện trước thính chúng và đãnh lễ Thế Tôn. Hình ảnh này mang ý nghĩa rằng:
- Phân thân của Địa Tạng tụ họp lại ý nghĩa tâm thức tụ lại làm Định. Khi Định tụ thì Tuệ chiếu (hình ảnh Địa Tạng yết kiến Thế Tôn).
- Khi đã giác thì các nguồn tâm hay nguồn giác, hay tất cả niệm đều có mặt Tuệ giác. Đây là ý nghĩa của tất cả chúng sanh mà Địa Tạng Đại sĩ giáo hóa đều theo Đại sĩ về để yết kiến Thế Tôn và được Thế Tôn xoa đầu. (Tr.150-151).

 
2. Chỉ có trí tuệ (chánh kiến) mới chỉ đường đi đúng cho các hành động của thân và ý của chúng sanh lìa tham, sân, si, thoát li sanh tử khổ đau. Hệt như nhờ có chánh kiến mới có chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Ý nghĩa này được kinh Địa Tạng diễn đạt qua hình ảnh Thế Tôn dùng mọi phương tiện khéo léo để dẫn dắt chúng sanh Tà bà ra khỏi địa ngục của tam giới (tr.151)
3. Thế Tôn đã hiện ra vô số thân sắc để tùy duyên hóa độ, trong đó có sông, hồ, núi non, biển cả… (tr.151) Thế Tôn ở đây đồng nghĩa với pháp tánh đã có mặt khắp pháp giới. Tất cả pháp giới đều đang thuyết pháp nói lên thật tánh vô tánh. Sông hồ hiện đang nói pháp. Cho nên kinh nói: “ Tất cả toàn là tác dụng hóa độ” (tr.152)
4. Sứ mệnh của Địa Tạng Đại sĩ là đem lại chánh kiến và từ bi cho chúng sanh, chỉ đường đi ra khỏi biển khổ. Các pháp hữu vi cũng đang nói pháp, chỉ đường đi ấy. Tuy nhiên, vẫn có những người không nghe, không hiểu, không tin chánh pháp, tiếp tục

 
lao đầu vào các tác nhân khổ đau. Vì vậy, trước khi vào Niết bàn, Thế Tôn đã để lại di huấn ký thác sứ mệnh giáo hóa cho Địa Tạng Đại sĩ (tr.153).
5. Nơi nào có khổ đau là nơi đó có mặt tà kiến và ác niệm (ác hạnh); nơi nào có tà kiến và ác hạnh, nơi đó cần có chánh kiến, từ bi. Đây là hình ảnh Bồ-tát Địa Tạng đã phân thân khắp nơi để cứu độ. (Tr.153-154)
6. Nếu có trí tuệ và từ bi và lien tục nuôi dưỡng bi và trí thì quyết định mọi điều ác sẽ bị diệt, mọi điều thiện sẽ được tăng trưởng, và tương lai quyết định sẽ thực hiện được tuệ giác vô thượng. Đây là ý nghĩa lời dạy xác chứng của Thế Tôn cuối phần kinh: ….Ông sẽ hoàn tất sự hóa độ sâu rộng, thực hiện tuệ giác tuyệt đối” (Tr.155)
Phẩm kinh thứ hai trình bày rất biểu tượng khả năng giác ngộ của mọi chúng sanh và con đường từ bi thiền định, trí tuệ để phát triển hoàn mãn khả năng giác ngộ ấy.

 
Thế Tôn thấy rõ Thiên chúng sống trong lạc thú, dung sắc và thọ mệnh lâu dài, khó có kinh nghiệm vô thường, khổ đau dễ ngủ yên trong thường kiến, nên đã thị hiện cảnh trần và địa ngục để thức tỉnh Thiên chúng nhận ra:
-  Tam giới là vô thường, do nghiệp lực sinh
- Vì vô thường nên tam giới là không thật,
-  Vì là vô thường, không thật, nên thực sự là khổ đau.
Sẽ khổ đau nhiều hơn khi hết tuổi thọ vì rơi xuống ba đường dữ - rất nhiều chư Thiên khi hết tuổi thọ bị rơi xuống ba đường dữ.
Đồng thời, Thế Tôn hé mở cho chư Thiên thấy con đường giải thoát của bậc Thánh Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (Qua sự hiện diện của các Ngài trong hội chúng) mà phát khởi bồ đề tâm.
Các chúng sanh khác đang tụ tập thiện giới theo gương chư Thiên ấy mà giác tỉnh về đạo lộ giải thoát.

 
Địa Tạng quả là thời pháp Thế Tôn muốn độ Thánh mẫu như Ngài đã khai ngộ cho phụ vương Tịnh Phạn đắc A-la-hán trước giờ phút lâm chung. Đây không phải chỉ là thời pháp để tụng cầu cho những người đã chết.
 
                     Phẩm thứ ba
QUAN SÁT NGHIỆP BÁO CHÚNG SANH

Phẩm kinh thứ ba và thứ tư giới thiệu luật nhân quả. Phẩm thứ ba thì nhấn mạnh đến nghiệp nhân, phẩm thứ tư thì nói nhiều đến nghiệp quả.
Hai phẩm kinh đầu đã nói rõ: Tà kiến đưa đến ác đạo và khổ đau; chánh kiến và tư bi đưa về giải thoát.
Chánh kiến là nội dung của thấy rõ và sâu Vô ngã, Tứ đế và Nhân quả. Tà kiến chỉ ngược lại, chấp ngã, chấp thường, không tin nhân quả, không thấy con đường dẫn đến đau khổ hay hạnh phúc.
Phẩm này chỉ rõ do tà kiến mà sa vào các hành vi tội lỗi dẫn đến khổ báo ở địa ngục; và chỉ rõ tất cả sai biệt của chúng

 
sanh là do nghiệp lực (nghiệp thiện, nghiệp ác).
1- Trước khi đi vào tìm hiểu Nhân quả, Nghiệp báo, chúng ta cần định nghĩa một số danh từ:
a/- Địa ngục: (Naraka, Niraya) Có nghĩa là nơi khổ sở (khổ xứ). Phật học đại từ điển gọi địa ngục là nơi đáng chán ghét (Khả yếm), là nơi lắm khổ đau (khổ cụ) v.v…
- Địa ngục vốn có mặt khắp pháp giới và có hai nghĩa:
* Cảnh giới địa ngục: Có cảnh giới địa ngục riêng cho các chúng sanh tạo các nghiệp nặng. Ở đó hóa sinh, tuổi thọ lâu dài, chịu nhiều thống khổ lien tục.
* Tâm địa ngục: Các trạng thái tâm lý đầy dục vọng, đầy sân hận, đầy si mê, lắm sầu, bi, khổ, ưu, não; là các trạng thái tâm địa ngục có trên trần gian.
b/- Nghiệp: (Karma, Kamma): Là hành động có tác ý thiện hay ác. Một hành động không có tác ý thiện, ác gọi là hành động phi nghiệp. Đây là nghiệp nhân.

 
c/- Nghiệp báo: Kết quả khổ, lạc mà chúng sanh đón nhận từ mỗi hành động gọi là nghiệp báo hay nghiệp quả.
d/- Địa ngục vô gián: Kinh Địa Tạng định nghĩa rằng:
- Khổ đau lien tục đỗ xuống tội nhân gọi là vô gián.
- Cực hình hành hạ suốt ngày đêm không hở gọi là vô gián.
- Các cực hình liên tục thay đổi hành hạ tội nhân gọi là vô gián.
- Không phân biệt căn cơ, giai cấp... bất cứ ai tạo ác nghiệp đều khổ đọa gọi là vô gián.
- Chết đi sống lại lien tục không gián cách gọi là vô gián.
Các hành động đưa vào địa ngục vô gián là các hành động mất hết nhân tính, mất hết từ tính nên không thể thác sinh về người, trời phải chịu khổ báo kéo dài đến hằng chục tỷ năm trần gian ( Theo Kinh Tập Tiểu Bộ Kinh).

 
2- Về 3 bể khổ ở địa ngục: Có quan niệm cho rằng đó là bể khổ của miệng, của thân và của ý.
Hành vi ác của miệng thì nhẹ hơn thân và ý. Quan niệm ấy có vẻ hợp lý. Nhưng đi sâu vào thuyết nghiệp báo của Phật giáo, thì thật khó cho chúng ta lượng định được mức độ nặng, nhẹ, bởi vì hành động nào cũng do ý tác động cả. Vì vậy, nặng, nhẹ là do tác ý. Cùng một hành động mà nếu tác ý mạnh, yếu khác nhau thì nghiệp quả sẽ khác nhau.
Do đó, 3 bể nghiệp của địa ngục là dành cho 3 hạng người tạo ác lúc sinh tiền: Ác vừa phải, ác nặng và cực ác. (Tương tự như các danh từ sau đây nói về mức độ ác: Cùng hung cực ác nhẹ hơn là vô ác bất tác, còn nhẹ hơn nữa so với ác quan mãn doanh).
3- Phẩm kinh thứ 3 chỉ đề cập các tội cực trọng (nghiệp cực trọng) không đi vào đủ các loại nghiệp của người đời. Tuy thế vấn đề căn bản của Nghiệp được nói đến từ đầu: Do tà kiến, bất tín nhân quả; và

 
căn bản của giải thoát nghiệp đã được biểu lộ qua sứ mệnh của Địa tạng đại sĩ.
4- Tuy phẩm kinh chỉ nói tổng quát đến nghiệp, cắt nghĩa đơn giản về lý thuyết nghiệp, nhưng so với hình ảnh vô cùng thống khổ, và với thời gian thọ khổ quá lâu dài đánh mạnh vào tâm thức thính chúng đã nói lên sự thật nhân quả một cách hùng hồn, và tác động thuyết phục lớn lao hơn nhiều so với giảng giải dài dòng.

 
                  Phẩm thứ tư
NGHIỆP BÁO CỦA DIÊM PHÙ

1- Năng lực độ khổ của Địa Tạng đại sĩ đúng là năng lực của chánh kiến và từ bi. Chánh kiến thì phá tan tà kiến, tà hạnh; từ bi thì phá đổ sân hận, ác tâm, hại tâm. Đây là ý nghĩa của lời Kinh Địa Tạng: “Phi thần lực xuất từ tâm đại bi của Phật, con không thể có sự phân hóa đó” (lời của Địa Tạng đại sĩ trang 163).
2- Chánh kiến và từ bi mà có mặt ở đời, có mặt ở mỗi tâm thức chúng sanh thì lo gì tội khổ trong sinh tử không tiêu, như Thế Tôn dạy:
“ Nay ông muốn hoàn tất đại nguyện cũ, bằng cách trải qua nhiều kiếp, hóa độ

 
sâu rộng những kẻ tội khổ, thì ta còn lo nghĩ gì nữa”. (trang 165)
Quả vậy, chánh kiến biểu hiện đủ ba cấp độ: Chánh kến phàm phu, chánh kiến hữu học và chánh kiến vô học. Chánh kiến phàm phu thì có công năng loại bỏ ác hạnh, làm các thiện hạnh; chánh kiến hữu học thì siêu vượt thiện ác, nuôi dưỡng trí tuệ vô ngã; chánh kiến vô học thì đoạn diệt hết các nhân sinh tử. Từ bi là độ tha, đem chánh kiến đến cho chúng sanh, thì khổ đau sẽ lui dần, xa dần, chúng sanh.
Sau khi Đức Thích Tôn vào Niết bàn, chính chánh kiến và từ bi ở lại cuộc đời mang sứ mệnh độ khổ của Địa Tạng đại sĩ.
3- Khả năng mở ra con đường giải thoát trừ Phật ra, không bậc thánh nào có thể làm được. Con đường giải thoát là đạo đế (trong Tứ Đế) mà chỉ phần chủ yếu là chánh kiến (thuộc tuệ uẩn) tượng trưng bằng khả năng của Địa Tạng đại sĩ. Do đó, Kinh dạy: “Bồ Tát Định Tự Tại Vương bạch xin Thế Tôn chỉ dạy về Địa Tạng Bồ Tát” (trang 165).

