VĂN HỌC ĐỐI CHIẾU
DOÃN QUỐC SỸ
Thường khi chúng ta nói văn học đối chiếu, chúng ta nghĩ ngay đến những bảng sơ đồ đối chiếu những sự kiện của hai hay nhiều nền văn học Đông Tây trong cùng một khoảng thời gian nào đó xem có những điểm tương đồng tương dị nào. Tỉ như làm một bảng đối chiếu văn học Việt nam thế kỷ XVI với Tây phương, với Cận đông, với Ấn độ, với Trung hoa, chúng ta thấy Bạch Vân Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện xấp xỉ đồng thời với tập Odes của Ronsard (Pháp), La Diana của Montemayor (Tây ban nha), Les Lusiades của Cámoẽns (Bồ đào nha), Jérusalem délivrée của Tasse (Ý)... Những bài thơ ngắn ca ngợi nhàn tản, thiên nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm đó cũng đồng thời với những bài thơ ngắn ca tụng tình yêu và rượu của thi hào Thổ nhĩ kỳ Bâki. Anh hùng ca Râmayana cũng được Toulsi Das khởi thảo bằng tiếng Hindi vào thời gian này; Tây Du Ký cũng được Ngô Thừa Ân khởi thảo vào dịp này...
Thực ra, cái nhìn đối chiếu trên quá tổng quát, rất dễ trở thành một thứ thư tịch đối chiếu hoặc quá đơn giản, hoặc gò ép theo thời gian và không gian để trở thành những đồ biểu trừu tượng, mơ hồ, tắc trách. Tất nhiên chúng ta không phủ nhận những bảng đócó tác dụng gợi ý rất nhiều, nhưng đừng bao giờ quên văn học đối chiếu thực sự đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc hơn vào mối liên hệ tinh thần quốc tế giữa các tác giả, giữa các tư trào văn học... Nơi đây không chì so sánh nội dung các tác phẩm với nhau mà còn phải « soi kính hiển vi » vào những tác phẩm xem cách thức các tác giả đã vay mượn, đã chịu ảnh
hưởng lẫn nhau ra sao, đã tiêu hóa những ảnh hưởng ngoại lai như thế nào để biến chúng thành những lớp phù sa tinh thần giúp tác phẩm mình càng thêm phong phú mà vẫn đậm màu cá biệt. Hiện tượng vay mượn và đồng hóađó mới là điểm của nhấn mạnh và khai thác trong bộ môn văn học đối chiếu. Bởi đúng như Paul Valéry (1871-1945), nhà thơ tượng trưng Pháp, đã nói, đại ý, chẳng cái gì khiến mình độc sáng hơn, tự tô đậm cá tính, hơn là cách tự nuôi bằng kẻ khác ; điều cần là phải tiêu hóa; sư tử lớn mạnh bằng thịt cừu đã được tiêu hóa.
Ý thức như vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem lịch sử văn học đối chiếu tự ngọn nguồn ra sao, và phương pháp văn học đối chiếu hữu hiệu nhất phải như thế nào.
LỊCH SỬ VĂN HỌC ĐỐI CHIẾU
Trong La Littérature Comparée, M. E. Guyard đã vạch cho chúng ta thấy lịchsử tiến triển của môn học này từ ngọn nguồn đến nay. 1 Đây là một bộ môn nghiên cứu văn học rất mới. Manh nha phong trào văn học đối chiếu là ở Pháp vào đầu thế kỷ XIV với cuốn Cours de Littérature Comparée của Noel và La Place ấn hành năm 1818 dưới hình thức một tuyển tập thi văn Pháp và ngoại quốc. Phải đợi tới Sainte Beuve2 quan niệm về văn học đối chiếu mới được hoàn bị như vừa trình bày trên đây.
Sở dĩ phong trào văn học đối chiếu phát khởi, vì người ta chợt ý thức được tính cách nhạy cảm quốc tế của bất kỳ một thực thể văn học sung mãn nào nếu gặp được điều kiện thuận tiện. Hãy nhìn lại thời Trung cổ, văn học Âu châu thống nhất trong niềm tin Thiên chúa và tự ngữ La tinh ; sang thời Phục hưng văn học Âu châu cũng đề cao ngôn ngữ và văn chương xưa cũ, lấy nhân bản chủ nghĩa làm mẫu chung ; sang thế kỷ XVIII cả nền văn học Âu châu chịu đậm đà ảnh hưởng tinh thần triết học của văn học Pháp, cả ba thời kỳ tràn bờ, thấm nhập, mang sắc thái thống nhất quốc tế vừa nói trên đều là những thời kỳ ngôn ngữ thống nhất, hoặc ít ra một ngôn ngữ nào đó lên ngôi độc tôn trong niềm mến chuộng chung của mọi người. Tới thế kỷ XIX, với phong trào lãng mạn, lần đầu tiên người
ta vừa đề cao cá tính địa phương, vừa chú ý đến dây liên hệ nhạy cảm và chặt chẽ giữa các phong trào,văn học lãng mạn đó. Tuy nhiên cũng phải đợi đến cuối thế kỷ XIX bộ môn văn học đối chiếu mới thành một môn học độc lập với đầy đủ dữ kiện, đối tượng, phương pháp.
Từ 1871 những giảng khóa của vị giáo sư Đan mạch Georg Brandès đã mang dấu hiệu đầu tiên của văn học đối chiếu rồi. Khoảng mười năm sau, năm 1880, Posnett tác giả người Anh, chính thức mở đầu bộ môn này bằng cuốn Comparative Literature của ông. Cũng năm đó Edward Rod khởi sự giảng khóa về lịch sử văn học đối chiếu tại Genève. Năm kế tiếp — 1887 — Max Koch cho ấn hành tại Đức tập san văn học đối chiếu Revue de Littérature Comparée.
Tới đây chúng ta có thể xác định : Các nền văn học giao thoa nhau, liên hệ với nhau giữa tư trào lãng mạn, cộng thêm ý thức áp dụng phương pháp sử học và đối chiếu, do đó bộ môn Văn học Đối chiếu được khai sinh. Rồi như diều gặp gió, phương pháp sử học và đối chiếu đã đồng thời đem lại những thành quả hết sức phồn thịnh và mỹ mãn tại những bộ môn khác như ngữ học, luật học, thần thoại.
Năm 1895, Joseph Texte viết tập luận án J.J. Rousseau et les origines du cosmopolitisme littéraire. Đây là một luận án đầu tiên tại Pháp đề cập đến vấn đề văn học đối chiếu một cách có phương pháp.
Năm 1921 Baldensperger đã cùng Paul Hazard sáng lập tập san Văn học đối chiếu của Pháp R. L. C. (Revue de Littérature Comparée), đồng thời Baldensperger điều khiển các công trình sưu tập mang danh Bibliothèque de la Revue de Littérature Com parée (Tủ sách Văn học Đối chiếu) do nhà Champion ấn hành suốt từ năm 1921 đến 1936. Tiếp ngayđó là những tập Etudes de littérature étrangère et comparée (Biên khảo về Văn học Ngoại quốc và đối chiếu) do nhà Boivin, rồi nhà Didier ấn hành.
Giữa hai thế chiến, trung tâm bộ môn văn học đối chiếu là ở Pháp, nhưng nay phong trào đã phổ biến và phồn thịnh tại nhiều nơi như Đức, Hoa kỳ, Nhật, Liên sô.
Hiện tại Pháp, môn Văn học Đối chiếu được giảng dạy tại đại học Sorboune và nhiều đại học tỉnh nhỏ khác, và kể từ 1946, Văn học Đối chiếu là một chứng chỉ bắt buộc cho văn bằng Cử nhân giáo khoa.
.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Văn học đối chiếu, xin nhắc lại, là lịch sử những liên hệ văn học quốc tế, những liên hệ trao đổi về chủ đề (thème), về ý tưởng, về tâm tinh giữa hai hoặc nhiều nền văn học. Vậy những ai muốn đi vào bộ môn này tất nhiên phải được trang bị một số kiến thức thiết yếu phải có, một số đưòng lối phương pháp thiết yếu phải theo.
1.— Hành Trang Cần Thiết Của Nhà Đối Chiếu Văn Học
Hành trang hay « đồ nghề » của nhà đối chiếu văn học là những thứ gì vậy ?
a) Kiến thức sử học với văn học sử : Trước hết nhà đối chiếu văn học không thể lơ là với một số kiến thức sử học. Đã đành nhà đối chiếu văn học nặng về văn học sử, nhưng chúng ta không thể thưởng thức đến nơi đến chốn Truyền Kỳ Mạn Lục nếu không nghĩ đến phần tâm hoài của Nguyễn Dữ gói ghém trọng tác phẩm. Và làm sao chúng ta cóthể thấu suốt phần tâm hoài đó nếu không nghiên cứu qua cho biết cảnh loạn ly, nhân dân đồ thán dưới những đời vua Uy Mục, Chiêu Tông, Cung Hoàng triều Lê, tức khoảng sinh thời của Nguyễn Dữ. Cũng như nhìn sang văn học Pháp làm sao mà phê bình Bossuet một cách chính xác, sắc bén nếu không hiểu rõ về hoàn cảnh Giáo hội Thiên chúa tại Pháp vào thế kỷ XVII.
