Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Địa Tạng

Tư Tưởng Kinh Địa Tạng

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 127.

Chương 5: Chương III: Nhận Thức Tổng Quát Về Kinh Địa Tạng Phật Tử Tu Tập Theo Kinh Địa Tạng (Trang 107 - 126)

 Chương III
NHẬN THỨC TỔNG QUÁT VỀ KINH ĐỊA TẠNG
PHẬT TỬ TU TẬP THEO KINH ĐỊA TẠNG
                    Tiết I:
NHẬN THỨC TỔNG QUÁT VỀ KINH ĐỊA TẠNG

Có một số nguyên tắc để nhận thức kinh điển Đại thừa mà chúng ta có thể dựa vào để tìm hiểu sắc thái riêng của giáo lý kinh Địa Tạng.
1. Nguyên tắc khế lý và khế cơ:
Hai yếu tố thành lập nghĩa kinh là khế lý, khế cơ.

 
Nếu chân lý chỉ có một, thì kinh điển Phật giáo chỉ nhằm xiển dương cái một ấy.
Diệu pháp chính là cái một này. Do vậy, không có vấn đề cao thấp, hay đại, tiểu giữa các kinh về mặt diệu lý. Nếu có điểm khác biệt, thì đấy chỉ là sự khác biệt về hình thức trình bày, hoặc giả đấy chỉ là sự thiên chấp bộ phái. Học diệu pháp, chúng ta phải đứng ngoài các quan điểm thiên chấp ấy.
Về mặt khế cơ rất tế nhị, biểu tượng nhiều điểm khác biệt hầu thích ứng với trình độ nhận thức và tâm lý người nghe, thích ứng với văn hóa xã hội của thời đại, và thích ứng với tiêu đích giáo hóa muốn đạt đến của mỗi kinh. Điểm khác biệt giữa các kinh xuất phát từ tinh thần khế cơ này. Đây cũng là nhân tố chính phân chia phái Phật giáo và đưa đến thời kỳ phát triển Đại thừa.
2. Nguyên tắc cứu độ:
Tinh thần đặc biệt của Đại thừa là nêu lên lòng đại bi cứu độ chúng sanh làm lý tưởng. Pháp hành chính là Lục Độ Ba-la-mật.

 
3. Nguyên tắc phương tiện quyền xảo:
Tinh thần phương tiện quyền xảo được vận dụng để đưa nhiều căn cơ vào giải thoát là một sắc thái giáo hóa nổi bật của Đại thừa. Đại thừa trở nên khó hiểu, khó nắm là do tinh thần phương tiện này. Người học đạo khó nhìn ra mục tiêu thực sự ở đây. Tuy nhiên, nhờ nguyên tắc khế lý mà chúng ta có thể đi vào được nghĩa kinh.
4. Nguyên tắc diễn đạt biểu tượng:
Một số hình ảnh và ngôn ngữ Đại thừa thường là biểu tượng để biểu tượng hóa những gì mà tư duy không thể đặt chân tới được.
Từ 4 nguyên tắc trên, chúng ta đi vào nhân định tổng quát về kinh Địa Tạng.
I. Phần ngôn ngữ biểu tượng:
Mở đầu khung cảnh thuyết pháp, kinh Địa Tạng giới thiệu các hình ảnh vượt hẳn ra ngoài tầm nhận thức của tư duy hữu ngã, rất là siêu thực: Như phần giới thiệu thính chúng vân tập, hòa quang và âm thanh của Thế Tôn. Các hình ảnh biểu tượng ấy nhằm

