NHỮNG TÒA PHÙ ĐỒ
VÀ NHỮNG NGỌN BẢO THÁP
NGUYỄN BÁ LĂNG
Tại những nơi mà Phật giáo phát triển, tín đồ đã thường hay thực hiện một loại kiến trúc đặc biệt để ghi dấu nơi thánh tích, để tang trữ kỷ vật hay xá lợi của Phật, của các vị bồ tát hoặc của các vị cao tăng được tôn thờ. Loại kiến trúc này thông tục gọi là tháp thường được dựng ở nơi chùa chiền, thờ tự to lớn, theo những hình thù uy nghi, đường nét độc đáo nên đã đề cao được tầm quan trọng của những trung tâm tín ngưỡng này, đã tô điểm cho cảnh trí thêm phần đặc sắc, đã nói lên những nét đặc thù của mỗi xứ Phật giáo miền Đông Nam Á, đã làm cho những chốn danh lam thắng tích của miền Á đông thêm phần tú lệ xinh tươi.
Nghiên cứu về mỹ thuật học, ta phải ghi nhận rằng đây quả thật là điểm nổi bật của kiến trúc Phật giáo. Và các điểm
đặc biệt của Phật giáo này đã được thể hiện thành hai hình dung kiến trúc với những danh từ xin được chấp nhận như sau để dễ phân biệt:
a) Tòa phù đồ (Stupa) hình vòm bán cầu tại Ấn độ hoặc hình chai lọ tại các xứ Lạt ma giáo, hình quả chuông tại các xứ Đông Nam Á theo Phật giáo Tiểu thừa.
b) Ngọn bảo tháp (pagoda) hình chòi canh vươn theo chiều cao, gồm có nhiều tầng tại Trung hoa và các xứ Á đông khác theo Phật giáo Đại thừa.
Các xứ này có thể nói rằng đã vì Phật giáo mà có cái đường nét kiến trúc mới lạ là những ngọn bảo tháp nói trên.
NHỮNG BIẾN CHUYỂN TỪ TÒA PHÙ ĐỒ ĐẾN NGỌN BẢO THÁP (1)
Phù đồ (stupa) và Bảo tháp (pagoda) được lập ra đều là để ghi dấu tích Phật. Nhưng hình dạng kiến trúc khác nhau dẫu rằng bảo tháp bắt nguồn và là biến thể của phù đồ mà ra.
Phù đồ hình dung từ thời tiền sử là những nấm mồ của các tù trưởng, vua chúa đắp hình vòm cầu, rồi phát triển thành những đài kỷ niệm và được Phật giáo sử dụng làm như một vật tiêu biểu chính và làm trung tâm của những chốn thờ tự.
Kể từ khi A Dục cho dựng 84.000 tòa phù đồ để ghi dấu tích Phật Thích ca rải rác trên khắp lãnh thổ của đế quốc ngài, thời vật kiến trúc này trở thành thành phần căn bản, hầu như thiết yếu cho mỗi tu viện hay mỗi cảnh chùa, theo hình thể của những tòa phù đồ Ấn độ nguyên thủy hay biến diễn ra hoặc theo hình thể của những tòa bảo tháp Á đông.
Phù đồ hay Bảo tháp nếu không phải dựng lên chỉ để làm kỷ niệm thì tất phải là để tàng chứa xá lợi, những di vật như
_______________
(1) Tài liệu: Dietrich Seckel : L’art du Bouddhisme.
bình bát, tịch trượng, áo mũ hoặc kinh sách, chú Đàlani hoặc những hình tượng Phật, Bồ tát, và vì vậy được coi là vật thờ tôn kính.
Phù đồ được coi là chính sự hiện diện của Phật nên ngay từ thuở ban đầu, được tôn thờ bằng những nghi lễ của Ấn độ như chạy đàn (vừa tụng niệm vừa đi) vòng quanh phù đồ theo đường mặt trời (từ trái sang phải), như dâng cúng, (cúng đàng), đủ thứ và bái lạy. Vì sự thích dụng này nên phù đồ được xây cất đứng độc lập dù chỉ là một vật liên hệ phụ thuộc trong lòng một điện thờ.
Người ta có thể cho rằng phù đồ là vật kiến trúc xưa nhất của Phật giáo vì khởi thủy các tu sĩ chỉ cần một chỗ trú ngụ tạm thời trong những hang động hay một mái lều che đơn sơ, còn những tòa ốc thực sự sử dụng vào việc thờ phụng cùng với những tượng pháp chỉ có thể bắt đầu và cần thiết mãi về sau này khi Phật giáo Đại thừa phát triển.
Những tòa phù đồ đầu tiên đã được xác định là lập dưới triều vua A Dục. Tòa phù đồ ở Sanchi ngày nay có lẽ đã lập ra từ thế kỷ III trước Thiên chúa và hình thù tòa Đại phù đồ ngày nay vẫn tôn trọng hình thù tòa phù đồ nguyên thủy như tập tục đã định, ngoại trừ những hình điêu khắc trang hoàng trên các cổng và hàng rào bên ngoài.
Phù đồ gồm một vòm bán cầu xây đặc trên một nền bệ tròn. Đỉnh vòm hơi dẹt xuống, có một khuôn viên bao lan hình vuông, ở giữa cắm một cây trụ mang ba tàn lọng phẳng đều bằng đá.
Ở những nơi khác cái khuôn viên bao lan này thường là một khối đá vuông (harmika) đội từ ba đến nhiều từng phiến đá nhô dần ra (gò nhô) trên cắm cây lọng, làm vật tiêu biểu cho quyền uy, nghi vệ. Số tàn lọng này theo thời gian gia tăng mãi lên nhưng tới mức tối đa là 13 đã cùng với cây trụ chiếm giữ
một vai trò tối quan trọng trong trạng thái biến chuyển hình thù và ý nghĩa của kiến trúc này.
Trên nền bệ phù đồ có làm một con đường nhỏ để chạy đàn chung quanh vòm bán cầu và có một cầu thang để đi xuống con đường thứ hai chạy vòng quanh dưới chân bệ. Đường này có hàng rào cao làm bằng đá để ngăn nơi Phật địa với cõi thế bên ngoài. Đi vào phải do bốn cổng nguy nga hướng ra bốn phương. Cổng làm bằng đá, cột và đá chạm trổ rực rỡ. Những phù đồ kiểu này, nay còn được bảo tồn ở Sanchi, ở Bharut và ở vài nơi khác tại Ấn độ, đã được tạo lập trong thời gian từ thế kỷ III trước Tây lịch đến thế kỷ I sau T.L. Bên trong cái khối đặc của phù đồ có những tường xây quay tròn và tường xây từ tim tỏa ra các phương hướng theo hình tượng hoa mạn đà la. Khoảng giữa những tường này lấp bằng những vật liệu nhẹ sốp hơn. Tại những tòa phù đồ xưa của Ấn độ người ta đã phát hiện được những hòm xá lợi tại nhiều địa điểm khác nhau : ở dưới đáy vòm cầu, ở trên đỉnh hoặc thường ở trong trục lõi.
Ở Ấn độ và ở các xứ theo Phật giáo, những vật di lưu xá lợi này thường để trong những bình nhỏ xíu làm bằng những chất liệu quý nhất như ngọc, vàng. Những bình này lại để bên trong nhiều bình, hộp khác, càng ở ngoài càng kém quý giá, chẳng hạn bằng bạc rồi bằng đồng rồi ngoài cùng bằng đá hay bằng sành. Những bình xá lợi này thường làm theo hình dáng của một tòa phù đồ.
Tất cả những hình dạng khác về bảo tháp và phù đồ tại toàn thể các xứ Phật giáo ở Á châu đều trực tiếp hoặc gián tiếp do kiểu mẫu căn bản tả trên mà biến diễn ra.
Người ta nhận thấy rằng giai đoạn đầu tiên của sự biến hóa là đặc biệt ở miền Gandhàra ( Tây Bắc bán đảo Ấn Độ) nhưng cũng cả ở miền Amarâvati (Đông Nam Ấn độ) và trong những động đá ở miền Tây Ấn trong khoảng từ năm 50 đến 120 T.L.
Trước hết là cái bệ tròn của tháp vươn lên thành một hình ống cao nhiều hay ít và có những gò đai chia ra thành những tầng. Vòm bán cầu vì vậy được đưalên cao nhưng trở nên nhỏ hơn so với nèn bệ. Vì ảnh hưởng của nghệ thuật kiến trúc La Hy cổ thời kéo dài, những tầng bệ ở Gandhâra được trang trí bằng ô khám làm lõm vào thân tháp là chỗ dành cho các pho tượng thờ và những hình tượng diễn những sự tích Phật để cho các tín đồ khi làm lễ chạy đàn vừa tụng kinh vừa chiêm ngưỡng.
Cái ngọn trên cũng kéo dài lên và càng ngày càng thêm những tàn lọng. Những tàn này xáp lại gần nhau và càng lên cao càng nhỏ dần đi để thành một hình chop nhọn hoặc mập hoặc thanh. Chính cái vòm cầu cũng có thể vươn dài lên hoặc ngược lại hoặc dẹp bớt xuống. Kết quả của sự thay đổi này là hình thù của tòa phù đồ trở thành gần như là một cái ống tròn, cái phần chính là vòm cầu trở nên kém quan trọng, còn những phần phụ thuộc thì càng phát triển. Không những thế ở Gandhâra hình tháp Gandhâra lại xuất hiện ra một thành phần mới là cái chân bệ trước tròn thì nay lại vuông. Cái chân này chẳng mấy chốc phát triển thành ra gồm nhiều tầng cấp và có ở mỗi mặt một cái cầu thang để dẫn lên con đường chạy đàn nơi chân phù đồ chính thức, ở đây cũng chia thành những tầng với những hàng trụ tường, những vành cuốn hình lá bồ đề và những ô khám có tạc tượng. Kiểu này được ưa chuộng từ khoảng năm 150 đến 400 T.L và cũng thấy cả ở miền Trung Á.
Cái kiểu chân đế vuông xây thành tầng cấp với những thang có thể là đã mượn từ miền Lưỡng hà ( Mesopotamie) ở Trung đông đến thâm nhập vào nghệ thuật Gandhâra và đặc biệt phát triển kể từ khoảng năm 100 T.L. Nhưng kiểu kiến
trúc này cũng rọi phát về phía Đông và phía Nam, ảnh hưởng lan cả đến những xứ thật xa mà ngoài Ấn độ thấy ở Boro-bodur ở Java, như ở đền đài tại Cao miên, Miến điện, Thái lan v.v… Miền Amarâvati ở đông nam Ấn trái lại không thu nạp kiểu kiến trúc này. Ở đây vẫn theo kiểu phù đồ nguyên thủy có vòm cầu, mà chỉ kéo dài lên một chút trên chạm trổ rực rỡ và nhấn mạnh những đường lối đi đến tháp.
Ở Tích lan, ở các xứ bán đảo Ấn Hoa, những tòa phù đồ phỏng theo kiểu nguyên thủy mà không hề biết đến những sự biến đổi hình dạng ở miền Bắc. Đành rằng những tòa phù đồ ở các xứ này cũng vươn cao lên nhưng so sánh giữa ba phần đế, thân và ngọn thì phần giữa vẫn quan trọng hơn cả và tại các xứ Ấn Hoa nhất là tại Thái lan cái phần này nguyên là vòm cầu biến dạng ra hình một quả chuông (kiểu Âu châu), bên trên cắm một ngọn vuốt dài nhọn trông thật thanh tao.
Những tòa tháp Lạt ma giáo ở Tây tạng, ở Mông cổ và ở Trung hoa cũng tôn trọng tính cách căn bản của tòa phù đồ cổ Ấn độ, nghĩa là thân tháp vòm cầu vẫn được coi là thành quan trọng hơn cả, nhưng cái vòm cầu này đã được biến dạng ra hình những chai lọ vai mở trôn thóa, cổ cao và đội một cái tàng bằng đồng chạm thủng.
THÁP MIỀN ĐÔNG Á.
Hình dáng những cây tháp Trung hoa và ở các nước miền Đông Á theo Phật giáo Đại thừa, thoạt trông khác hẳn tháp phù đồ của Ấn độ và của các nước theo Phật giáo Tiểu thừa.
Tháp Đông Á chỉ vươn theo nguyên một chiều cao mà không phát triển theo chiều ngang rộng nơi chân bệ và thân tháp ở những tòa phù đồ của Ấn độ và các nước Phật giáo Tiểu thừa.
Thân tháp hoặc vuông hoặc lục lăng bát giác (đa giác) chia ra làm nhiều tầng theo số lẻ, có những mái hoặc những vành mái ngắn nhận rõ những tầng của chiều cao. Cái vòm cầu của
tòa phù đồ Thiên trúc nguyên thủy đôi khi còn được nhắc nhở trên từng nóc chót của tháp, nhưng rất nhỏ. Tuy nhiên cây tàn lọng lại thường được cắm một cách chân thành trên cái đế vuông harmika nhất là ở những cây tháp tại Nhât bản.
Kiểu tháp được biết xưa nhất là những hình tháp chạm trong những động Vân cương (tỉnh Thái nguyên, Trung hoa) và Long môn (tỉnh Hà nam, Trung quốc), tạo ra từ năm 450-500. Những tháp này hình vuông mang những tầng mái xòe rộng ra giống như mô hình chòi tháp canh Trung hoa thời cổ tìm thấy trong những ngôi mộ đời Hán (206 trước đến 220 sau Tây lịch). Trên mái chót của hình tháp này chỉ thêm một tòa phù đồ (vòm cầu) nhỏ cùng cây tàn lọng. Trong văn liệu lại xác nhận là ngay từ khoảng thế kỷ IV đã có những tòa tháp dựng bằng gỗ gồm nhiều tầng và điều chắc chắn là từ thế kỷ VI đến t.k. VII có một số tháp kiến trúc rất phức tạp đã được dựng ở Trung hoa, Đại hàn và Nhật bản.
Những cây tháp bằng gỗ của Trung hoa từ t.k. X về trước không còn nữa. Chỉ còn lại những tháp xây bằng gạch, bằng đá hoặc có phối hợp một phần với kiến trúc bằng gỗ.
Cây tháp còn lại được coi là xưa nhất ở Trung hoa là tòa bảo tháp xây bằng gạch tại chùa Trung nhạc ở chân núi phía Tây dẫy Tung sơn, huyện Đằng phong, tình Hà Nam.Tháp lập năm 523 triều Bắc Ngụy, hình khum khum như những ngôi đền tháp Ấn độ. Tháp xây thập nhị giác (12 góc), gần như tròn, tại mỗi cạnh góc tầng dưới (tầng chính) xây một trụ tường, tại mỗi mặt xây một mặt khẩm trổ một cửa uốn tò vò.Tháp chia ra làm 13 tầng, tầng
dưới cao trội, nhưng tầng trên thấp hơn nhiều và cách nhau bằng những vành mái xếp chồng chất và thu nhỏ dần đến chop thì thành vòm bán cầu trên cắm một ngọn lọng bằng đá hình con cúi.
Tòa tháp cổ này hẳn nhiên đã trực tiếp phỏng theo kiểu mẫu của những tòa phù đồ có nhiều tầng bệ đội vòm bán cầu lên cao của xứ Gandhâra. Ảnh hưởng của miền Tây Bắc Ấn này đã qua miền Trung á để truyền nhập vào Trung hoa.
Đây là cây tháp có lẽ độc nhất tại Trung hoa biểu hiện rõ rệt nét Thiên trúc hơn cả, vì sau đó còn lại là những cây tháp xây bằng đá, bằng gạch toàn là theo kiểu thức Trung hoa. Tuy nhiên những cây tháp có một tầng dưới xây cao trội đội những tầng mái tháp xếp chồng chất bên trên rất có thể là đã chịu ảnh hưởng của cây tháp chùa Trung nhạc nhất là ở những cây tháp lục giác, bát giác. Còn những cây tháp chia ra thành từng tầng thâu nhỏ đều đều hơn có thể nói là theo truyền thống kiến trúc của những tầng lầu Trung hoa.
Dù kỹ thuật bằng gạch, đá hay bằng gỗ thì ta cũng có thể tin rằng cây bảo tháp miền Đông á cũng là một sáng tác Phật giáo kết hợp hai nguồn ảnh hưởng là tòa phù đồ vòm cầu hoặc ngôi đền tháp kiểu Sikhara của Ấn độ và cây tháp chòi canh bình đồ vuông hoặc tòa nhà lầu đa giác của Trung hoa đều có mái xòe rộng ra “con sơn” chồng chất và hành lang bao quanh.
Sikhara là kiểu kiến trúc chung cho cả Phật giáo lẫn Bà la môn giáo, xuất hiện ngay từ thế kỷ II nhưng về sau là sở hữu riêng của Ấn độ giáo. Đấy là kiểu cung thờ, gồm chỉ có một phòng vuông bên ngoài xây cao lên thành một cây tháp tầng dưới cao, những tầng trên thu nhỏ dần và thường chồng chất sát trên nhau thành những tầng giả, đến đỉnh thì chum lại dưới một bầu tròn dẹt.
Ở Gandhâra , nền bệ phù đồ làm hình vuông để hướng ra bốn phương trời. Những cây tháp ở Đông á cũng theo nguyên tắc đó nhưng ngoài ra còn tăng thêm các cạnh góc để thành lục
lăng, bát giác theo sự ưa thích đặc biệt của người Trung hoa. Cây tháp đa giác Trung hoa có thể nói là kết quả của cuộc gặp gỡ những đền tháp Ấn độ đã khuyến khích một kiểu kiến trúc địa phương sẵn có là kiều nhà lầu bình đồ đa giác mà người Trung hoa vẫn ưa chuộng xưa nay.
Trung hoa rất thành thạo trong việc thực hiện những kiến trúc bằng gỗ, nhưng loại bỏ bình đồ tròn của kiến trúc Ấn độ và thay thế những chi tiết theo sở thích thẩm mỹ của mình. Nên từ t.k V đến t.k VII cây tháp Trung hoa được coi làm khuôn mẫu cho những tháp báu ở Đại hàn, Nhật bản.
Rất đáng chú ý là giữa cây tháp gỗ Á đông và những ngôi đền Méru (tu di) ở đảo Bali (Ấn ni) ở Népal, ở Miến điện có những điểm căn bản tương tự nhau và có thể cả ở chi tiết. Đền Méru là một kiến trúc vươn cao với những tầng mái gỗ lợp ngói xòe ra rất rộng và là tượng hình cho cơ cấu thế giới. Có thể cũng là do những kiến trúc tương tự của Ấn độ trước đó đã biến thể ra như trường hợp tháp Á đông nhưng vì sao mà ra cái hình thù đặc biệt thì chưa ai rõ.
Về trường hợp của hầu hết những tòa tháp lớn của Trung hoa thì hoặc là xây toàn bằng gạch, bằng đá có những vành mái ít nhô ra, hoặc gồm một cái trụ nòng xây ở giữa ruột và phần kiến trúc bằng gỗ bọc chung quanh có những hiên hồi lang và những mái vươn ra xa. Ngọn tháp là một cái cây bằng đá hay bằng kim loại cao thấp thay đổi mang nhiều cái tàn hay vòng tròn, và cắm lên cái đế vòm cầu. Đây là di tích tòa phù đồ Ấn độ đã tả ở trên. Từ ngọn cây tàn gốc tầng mái cao nhất thường có giăng những giây chuông nhỏ (lục lạc) và ở các góc tầng mái dưới cũng treo những chùm chuông khánh nhỏ để gió thổi thì ngân vang đi xa những âm hưởng của đạo lành. Vào những ngày hội người ta treo thật nhiều đèn lên thấp cho cảnh Phật thêm phần rực rỡ và soi sáng cõi đời.
Trong lòng cây bảo tháp Trung hoa hoặc xây một cây trụ đặc làm nòng, chung quanh làm cầu thang leo lên tới tầng chót, cầu thang này cũng dùng để vừa đi vòng quanh vừa tụng kinh, hoặc là lòng tháp để trống thông suốt từ dưới lên trên như một cái giếng, ở giữa “giếng” này tạc một pho tượng Phật. Khoảng cách chung quanh khá rộng đủ làm chỗ chạy đàn. Từ đường chạy đàn tại mỗi tầng có những đường xây cuốn chạy ra cửa sổ mở ra các phương hướng. Ngoài ra còn có thể thêm những đường khác những ô khám hoặc bàn thờ nhỏ trong lòng tháp. Như vậy tỏ rằng tháp chính là một vật thể rạng nở như một bông hoar a tứ phương bát hướng từ một cái nhân dù đặc dù rỗng vẫn là toàn bị. Cái nhân này là hình tượng Phật hay là cái trụ tim tháp xuyên từ nền móng lên suốt chiều cao của tháp để đội cây tàn lọng ở trên đỉnh. Trong cây trụ này có xây dấu xá lợi, bên ngoài có tạc những tượng Phật ngồi dựa lưng vào và nhìn qua những đường xây cuốn và cửa sổ ra tứ phương bát hướng để soi sáng thế gian. Theo ý nghĩa thì cái trụ tim thấp với tượng Phật, xá lợi tượng trưng cho thể xác. Kinh, chú tượng trưng cho tinh thần của Phật có thể thay đổi cho nhau nghĩa là được coi là cũng như nhau.
Nhiều tòa tháp trên mặt tường ngoài còn chạm đắp nhiều hình Phật hình dung cho Thiên Phật. Thiên Phật chứng hiện với những ai dầy công suy niệm tịnh quán.
Những cây tháp đời Đường (618.906) còn lại tại Trung hoa hầu hết làm theo hình đồ vuông nhưng đều là những kiến trúc bằng gạch, mái nhô ra ít, tầng dưới thường cao trội, bên trên là những tầng chồng chất và thu nhỏ dần, trên chop cắm cây tàn lọng thường bằng đá và biến thể. Ở mỗi mặt tầng dưới (tầng chính) có một cửa bên trong trang trí bằng một vành cung nhọn và hai bên có hai pho Kim cương hình dung võ tượng đứng
trấn cửa. Nét chung của những cây tháp xây đời Đường là vẻ đơn giản, đường nét rõ ràng, hình khối cân xứng cao quý.
Và tiêu biểu cho những tháp vuông thời này là:
1– Mộ tháp của Pháp Nguyên thiền sư tịch năm 791, dựng trên núi Trung sơn tỉnh Hà Nam. Tháp chỉ gồm một tầng là một khối vuông, cửa trang hoàng bằng một vành cung nhọn và hai hộ pháp.
2– Tháp nhỏ ở Van chu (?) tự trên Phụng sơn tỉnh Hà bắc dựng về đầu t.k VIII. Tháp xây bằng đá, gồm một tầng dưới cao trang hoàng cũng như mộ tháp Pháp Nguyên, nhưng bên trên đội nhiều tầng mái.
3– Đại Nhạn tháp dựng ở chùa Tử ân, kinh thành Tràng an (Tây an) là nơi ngài Huyền Trang sau khi Tây du trở về trụ trì ở đây từ năm 645. Tháp dựng năm 652 gồm 5 tầng cao 175 bộ = 58m, nhưng đến những năm 701-705 sửa lại làm 7 tầng cao 190 bộ (khoảng 63m). Tháp xây bằng gạch nhưng gợi lại nét kiến trúc gỗ có những trụ tường chia từng dưới ra làm 9 gian, từng chót 5 gian, nhưng chỉ có gian giữa là khoét một cửa tò vò. Trong hình khối toàn thể vững chãi như một kim tự tháp vươn cao.
4– Tiểu Nhạn tháp cũng dựng ở Tràng an (Tây an) tại một ngôi chùa do Võ Tắc Thiên hoàng hậu lập ra để cầu siêu cho chồng là vua Đường Cao Tông vào năm 684. Tháp xây vuông, gồm 15 từng, từng dưới cao, những tầng trên thấp, hai tầng chót đã mất nay còn cao 125 bộ (khoảng 41,25m) là vật kiến trúc về đầu thế kỷ VIII năm 707.
5– Tại Côn minh (Vân nam) hai tháp Đông Tự và Tây tự cũng có tên là Phất Vân tháp và Chỉ Vụ tháp dựng về khoảng đời Đường Trinh Quán (627-649). Hai tháp này cùng xây vuông bằng gạch, gồm 13 tầng. Tầng dưới cao, những tầng trên thấp mỗi mặt trổ một cửa sổ tò vò trong bầy một pho tượng Phật. Tháp cao 150 tới 160 bộ (khoảng từ 50 đến 53m).
Tháp vuông xuất hiện tại Trung hoa, tuy nhiên điều mà người ta nhận thấy rõ là người Trung hoa đặc biệt ưa thích kiểu đa giác : lục giác, nhất là bát giác, thích xây bằng gạch, đôi khi bằng đá hộc, trang trí nhiều bằng những hình đá chạm khắc, bằng những màu sắc mạnh mẽ nhất do những hòn ngói tráng men mầu rực rỡ, và ở lưu vực sông Dương tử và miền Nam thì làm mái cong veo.
Sau đây là danh sách một số tháp bát giác danh tiếng :
1. – Bạch tháp tại chùa Quảng hựu, tỉnh Liêu Dương cao 100m gồm 13 tầng, tương truyền sáng lập từ thời Đông hán (25-220) Uất trì Cung đời Đường trùng tu (t.k VII). Đây là đệ nhất cổ tháp tại miền Đông Bắc Trung hoa (Mãn châu).
2. – Hoa tháp tại chùa Lục dung tỉnh Quảng Đông, gồm 7 tầng xây bằng gạch, dựng dưới triều nhà Lương (502-557).
3. – Tháp Hổ khâu ở Tô châu ( Chiết giang) gồm 7 tầng, xây về đời Tùy nhân Thọ (601-605).
4. – Tháp xây bằng gạch tại chùa Linh ẩn (tỉnh Sơn tây) dựng về thế kỷ VII, cao 51m60 gồm 9 tầng.
5. – Lục hòa tháp trên Nguyệt luân sơn ở Hàng châu, 13 tầng cao 84m khởi dựng năm 970.
6. – Tháp Liệu địch ở chùa Khai nguyên, tỉnh Hà Bắc, 11 tầng, dựng năm 1055 là tiêu biểu cho kiến trúc tháp gạch đời Tống.
7. – Tháp chùa Phổ quang ở Sơn tây dựng năm 1056 bằng gỗ 5 tầng là một cổ tích rất quan trọng của Trung hoa vì kỹ thuật và vì thời gian.
8. – Hai tháp Đông, Tây tại chùa Khai nguyên ở Tuyền châu xây bằng đá khoảng năm 1228-1250 gồm 5 tầng, phỏng theo kiến trúc sườn gỗ.
9. – Thiết tháp tại Khai phong gồm 13 tầng xây vào giữa t.k. XI.
10. – Bạch tháp tại chùa Bạch tháp tự ở Nhiệt hà (Mãn châu) dựng về cuối t.k. XI sang đầu t.k. XII.
K.T.S. NGUYỄN BÁ LĂNG