Trên đây mới chỉ là kiến thức đơn phương, đến khi so sánh, tìm dây liên hệ, thực hiện đối chiếu về một hay nhiều phương diện giữa hai hay nhiều tác giả, kiến thức quảng bác của nhà văn học đối chiếu càng phải minh mẫn bội phần. Tỉ nhưđọc đoạn đầu « Côn Sơn Ca » của Nguyễn Trãi:
Côn sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cunq đàn cầm.
Côn sơn có đá tần vần
Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi.
Côn sơn thông tốt ngất trời
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do.
Côn sơn trúc mọc đầy gò
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.
(Bản dịch : Nguyễn Trọng Thuật)
Mặc dầu đề tài ca ngợi nếp sống nhàn tản vui với thiên nhiên là thứ đề tài phổ biến quốc tế ở mọi thời gian, mọi không gian, nhưng chúng ta đã rõ các thi gia ta xưa từng nghiền ngẫm, thưởng thức thi ca Lý Bạch, Đỗ Phủ, Đào Tiềm... nên khi đọc « Côn Sơn Ca » của Nguyễn Trãi đương nhiên chúng ta có khuynh hướng muốn đọc lại « Quy Khứ Lai Từ » của Đào Tiềm :
Đi về sao chẳng về đi
Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về.
…………………………………………..
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,
Bên đường kia gò keo gập ghềnh
Cỏ cây mơn mởn màu xanh,
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.
…………………………………
Giàu sang đã chẳng thiết gì
Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi.
Chi bằng lúc chiều trời êm ả
Việc điền viên vất vả mà vui.
Lên cao cất một tiếng dài
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.
…………………………………………..
(Bản dịch : Từ Long)
Cóthể chúng ta tìm đọc thấy lại những nét đồng dạng về chánh sự đồi bại giữa sử Trung hoa đời Đông Tấn vào thế ký thứ
5, với sử Việt nam các đời Lê Thái Tông (1434-1442), Lê Nhân Tông (1433-1459). Có vậy thôi, còn thân thế và sự nghiệp công danh hai người khác hẳn nhau, một đằng Đào Tiềm chỉ làm quan lệnh tri huyện (ở Bành trạch), một đằng là một vị Khai quốc công thần. Đối chiếu đến chính hai bản văn, cách ca ngợi cảnh trí, sử dụng điển tích của hai người cũng khác nhau. Bảo Nguyễn Trãi (1380-1112) chịu ảnh hưởng Đào Uyên Minh (365-427) trong tiềm thức cùng được, vì chắc chắn Nguyễn Trãi có đọc « Quy khứ Lai từ » và có quý mến nếp phóng khoáng cao khiết của Đào Uyên Minh, nhưng bảo là ngẫu nhiên có sự trùng hợp, tưởng cũng không sai, vì hai tâm hồn phóng khoáng, thuần hậu như thế, lợm mùi công danh, tìm về thiên nhiên như vậy là một sự đong điệu muôn thuở.
Chỉ một tỉ dụ nhỏ trên đây đã giúp chúng ta thấy đi vào con đường văn học đối chiếu phải tự mở rộng sang nhiều ngành kiến thức liên hệ khác, và sử dụng những kiến thức đó tế nhị như thế nào.
b) Vốn sinh ngữ(hay từ ngữ) : Hãy tỉ dụ một nhà phê bình văn học muốn làm một cuộc đối chiếu về ảnh hưởng Lý Bạch, Đỗ Phủ với nền thơ cổ điển Việt nam. Tuy những bản dịch Đường thi đầy rẫy, tuy từ nguyên bản thơ Hán dịch sang thơ Việt — cỡ dịch giả như Tản Đà — thơ dịch gợi cảm ngang nguyên tác, nhưng cũng không vì thế mà nhà phê bình văn học đó tự cho phép không cần biết một chút đỉnh Hán văn nào. Không những vậy, soạn giả thiển nghĩ, phê bình gia, nếu muốn thẩm định thật chu đáo cái khả năng tẩy lọc hình hài, giải phóng trí tuệ của rượu mà Lý Bạch đề cao trong bài « Tương Tiến Tửu » bài thơ bất hủ này nên được nghe bằng chính giọng và điệu Trường an, nơi Lý trích tiên được vua Đường Huyền Tông biệt đãi tại triều, để xem cái hào khí sang sảng cộng với mật độ trữ tình biểu lộ nơi giọng ngâm tiếng nói quê hương đó của Lý Bạch ra sao. Ngày nay tìm đọc các văn phẩm Tây phương để đối chiếu, điều kiện lý tưởng vẫn là đọc trực tiếp được nguyên bản, hoặc ít ra cũng vừa đủ khả năng đối chiếu bản dịch với
nguyên bản đểthẩm định lại những sai biệt về sắc thái mà chỉ ở nguyên bản ta mới thưởng thức được trọn vẹn.
c) Vấn đề thư tịch : Nơi đây chúng ta buộc lòng phải nhìn sang Tây phương mà nêu khuôn mẫu, vì môn học này, như chúng ta đã biết, phát khởi và trưởng thành ở Tây phương. M. F. Guyard trong La Littérature Comparée đã nêu một số công trình biên khảo chính yếu làm gốc để truy tầm (hay gợi ý) những tài liệu cần cho đề tài đối chiếu của mình.
Tỉ như muốn thấu đáo văn học sử Pháp không thể không biết tới :
-
Những công trình biên khảo của G. Lanson, J. Giraud, H. P. Thieme, H. Talvart và J. Place.
Muốn làm một công trình đối chiếu vào giữa các nền văn học Tây phương thì những tập san sau đây là kho tài liệu quý giá :
-
Bibliography of Comparative Literature (Thư tịch Văn học Đối chiếu) của F. Baldensperger và W. P. Friederich (1950). Và kể từ 1952 trở đi, hàng năm đều có thêm phần bổ trợ, nâng tổng số nhan sách từ sáu ngàn thuở ban đầu, lên tới ba mươi ba ngàn, ngày nay.
-
Le Répertoire Chronologique Littérature Modernes, ấn hành năm 1937 dưới quyền điều khiển của P. Van Tieghem, trình bày một nhất 1ãm biểu bốn thế kỷ văn học Âu châu (1500-1900). Chỉ cần lật giở vài trang sách này chúng ta cũng đủ có một ý niệm về công dụng hiệu nghiệm của nó, không những giúp ta tiết kiệm thời gian tìm kiếm, mà còn gợi ý rất nhiều cho ta trên con đường sưu khảo. Nhìn vào năm 1802 chẳng hạn chúng ta thấy những tin văn học như :
Đức : Goethe, Iphigénie, Novalis, tác giả Hymnes à la Nuit, mệnh chung.
— Pháp : M me de Staël, Delhine ; Chateaubriand, Génie du Christianisme, Réné.
-
Outline of Comparative Literature của Werner P. Friederich (1934).
-
Ngoài những công trình đồ sộ trên, các nhà đối chiếu văn học Tây phương còn phải theo dõi rất sát phần thư tịch của những tập san có uy tin như : Revue Littérature Comparée (Pháp),Comparative Literature (Hoa kỳ), Modern Humanities Research Association (Anh). Nên kể thêm tập san Regesten, tập san đối chiếu văn học của Viện Đại học Utrecht, (Hỏa lan), cứ đều đặn ba tháng xuất bản một kỳ, khởi sự từ 1956 đến nay, cung cấp những tin tức, tài liệu cần thiết và sốt dẻo về tình hình văn học Tây phương.
-
Cung cấp tài liệu đối chiếu văn học cổ kim, Đông Tây toàn thể thế giới phải kể đến bộ Histoire des Littératures (trong toàn bộ kiến thức bách khoa đồ sộ Encyclopédie de la Pléiade điều khiển bởi Raymond Queneau, với hơn bốn mươi học giả trong ban biên tập, nhà Gallimard, Paris, ấn hành vào năm 1956. Bộ văn học sử thế giới này gồm ba quyển, mỗi quyển dày ngót hai ngàn trang, khổ 11x17, chữ nhỏ. Quyển đầu là Văn học cổ Đông phương và truyền khẩu ; quyển hai, Văn học Tây phương ; quyển ba, Văn học Pháp. Đặc biệt phần cuối hai quyển đầu đều có bảng niên đại đối chiếu ghi những sự kiện văn học và văn hóa trọng đại từ thượng cổ cho tới 1950. Toàn tác phẩm cung cấp một cái nhìn khái quát và khá đầy đủ về các nền văn học cổ kim Đông Tây toàn thể thế giới.
LÃNH VỰC CỦA VĂN HỌC ĐỐI CHIẾU
Hành trang của một nhà văn học đối chiếu khi lên đường vào « nghiệp » là như vậy, kế đó đối tượng và phương pháp nương vào nhau mà tự soi sáng cho nhau.
Nơi nào và thời nào thì cũng chỉ có hai động lực chánh quảng bá văn học trên môi trường quốc tế là sách và người. Do đó hai nguyên động lực này đương nhiên là những đối
tượng hàng đầu của các nhà văn học đối chiếu. Để xem sách và người đã từng đóng vai trò môi giới phổ biến văn học ra sao chúng ta phải có cái nhìn tra vấn và biết cách tự đặt câu hỏigợi ý.
a) Sách (ngoại ngữ) : về thành tố sách (ngoại ngữ) liên hệ tới tác giả, chúng ta phải xét xem một tác giả trong một xã hội nào, vào một thời đại nào, đã làm quen với một ngoại ngữ nào đó ra sao, trình độ tới mức nào, có đọc thông viết thạo ngoại ngữ đó, có viết một tác phẩm nào bằng ngoại ngữ đó. Nếu xét liên hệ một ngoại ngữ với một xã hội nào đó, thì sự xuất hiện một cuốn tự điển, một cuốn văn phạm, một sách giáo khoa về ngoại ngữ đó là những bằng chứng chắc chắn nhất.
Hãy tỉ dụ chúng ta muốn tìm hiểu xem nền văn chương Anh ngữ nói chung, và nền văn chương Hoa kỳ nói riêng ảnh hưởng đến nền văn chương miền Nam nước Việt ra sao vào hậu bán thế kỷ XX này. Chúng ta thoạt ghi nhận sự kiện tại xã hội miền Nam nước Việt, cuốn Tự điển Tiêu chẩn Anh Việt của Lê Bá Kông xuất hiện từ 1950 rồi kế tiếp tái bản vào những năm 1958, 1966, 1968... Rồi những cuốn tự điển Anh Việt của Nguyễn Đình Hòa, của Nguyễn Văn Khôn... Rồi Văn phạm Anh văn cũng của Lê Bá Kông xuất hiện từng tập nhỏ từ 1951, đến 1955 thì xuất bản thành toàn bộ. Rồi từ 1955 đến 1968 — theo lời nhà xuất bản Diên Hồng trong bài « Lời Nói Đầu » — bộ này tái bản tới trên mười lần. Nhìn vào thư mục của nhà xuất bản Diên Hồng vào năm 1958, ngoài những tác phẩm đơn thuần dịch sang Việt văn, còn tủ sách Anh Việt đổi chiếu nữa. Và trong tủ sách Anh Việt đối chiếu vào thời gian này — 1958 — chúng ta đã thấy sự hiện diện những tác phẩm nổi danh của Henry James, Bret Harte, Herman Melville, James Joyce... Sự kiện này chứng tỏ văn học Anh ngữ và đặc biệt văn học Hoa kỳ vào thời đó đã tích cực cạnh tranh với ảnh hưởng còn thịnh của văn học Pháp tại phần đất miền Nam nước Việt này.
Đấy chỉ mới là bước đầu của công trình sưu khảo. Kế đến việc khảo sát lại những công trình dịch thuật trên, nên câu
hỏi tại sao thời đó những tác phẩm, tác giả đó lại được chọn dịch, và những tác giả, tác phẩm đó ảnh hưởng vào nền văn học miền Nam nói chung ra sao, vào một tác giả Việt nam nào đónói riêng ra sao, mời là công việc đích thực và tế nhị của nhà đối chiếu văn học.
Về những bài phê bình hay nhận định sách ngoại quốc cũng vậy, chúng không thể lọt khỏi con mắt soi bói của nhà văn học đối chiếu. Tỉ như vào thời nào đãcó những tác giả hay phê bình gia Việt nam nào đề cập đến những tác phẩm của Hemingway, Faulkner, Steinbeck ? Giá trị và tầm ảnh hưởng của những bài phê bình đó ra sao trong quảng đại quần chúng thưởng ngoạn cũng như trong giới sáng tạo ?
b) Người.
Phân biệt ra sách rồi người để tạm thời dễ nói, và có được vẻ minh bạch, sự thực hai thành tố trên như hình với bóng trong quá trình phổ biến văn học trên bình diện liên hệ quốc tế.
Có khi một tác giả nào đó làm sứ giả giới thiệu văn hóa nước nhà cho ngoại quốc như Phạm Duy Khiêm viết Légende des Terres Sereines kể truyện cổ V.N. cho thế giới Pháp ngữ ; Võ Đình viết The Toad is the Emperor's Uncle kể truyện cổ V.N. cho thế giới Anh ngữ. Hay ngược lại — trường hợp này phổ thông hơn — một tác giả đứng làm môi giới, giới thiệu một nền văn học ngoại quốc với đồng bào thức giả nước mình, như trường hợp Nguvễn Văn Vĩnh chủ trương tủ sách Âu tây Tư tưởng, Phạm Quỳnh viết những bài biên khảo giới thiệu và phổ biến văn học Pháp.
Thường các nhà văn học đối chiếu đặc biệt chú ý đến sự kiện một tác giả nổi danh của nước này đề cập đến một tác giả nổi danh của nước khác. Tầm ảnh hưởng của cuốn sách hay bài báođó bao giờ cũng là một sự kiện văn học đáng kể, có thể soi sáng cho một giả thuyết, một nghi vấn nào đó của nhà văn học đối chiếu. Sự du hành của một tác giả có uy tín tới một hay nhiều xứ hải ngoại cũng vậy. Trong văn học sử của chúng
ta có sự kiện Nguyễn Du vào năm Gia Long thứ 11 (1182) bị triệu tự quê ra, thăng Cần chánh điện học sĩ và sung chức chánh sứ sang Tàu, đến năm Gia Long thứ 13 (1814) mới về nước, được nghỉ sáu tháng, rồi được thăng Lại bộ Tham tri. Có chắc chăng vào khoảng thời gian làm chánh sứ sang Tàu này Nguyễn Du mới được đọc sách Thanh tâm Tài tửđể rồi về viết Đoạn trường Tân thanh ? Hay Đoạn trường Tân thanh đã được viết trước khi Nguyễn Du đi sứ, bởi sách Thanh tâm Tài tử chẳng phải là loại sách hiếm đến nổi phải sang Tàu mới được đọc. Một tác phẩm lớn như Đoạn trường Tân thanh vừa có liên hệ đến vấn đề tâm sự tác giả cần minh định thời điềm sáng tác, vừa có liên hệ đối chiếu với sách Tài tử Thanh tâm Tàu, vừa có sự kiện Nguyễn Du đi sứ Tàu hai năm, tất cả những dữ kiện đó đều liên hệ xa gần tới môi trường văn học đối chiếu.
Một sự kiện văn hóa khoảng hai mươi năm gần đây : một số lớn quân nhân, công chức, sinh viên, học sinh của ta được cấp học bổng qua Mỹ tu nghiệp hoặc du học lấy văn bằng. Trong số đó những ai đã có những sinh hoạt văn học trước khi đi Mỹ, những ai sau thời gian du học về mới gia nhập sinh hoạt văn học. Tác phẩm của đám người trước có gì khác sau thời gian du học về ? Tác phẩm của đám người sau có để lại con dấu của thời gian du học ? Sự kiện những văn nhân trực tiếp với văn hóa Mỹ tại Mỹ thời nay có gì khác với sự kiện những văn nhân thời Pháp thuộc xưa chỉ chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp qua sách vở ? Phần lớn những người được cấp học bổng đi Hoa kỳ ngày nay đều thuộc giai cấp bình dân, hoặc loại thân lập thân, khác với những du học sinh đi Pháp thời xưa đều thuộc giai cấp « con ông cháu cha » vì vậy cách hấp thụ khi ở nước ngoài, cách quảng bá trí thức khi trở về nước đều có khác. Sự kiện đó ảnh hưởng ra sao đến văn học ? Tất cả những điều ghi nhận trên đều là những thành tố nặng về nhân sự nằm trong môi trường của văn học đối chiếu vậy.
DOÃN QUỐC SỸ
CHÚ THÍCH
-
Xin đọc M — F. Guyard, La Litlérature Comparée (Paris : Presse Universtaire de France), 1961, pp. 9-11.
-
Charles Angustin Sainte Beuve (1804-69), một trong những phê bình gia lỗi lạc của Pháp. Ông chủ trương phê bình văn học là tham định và tái tạo lại lịch trình tiến hóa của từng văn tài. Ông đã thực hiện chủ trương đó một cách chính xác và tinh tế trong những tác phẩm như: Portraits littéraires. Port Royal, Caaseries dn Lundi, Noaveaux Lundis...