 
giới thiệu tuệ giác và thần thông của Thế Tôn, giới thiệu thực tánh vô ngã, và nhằm dựng lên niềm tin cùng gây sự chú ý nơi chúng đương cơ. Tại đây chúng ta không thể đồng hóa ngôn ngữ này với ngôn ngữ thiết thực của kinh điển Nam tạng.
Một số danh hiệu Phật đà và Bồ tát không hẳn là chỉ những nhân vật lịch sử, mà chỉ là tượng trưng như Giác Hoa Hịnh Tự Tại Vương, Thanh Tịnh Liên Hoa Mục, Văn Thù, Phổ Hiển v.v…
Các con số vô tận, vô lượng chỉ thời gian và không gian là nói về thực tại ở ngoài vùng tư duy.
Những diễn đạt về nỗi thống khổ của chúng sanh cũng mang nghĩa tượng trưng, do vì hình thức cảm thọ khổ đau của mỗi chúng sanh khác nhau, và do khái niệm khổ đau của con người khác với chúng sanh ở địa ngục (ngôn ngữ con người không thể nói lên được).
Một số ngôn ngữ diễn đạt bao hàm ý nghĩa vừa cụ thể vừa tượng trưng, như lễ bái, tôn kính, thọ trì, đọc tụng, trì niệm danh hiệu Phật đà và chư Bồ tat1v.v…

 
II. Đối tượng giáo hóa chính của Địa Tạng đại sĩ:  
Địa Tạng đại sĩ, qua kinh Địa Tạng, đã giáo hóa chúng sanh giới hạn trong một số căn cơ thấp. Thế Tôn ký thác trọng trách cho đại sĩ dẫn dắt chúng sanh ra khỏi ác đạo để hướng về niết bàn trong giai đoạn ác trược giữa thời điểm hai Thế Tôn ra đời. Thế Tôn Di Lặc sẽ giáo hóa họ ở giai đoạn cuối.
- Chúng sanh mà Địa Tạng đại sĩ đã trực tiếp giáo hóa là thuộc hàng tà kiến, không tin nhân quả, phỉ bang chánh pháp, độc căn.
- Phẩm kinh thứ tư, trang 166, xác định: Địa Tạng đại sĩ ở lại sinh tử để dạy các chúng sanh đang làm ác và đang chịu khổ báo; dạy pháp môn thập thiện giới là căn bản.
Qua đó chúng ta thấy rõ sứ mệnh của Địa Tạng đại sĩ là đưa chúng sanh vào thiện đạo để có điều kiện thuận lợi hành giải thoát.

 
III. Giáo hóa chủ yếu được kinh Địa Tạng giới thiệu:
Để dẫn dắt chúng sanh từ vùng ác kiến, ác hạnh ra khỏi tăm tối của vô minh dày đặt, đại sĩ đã chỉ dạy họ hiếu đạo, bố thí tài vật, giữa năm giới, mười thiện giới, chiêm lễ, cúng dường và tô họa hình ảnh Phật, Bồ tát, tụng đọc kinh điển Đại thừa và hiểu tin nhân quả.
IV. Tinh thần giáo hóa phương tiện thiện xảo:
Để chúng sanh thực sự được lợi ích, Địa Tạng đã phương tiện giảng dạy cho khế hợp với khả năng tiếp thu giới hạn, với tâm lý vị kỷ, và với ý chí giải thoát chủ yếu của đối tượng.
1. Thích ứng với khả năng tiếp thu: Với đối tượng giáo hóa đầy si mê ấy, Địa Tạng đại sĩ đã không trình bày Tứ Đế, Nhân quả… với ngôn ngữ diễn giảng; đã không giới thiệu vô ngã và các “Ba la mật” mà đã phơi bày cụ thể sự thật của khổ đau và hạnh phúc của tam giới bằng hình ảnh sống động để đối tượng giáo hóa trực tiếp

 
quan sát và chiêm nghiệm. Các vị đại diện cho cảnh giới của mình nói lên sự thật của nghiệp nhân và nghiệp quả hầu đánh thức chúng sanh. Sự thật ấy đại để là:
- Địa ngục có vô số cực hình thống khổ, không có lối thoát là hậu quả của tà kiến, bất tín Nhân quả, và ác hạnh.
- Loài người với tâm lý bất định, thay đổi theo điều kiện sống; khi thiện khi ác. Nếu sống thiện sẽ được sanh Thiên giới, nếu ác, sẽ đọa địa ngục, ác đạo.
- Chư Thiên thì tuổi thọ dài, dung sắc đẹp với nhiều lạc thú hạnh phúc. Nếu thiếu chánh kiến tu tập, sau khi hết tuổi thọ thì sẽ rơi xuống ác đạo.
- Chư Thánh hiền với trí tuệ và từ tâm rộng lớn thì an trú giải thoát.
Qua hình ảnh sự thật của khổ và lạc đó, kinh Địa Tạng vừa khích lệ các ác chúng sanh hành thiện hạnh, vừa cảnh giác chư Thiên thấy rõ thiên giới là do nghiệp sinh, là vô thường, là không thật để giác tỉnh tu tập đi lên.

 
 Kinh mở rộng ra trước mắt chúng sanh một phương trời mới đầy hạnh phúc và giải thoát chân thật của đại trí và đại bi.
Phương thức giảng dạy trên rất là thực tế, sống động và vận dụng tâm lý rất thiện xảo.
2. Thích ứng với tâm lý vị kỷ và tâm lý bất thiện:
Với chúng sanh long đầy vị kỷ, phóng dật không dễ gì thuyết phục họ hướng thiện bằng ngôn ngữ thuần lý thiếu tính tác động nói về giáo lý giải thoát. Vì vậy Địa Tạng đại sĩ đã kiên trì giáo hóa với kỷ thuật giáo hóa thiện xảo đi qua từng bước thuyết phục, dẫn dắt.
- Điều trước tiên và mạnh nhất có thể thuyết phục là khơi dậy trong họ tình thương cha mẹ, ân nhân lớn của họ, để đưa họ vào hiếu đạo, lo nghĩ dường cứu mẹ cha thoát khổ báo địa ngục. Đại sĩ trao cho họ quyết định đầu tiên ấy để khởi đầu tách tự thân ra khỏi ác đạo. Đại sĩ đã khéo léo gợi ý rằng mọi người đều rơi vào tội lỗi một cách nào đó: “Nhất tâm động niệm vô phi

 
thị tội”. Nghĩa là cha mẹ đã và sẽ rơi vào tội báo.
-  Tiếp đến, đại sĩ chỉ cách cứu khổ mẹ cha bằng bố thí, bằng hành các thiện nghiệp cho họ. Thế là đã dẫn dắt họ đi bước thứ hai tách xa khỏi đường ác đạo.
- Trong khi hành thí,  thoạt đầu là vì cứu mẹ cha, và vì tự thân (hay nhân danh hạnh phúc của mình và mẹ cha mà làm việc bố thí). Đại sĩ từ đây hướng tâm họ vì thương người mà bố thí phước đức sẽ lớn hơn; nếu hồi hướng công đức ấy về khắp pháp giới chúng sanh thì phước đức sẽ vô lượng, sẽ lợi ích nhiều cho mình và cho cha mẹ. Vậy là đại sĩ đã đưa họ đến bước thực hành thứ ba xa khỏi đường ác, vào đường thiện một cách nghiễm nhiên.
- Việc trì giới, chiêm lễ tôn tượng, đọc tụng tôn kinh … cũng được hướng dẫn theo hình thức trên.
Đến đây, đại sĩ đưa họ vào sâu công đức bằng cách hành thiền và tu tập thân trên cơ sở Giới, Định, Tuệ. Thế là dẫn họ theo hình thức trên.

 
Họ đi từng bước kinh nghiệm tự thân qua hành sự và nhân ra tính giải thoát của giáo lý Phật giáo bằng chính kinh nghiệm tự thân. Tại đây, họ dễ dàng tiếp thu các giáo lý giải thoát và dễ tự mình thực hiện.
Đây là một quá trình giảng dạy đạo giải thoát bằng cách dấn thân thẳng vào hành sự một cách khéo léo, không cần giảng giải quanh co, và không sợ bị khước từ.
Nếu dạy từ đầu bố thí không mong cầu, hay bố thí vô chấp thủ, thì sẽ mất hết tác dụng thuyết phục, đại sĩ Địa Tạng sẽ không thi hành được sứ mệnh độ khổ của Đại sĩ.
Cuối cùng, Đại sĩ vẫn đưa họ đến đích mong muốn; mở rộng từ bi và trí tuệ tu tập Giới, Định, Tuệ. Thiện xảo phương tiện là thế.
Tương tự, khi dạy tu thiền định, đại sĩ giản dị bảo họ nhiệt tâm cầu nguyện, chiêm lễ và trì niệm danh hiệu Phật và danh hiệu chư Bồ tát. Nhưng thực sự nội dung của việc làm đó đã dẫn đến kết quả phát khởi niệm lực và định lực.

 
Đến đây, thì họ nhận ra rõ con đường giải thoát của mình và người và hạ quyết tâm tự mình thực hiện.
3. Thích ứng với ý chí yếu kém:
Nếu Đại sĩ nói thẳng mục đích giải thoát sau cùng cho các căn cơ thấy ấy nghe, hoặc giả trình bày trong một lúc hết lộ trình giải thoát dài đăng đẳng phải trải qua, thì sẽ thất bại trong sứ mệnh cứu khổ của Đại sĩ. Họ sẽ vì thấy không thiết thực để chấp nhận, và họ sẽ từ chối vì thấy khó khăn và mệt mỏi, chán nản; thôi cứ phó mặc cho dòng sanh tử khổ đau nhận chìm, hay cuốn trôi mà còn thấy dễ chịu hơn.
Địa Tạng Đại sĩ đã khéo léo chọn phương pháp giới thiệu đến từng chặn đường nỗ lực vừa phải với quyết tâm và khả năng thực hiện của họ. Thế nào để họ thấy hợp lý và thích thú, phấn khởi khi chấp nhận. Vì thế, Đại sĩ mở ra trước mắt họ nhiều tầng trời đầy hạnh phúc và lạc thú, hứa hẹn việc thiện họ sắp làm; vừa đặt ra chung quanh họ những chảo dầu sôi, những đống lửa hồng, những cực hình…

 
đang chờ đợi họ, nếu họ không đi vào các thiện nghiệp.
Hẳn là họ chọn lựa đi trên đường thiện nghiệp, mà không tiếc nuối quay lại biển khổ mênh mông tăm tối ở đằng sau.
Chờ cho đến khi con tàu tâm thức của người họ rời ga, Đại sĩ mới bắt đầu nhẹ nhàng chỉ rõ hướng phát triển của chánh kiến và từ bi. Nhờ có chánh kiến và từ bi, họ hiểu rõ họ cần phải đi về đâu để dừng chân lại các ga tàu trung gian, hầu đến ga cuối cùng, nơi mà Thế Tôn Di Lặc đang chờ đợi để chỉ dạy trực tiếp vô ngã và các Ba-la-mật.
Kỷ thuật giáo hóa ấy là nghĩa “ hóa thành” ở kinh Pháp Hoa, nhưng còn ở cấp độ giải thoát thấp. Đó là tinh thần giảng dạy phương tiện rất thiết thật và thiện xảo của Địa Tạng Bồ tát.
Tại đây, chúng ta không phải ngạc nhiên thắc mắc trước một ít lời Kinh Địa Tạng hầu như có thể đặt thành nghi vấn, như là:
- Kinh nói thân nhân bị đọa lạc về báo mộng cho người dương thế … (phẩm 6, tr.194)

 
- Kinh nói rõ nghiệp nhân nào thì đưa đến nghiệp quả nào …(phẩm 4, tr.175-176) trong khi nghiệp quả đến không hẳn như vậy. Người đã bị đọa làm sao trở lại được? Như người bị tù chung thân làm sao trở về với gia đình được? Mà họ trở về bằng cách nào?
- Các nghiệp trung gian có thể thay đổi nghiệp quả.
Kỷ thuật giảng dạy trên có khi rơi vào nghĩa phương tiện, nghĩa là đi hơi xa tinh thần khế lý. Nhưng điểm chọn lựa ở đây của Kinh Địa Tạng là: Để kéo con tàu ra khỏi mắc cạn đã rồi sẽ định hướng cho nó, như kinh đã dạy tiếp:
“ Đường ai nấy đi…” (tr.184).
(theo luật nhân quả không ai cứu được ai, không thể trả thế người vay).
Hướng giáo lý mà kinh định giới thiệu thực sự là:
- Hiếu đạo,
- Bố thí và trì giới,
- Phát triển trí tuệ và từ bi.
Hầu đưa nhân loại, chúng sanh về an lạc, hạnh phúc và giải thoát của tự thân.

 
Qua Kinh Địa Tạng, Thánh Mẫu Ma Gia đã nhận được những lợi ích giải thoát nào? Thời pháp Địa Tạng bổn nguyện là thời phát Thế Tôn nói, cho Thánh Mẫu Ma Gia ở Đao Lợi thiên nhưng tại sao lại đề cập nhiều đến các tội khổ ở địa ngục và các tội nhân của loài người? (Đấy là vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu ở đây.
Như đức Thế Tôn dạy trong kinh Đại Nghiệp Phân Biệt, Trung Bộ kinh III, số 36 (Hán tạng: Phân biệt đại nghiệp kinh, trung A hàm số 171; đại 1,706b) rằng chư Thiên sau khi hết tuổi thọ, nếu không có chánh kiến về Phật pháp thì phần lớn rơi xuống ba đường dữ; rất ít được làm người, và rất ít sinh về cõi trời thấp hơn. Sự thật này chỉ có chư Thế Tôn biết qua thiên nhãn thanh tịnh. Do đó, khi phơi bày cảnh thống khổ ở địa ngục và tội lỗi ở trần gian là gián tiếp để chư Thiên giác tỉnh mà phát khởi tâm tu tập giải thoát, nuôi dưỡng trí tuệ và từ bi.
Ở cõi Trời, vốn là cảnh hóa sinh, không già, không bệnh, thọ mệnh lâu dài, dung sắc đẹp và đầy lạc thú, chư Thiên

 
sẽ dễ ngủ quên trong thường kiến, không nhận ra tính chất tạm bợ, không thực và vô thường. Khi tất cả các cảnh giới được mở ra trước mắt chư Thiên, là khi đã nói lên rõ ràng tất cả tam giới là do nghiệp lực sinh; nó là vô thường, không thật. Khi cảnh giới thống khổ địa ngục hiện rõ, thì chư Thiên liền kinh sợ mà phát khởi tâm tu tap65tri1 tuệ hầu như khi mạng chung không phải bị đọa lạc.
Khi các cảnh giới chư Thiên cao hơn xuất hiện là khi hé mở niềm tin và phấn khởi và cho chư Thiên tu tập để có thể sinh về cõi trời cao hơn.
Khi chiêm ngưỡng tôn dung Thế Tôn, chư Phật và chư Bồ tát, chư Thiên thấy ngay có kết quả giải thoát lậu hoặc (giải thoát sinh tử) để hưng khởi lòng tin và quyết tâm giải thoát. Đồng thời trước đại thần lực của các ngài, chư Thiên bỗng nhận ra cái thấp thỏi, mỏng manh và bé nhỏ của các cung Trời mà sinh tâm nhàm chán cảnh Trời, xa lìa chấp thủ, thường kiến.
Khi nghe chư Bồ tát thuật lại con đường tu tập giải thoát và độ sinh của quí

 
ngài, chư Thiên liền nhận ra một đạo lộ dẫn đến tuệ giải thoát tối thượng.
Rồi ngoảnh lại, hình ảnh vô thường và thống khổ của loài người và địa ngục đánh mạnh vào tâm thức có thể kích động Thánh Mẫu và chư Thiên phát khởi đại bi tâm cứu độ.
Vô thường đối với con người chỉ là hình ảnh bình thường, ít gây niềm xúc động và chấn động mạnh tâm thức của họ. Đấy là biến cố lớn của nhận thức chư Thiên, có tác dụng vừa cảnh giác vừa đánh thức dậy trí tuệ, như tiếng hót của chim thức dậy cả bình minh. Niềm ray rứt về sinh tử lại trở về thúc giục chư Thiên chuyển hướng nhìn và hướng sống.
Khi tất cả tiếng nói cần thiết trên vừa nói xong, thì thời thuyết Pháp Địa Tạng Bổn Nguyện cũng vừa chấm dứt. Tất cả hội chúng đều trở về bổn độ.
Đó là thời Pháp bằng hình ảnh rất thực, rất sống mà Thế Tôn đã thuyết giảng cho Thánh Mẫu và chư Thiên, không giống với thời kinh Tứ Đế và vô ngã tại Lộc Uyển, nhưng đã nói lên cùng một nội dung, cùng mốt tiến nói về đạo lộ giải thoát.

 
             TIẾT II
QUA KINH ĐỊA TẠNG PHẬT TỬ CẦN TU TẬP GÌ?

Nỗ lực tìm hiểu giáo nghĩa kinh Địa Tạng là để có một nhận thức đúng hơn về con đường giải thoát được trình bày qua kinh hầu để tu tập đúng pháp theo lời dạy của Thế Tôn, và qua các bước dẫn dắt của Địa Tạng đại sĩ.
Khi đã rõ Địa Tạng là nguồn chân tâm, thì bổn hạnh của Đại sĩ đúng là việc tu tập của tự thân mình phát triển các thiện tâm đi về tuệ giác giải thoát.
Việc đầu tiên của người Phật tử là quay trở về chính mình để trừ bỏ ác kiến, ác niệm và ác hạnh.
Trừ bỏ ác kiến là rời xa các tin tưởng thần quyền, mê tín, dị đoan; rời xa các

 
thái độ cầu xin, vọng ngoại (thuộc về bổn nguyện); rời xa chấp thường, chấp đoạn.
Trừ bỏ ác niệm là rời xa các tưởng nghĩ gây tổn hại cho mình và người, rời xa các ham muốn tội lỗi, rời xa sân hận.
Trừ bỏ ác hạnh là tránh không làm 10 ác nghiệp (của thân, khẩu và ý); không làm nghề bói toán, không buôn bán ma túy v.v…
Đó là bước nỗ lực thực hiện lời dạy: Chư ác mạc tác (không làm mọi việc ác)
Bước tu tập thứ hai là thực hiện Hiếu đạo theo lời Phật dạy là bố thí, giữ gìn 5 giới cấm, mười thiện nghiệp (của thân, khẩu và ý). Đây là bước thực hành lời dạy:
“ Chúng thiện phụng hành” (làm mọi việc lành).
Song song với hai bước tu tập trên là học hỏi giáo lý để có chánh kiến về Phật pháp. Với các Phật tử có khả năng trí tuệ và ý chí, thì nỗ lực tu tập bước thứ ba:
 - Phát triển long từ và bi
 - Tu tập thiền định

 
- Phát triển Thiền quán vô ngã hầu để đoạn trừ hết tham ái, chấp thủ, vô minh.
Đây là bước tu tập giải thoát sau cùng: “ Tự tịnh kỳ ý” (làm thanh tịnh tâm ý)
Song song với nỗ lực thực hiện ba bước giải thoát trên, trong điều kiện có thể thì phật tử phát tâm độ tha:
 - Giúp than ha đi ra khỏi khổ đau về thể chất.
 - Giúp than ha đi ra khỏi khổ đau của tình cảm, tâm lý.
 - Giúp tha nhân hiểu rõ về đạo giải thoát.
Thực hiện được như vậy, đúng như vậy thì quả thực chúng takhong6 phạu ân giáo hóa của Thế Tôn, và ân hộ trì của Địa Tạng đại sĩ và chư Bồ tát.
Toàn bộ giáo lý Phật giáo, dù được trình bày từ cuốn kinh nào, là dành để cho chúng ta học, hiểu và hành chúng. Chúng ta không thể chờ đợi gì khác hơn thế.
Con đường giải thoát là con đường loại trừ các nhân tố của khổ đau, sinh tử. Tự

 
Nó là tích cực và trí tuệ, đem lại an lạc cho nhân loại và chúng sanh.
Đó đích thực là bổn nguyện, bổn hạnh, bổn thệ của Địa tạng Đại sĩ vậy.

 
Chùa Tường Vân
Thích Chơn Thiện
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »