VẤN ĐỀ TRẮC NGHIỆM TRIẾT
TRONG KỲ THI TÚ TÀI PHỔ THÔNG
★ CAO GIA
Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên vừa hoàn tất một cải tổ quan trọng trong ngành giáo dục khi tổ chức hai kỳ thi Tú tài phổ thông ngày 26-06-1974 và 28-08-74, lần đầu tiên thi bằng phương pháp « TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ».
Lối thi mới nầy liệu có đáp ứng ba mục tiêu của thi cử là kiểm soát, tuyển chọn và hướng học chăng ? Ở đây chúng ta không đề cập đến ưu khuyết điểm của nó cũng như không so sánh với lối thi cử để bênh vực hay chống đối, mà chỉ tìm hiểu lối thi Trắc nghiệm với môn học liên hệ với chúng ta là TRIẾT HỌC trong viễn tượng giáo dục.
Do đó, cẩn phải trở lại nguồn gốc của TRẮC NGHIỆM để tìm hiểu bản chất của phương pháp nầy, ý hướng nền tảng trong việc áp dụng thì mới rõ được nó phù hợp hay không với những lãnh vực nào và trong những giới hạn nào.
I. — NGUỒN GỐC TÂM LÝ HỌC CỦA TRẮC NGHIỆM
Trắc nghiệm (test) vốn bắt nguồn từ một bộ môn của TRIẾT là Tâm lý học nhằm phát hiện hay đo lường một trắc diện nào đó của tâm linh con người.
Đầu tiên là công trình cùa BINET khi ông lãnh công tác của Bộ Giáo dục Pháp để phân biệt những trẻ bất thường và bình thường (1905). Ông quan niệm nếu trí khôn phát triển theo thời gian thì có những trẻ phát triển nhanh, chậm hay không phát triển. Trình độ phát triển trí khôn của một người trong
một giai đoạn nào đó gọi là Tuổi trí tuệ (âge mental). Và để biết trình độ hiểu biết trung bình trong cùng một lứa tuổi. BINET đặt một số vấn đề cho từng lứa tuổi và khi 75% đứa trẻ cùng lứa giải quyết được một số vấn đề thì những vấn đề đó được xem là thích hợp cho lứa tuổi đó. Đó là những bộ trắc nghiệm (batterie de tests) đầu tiên. Nhưng khi BINET công bố công trình Tâm lý học của ông vào năm 1905 thì chẳng mấy ai để ý ở Pháp, trái lại được đón tiếp nồng hậu ở Mỹ. Được đề cao trong Tâm lý học thực nghiệm, Trắc nghiệm được dùng để quan sát, thí nghiệm và nhất là đo lường các biểu lộ tâm lý qua thân xác như phản ứng, cử chỉ, thái độ. Lượng tính của những sự kiện thể lý giúp các nhà tâm lý học suy diễn ra lượng tính của một số khả năng tâm linh như ký ức, chú ý, tưởng tượng. Và căn cứ trên một số tiêu chuẩn xác định, người ta dùng Trắc nghiệm khả năng hay Trắc nghiệm định lượng để thẩm định một độ tâm linh nào đó cho một cá nhân như độ thông minh với hệ số của DUBOIS K-E/P.O, 56 hay thương số của BINET QX-AM/AR.
Như vậy thì theo một định nghĩa của PIÉRON, « Trắc nghiệm là một khảo sát nhằm thẩm lượng một cá nhân về một phương diện xác định. » Do đó mà Trắc nghiệm dùng để thử (vérifier) để nhận biết (reconnaitre) để so sánh (comparer) một khía cạnh nào đó của một cá nhân. Nhưng con người được thẩm lượng như vậy không phải là con người sống trong hoàn cảnh cụ thể của mình mà là sản phẩm của phòng thí nghiệm nên các nhà Tâm lý học về sau (nhất là theo khuynh huớng Hiện tượng luận) đã cố gắng tìm hiểu con người toàn diện và trung thực, vừa thể chất vừa tinh thần, vừa cá nhân vừa xã hội. Tâm lý học hiện đại cũng sử dụng phương thức trắc nghiệm trong phương pháp liên chủ thể nhưng chủ đích là mô tà để thông hiểu và lý hội những phẩm tính của tâm linh hơn là cân đo tính toán những trắc diện lượng tính máy móc giả tạo của con người. Đó là công trình nghiên cứu của RORSCHACH, MURRAY, DUSS và SZONDI về trắc nghiệm cá tính hay trắc nghiệm định phẩm còn gọi là trắc nghiệm nhân cách hay phóng ngoại, kết
hợp với các thí nghiệm của nhóm WURZBOURC về xã hội, các phân tích của nhóm GRONINGUE về tính tình và các khám phá của Phân tâm học về vô thức.
Ngày nay, phương thức trắc nghiệm hầu như xâm nhập các ngành hoạt động trong xã hội tiền tiến vì có thể khám phá và thẩm lượng cá tính hay khả năng của một người về một phạm vi riêng biệt. Mà mỗi ngành kỹ thuật với mục đích, nguvên tắc và điều kiện riêng lại thích hợp với sở trường và bản chất của trắc nghiệm để xác định các tiêu chuẩn hầu gia tăng độ hữu hiệu chuyên khoa. Thành thử trắc nghiệm kỹ thuật ngày càng được tín nhiệm và đề cao trong việc hướng dẫn và tuyển chọn : Trắc nghiệm hướng nghiệp có vai trò khám phá cá tính sở thích, đo lường khả năng và tài khéo léo để giúp cá nhân lựa chọn ngành thích hợp. Trắc nghiệm tuyển chọn dùng để tuyển lựa một số người thích hợp hoặc có năng suất cao với ngành hoạt động lại đắc dụng ngày nay. Đó là xét về nội dung. Về hình thức, người ta phân biệt trắc nghiệm cá nhân với trắc nghiệm tập thể, trắc nghiệm tạo tác với trắc nghiệm vấn đáp, trắc nghiệm với thời gian ấn định hay không. Trắc nghiệm tập thể thường được sử dụng vì tiết kiệm được thời gian, phương tiện điều hành trong khi Trắc nghiệm cá nhân có giá trị hơn vì xác định được trình độ kỹ thuật của từng người nhờ đó vừa có tính cách hướng nghiệp cho cá nhân vừa có thể tuyển chọn bằng cách so sánh trình độ của nhiều cá nhân khác nhau, về phương thức thì cũng vì lý do tiết kiệm thời gian và phương tiện, người ta ưa dùng Trắc nghiệm vấn đáp : khẩu vấn, bút vấn, tự do trả lời, nhưng thể thức giản dị hơn cả là chọn những câu đáp sẵn (Forced choice). Do đó, Trắc nghiệm tạo tác có giá trị hơn vì khi đòi hỏi cá nhân làm một công việc hay sử dụng một khí cụ, phương thức nầy có thể khám phá và thẩm lượng rất nhiều trắc diện của con ngưòi, từ cá tính đến sở thích, từ khả năng đến tài khéo léo, từ những kinh nghiệm thu thập được đến những sáng kiến độc đáo của cá nhân.
Như vậy thì thể thức trắc nghiệm khách quan của kỳ thi Tú tài phổ thông là trắc nghiệm tuyển chọn, tập thể, vấn đáp,
theo thời gian ấn định. Mà chính ra Trắc nghiệm hướng dẫn, cá nhân, tạo tác, tùy thời gian mới là những phương thức được sử dụng trong Sư phạm giáo dục. Thực ra thì trong lãnh vực giáo dục, cần phải dùng tất cả phương thức trắc nghiệm cũng như Tâm lý kỹ thuật để hỗ trợ việc tìm hiểu giảng dạy, kiểm soát và hướng dẫn học sinh. Nhưng mục đích việc sử dụng ở đây là tìm hiểu, và chuẩn bị việc giáo dục chứ không phải dùng trắc nghiệm để thẩm định cái giá trị, các thành quả của công cuộc giáo huấn đó. Thành thử các quốc gia Âu Mỹ đã tận dụng trắc nghiệm trong việc học hành chứ không phải trong việc thi cử. Vì trắc nghiệm giúp học sinh hiểu thấu đáo bài học, biết kiểm soát mức độ hiểu biết và tập áp dụng những điều đã học, chứ không thể chỉ cần nêu ra một câu hỏi và đề nghị 5 câu trả lời : 1 đúng, 1 có thể đúng trong vài trường hợp, 3 câu vớ vẩn nào đó mà có thể thẩm lượng giá trị của công việc giáo huấn suốt 12 năm trời. 1
II.— TRIẾT HỌC VÀ TRẮC NGHIỆM.
Việc áp dụng trắc nghiệm khách quan, tập thể vào việc thi cử đã trái với nguyên tắc sư phạm, đường hướng giáo dục như thế liệu có phù hợp với Triết học là môn học đã khai sinh ra phương thức đó chăng ?
Chúng ta chưa có thể trả lời ngay. Nhưng nếu đặt lại câu hỏi là Trắc nghiệm hiểu theo nghĩa rộng có thể sử dụng trong Triết học được không ? thì chúng ta trả lời : Được. Vì nếu hiểu Trắc nghiệm là phương thức dùng để thử, để nhận biết, để so sánh thì phương pháp giáo dục của SOCRATE cũng là trắc nghiệm các môn đệ để nhận biết tìm hiểu, so sánh, thử thách về một vấn đề đặt ra trong các đối thoại. Nhưng nếu trắc nghiệm khách quan đã đề nghị 5 câu trả lời sẵn tức là đã biết trả lời thì thái độ của SOCRATE đi vào Triết học là không biết gì cả. Thái độ khiêm tốn ấy trái ngược với Ngụy luận gia (les sophistes)
___________________________
1) Những ý kiến xác đáng về Trắc nghiệm và Giáo dục này của Ông NGÔ TÔN LONG, Đalat.
là biết trả lời tất cả câu hỏi. Ngày nay người ta trắc nghiệm không những biết trả lời tất cả vấn đề triết học của chương trình mà còn biết trả lời bằng năm cách khác nhau !
Đã không đề nghị câu trả lời mà SOCRATE còn có một phương thức trắc nghiệm đặc biệt mệnh danh là « thuật sản ỷ» (Maieutique) hướng dẫn môn đệ tự mình chính mình khám phá những chân lý mà họ vẫn tự mang trong mình. Như vậy không những SOCRATE xem người đối thoại bình đẳng với mình về phương diện tri thức mà còn có thái độ tự do cởi mở với người đối thoại. Ngày nay trước một câu hỏi khách quan, thí sinh phải trả lời bằng một trong năm câu đã chọn sẵn, năm câu thật khách quan, hoàn toàn xa lạ với chủ thể tính người trả lời. Và hình thức trắc nghiệm đã tuyển (Multiple choice) cũng đồng nghĩa với cưõng bách chọn lựa (Forced choice) bỏ buộc phải chấp nhận quan điểm của người ra câu hỏi.
Ví dụ câu hỏi về Đạo đức trong kỳ thi Tú tài cho cả bốn ban A, B, c, D vừa qua : Quyền được quan niệm như là một :
A.— Cưỡng bách xã hội,
B.— Ý muốn cá nhân,
C.— Năng lực tinh thần,
D.— Sức mạnh thể chất.
Câu đáp đúng phải là « Quyền là năng lực tinh thần » chúng ta cũng công nhận đúng. Nhưng đúng với một xã hội lý tưởng duy lý kiểu LEIBNIZ trong khi thí sinh sống giữa « loài lang sói của HOBBES » và làm sao thoát được cưỡng bách xã hội !
Và như vậy cũng là đưa ra một định nghĩa về Quyền theo quan niệm duy lý mà bó buộc thí sinh Tú tài phải chấp nhận. Trong những đối thoại của SOCRATE, dù cố gắng đi đến một ý niệm tổng quát, chúng ta có thấy bao giờ SOCRATE đạt được một định nghĩa hoàn tất chăng ? Điều chắc chắn là ở đây luôn luôn lúc nào chúng ta cũng tìm thấy nỗ lực suy tư của mọi người cả thầy lẫn trò.
Vì theo KANT thì trong Triết học, « nhiệm vụ của ông thầy không phải là dạy những tư tưởng mà dạy cách suy tưởng. » Cho nên điều quan trọng cho học sinh là không phải biết thật nhiều triết thuyết, học kỹ càng những giải pháp duy tâm hay duy vật mà trái lại là biết đặt vấn đề, cố gắng suy tư để tự tạo lấy một giải pháp cho mình, trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời mình. Cũng như cái hay của một bài luận triết không phải ở chỗ phơi bày kiến thức mà cốt yếu chỗ dặt vấn đề và nếu có thể là giải quyết vấn đề. Một câu trắc nghiệm thực hiện trong khoảnh khắc chỉ có thể hi vọng bắt dúng giải pháp mà người ta đã đề nghị sẵn mà nếu có được một câu như vậy thì cũng đã quá hay đi rồi.
Nếu học Triết là để biết khêu gợi vấn đề nền tảng, tra hỏi về ý nqhĩa cuộc đời mình để sau nầy tìm một giải pháp bằng cố gắng suy tư cá nhân thì tinh thần triết học khác với tinh thần khoa học. Lãnh vực khoa học có tính cách khách quan vì đối tượng khoa học luôn luôn ở ngoài người nghiên cứu, vô ngã và tổng quát vì giải quyết một vấn đề khoa học không thiết yếu liên quan đến ý nghĩa cuộc đời, thân phận người nghiên cứu. Do đó chân lý khoa học tất yếu bó buộc mọi người công nhận. Nhưng nếu tham vọng đặt vấn đề một cách khách quan lại len lỏi vào triết học để trắc nghiệm một cách khách quan trình độ của thí sinh thì không còn Triết học nữa. Vì lãnh vực triết học là lãnh vực của chủ quan tính : đụng đến vấn đề triết học là đụng chạm với cuộc đời người học triết, người nghiên cứu và vấn đề là một. Cho nên dù có đề cao « khách quan » tính của câu trắc nghiệm, người ta vẫn « chủ quan » lựa chọn mục tiêu, đo lường cùng khung cảnh cho câu trắc nghiệm. Con số tự nó khách quan nhưng việc lựa chọn và cách trình bày lại chủ quan. Phương thức trắc nghiệm tự nó thì khách quan nhưng cách sử dụng, mục tiêu sử dụng, hoàn cảnh sử dụng thì chủ quan. Ra một câu hỏi, tự đề nghị một câu trả lời mà mình cho là đúng, kèm thêm 4 câu sai khác, người đặt câu trắc nghiệm đạt tới mức khách quan nào ? Hay là khách quan ở chổ thay nhiều giải pháp chủ quan khác nhau của thí sinh bằng cái chủ
quan của người đặt câu hỏi và tự trả lời ! Và khách quan ở chỗ cưõng bách thí sinh chấp nhận quan điểm chủ quan của mình !
Thực ra Triết học không cần cái khách quan của khoa học vì trước hết nó phải được hiểu như một nổ lực suy tư cá nhân, là một ý hướng nhận thức quay trở về tra hỏi chính chủ thể là nguồn gốc mọi nhận thức khoa học. Nên tham vọng muốn biến Triết học trở thành một khoa « Toán học phổ quát » (Mathesis universalis) của DESCARTES đã không thành mà nỗ lực làm sao cho triết học hóa ra một « khoa học chính xác» của HUSSERL cũng thất bại. (Philosophic comme sicencc riogoureuse)
III.- KẾT LUẬN
Trong hoàn cảnh đặc biệt của nước ta, việc cải tổ thi cử vốn là để giải quyết vấn đề nhân sự và đưa phương thức trắc nghiệm khách quan vào thể thức khảo thí lại tuyên danh là để chữa trị tệ trạng thi cử. Thực ra việc chữa trị tệ trạng thi cử không thể bắt đầu bằng thể thức thi cử vốn là cái ngọn mà phải từ cái gốc là tinh thần học tập, phương pháp giảng huấn và nhân sự giáo dục. Do đó mà giá trị văn bằng luôn luôn tùy thuộc vào chương trình và phương pháp giảng huấn, vào hoàn cảnh và tinh thần học tập, vào nhân sự và phương thức điều hành thi cử chứ không phải chỉ do một yếu tố đơn phương nào.
Trong đường hướng giáo dục, phương thức trắc nghiệm phải được ứng dụng đúng đắn nghĩa là không phải trắc nghiệm công cuộc giáo huấn suốt 12 năm của nền giáo dục Việt nam cho một « tương lai đất nước » mà phải là trắc nghiệm trong việc giáo dục tức là tìm hiểu và chuẩn bị cho việc giảng huấn, theo dõi và thúc đẩy, kiểm soát và hướng dẫn đến chỗ hoàn tất việc giáo dục. Nhưng, như đã trình bày ở trên, những phương thức trắc nghiệm thích hợp cho giáo dục, ích dụng cho sư phạm là những trắcnghiệm cá nhân, tạo tác cốt đểhướng dẫn nỗ lực cá nhân tìm một giải pháp cho vấn đề đặt ra.
Do đó, làm sao trắc nghiệm khách quan dù có đặt vấn đềcũng chỉ mang theo giải đáp sẵn lại có thể phù hợp với ý hướng
triết lý là luôn luôn tra hỏi. Nếu triết học là một cái nhìn về cuộc đời, về thế giới thì luôn luôn « triết học đích thực là học lại cách nhìn thế giới » (La vraie philosophie est de rapprendre à voir le monde — MERLEAU PONTY) vì không bao giờ dừng lại ở một tri thức nào.
Cho nên triết lý là một ý thức hơn là một tri thức, là một nỗ lực nhận thức mà đối tượng luôn luôn trốn thoát khỏi tầm tay, mà nếu bắt được thì nó đã biến trở thành cái khác rồi. Thành thử làm sao có thể chấp nhận một giải đáp cho sẵn, trong khi đối với Triết gia cũng như ngưòi mới đi vào Triết học, « Chân lý không bao giờ hoàn tất » nên người mới đi vào Triết học cũng như « Triết gia là kẻ mãi mãi bắt đầu » (Le philosophe est un commençant perpétuel).
Có lẽ chúng ta không kết luận gì hơn là nhận thức rằng câu trắc nghiệm triết ứng dụng trong kỳ thi Tú tài là một câu hỏi đã có giải đáp sẵn trong khi Triết học, theo MERLEAU PONTY, là « một tra hỏi mà người ta không thể quan niệm một giải đáp để xóa bỏ sự tra hỏi, nhưng chỉ là những hành động để đưa sự tra hỏi đó đi xa hơn »,
(Cest une interrogation telle qu'on ne conçoit pas de réponse qui l’annule mais seulement des actions résolues qui la reportent plus loin). Sensct Non-sens, page 191.
CAO GIA