 
4- Sau khi chánh kiến thấy rõ con đường thoát khổ, chúng sanh an trú giới, (10 thiện nghiệp) để chế ngự ba nghiệp thân, khẩu, ý. Do trú giới mà tâm định tĩnh, có điều kiện học, hiểu và thực hiện diệu pháp. Đây là ý nghĩa của hình ảnh biểu tượng: Địa tạng đại sĩ giáo hóa chúng sanh ác hạnh, ác kiến trước đã, trước khi quyết định thành Phật; còn vị quốc vương bạn thì tu tập thành chánh giác trước khi hóa độ. (Trang 166).
5- Quang Mục: Là con mắt của ánh sang, ý chỉ trí tuệ, chánh kiến.
- Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai: Biểu tượng cho tịnh giới, không cấu nhiễm.
Mẹ của Quang Mục do sống ác giới mà khổ đọa. Khi giác tỉnh (được kinh biểu tượng bằng hình ảnh Quang Mục hướng cầu Thế Tôn Thanh Tịnh Liên Hoa Mục) thì bà tu tập thiện giới và liền thoát khỏi địa ngục, sanh làm người yểu mệnh. Tâm bà mẹ trú chánh kiến và từ bi (được kinh biểu tượng bằng hình ảnh Quang Mục khởi tâm cứu khổ chúng sanh) thì bà mẹ

 
thoát khỏi kiếp sống yểu mệnh sẽ không tái đọa địa ngục (nghĩa là được an trú trên thiện đạo) và sinh làm phạm chí hướng thẳng về giải thoát
Đây là ý nghĩ của trang kinh 169 (tr.167-192).
6- Đoạn kinh từ trang 167 đến trang 172 giới thiệu một khía cạnh rất tế nhị về lý nhân quả:
- Với kẻ ác tâm, ác hạnh thì dù phạm tội nhẹ như ăn trứng cá và mắng chửi (trường hợp mẹ của Quang Mục) cũng bị đọa địa ngục.
- Nhưng với kẻ có chánh kiến và từ bi rộng lớn (kinh biểu tượng bằng hình ảnh Quang Mục phát tâm đại bi để cứu khổ mẹ) trì cùng tôi nghiệp trên vẫn không rơi vào địa ngục, còn được sinh thiên giới và đi về giải thoát (Kinh biểu tượng bằng hình ảnh mẹ Quang Mục thoát khỏi địa ngục và yểu mệnh). Ví như cùng một nắm muối, để trong tô nước thì mặn; để trong song hồ thì chẳng ảnh hưởng gì.
7- Do vì long từ bi (đại từ đại bi) có năng lực giải thoát nghiệp như thế nên kinh

 
Địa tạng giới thiệu các hiện thân cứu khổ của Địa Tạng đại sĩ đều là thân nữ, cái thân sắc biểu tượng của tình thương.
8- Chánh kiến và từ bi chỉ được nuôi dưỡng tốt, phát triển mạnh nhờ có thiền định. Do đó, kinh dạy một cách biểu tượng rằng: Bồ-tát Định Tự Tại Vương phát tâm truyền bá sâu rộng Địa Tạng kinh trên cõi đời (trang 173).
9- tâm lý thiện, ác của chúng sanh có tính bất định có thể thay đổi theo điều kiện sống. Thiện, ác đều có nhân duyên hội họp mà khởi. Do đó, con người muốn thoát khổ cần hưng khởi chánh kiến và từ nhiều lần. Cụ thể, để hưng khởi và phát triển chánh kiến thì cần nghe nhiều và tư duy nhiều về chánh pháp; Để hưng khởi và phát triển từ tâm cần hành bố thí và cúng dường. Kiên trì tu tập như vầy mới chiến thắng được cái ác tâm.
Đó là ý nghĩa Thế Tôn dạy: Bồ-tát Địa tạng còn lập lại nhiều lần đại nguyện cứu khổ.
10- Dù tu tập phát môn nào của Phật giáo, nỗ lực giải thoát chỉ tập trung vào giải thoát ba nghiệp; thân, khẩu, và ý

 
nghiệp. Nói rõ là tu mười thiện nghiệp cho đến cấp độ thanh tinh, loại hẳn sân, si đoạn trừ được nhân tố chính của chúng ta là vô minh. Cấp độ thanh tịnh giải thoát thì vượt ra khỏi thiện nghiệp và ác nghiệp. Cho nên Kinh Địa Tạng dạy bằng biểu tượng: vua trời Tứ Thiên Vương (vua của các thiện chúng sanh) hộ trì thế gian tu tập (cuối phẩm Kinh này).
Nét giáo lý nổi bật của hai phẩm kinh thứ ba và thứ tư là đạo đức giải thoát của Phật giáo, hay luật Nhân quả, Nghiệp báo của Phật giáo.
Sống là để hạnh phúc, mà không phải để đau khổ. Giới thiệu luật tắc Nhân quả, Nghiệp báo là để sống hạnh phúc, nghĩa là để chọn lựa các thiện nghiệp. Qua giáo lý này, kinh Địa tạng đã gián tiếp định nghĩa: Phật tử là người sống hiền thiện và có chánh kiến. Cong đường đạo đức này để hộ trì nhân loại, trực tiếp giáo hóa những kẻ đang sống, mà không phải để tụng đọc cho người chết, không phải để lo tang tế. Đây là sứ mệnh hộ trì và giáo hóa của Địa Tạng đại sĩ ở gian đoạn trung gian giữa thời gian hai Thế Tôn ra đời vậy.

 
          Phẩm thứ năm
DANH XƯNG ĐỊA NGỤC

Phẩm này giới thiệu cái khổ báo địa ngục. Khổ báo ấy có mặt ở địa ngục và có thể có mặt ở đời. Tên của các địa ngục nói lên cực hình mà tội nhân địa ngục hứng chịu. Tên của các cực hình chỉ là tên gọi tượng trưng dùng để chỉ những trạng huống khổ đau của tâm thức chúng sanh. Có cảnh giới địa ngục, nhưng cũng có địa ngục tâm: Hệt như ở đời có những khổ đau lớn ở ngoài nhà tù vàu những đau khổ lớn ở trong nhà tù.
a/ Cảnh giới địa ngục riêng biệt: Từ địa ngục không hẳn là danh từ tượng trưng: Kinh Suttannipatta (Nikàya) – Kinh Tập – có ghi vào y báo, chánh báo của các địa ngục. Địa ngục sen hồng chưa phải là địa ngục

 
cực trọng, mà tính ra thời gian chịu thống khổ một kiếp tại đó kéo dài đến 50 tỉ năm cõi đời.
Với thời gian thọ khổ ấy, chúng ta đủ hình dung ra ở đó nỗi khổ thống thiết như thế nào.
b/ Tâm lý địa ngục: Thế giới hệ Ta bà, theo kinh, có đến một tỉ thái dương hệ, một tỉ mặt trời, một tỉ mặt trăng, một tỉ cõi trời và một tỉ cõi địa ngục (Ta bà là Tam Thiên Đại Thiên thế giới). Như thế, địa ngục có mặt khắp mọi thái dương hệ. Đó là si mê, độc ác, đa dục, sầu khổ, làm những việc làm đưa đến tự hành khổ mình và hành khổ người. Nỗi đau khổ của tâm thức không thể căn cứ vào hình thức thọ khổ như là các cực hình ở bên ngoài mà định mức độ trầm trọng được. Như ca dao đã nói: “Nhà giàu đức tay, ăn mày đổ ruột”. Thực sự, nỗi khổ ở con người và cõi trời đều thống thiết cả.
Có những tâm thức si ám lạ kỳ có thể được mệnh danh là vô gián hay A-tỳ ngục; đam mê vô độ tứ đổ tường thì mệnh danh là địa ngục Tứ giác; có những khỗ đau như

 
dao cắt xẻ, như chim sắt mổ, như đổ đồng sôi…
Si ám nặng, thì khổ đau lớn (địa ngục lớn); si ám nhẹ, thì khổ nhẹ hơn (địa ngục nhỏ). Dù là địa ngục tâm hay địa ngục cảnh tất cả khổ đau đều do chúng sanh tự tác, tự thọ. Chúng sanh tâm thì vô lượng nên nổi khổ đau cũng vô cùng, đến từ những động cơ và cảm thọ khác nhau, như lời của Địa Tạng đại sĩ ở cuối phẩm kinh (trang 176).
Nổi khổ đâu tuy vô lượng, với những động cơ và cảm thọ khác nhau, nhưng chúng chỉ có một gốc chung là vô minh (hay chấp thủ ngã tướng). Vì vậy, năng lực cứu khổ của Địa Tạng đại sĩ là chánh kiến (hay minh) để soi sáng, đối trị. Năng lực đó được vận dụng khác nhau trong việc giáo hóa từng chúng sanh thế nào để được lợi ích giải thoát cho từng chúng sanh ấy.

 
       Phẩm Thứ Sáu
PHẬT ĐÀ TÁN DƯƠNG

1. Chánh kiến có mặt trong mỗi chúng sanh sẽ xoay chuyển tất cả hoạt động tâm thức của chúng sanh thành Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Hoạt động Bát chánh này của tâm thức là sự thể hiện Đạo đế (của Tứ diệu đế hay Tứ Thánh đế) có công năng đoạn diệt của khổ nhân. Đấy là ý nghĩa đích thực của Địa Tạng đại sĩ.
Lòng từ bi không giới hạn cũng là một năng lực khác của Địa Tạng đại sĩ giúp hoàn thành lục độ Ba La Mật, đem lại an vui và giải thoát cho mọi chúng sanh.

 
Thế Tôn tán dương Địa Tạng đại sĩ là ý nghĩa tán dương hai năng lực thần thong vừa kể. Cụ thể là Thế Tôn tán dương pháp Tứ Đế và Lục Độ để dạy chúng sanh nương tựa trong giai đoạn cuộc sống đầy dẫy năm thứ ô trược ( đời sống ngắn ngủi, nhận thức sai lầm, khổ đau phiền não, đầy bất thiện tâm, vô thường thọ mệnh thì yểu).
2. Thế Tôn muốn hai giáo lý Tứ Đế và Lục Độ được đem ra giảng dạy sâu rộng giữa đời để làm lợi ích cho chúng sanh. Di huấn này đã được kinh diễn đạt một cách biểu tượng qua hình ảnh Bồ tát Phổ Quang muốn biết lợi ích của hạnh nguyện Địa Tạng.
3. Lợi ích từ sự tôn kính Địa Tạng đại sĩ:
A. Lợi ích lễ bái, ca tụng, ngưỡng mộ:
Lễ bái, ca tụng, ngưỡng mộ Địa Tạng là ý nghĩa lễ bái ca tụng ngưỡng mộ chánh kiến và từ bi. Ca tụng, ngưỡng mộ và lễ bái chánh kiến và từ bi mới chỉ là giai đoạn đầu của người hành đạo hướng về học hỏi,

 
 tư duy và chánh đạo. Chỉ với công đức này đủ để ngưng lại nhiều ác niệm và ác hạnh. Đây là ý nghĩa kinh nói: Nhờ công đức đó, chúng sanh thoát được nhiều kiếp thọ ác báo (Tr.188)
B. Lợi ích vẽ, điêu khắc hình tượng Địa Tạng đại sĩ:
Tương tự, đây là bước tu tập sâu hơn, hành giả không phải chỉ học hỏi và tu duy về chánh pháp, mà còn thực hiện chánh pháp bằng cách nuôi dưỡng và phát triển từ lợi ích giải thoát cho mình và nhiều hơn (tr.189)
4. Lợi ích cúng dường và tụng Kinh Địa Tạng cho bệnh nhân:
Công đức của bố thí, cúng dường là công đức làm phát khởi từ tâm, bi tâm và các thiện tâm. Công đức trì tụng kinh là công đức làm phát khởi trí tuệ.
Việc cúng dường, tụng đọc Kinh Địa Tạng cho bệnh nhân là cốt ý để cho bệnh nhân thấy, nghe, hầu giúp bệnh nhân khởi dậy từ bi tâm, thiện tâm và chánh kiến. Chính tâm lý phát khởi này là cận tử nghiệp

 
tốt giúp bệnh nhân sau khi chết được sanh về Thiện thú Thiên giới.
Thái độ giáo hóa của Kinh Địa Tạng thì nghiêng nặng về sự và nhẹ về việc giảng giải, cắt nghĩa. Nên kinh đã diễn đạt lợi ích trên qua các hành sự và kết quả của hành sự (Tr.191-193).
Với người không bệnh, thì hẳn chánh kiến sẽ khơi lên mạnh hơn và sẽ dẫn đến nhiều công đức lớn hơn.
5. Về các ác mộng mà người đời ngủ mộng thấy như cảnh buồn, khóc, sợ hãi, quỷ thần… chúng ta cần hiểu và cắt nghĩa một cách thật tế nhị (đoạn kinh tr.194)
Về ác mồng thường do nhiều nguyên nhân:
- Có thể do huyết mạch không thong, cơ thể mệt mỏi.
- Có thể do hành ác giới, ác hạnh.
- Có thể do các ấn tượng sợ hãi, sầu muộn, lo âu trong ngày mà phát sinh.
- Cũng có thể do các ác niệm, ác nghiệp trong quá khứ lau xa khởi lên trong tâm.

 
- Cũng có thể do các thiện thần hay chư Thiên báo mộng. Do đó, thật khó mà quyết định rằng ác mộng là thân nhân quá cố bị đọa về báo. Huống nữa, nếu thân nhân đã chết và đọa khổ thì làm sao còn chánh niệm tĩnh giác và tự do để về báo? (Như một người bị tù nặng không còn được tự do đi lại nữa). Sau khi chết, thân nhân đi vào nghiệp mới, cảm thức mới thì cuộc đời đã khép kín đối với họ, làm sao còn biết ngõ nào để đi?
Điều sang sủa nhất mà ta có thể hiểu về đoạn kinh trên là phải hiểu thân nhân quá cố là ác niệm của chính tự thân trong quá khứ và ác niệm trong hiện kiếp.
Nếu hiện tại chúng ta biết học hỏi và tu tập chánh pháp (nghe kinh, tụng kinh) thì tâm ngừng dao động, lắng đứng được các vọng niệm, phát khởi được các thiện tâm, thì hẵn nhiên các ác mộng tiêu (vì các nhân tố gây nên ác mộng không còn) và các giấc mộng lành có thể có.
Hình thức diễn đạt của kinh Địa Tạng là hình thức khích lệ gián tiếp việc đọc tụng,

 
 học hiểu và thực hành Kinh đối với những người chưa có nhân duyên vào đạo.
6. Theo các ý nghĩa vừa trình bày trên, người đời muốn được an vui hạnh phúc và giải thoát thì cần khởi dậy chánh kiến và từ tâm (gọi là Địa Tạng Bổn nguyện), cần học hỏi tu duy về chánh pháp để nuôi dưỡng và phát triển chánh kiến và từ tâm (gọi là Địa Tạng Bổn hạnh); và cần có quyết tâm kiên trì tu tập (gọi là Địa Tạng Bổn thệ).

 
              Phẩm thứ bảy
LỢI ÍCH NGƯỜI CÒN KẺ MẤT

1. Các Phật sự sửa soạn để hộ trì một người sắp chết là để tạo một cận tử nghiệp tốt, như đã được trình bày.
Cúng “ thất thất trai tuần” là nhằm vào các thời điểm mà nghiệp thức của người chết có thể cảm giao với trần thế, cũng là một trợ duyên (tr.201).
Nếu trước giờ chết mà người sắp chết chứng kiến các cảnh buồn rầu, khóc lóc, tham ái hay sân hận thì sẽ khởi lên cái ác niệm tạo nên một cận tử nghiệp xấu, quyết định dễ sa vào ác đạo (tr.201).
2. Bồ Tát Địa Tạng bảo: Phước đức của tất cả việc thiện mà thân nhân làm để hồi hướng cho người đã chết chỉ có thể chuyển đến cho người chết được 1/7 (tr.204).

 
Lời dạy này đã hàm ý khuyên chúng sanh nên tự mình hành thiện đương khi còn sống, tạo một tập quán nghiệp và cận tử nghiệp tốt cho mình theo mong ước của chính mình; không nên chờ đợi ở thân nhân, nhất là việc thiện và tâm thiện mà thân nhân làm rất là giới hạn. Huống nữa người chết sẽ chờ đợi được gì ở tha nhân, khi mỗi người phải chịu trách nhiệm sinh tử cho chính tự thân mình? Người chết há đã không được thân nhân của vô lượng kiếp quá khứ hồi hướng các công đức mà vẫn rơi rớt vào ác hạnh, ác nghiệp đó sao?
3. Trong bảy tuần lễ ở bể khổ thứ nhất của địa ngục, người chết phải đối chất về nghiệp báo (tr.204-205) là ý nghĩa của cuộc đối chất, dằn co của chính tâm thức tội nhân, của thiện tâm và ác tâm, của tâm hiện tại đối với các tâm niệm cũ. Trong cuộc đối chất, vật lộn này nhờ có thêm trợ duyên lành nếu tâm thức ngã về thiện, thì sẽ thác sanh về nhơn, thiên: nếu tâm thức ngã về ác, thì sa hẳn vào địa ngục để thọ khổ báo. Nhân tố quyết định là chính tội nhân.

 
4. Đại Biện Trưởng giả đã đặt nghi vấn về việc người chết có được hưởng phước đức hồi hướng không (tr.203) là một vấn đề khác cần phân tích kỹ.
 Đại Biện Trưởng giả là người đã đắc được Tuệ giác vô sanh, nên câu hỏi của Trưởng giả vừa có nghĩa là câu trả lời – câu trả lời hẳn là “đường ai nấy đi”.
Nhưng câu trả lời của Địa Tạng đại sĩ thì khác hơn: Đại sĩ vừa nói tiếng nói của trí tuệ là “Đường ai nấy đi” nhưng vừa phải nói tiếng nói phương tiện để khích lệ các căn cơ thấp phát khởi tầm từ và không thất vọng trước tình thương người đã qua. Vừa kết hợp tự lực với tha lực. Đại sĩ cũng đã chỉ hướng cho chúng sanh ngã về tự lực, nghĩa là cũng đã chỉ “đường ai nấy đi”, khi nói người chết chỉ hưởng được một phần bảy công đức hồi hướng.
Tế nhị hiểu đoạn kinh trên là thế.

 
            Phẩm thứ tám
CHÚA TÔI DIÊM CA LA TỤNG

1- Ngôn ngữ phẩm kinh này vẫn là biểu tượng nói rõ thêm về cái thiện tâm, ác tâm và các hành nghiệp khác của tâm thức.
Câu hỏi của Diêm La Thiên tử là vấn đề mới mẻ của phẩm kinh này.
Núi Thiết Vi: (Thiết là sắt, vi là hàng rào bao quanh)
Chỉ sự si mê vây bủa con người, giam hảm con người trong tội lỗi, khổ đau khó tìm ra lối thoát.
Quỷ Vương: Có hai ý nghĩa muốn nói:
a. Cũng có cái quỷ vương ở cảnh giới bên ngoài, cũng vừa chỉ những ai tà kiến với các tâm niệm như quỷ độc gây tổn hại chúng sanh như:

 
- Tâm ác độc thì kinh gọi là ác độc của quỷ vương;
- Tâm tranh chấp, thị phi thì được kinh gọi là Đại tránh quỷ vương;
- Tâm ưa xâu xé gọi là Lang Nha quỷ vương;
- Tâm ưa nuốt sống kẻ khác gọi là Huyết Hổ quỷ vương;
- Tâm ưa tiền bạc gọi là Chủ Tài quỷ vương;
- Tâm dèm pha, xoi mói thì gọi là quỷ 3,4,5 mắt;
- Tâm dối gạt gọi là Chủ Mị quỷ vương.
- Tâm háu ăn, háu nhậu gọi là Chủ Thực quỷ vương;
- Tâm gieo rắc tai họa, khốn khổ cho kẻ khác gọi là Chủ Tai Họa, Chủ Tật Bệnh quỷ vương.
Tất cả các ác tâm, hại tâm, bất thiện tâm đều được gọi là quỷ tâm, địa ngục tâm.
2- Các ác tâm, hại tâm, bất thiện tâm được chuyển hóa thành các thiện tâm do có

 
giác tâm và từ tâm chế ngự. Kinh gọi khái niệm đó là: Tất cả chúa quỷ lên được cung trời Đao Lợi là do thần lực của Phật và Bồ tát Địa Tạng.
Về mặt tâm lý, diễn đạt bằng lối nhân cách hóa ấy thì sinh động và tính cách kích động, thuyết phục hướng thiện hơn.
3- Con người khi bắt đầu hướng thiện, giữ giới thì có hai yếu tố kích động, đun đẩy họ trở lại đường ác.
a/- Yếu tố của chính tự nhân: Khi tâm hướng thiện chưa đủ mạnh, chưa an trú, chưa vững trú giới thì tập quán của ác hạnh, của dục tâm lại có dịp khởi dậy điều động họ;
b/- Yếu tố ngoại duyên: Do hoàn cảnh sống, do các người ác bức ép, thúc đẩy họ trở lại ác hạnh, hay rơi vào ác hạnh, nếu tâm giác tiểu yếu.
Đây là điều băn khoăn mà Diêm La bạch hỏi Thế Tôn: “… tại sao mọi người không sống nơi thiện đạo để được thoải mái?” (tr.209). Và đã được Thế Tôn dạy: “Người Diêm Phù tính khí cứng cỏi, khó điêu luyện, khó uốn nắn….” (tr.209).

 
Phương cách mà Kinh Địa Tạng nói cho người đời muốn tu thiện là: Phải quan sát thật rõ để giác tỉnh mạnh đi vào đường thiện, và phải hành thiện, nghĩ thiện thường xuyên để xây dựng một tập quán nghiệp mới để đẩy lùi hẳn tập quán ác nghiệp cũ.
4- Qua câu chuyện kể về người lạc đường đã được chỉ lối rồi mà si mê lại quên mất hướng đi (tr.210) nói lên rõ tinh thần giáo dục của Phật giáo là tinh thần hướng dẫn, chỉ đường: đi hay không đi như thế nào là phần trách nhiệm của tự thân. Chư Phật và chư Bồ tát không giúp đỡ điều gì khác hơn thế. Người tu phải tự giác tỉnh, đừng mong cầu, ỷ lại. Một khi đã hiếu đạo giải thoát thì phải lập nguyện, lập hạnh và lập chí để thực hiện. Chính sức mạnh của hạnh, nguyện, chí ấy sẽ giúp đỡ hành giả đi thẳng về thiên giới và giải thoát một cách bất thối chuyển.
5- Tâm tỉnh giác của người tu là tâm thấy rõ lẽ đạo, giữ mình trú trên Giới, Định và Tuệ. Tâm ấy có mặt thì ác niệm, ác hạnh mất; tâm ấy chỉ cần vắng mặt trong một niệm, thì đủ cho người tu mất cảnh giác

 
và rơi vào ác niệm, ác hạnh trở lại. Ranh giới của chánh và tà của thiện và ác thật là mong manh như sợi tóc. Nhận thức như thế, người đời chỉ cần biết khởi ý thiện một là, hành thiện một lần là đã có thể mở đầu cho một tập quán thiện mới đây là ý nghĩa cổ vũ rằng: “…biết làm tơ tóc thiện nghiệp cho đến treo một cái phan, trượng một cái lọng, hay sắm một ít hương, kiếm một ít hoa hiến cúng tượng Phật đà… bọn chúa quỷ chúng con hết long tôn kính, lễ bái…” (tr.213).
6- Nếu biết nuôi dưỡng và phát triển điều thiện, giữ gìn tịnh giới, tinh cần tu tập thì sẽ có ngày phát triển định, tuệ vào giải thoát tri kiến. Đây là ý nghĩa chúa quỷ sinh mạng đã phát tâm dõng mãnh hộ trì điều thiện và đã được Thế Tôn thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai.
Tâm giác tỉnh hướng về thiện và chánh kiến là bước đầu xô ngã núi thiết vi, mở đường cho các chúa quỷ đi về cung trời Đao Lợi chiêm lễ Thế Tôn. Đó là điều mà chúa tôi Diêm La ca tụng vậy.

 
                     Phẩm thứ chín
TRÌ NIỆM DANH HIỆU PHẬT ĐÀ

1- Các danh hiệu Phật Đà:
Chư Phật là các đấng chứng ngộ thật tướng của các pháp, có khả năng vạch mở con đường tận diệt khổ đau cho chúng sanh. Về tự giác, chư Phật đều thông đạt Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến.
Về giác tha, chư Phật và chỉ chư Phật mới có khả năng vạch mở một đạo lộ giải thoát cho chúng sanh, giúp các đệ tử chứng ngộ những gì chư Phật đã chứng ngộ.
Danh hiệu của chư Thế Tôn trong phẩm kinh thứ chín hầu hết là danh hiệu có tính biểu tượng, chỉ có Thế Tôn Tỳ Bà Thi

 
và Câu Lưu Tôn là hai thế tôn của lịch sử được ghi lại trong Nikàya và A-hàm.
- Vô Biên Thân Như Lai: Là biểu tượng nói lên thật tánh có mặt trong hết thảy các pháp (bao gồm cả loài vô tình). Thật tánh thì vô tánh, nên tùy duyên mà hiện ra tất cả tánh; do đó, có mặt trong tất cả tướng gọi là vô biên thân.
Do thật tướng có thể ứng hiện vô lượng tướng, nên Thế Tôn thường hiện tất cả thân để hóa độ chúng sanh (theo kinh Địa Tạng).
Đảnh lễ Thế Tôn Vô Biên Thân là hướng về, quay về với thật tướng vô tướng, là lắng nghe tiếng nói vô ngã từ tất cả pháp. Nghe rõ tiếng nói vô ngã đó là có chánh kiến về Phật pháp. Có chánh kiến thì hẳn là xa lìa ác đạo và tạo nên vô số công đức.
- Bảo Tánh Như Lai:
Do vì ngộ được thật tánh thì xa tất cả ác và được tất cả công đức, nên gọi thật tánh là bảo tánh; tương tự như gọi Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
Quy y Thế Tôn Bảo Tánh là phát khởi và an trú vào chánh kiến vô ngã (của phàm

 
phu, hữu học và vô học). An trú vào chánh kiến thì sẽ dần dần thành tựu vào chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định; nghĩa là thành tựu Đạo đế. Đạo đế quyết định sẽ dẫn hành giả vào Thánh lưu. Đấy là nghĩa mà kinh Địa Tạng dạy: Quy y Thế Tôn Bảo Tánh thì sẽ bất thối chuyển đối với tuệ giác vô thượng (tr.220-221).
- Ba Đầu Ma Như Lai: (padma, paduma):
Ba Đầu Ma là dịch âm của paduma có nghĩa là hoa sen.
Khi hiểu rõ tánh vô ngã thì sẽ khởi tâm ly tham ái, ly chấp thủ, hướng về thể tánh vô nhiễm (quy y Thế Tôn Ba Đầu Ma). Chỉ cần dụng công ly tham, ly thủ một phần là đã có thể có tâm lắng định tạo công đức sanh về dục giới thiên (ý nghĩa của danh hiệu Ba Đầu Ma lước qua tai). Nếu chí tâm ly thủ, ly tham (ý nghĩa của chí tâm từ niệm danh hiệu Ba Đầu Ma) thì hẳn là phước đức giải thoát sẽ lớn hơn nhiều (tr.221).
- Sư Tử Hống Như Lai:

 
(Tiếng hống của sư tử khiến cho muôn thú ở rừng núi khép mình khiếp sợ. Cũng thế, tiếng nói chánh pháp của Như Lai là cho chư Thiên (khắp thảy cung trời) và tất cả ngoại đạo đều run sợ, toát mồ hôi. Kinh thường ví tiếng hống của sư tử là tiếng nói diệu pháp, hay tiếng nói lên diệu pháp.
Nếu hành giả hành ly tham, ly thủ cho đến mức độ giải thoát ngộ nhập được thể tánh (dù chưa thành tựa viên mãn) thì tuệ chiếu, nói lên được tiếng nói của diệu pháp. Cho đến mức độ này là gần kề giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác hay A-la-hán. Kinh Địa Tạng nói nghĩa đó một cách biểu tượng bằng hình ảnh cụ thể rằng:
“ Nghe được danh hiệu Ngài và phát tâm quy y, thì dẫu trong một ý tưởng, kẻ ấy cũng gặp được vô lượng Phật Đà xoa đầu mà trao lời tiên quyết về sự thành Phật của mình” (tr.221).
- Câu Lưu Tôn và Tỳ Bà Thi Như Lai:
Nếu Phật tử sau khi có pháp nhãn tiếp tục hành tự độ theo giáo lý giải thoát, theo

 
gương của đức Tỳ Bà Thi và đức Câu Lưu Tôn, thì hẳn là đi đến đích giải thoát sau cùng, được hưởng phước báo lớn ở Nhơn Thiên và được giải thoát.
- Bảo Thắng Như Lai:
Chiến thắng sau cùng của hành giả phấn đấu với sinh tử là giải thoát hết thảy lậu hoặc, đoạn diệt ái, thủ.
Đó là sự thành tựu tối thượng gọi là Bảo Thắng.
- Bảo Tướng Như Lai:
Giải thoát sau cùng là sự thành tượng vô lượng phước do tu tịnh giới (phạm hạnh) được có thân tướng kết tụ vô lượng công đức đó, gọi là Bảo Tướng. An trú tịnh giới thì sẽ đưa đến quả vị A-la-hán sau cùng (tr.223).
- Ca Sa Tràng Như Lai: (Ca Sa Tràng nghĩa là cây cờ bằng chiếc áo Cà sa) là chỉ phạm hạnh:
Nếu hành hạnh Thanh Văn đến sắp thành tựu phạm hạnh thì có thể chứng quả Bất Lai không còn trở lui sinh tử, sanh về Ngũ Bất Hoàn Thiên (Cõi Tứ Thiền) và

 
Chậm nhất là vào Niết bàn vào cuối thọ mệnh ở đó. Thời gian của tuổi thọ ở đó thì lâu dài vô vàn ( mỗi ngày của Sơ Thiền đã bằng tuổi thọ của vũ trụ này).
- Đại Thông Sơn Vương Như Lai (tr.223)
Là biểu tượng của đại định và đại tuệ (Sơn Vương là biểu tượng của đại định).
Tu tập đến mức vào đại định và đại tuệ là quả vị gần đắc Chánh Trí, hẳn là sẽ thành Chánh Đẳng Giác Phật vào một thời điểm trong tương lai là xác định.
Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Tri thắng Phật v.v… là biểu tượng của viên mãn Giới, Định, Tuệ, thành tựa Chánh Giác.
Nếu quy hướng về Vô Thượng Bồ Đề, nghĩa là ổn định tâm lý tu tập Từ bi và Trí Tuệ thì hẳn là sinh về Thiên Giới sau khi xả báo thân.
Trì niệm Danh hiệu chư Phật là ý nghĩa nuôi dưỡng mầm Bồ Đề trong tự thân. Quy hướng chư Phật là xả bỏ tham, sân, si. Do tham, sân, si được chế ngự, mà lài xa các ác đạo, thành tựu các thiện hạnh và giải thoát.

 
Nói tóm, ý nghĩa của chiêm ngưỡng, lễ bái, cúng dường, tôn kính chư Phật là ý nghĩa thực hiện văn, tư và tu về Giới, Định và Tuệ.
Ý nghĩa giải thoát của phẩm kinh là thế. Đối với các cơ thấp, hiểu và hành theo nghĩa đen của lời dạy trên cũng thành tựu nhiều công đức, thu nhiếp ba nghiệp, thân, khẩu, ý; phát triển được một phần nhỏ của Giới, Định, Tuệ. Nhờ công đức này có thể xóa tan đi nhiều tội lỗi sinh tử.
Như thế, Kinh Địa Tạng theo lối trình bày trên có thể đem lại lợi ích cho nhiều hàng căn cơ, đặc biệt cứu độ được hàng căn cơ với tâm lý nặng về niềm tin.

 
                   Phần thứ mười
TRẮC LƯỢNG CÔNG ĐỨC BỐ THÍ

1. Nếu phần thứ chín dạy nuôi dưỡng chánh kiến, thì phần thứ mười dạy phát khởi và nuôi dưỡng từ tâm qua hạnh bố thí.
2. Về nghiệp báo, biết rõ quả dị thục của nghiệp là một điều khó. Chỉ có Như Lai mới như thật biết về nghiệp quả (như phẩm thứ tư đã đề cập). Do đó, Bồ tát Địa Tạng bạch xin Thế Tôn dạy rõ về công đức nặng nhẹ của bố thí.
3.Bố thí là mở từ tâm và bi tâm, loại từ các ác tâm, sân hận, hại tâm, và long bỏn xẻn vị kỷ.
Bố thí đem lại nhiều công đức lớ nhỏ khác nhau do cấp độ phát khởi mạnh hay yếu từ bi tâm của người bố thí:

 
-Bố thí để cầu phước thì phước đức ít.
- Bố thí vì lòng thường người khổ đau thì tăng trưởng từ tâm và xóa bỏ tham tâm và sân tâm;
- Bố thì vì hạnh phúc, giải thoát của chúng sanh thì phước đức vô lượng, v.v…
Phước đức nhiều hay ít là kết quả của sự xả bỏ tham ái và chấp thủ nhiều hay ít trong tâm hành thí.
4. Theo phẩm kinh này trình bày, có thể đơn giản xếp loại thành bốn cấp độ:
a/ Bố thí của cải, tài vật thuốc men với tâm cầu phước cho mình thì được phước đức ít.
b/ Bố thì các thứ trên (tài thí) với long thương người, tôn kính người, vì hạnh phúc người khác thì phước đức lớn hơn nhiều. Thiện tâm và từ tâm phát triển mạnh hơn nhiều.
c/ Bố thí tài sản vì mục đích xây chùa, tu bổ tháp, chùa, kinh điển (vì phát huy Phật pháp thì có liên hệ gần với pháp thí thì phước đức nhiều hơn gấp bội nữa.

 
d/ Nếu bố thí mà hồi hướng công đức về tất cả, an lạc và hạnh phúc của chúng sanh thì được phước đức vô lượng (do vì xả kỷ, mở được đại bi tâm).
Kinh Địa Tạng nhằm kích lệ đối tượng tu (căn cơ thấp) phát tâm bố thí theo hình thức sau cùng trên để phát triển được đại từ đại bi tâm. Với tâm hành bố thí này sẽ đem lại lợi ích giải thoát lớn, có thể đi đến thành tựu Bố thí Ba-la-mật trong tương lai.
5. Việc hành bố thí còn là hình thức tu tập đưa vào ngoại cảnh (của thí, người nhận thí và phước báo), người hành thí chưa hoàn toàn đối mặt chuyển hóa tâm thức. Nếu hành giả tu giới thì phát triển thêm một bước gần hơn trực diện hàng phục ba nghiệp thân, khẩu, ý. Nếu tu tập thiền định thì năng lực nhiếp phục bất thiện tâm mạnh hơn có điều kiện để đào sâu gốc rễ của tham, sân, si, giải thoát sẽ sâu hơn và chóng hơn. Nếu tu định và tuệ song hành thì sẽ nhanh chóng đốt cháy hết nhân sinh tử (ái, thủ, vô minh) (ý nghĩa của các trang kinh 234-36)

 
 Phẩm kinh này đã dạy bố thí kết hợp chặt chẽ với nhân quả làm hiện rõ sắc thái giáo lý rất thiết thực và rất trí tuệ (bố thí là hạnh phát triển từ bi, nhân quả là giáo lý phát triển trí tuệ).
Qua các lời dạy ấy, chúng ta thấy rõ Phật giáo rất quan tâm đến hạnh phúc của con người, chúng sanh. Cụ thể của sự quan tâm ấy là nỗ lực giáo hóa con người đoạn trừ khổ đau, đoạn trừ nhân của khổ đau, sinh tử.
- Khổ đau về thể chất: Loại trừ nghèo khổ, bệnh tật, tai nạn (hay cứu khổ nghèo, bệnh, ách)
- Khổ đau về tâm thức: Đoạn diệt các bất thiện tâm, đoạn diệt tham, sân và si.
Đó là một hệ thống giáo lý tích cực chuyển hóa cuộc đời hiện tại, mà không phải nhằm sửa soạn cho người chết.

 
            Phẩm thứ mười một
THẦN ĐẤT HỘ VỆ PHẬT PHÁP

1. Kiến Lao Địa Thần hộ vệ Phật pháp
- Thần đất biểu tượng cho sự kiên trì, nhẫn nại mọi khó khăn.
- Thần đất chiêm bái vô số Bồ tát đại sĩ là ý nghĩa sự kiên trì hướng đến đại từ tâm và đại tuệ.
Kinh Địa Tạng đã ca ngợi nhiều hạnh nguyện của Địa Tạng đại sĩ là ý nghĩa nhờ có quyết tâm kiên trì hành giả mới trở về nguồn chân tâm (tuệ giải thoát) để thành tựu đại trí (Văn Thù), Đại Bi (Quan Âm) Đại hành (Phổ Hiền) và tương lai thành tựu Chánh giác (Di Lặc).
Ý nghĩa địa thần Kiên Lao hộ vệ Phật pháp là ý nghĩa nói lên vai trò cần thiết của

 
tinh tấn và nhẫn nhục trong việc thực hiện tuệ giác tối thượng.
2. Kết quả của sự tụng đọc, tôn kính Địa Tạng (Tr.238)
Tụng đọc, tôn kính kinh Địa Tạng như đã đề cập là học hỏi và tu tập tuệ trí và từ bi.
Trí tuệ có công năng phá trừ si mê, gốc của mọi tội lỗi, khiến ngưng ngay các ác hạnh,  bất thiện hạnh. Từ bi có công năng phá trừ tham tâm và sân tâm, cũng là gốc của tội lỗi. Do đó, đem lại kết quả sinh Thiên giới và giải thoát khổ đau sinh tử.
Nếu tụng đọc và tôn kính kinh theo hiểu biết của phàm phu thì chỉ nuôi dưỡng được tâm tôn kính pháp, và chỉ nhiếp phục được một phần nhỏ các ác nghiệp, phước đức sẽ không nhiều, sẽ không tạo nên được nhân giải thoát sinh tử.
3. Lộ trình tiệm tiến của giải thoát:
Người muốn tu tập theo kinh Địa Tạng cần trải qua một lộ trình giải thoát nâng cao từng bước:
a. Tu mười thiện nghiệp (10) thiện giới: là ý nghĩa được vua trời Dục giới hộ vệ.

 
b. Tu tập Thiền định là ý nghĩa được vua trời Đại Phạm (Sơ thiền sắc giới) hộ vệ.
c. Tu tập Thánh quả là ý nghĩa được chư thiên Hiền Thánh hộ vệ.
Đó là một lộ trình đi vào an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai, và sau cùng đạt đến đích điểm giải thoát hoàn toàn.

 
           Phẩm thứ mười hai
ÍCH LỢI CỦA SỰ NGHE VÀ THẤY

1. Hào quang đủ sắc chiếu tỏa từ thân Thế Tôn là biểu tượng của Giới đức, Định đức và Tuệ đức của Ngài.
2. Âm thanh vi diệu xuất từ kim khẩu là biểu tượng của tiếng nói Diệu pháp (phạm âm) truyền đi vô lượng thế giới chuyển theo ánh sang hào quang.
Tiếng pháp Ngài sắp tuyên thuyết là thật pháp siêu vượt tư duy.
3. Trên đường giáo hóa chúng sanh của mười phương thế giới. Thế Tôn nói theo ngôn ngữ của chúng sanh nghe pháp. Dù nói bằng ngôn ngữ khác nhau, Thế Tôn vẫn giới thiệu cùng một nội dung: Chỉ rõ khổ và con đường thoát khổ.

 
Đây là ý nghĩa của lời kinh “… Khác nhau cơ quan âm thanh mà lại đồng nhất về lời tiếng ca tụng Địa Tạng đại sĩ…” (tr.242).
4. Do đó, để lợi ích cho con người, Thế Tôn lại nói thật đạo bằng ngôn ngữ của cuộc đời khế hợp căn tánh của con người. Đây là ý nghĩa Đại sĩ Quán Thế Âm xin Thế Tôn nói lên lời tán than công đức của Địa Tạng đại sĩ (tr.242-243).
- Cuộc đời nói lên rõ ràng và cụ thể nhất về tiếng nói vô ngã, vô thường và khổ đau của tam giới. Đó cũng là tiếng nói vô sinh. Ai mà nghe được tiếng nói đó, là người ấy tỏ ngộ, nhất định sẽ đi thẳng đến giải thoát. Đây là lời dạy của Thế Tôn: “ … ai nghe được danh hiệu của  ông (Quán Thế Âm), ai thấy hình tượng Ông, ai ngưỡng mộ Ông, ai ca tụng Ông, tất cả những kẻ ấy, đối với Tuệ giác vô thượng quyết chắc không còn thoái chuyển…” (tr.243).
- Có thử quan sát đất đai sẽ nhận ra tính bền bỉ, vô nhiễm, vô sân, bất động của nó; cũng thế, tâm thức và giác pháp có cùng tính ấy.

 
Nếu hoan hỷ, phấn khích, thiết tha và quý trọng khi biết được tự tính ấy của các pháp thì hẳn thiện tâm, từ tâm và tuệ tâm sẽ hứng khởi mạnh, sẽ được vô lượng công đức giải thoát trong sự tỏ ngộ ấy, và từ sự tỏ ngộ ấy. Đây là ý nghĩa của lời kinh: Lễ lạy, chiêm bái, tôn kính hay nghe được danh hiệu Địa Tạng đại sĩ được ích lợi bất khả tư nghì (tr.244-247).
5. Lợi ích thấy, ngh Địa Tạng của người sắp chết:
a/- Đối với kẻ phàm phu việc thấy ảnh tượng đại sĩ và nghe danh hiệu đại sĩ với lòng tôn kính sẽ khởi lòng tin và hoan hỷ. Do có tin tâm và hỷ tâm mà có cận tử nghiệp tốt quyết định cảnh giới thác sanh an lành (như đã bàn). Nếu kẻ ấy còn tỉnh táo, suy nghĩ tốt đến từ bi tâm và hạnh nguyện độ khổ của đại sĩ thì tín và hỷ tâm sẽ khơi lên mạnh mẽ hơn, tạo thành cận tử nghiệp lớn hơn.
b/- Đối với người có trí, ý nghĩa của người thấy, nghe Địa Tạng đại sĩ là thấy nghe sứ mệnh độ khổ: Thấy gốc của khổ và gốc của thoát khổ, dẽ khởi lên chánh kiến

 
và đại bi, có thể bừng ngộ và đắc Thánh quả A-na-hàm hay A-la-hán (tr.244-246).
6. Với các người còn kèm trí tuệ, để khích lệ người ấy đi dần vào chánh kiến và các thiện sự, Thế Tôn dạy hãy vì cứu độ cha mẹ mà chí tâm chiêm bái Địa Tạng đại sĩ. Rồi từ các thiện sự ban đầu ấy, người còn sẽ thấy rõ lợi ích lối sống thiện lương. Trước mắt tập quán chiêm bái, Kính lễ và niệm danh hiệu đại sĩ sẽ giúp con người thúc liễm thân tâm lắng đứng ba nghiệp (thân, khẩu, ý) tăng trưởng được niệm lực và định lực trong thời gian một tuần lễ, 3 tuần lễ và 7 tuần lễ. Nhờ có Niệm lực và Định lực phát khởi, mà Tuệ lực cũng sinh. Đây cũng là phương thức nhẹ thực hiện Giới, Định, Tuệ đối với người chưa có điều kiện để hiểu rõ nghĩa lý trước khi hành.
Ngoài ra, nhờ có năng lực cảm ứng mà các thiện niệm của người con có thể ảnh hưởng đến việc kích động các thiện niệm của cha mẹ quá vãng.
7. Bước tu tập thực sự có nền tảng vững chắc là tu tập sau khi đọc tụng kinh

 
 điển và hiểu rõ diệu pháp (có chánh kiến). Mỗi bước tu bây giờ là một bước đi loại trừ ái, thủ, là mỗi bước tạo nhiều phước đức vô tận. Nếu ký ức và trí tuệ yếu kém, người tu vận dụng nhất tâm chiêm lễ và cầu nguyện Địa Tạng đại sĩ thì sẽ tăng trưởng ký ức và trí tuệ. Đây là cách tu tập đi thẳng vào sự, không cần rõ lý; rồi từ cách thực hành ấy sinh khởi niệm lực và định lực. Chính niệm lực và định lực này là kết quả gia tăng ký ức và trí tuệ (tr.250-251).
8. Kết quả thoát các nạn khổ nhờ niệm danh hiệu Bồ Tát.
Công đức trì niệm các danh hiệu Bồ Tát có hiệu quả do vì:
- Có cảm ứng với các năng lực thiện giữa pháp giới.
- Có cảm ứng với chư Thiên và Thiện thần; chư Thiên và Thiện thần gia tăng ủng hộ.
- Nhờ tâm định tĩnh mà hành động sáng suốt.
- Do từ tâm và bi tâm khởi dậy có năng lực đẩy lùi các tổn hại, các chướng duyên.

 
Nói tóm lại, các lợi ích, phước báo thật sự đều do tâm thức chuyển hiện. Thấy và nghe Diệu Pháp là hai ngõ đường tốt nhất có thể chuyển hóa tâm thức, từ đó có thể chuyển đổi ngoại cảnh.
Lợi ích tối thượng của thấy, nghe ấy là khai mơ tâm thức đến đích điểm sau cùng: TUỆ GIẢI THOÁT.

 
               Phẩm thứ mười ba
PHẬT ĐÀ KÝ THÁC TRỌNG TRÁCH

1. Cuối thời pháp Địa Tạng Bổn nguyện, Thế Tôn đã rất ca ngợi Địa Tạng đại sĩ. Vừa ca ngợi hạnh nguyện độ khổ chúng sanh, vừa xiểng dương chánh pháp.
Ca ngợi đại sĩ là ý nghĩa ca ngợi trí tuệ và tư bi của nguồn tâm thể.
Tâm thể là nguồn vô tận của trí tuệ và từ bi. Chư Phật đều thành Phật từ khả năng vô tận đó. Địa Tạng là biểu tượng của nguồn khả năng ấy nên được chu Thế Tôn ca ngợi, ca ngợi không cùng.
Do vậy việc ký thác chúng sanh cho Địa Tạng đại sĩ là ý nghĩa dạy chúng sanh hãy quay trở về chính mình để nượng tựa vào nguồn khả năng giác ngộ trong tự thân.

 
Nỗ lực khai mở nguồn giác kia sẽ dập tắt hết thảy nhân tố khổ đau trong ba cõi (tam giới), trọn không rơi vào các ác đạo (tr.260-261).
2. Tâm lý hiện tại của chúng sanh thì dao động bất định, không ổn định trên hướng về giải thoát, vì vậy Thế Tôn dạy hãy vận dụng mọi phương tiện để giúp chúng sanh ổn định tâm lý dao động ấy trước khi có thể quyết tâm đi vào trí tuệ và từ bi chân thật (tr.216).
Để ổn định, người đời cần trú vào 5 giới, 10 thiện giới, bố thí rồi hành chỉ tịnh ở bước đầu, nhiên hậu đi sâu vào các viac65 tu tập niệm lực và định lực. Trên cơ sở niệm lực và định lực ấy người tu mới có thể thiết lập quốc vương trí tuệ.
Để tiếp tục thành tựa viên mãn hạnh giác tha, độ tha, hành giả cần phát đại bi tâm cứu khổ chúng sanh thoát khỏi các khổ đau thể chất và các khổ đau đến từ vô minh (tr.261-262).
Nương tựa tự tâm là nương tựa Pháp để vận dụng trí giác giải thoát. Thực hiện được điều này là ý nghĩa thực hiện bổn

 
nguyện của Địa Tạng đại sĩ, hay thực hiện trọng trách mà Thế Tôn thác.
3. Trọng trch1 trên được hoàn thành phải nhờ bốn sức mạnh của Tứ Chánh Cần: Ngăn và trừ các điều ác, duy trì và phát huy các điều thiện.
Đây là ý nghĩa nương tựa và thần lực của Địa Tạng đại sĩ (tr.262).
4. Nếu người đời học hỏi và tu tập theo Địa Tạng Bổn nguyện, nghĩa là học hỏi và tu tập theo hướng phát khởi tinh tấn lực, từ bi và trí tuệ lực, thì nhất định sẽ thành tựu được nhiều lợi ích như là:
- Được hiền thiện, an lạc và hạnh phúc (là ý nghĩa được chư thiên hộ vệ) (tr.265).
- Phát triển được thánh tâm trên căn bản thiện tâm (được các thánh hiền hộ vệ - tr.265).
- Do tu tập thanh tịnh mà phát khởi từ bi và thoát khỏi các bệnh tật ách nạn (tr.265).
- Kết quả sẽ sanh Thiên giới (tr.265-266).

 
- Thành tựu Tuệ giải thoát (tr.265-266).
Đó là kết quả của con đường tu tập được trình bày qua Kinh Địa Tạng. Kết quả ấy có thể thu gọn thành hai điểm:
- Về chánh báo, được giải thoát tâm thức.
- Về ý báo, sống trong cảnh giới tốt đẹp của Nhơn Thiên đầy an lạc và hạnh phúc.

 
          Tiết II
NỘI DUNG KINH ĐỊA TẠNG ĐƯỢC TRÌNH BÀY QUA TỪNG PHẨM GIÁO LÝ

A. Hiếu hạnh
- Một số người nghĩ rằng Địa Tạng đại sĩ đang có mặt và đang cứu khổ ở địa ngục; đọc tụng Kinh Địa Tạng để cầu siêu cho những người quá cố.
- Một số nhà nghiên cứu thì nghĩ Địa Tạng là cuốn Kinh Đại Thừa giới thiệu pháp, chỉ có hàng căn cơ lớn mới có thể tụng, đọc, học hiểu và hành trì.
Cả hai quan điểm trên đều ngã về hai thái cực, lãng quên một điều quan trọng: Địa Tạng giới thiệu một con đường sống, tu tập thiết thực dành cho đủ các căn tánh đi từ mê lầm khổ đau đến giải thoát tối hậu.

 
Con đường sống ấy khởi đầu là hiếu hạnh, đi dần đến thiện hạnh. Hiếu tâm chính là đầu nguồn của tâm giải thoát.
Không bao lâu trước lúc vào Niết bàn, đức Thế Tôn đến cung trời Đao Lợi thuyết pháp để cứu độ Thánh mẫu Ma Gia. Cử chỉ này đặc biệt có ý nghĩa về hiếu hạnh: Thế Tôn giúp thánh mẫu thấy rõ thật pháp, phát bồ đề tâm cầu quả vị Phật; và giúp chúng sanh đời sau noi theo gương hiếu ấy của Ngài. Chỉ có giới thiệu đạo giải thoát đối với mẹ cha mới đáp đền đủ ân nghĩa nặng.
Con đường giải thoát là được biểu hiện qua hạnh nguyện của Địa tạng đại sĩ. Mở đầu hạnh Bồ tát của đại sĩ là biểu hiện hiếu tâm đối với mẹ. Từ thương mẹ, phát tâm hành thiện để cứu mẹ; từ cứu mẹ, đại sĩ xúc động trước nỗi khổ báo của chúng sanh mà phát khởi đại bi tâm cứu độ. Nhờ hạnh nguyện độ khổ đó, đại sĩ đã chứng đắc Thập địa Bồ tát, dù vẫn ở lại sinh tử tiếp tục cứu vớt chúng sanh.
Có thể nói rằng, kinh Địa Tạng là một hiếu kinh. Chúng ta cần đọc tụng nhiều

 
lần, nghiên cứu và tu tập theo gương hạnh nguyện của đại sĩ.
Tại đây, thử tìm xem trọng điểm của hiếu là gì? Và phải chăng hiếu là gốc của tâm đại từ đại bi?
Lòng hiếu đối với mẹ cha, trên thực tế là tình thương kính đem lại an vui, xua đi khổ đâu cho cha, mẹ. Đó là tình thương mạnh nhất và đầu tiên giữa mình với một tha nhân mà mình mang nặng ân nghĩa. Như vậy, hiếu là tình thương giới hạn và có điều kiện. Do điều kiện ân nghĩa khiến người con quan tâm tha thiết đến hạnh phúc của tha nhân. Đây là chỗ đầu nguồn của tình thương yêu của con người được khơi dậy để rồi lan rộng ra dên hai, ba người, nhiều người, và sau cùng là đến tất cả.
Khi đã có thể thương kính tất cả, thì tình thương ấy không còn có lý do nào thúc đẩy khác hơn là chính khổ đau của cuộc đời. Bây giờ hiếu đã trở thành long đại từ, đại bi. Có thể phát biểu rằng từ bi là hiếu đối với nhân loại, chúng sanh; nó bắt nguồn từ long hiếu kính cha mẹ.

 
Hiếu hạnh sẽ là bài học đầu tiên của tình thương, của trung của lễ, của nghĩa và của từ bi.
Vậy hiếu tâm có phải là tâm giải thoát?
Theo tâm lý học của Phật giáo (A-tỳ-đàm, Duy Thức học và Thiền định), từ tâm và bi tâm có tác dụng dẹp tan các ác tâm, sân tâm, hại tâm và long vị kỷ. Khi từ tâm khởi thì sân tâm lặn. Do vậy, thiền định đã sử dụng pháp quán từ bi để đối trị sân triền cái. Tại đây, hiếu tâm quả là thiện tâm, là giải thoát tâm.
Kinh Địa Tạng đã vận dụng hiếu tâm để tu tập từ tâm và bi tâm hầu để độ khổ chúng sanh, chỉ vì mục đích duy nhất đem lại an lạc và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người và tất cả chúng sanh.
Lễ bái, tôn kính kinh Đại Tạng là ý nghĩa tu tập mở rộng tình thương yêu nhân loại, sống vì hạnh phúc cuộc đời.
Như thế, nếu nói rằng:
- Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật” (Ca dao)

 
- “ Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ vẫn là đi tu” (Ca dao) cũng phù hợp với giáo lý giải thoát vậy.
B. Bố thí    
Từ liên hệ ân nghĩa sinh thành, dướng dục mà hiếu tâm khởi dậy. Nay từ long hiếu muốn cứu cha mẹ thoát khỏi khổ báo địa ngục, mà mỗi người con phát tâm dõng mãnh bố thí, cúng dường, sửa chùa, in kinh và tu tập giáo lý. Lòng thương càng lớn thì động cơ tu tập các thiện hạnh cùng tốt, tu tập bố thí cùng tốt.
Từ đây, tâm bố thí được mở rộng dần: Từ cứu mé đến vì tha nhân; từ phước báo của chư Thiên đến hồi hướng công đức khắp tất cả.
Khi tâm trí mở rộng, thì sân tâm, tham tâm, ác tâm và hại tâm thu nhỏ lại để triệt tiêu, và niệm lực, định lực lại phát triển nhanh khiến phát sinh tuệ lực. Tu tập, huấn luyện các khả năng Giới, Định, Tuệ như vậy là thực hiện giải thoát. Con đường giải

 
thoát này được thiết lập trên nền tảng của hiếu đạo và bố thí, rất vững chải khế hợp với tâm lý con người.
Với con người, sống phải là yêu thương và hạnh phúc; sống là tìm kiếm yêu thương, hạnh phúc. Kinh nghiệm giải thoát cho thấy rõ hạnh phúc chỉ thật đến nếu có mặt chánh kiến soi sáng các hành động. Từ chấp nhận này (sống hiếu và từ), con người mở rộng yêu thương, bởi yêu thương càng lớn thì hạnh phúc càng nhẹ nhàng và càng sung mãn. Cho đến một thời điểm, do kinh nghiệm, con người nhận ra trí tuệ và từ bi là nguồn hạnh phúc vô tận của mình.
Kinh Đia Tạng đã thuyết phục con người thực hiện đạo đế qua từng bước chấp nhận hợp tình hợp lý, mà bố thí bước chấp nhận thứ hai.
Sứ mệnh đức Thích Tôn ký thác cho Địa Tạng đại sĩ dẫn dắt chúng sanh cho đến ngày Thế Tôn Di Lặc ra đời là sứ mệnh thuyết phục chúng sanh chuyển hóa nghiệp lực trên căn bản của chánh kiến và từ bi ấy.

 
 Đích điểm của bố thí theo kinh Địa Tạng là bố thí mà hồi hướng công đức về khắp chúng sanh, nghĩa là bố thí chỉ vì hạnh phúc của chúng sanh, xóa dần đi các mong ước hẹp hòi vì tự thân và cha mẹ, hay vì thân quyến. Tại đây, chúng ta thử đi vào diễn tiến của quá trình tu tập bố thí trong kinh Địa Tạng.
1. Tài thí: Kinh Địa Tạng chỉ nói nhiều đến tài thí (ngoại tài) như bố thí tài sản, của cải, thuốc men,…
Qua sự thực hành bố thí này vấn đề đầu tiên mà kinh dạy: Quan trọng là tâm thí: Bố thí vì lòng yêu thương và tôn trọng con người. Từ đây kinh chỉ dạy sâu hơn, không chỉ vì thoát khổ của mình và cha mẹ mà hành thí, mà vì khổ đau của chúng sanh.
2. Về loại tài thí có liên hệ chặt chẽ đến pháp thí: Sửa chùa, tu bổ kinh, in ấn kinh, tu bổ thánh tượng. Hình thức bố thí này đã móc nối đến chỗ phát triển chánh kiến, trí tuệ. Dụng tâm bố thí vẫn là nhắm đến vì hạnh phúc của chúng sanh. Kinh bảo bố thí với tâm hồi hướng này thì công

 
đức vô lượng. Thế là, bố thí tại đây đã có tác dụng phá trừ chấp thủ ngã tướng đang chuyển hướng đến bố thi1ly tứ tướng như kinh Kim Cương dạy.
3. Đề cao pháp thí:
Kinh Địa Tạng không giới thiệu pháp thí (hình thức giảng dạy và phổ biến giáo lý), bởi vì sứ mệnh là dẫn dắt các người đang chịu các khổ báo, hạng căn cơ này thiếu tuệ, nên khó đi vào thẳng diệu pháp. Nhưng kinh đã hàm ý đề cao pháp thí là tối thắng khi dạy rằng: Nếu như tự mình tu tập theo giáo lý (Giới-Định-Tuệ) hoặc khuyến khích người khác làm theo thì phước đức là bất khả tư nghì (tr.234-235)
Đây là đề cao trí tuệ giải thoát rất phù hợp với giáo lý truyền thống đượ kết tập ở tạng Nikàya. Tăng Chi Bộ kinh II, phẩm 4 pháp và Tăng Chi Bộ kinh IV, tr.39, bản dịch của T/T Minh Châu, 1981, ghi rằng:
- Tế đàn có ý nghĩa nhiều hơn là tế đàn bố thí
- Tế đàn trì giới là tốt hơn nữa.
- Tế đàn tu định càng tốt hơn nữa

 
- Và tế đàn tu tập trí tuệ là tối thắng.
Tại đây, kinh Địa Tạng cũng như Nikàya đều xác định điểm giáo lý cơ bản của Phật giáo: giải thoát vấn đề tu tập của tự thân, con đường tu tập giải thoát tự thân là Giới, Định và Tuệ.
Hiếu đạo và bố thí là nhằm tiến đến đạo lộ giải thoát của Giới, Định, Tuệ đó.
C. Trì Giới       
Thực hành hiếu đạo và bố thí là bước đầu xả bỏ bớt các bất thiện tâm, vất bỏ các vật nặng trên con thuyền đi về giải thoát. Bước đầu tu tập ấy chưa trực tiếp đối mặt với tâm thức để đối trị, còn đứng ở vòng ngoài của ngoại cảnh để đối trị.
Bước thứ hai tu tập giới thì bắt đầu tiến bước dần vào trong, và đối trị ngay trên các hành động của thân và một phần nhỏ của ý.
Kinh Địa Tạng đặt vấn đề rõ rệt từ bốn phẩm kinh đầu rằng: Tác nhân đưa con người vào địa ngục và ác đạo là thập ác nghiệp; và tác nhân đưa con người ra khỏi

 
hết thảy ác đạo là thập thất nghiệp nuôi dưỡng của chánh kiến và từ tâm.
Người tu tập mười thiện nghiệp sẽ hưởng an lạc và hạnh phúc ở các cung trời sau khi chết, đây là vùng đất hứa đối với những người đang lận đận trong vòng khổ nhân và khổ quả. Chính vùng dất hứa này là sức mạnh giúp các căn cơ thấp phát khởi đạo niệm, phát khởi lòng tôn kính giới.
Nếu quyết tâm xuất gia (theo gương Thế Tôn Tỳ Bà Thi và Câu Lưu Tôn) thì tương lai có thể đến chỗ giải thoát lậu hoặc, giải thoát hết thảy các nhân tố khổ đau của sinh tử. Đấy lại là vùng đất lý tưởng mở rộng phương trời hy vọng cho các chúng sanh mà Đại sĩ Địa Tạng có sứ mệnh dẫn dắt.
D. Thiền Định
Bước tu tập trực diện đối trị tham, sân, si (gốc của mọi hành vi tội lỗi) (đối trị chuyên sâu, thật sâu) là tu tập Thiền định.
Kinh Địa Tạng đả nhẹ nhàng giới thiệu hướng dẫn các bước tu tập niệm lực và định lực qua các hình thức như là:

 
- Theo dõi các hành vi của thân, khẩu, ý.
- Dạy thiếu nữ Bà-la-môn chuyên tâm niệm danh hiệu Thế Tôn Giác Hoa Định Tự Tại suốt một ngày một đêm (phẩm 1).
- Chuyên tâm trì niệm kinh Địa Tạng 3 thất đến 7 thất.
- Vị A-la-hán (tiền thân của Bồ Tát Vô Tận ý) phải nhập định mới thấy được cảnh giới đọa lạc của bà mẹ thiếu nữ Quang Mục (tr.167)…
Và đã nhẹ nhàng đề cao thiền định vượt xa các thiện sự:
Thiếu nữ Bà-la-môn nhờ vào định mà xuống được địa ngục (bể khổ thứ nhất) để tìm mẹ; còn các công đức bố thí thì không thể giúp thiếu nữ tìm gặp mẹ.
Có vào Định mới chặt đức được các nhân tố của ác nghiệp. Đó là ý nghĩa khi thiếu nữ Bà-la-môn vào địa ngục thì bà mẹ và các tội nhân cũng vừa được sinh thiên giới.
- Thế Tôn đã ký thác Bồ tát Định Tự Tại truyền bá sâu rông kinh Địa Tạng (có

 
nghĩa là phổ biến sâu rộng pháp cứu khổ ác đạo) Tr. 173.
- Do vì thiếu chánh niệm tỉnh giác, chúng sanh sau khi thoát khỏi ác đạo lại bị rơi trở vào (phẩm 8, tr.211).
Đến đây, ta có thể tóm tắt diễn trình tu tập mà Địa Tạng đại sĩ dẫn dắt các chúng sanh thọ khổ báo qua các bước:
Bước 1: Tu tập hiếu
Bước 2: Tu tập từ (bố thí)
Bước 3: Tu tập giới
Bước 4: Tu tập định
Bước 5: Tu tập tuệ
Chúng ta sẽ khảo cứu bước tu tập thứ 5 ở phẩm tiếp.
E. Tu tập Trí tuệ
Tu tập trí tuệ là bước tu tập sau cùng của lộ trình giải thoát. Nhưng thật sự, trí tuệ là phải có mặt từ bước tu tập đầu tiên. Nó là bước đi đầu tiên và sau cùng, có mặt trên suốt lộ trình giải thoát. Chánh kiến là trí tuệ (thuộc nhóm tuệ), được kinh Địa Tạng nêu lên từ đầu.

 
Kinh đã xác định mẹ của thiếu nữ Bà-la-môn (bà Duyệt Đế Lợi) bị đọa khổ là do tà kiến và ác hạnh – do vì thiếu trí tuệ, không rõ nhân quả, mà đi vào khổ xứ. Nhờ có trí tuệ soi sang, chúng sanh mới rõ đường đi vào hiếu hạnh, bố thí, trì giới và thiền định. Sứ mệnh dẫn dắt của Địa Tạng đại sĩ chính là vai trò trí tuệ.
Sau khi chánh kiến hưng khởi, hành giả cần nỗ lực để nuôi dưỡng chánh kiến, và nỗ lực để chiến thắng các khổ nhân là nỗ lực hành sâu bố thí, trì giới và thiền định. Mỗi bước tu tập có một công năng riêng dẹp bỏ một số nhân tố của các nghiệp, của sinh tử khổ đau. Nhưng gốc cùa các nhân tố kia là long tham ái, sân hận và vô minh. Tham ái và vô minh thì bàn bạc khắp tâm thức con người, nó cắn rễ thật sâu vào nội tâm và phân ra vô số các nhánh chỉa khắp tâm thức. Để đoạn tận chúng, để đốt cháy chúng, hành giả phải tu tập bằng cách hành thiền quán sâu xa dựa vào định lực lớn; pháp thiền quán này đến một thời điểm sẽ thiêu cháy hết thảy tâm tham, sân, si, lậu

 
hoặc và sẽ để lại một nguồn tâm giải thoát: đó là tuệ giác tối thượng.
kinh Địa Tạng đã dạy nuôi dưỡng trí tuệ qua các công phu thực hiện như:
- Chiêm bái đãnh lễ, tôn kính ảnh tượng Phật đà và chư Bồ tát.
- Trì niệm danh hiệu chư Phật.
- Tụng đọc và học hỏi giáo lý đại thừa.
- Dạy chúng sanh quay về chánh đạo (tr.151)
Kinh Địa Tạng giáo hóa đối tượng chính có căn cơ thấp nên không giới thiệu nhiều và trực tiếp về thật tánh, thật tướng của các pháp, mà chỉ hé mở cho thấy qua đoạn đầu kinh thánh chúng và chư Thiên câu hội (như đã được bàn) và điển hình qua đoạn kinh trích dẫn dưới đây:
“ Lại nữa, Địa Tạng, trong vị lai thiện nam hay thiện nữ nào gặp được kinh điển Đại thừa, dù chỉ nghe bốn câu chỉnh cú hay một câu trọn nghĩa, mà quý báu, thiết tha, ca tụng, tôn kính, thì kẻ đó được vô lượng vô biên quả báo rất lớn. Nếu biết đem

 
hiến cho toàn thể pháp giới chúng sanh thì phước họ không chi có thể ví dụ”. (Phẩm 11, tr.235).
Tất cả công đức chiêm lễ, tôn kính ảnh tượng Địa Tạng đại sĩ, nghe danh hiệu đại sĩ… mà kinh giới thiệu nhiều lần là ý nghĩa của chiêm lễ, tôn kính chánh kiến (trí tuệ) như được bàn đến từ phẩm đầu.
G. Tinh thần Bồ Tát hạnh trong kinh Địa Tạng
Kinh Địa Tạng nói về bổn nguyện, bổn hạnh bổn thệ của Địa Tạng Bồ Tát hiển nhiên là giới thiệu Bồ Tát đạo. Sắc thái dai69 bi cứu khổ vô lượng chúng sanh hẳn là chung chó các kinh Đại thừa.
Ở đây chỉ tìm hiểu sắc thái đặc biệt của kinh về bổn nguyện, bổn hạnh và bổn thệ của Địa Tạng đại sĩ.
1. Nếu hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm (Pháp Hoa) là cứu độ các khổ đau mà nhân loại đang chịu, thì hạnh nguyện của Địa Tạng đại sĩ là cứu vớt các chúng sanh ra khỏi các khổ báo địa ngục về sau

 
(sau khi chết). Không phải vì cứu khổ tội báo địa ngục mà Địa Tạng đại sĩ phải có mặt ở địa ngục, thực tế, đại sĩ thường cứu họ từ trần gian.
Như thế, Bồ Tát Quan Thế Âm là cứu người ra khỏi khổ quả trong hiện tại; còn Địa Tạng đại sĩ thì cứu người, chúng sanh ra khỏi khổ qua đời sau.
2. Cả hai Bồ Tát đều dùng năng lực đại bi để cứu độ, nhưng sự vận dụng 2 năng lực đó có phần khác biệt, đại khái là do các khác biệt của đối tượng cứu độ như là:
- Khổ trần gian đến với con người trong điều kiện có trí tuệ cao hơn tâm; trí của chúng sanh địa ngục vối đầy si mê.
- Con người có nhiều điều kiện thoát khổ, giữa khi đó, chúng sanh địa ngục thì không có.
- Khổ quả của đời này là kết quả của khổ nhân đời trước, khổ nhân ấy nhẹ hơn khổ nhân địa ngục nhiều.
Tựu trung, các sai biệt trên có thể thu về hai điểm:
a. Về chánh báo, tâm lý khổ thọ của con người thì ở mức độ tham, sân, si còn

 
nhẹ; còn tâm lý của chúng sanh địa ngục thì đầy sân, si.
b. Về y báo, cảnh giới trần gian có mặt Phật pháp và có nhiều trợ duyên để thoát khổ; địa ngục thì hoàn toàn vắng bóng Phật pháp và vô phương thoát khổ.
Do đó, năng lực đại bi Bồ Tát Quán Thế Âm vận dụng chuyển nghiệp dễ dàng hơn là năng lực đại bi mà Bồ Tát Địa Tạng vận dụng. Việc cứu khổ các tội khổ địa ngục đòi hỏi đại sĩ Địa Tạng nhiều kiên trì và nhiều phương tiện thiện xảo.
3. Năng lực chuyển hóa nghiệp cần được vận dụng ở ba giai đoạn:
a. Giai đoạn tạo nghiệp nhân.
b. Giai đoạn trung gian giữa nghiệp nhân và nghiệp quả.
c. Giai đoạn thọ báo.
Thực sự, sức mạnh chuyển hóa chỉ hữu hiệu nhiều ở hai giai đoạn đầu. Bồ tát thường đối trị nhân mà không bận tâm đến đối trị quả.
Nói cách khác, giải thoát là giải thoát nhân. Do vậy, công việc cứu độ chính của

 
hai Bồ tát vẫn là việc giảng dạy con người ở trần thế. Và nội dung giảng dạy cơ bản là trí tuệ và từ bi. Chỉ khác biệt ở kỷ thuật giáo hóa để thích ứng với hai đối tượng giáo hóa có căn cơ thấp khác biệt, điển hình như:
- Về bố thí, nếu Bồ tát Quán Thế Âm dạy tài thí (nội tài và ngoại tài) Pháp thí và vô úy thí, thì Địa Tạng đại đại sĩ chỉ dạy ngoại tài (không đề cập đến nội tài). Bởi vì,với căn cơ tà kiến, bất tín nhân quả, đa tham và đa sân, khó cho Đại sĩ Địa Tạng nói cho bố thí thân mạng (nội tài), bố thí pháp (họ không hiểu pháp) không tin pháp, bố thí ba-la-mật. Họ sẽ từ khước ngay bất cứ pháp hành nào đánh mất bản ngã của họ. Địa Tạng đại sĩ, vì vậy đã khóe léo dẫn dắt họ đi từ bố thí vì lòng hiếu (vì mẹ cha), vì tự thân rồi mới mở nhẹ ra đến bố thí hồi hướng về công đức khắp pháp giới.
- Về trì giới, nếu Bồ tát Quán Thế Âm giới thiệu thẳng trì giới Ba-la-mật, thì Địa Tạng Đại sĩ chỉ trình bày cho họ tránh xa các tội ngũ nghịch, giữ gìn 5 giới và 10 thiện giới vì phước báo hưởng an lạc chư

 
Thiên chỉ nhằm đưa họ ra khỏi ác đạo.
- Về Thiền định, nếu Bồ tát Quán Thế Âm dạy định Ba-la-mật, thì Địa Tạng đại sĩ chỉ bày trong hình thức nhiếp niệm lễ bái, trì niệm danh hiệu Phật đà một cách nhẹ nhàng. Ngay cả việc làm này, Đại sĩ đã phải động viên tình thương cứu mẹ, họ mới đi vào thực hiện.
- Về trí tuệ, Bồ tát Quán Thế Âm dạy đến trí tuệ Ba-la-mật hay Phật trí; giữa khi Địa Tạng chỉ dạy chánh kiến phàm phu.
- Về nhân quả, kinh Địa Tạng trinh bày giáo lý dưới hình thức rất thực nghiệm, rất “sự”, mà không diễn giải có tính lý thuyết.
- Về tâm đại từ bi, Bồ tát Quán Thế Âm dạy thẳng tâm Bồ tát, trong khi kinh Địa Tạng Đại sĩ phải khơi dậy long từ hiếu đến bố thí và đến hưng khởi đại bi tâm.
Chủ điểm trong kỷ thuật giảng dạy của Bồ tát Quán Thế Âm là khai mở đại tuệ và đại bi, nhưng chủ điểm trong kỷ thuật giảng dạy của Địa Tạng đại sĩ là khai mở hiếu tâm, thiện tâm và chánh kiến ở cấp độ

 
phàm phu. Sứ mệnh của đại sĩ là sứ mệnh độ những chúng sanh tội khổ thiếu tín tâm, thiếu trí; do đó, tâm lý ứng dụng cần được khế hợp để khai mở đạo tâm dần dần. Vì vậy, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên thấy các Phật sự trong kinh Địa Tạng rất thiết thực, nằm trong tầm tay thực hiện của đối tượng cần được dẫn dắt, khác với kinh Kim Cương và Pháp Hoa trình bày các Phật sự có tính lý tưởng, giả thiết vượt ngoài khả năng của con người.
Bên cạnh việc chỉ bày các phật sự khiêm tốn ấy, Địa Tạng đại sĩ lại đánh giá thật cao các công đức của phật sự đó nhằm khích lệ, làm phấn khởi các người mới hướng thiện phát khởi chánh kiến và từ tâm. Chính chánh kiến và từ tâm mới thực sự là năng lực cứu chúng sanh ra khởi các tội khổ trong hiện tại và tương lai mà không phải là Địa Tạng Đại sĩ hiểu như một nhân vật lịch sử.
Hiệu năng cứu khổ trên là một vấn đề của thực nghiệm, không phải là vấn đề hợp lý chứng kiến những tâm niệm và hành vi tội lỗi của đủ các giai tầng xã hội, chúng ta

 
mới cảm thấy xúc động chia sẻ sâu xa với một số lời dạy trong Kinh Địa Tạng hầu như đi xa với nguyên lý nhân quả, bởi các lời dạy ấy trọng điểm là nhằm cấp thiết đưa các người tội lỗi ra khỏi những vướng mắc của họ trước đã, sau đó mới giúp họ vào đúng lý đúng cơ. Ví như một con tàu đang mắc cạn, thì việc trước tiên là đưa nó ra khỏi chỗ kẹt đã rồi sau đó mới định hướng cho nó.
Đây là một điểm kỷ thuật vận dụng thiện xảo nặng về khế cơ của Địa Tạng Đại sĩ để hoàn thành bổn nguyện của đại sĩ dẫn dắt các chúng sanh về chánh đạo trong giai đoạn trung gian giữa thời kỳ hai Thế Tôn ra đời.
H. Nhân Quả và Nghiệp Báo
Giáo lý Nhân Quả và Nghiệp Báo là giáo lý về trí tuệ giúp nhận thức đúng quy luật của tâm thức mà hành động hầu phát triển thiện tâm và trí tuệ. Nó không phải là một pháp môn tu tập.
Nhân Quả và Nghiệp Báo là một trong các giáo lý quan trọng nhất của Phật giáo,

 
nhưng không thể hiểu bằng tư duy, trừ ra trí tuệ của Phật (xem Phật Học Khái Luận, phần Nhân quả cùng soạn giả). Giáo lý này là căn bản của đạo đức học Phật giáo, chỉ hướng cho con người sống hiền thiện.
Kinh Địa Tạng đã dành riêng hai chương ba và bốn nói đến Nghiệp và Nghiệp báo, dù chưa đi sâu vào luật tắc, và không trình bày đủ nhiều khía cạnh tế nhị của nó. Đại để kinh đã nêu lên một số nét chính:
- Tin có nhân quả và chánh tín, biết có nhân quả là chánh kiến. Không biết, không tin nhân quả là tà kiến, tà tín (phẩm thứ nhất).
- Thiện nhân quyết định đưa đến thiện quả; ác nhân quyết định đưa đến ác quả.
- Phân biệt có 10 nghiệp thiện, 10 nghiệp ác của thân, khẩu và ý.
- Thánh nghiệp thì ở ngoài thiện và ác (giải thoát nghiệp).
- Nhân  và quả đồng loại (phẩm 4).
- Cùng một nghiệp nhân nhưng có thể có nghiệp quả khác nhau (phẩm 1)

 
- Cận tử nghiệp quyết định cảnh giới thác sinh, nếu trước lúc chết có chánh kiến và hỷ tâm thì sẽ sinh Thiên giới, dù trước đó có tạo các ác nghiệp.
- Người là chủ nhân của nghiệp và là kẻ thừa tự của nghiệp (“chí thân như tình phụ tử, cũng đường ai nấy đi”).
Giáo lý này đặt chúng sanh trước tinh thần trách nhiệm tự thân và trước một sự chọn lựa rõ ràng, thiện hay ác, hạnh phúc hay khổ đau. Nhưng đồng thời cũng hé mở niềm hy vọng cho chúng sanh là nghiệp có thể bị chuyển hóa, bị đoạn diệt nếu phát triển trí tuệ và từ bi về vô ngã.
Nếu sự thật không có mặt nhân quả, nghiệp báo thì vấn đề thiện, ác không được thành lập; Phật giáo hầu như không còn gì để nói chuyện với chúng sanh.
Tại đây, người Phật tử hiện rõ là người chọn điều thiện cho mình và người. Chọn điều thiện cho cá nhân và tập thể là đưa toàn thể ra khỏi các khổ báo của địa ngục và của ác đạo, hoàn thành sứ mệnh cứu khổ của Địa Tạng đại sĩ.

 
Do điểm quan trọng chủ yếu đó, kinh Địa Tạng đã dành riêng hai chương giới thiệu Nghiệp và Nghiệp báo, và có đề cập đến luật tắc tâm thức ấy qua các phẩm kinh còn lại.
 
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »