Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung A-Hàm Tập 2

Kinh Trung A-Hàm Tập 2

Tác giả: Hán Dịch: Tam Tạng Tăng-Già-Đề-Bà. Dịch giả: Việt Dịch: Tuệ Sỹ. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 652.

Kinh Trung A-Hàm (Madhyama Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 1 và Quyển thứ 2 (Kinh số 26), gồm 60 quyển chia thành 5 tập (Thiên) và 18 phẩm, chứa tổng cộng 222 bài kinh.
Bộ kinh này do hai ngài Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva) và Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào thời Đông Tấn.

Vị trí và Bản chất giáo lý

• Bản chất giáo lý Nguyên thủy: Dù được lưu giữ bằng chữ Hán trong Hán tạng, nhưng Kinh Trung A-hàm không mang tư tưởng phát triển của Đại thừa. Đây là một trong bốn bộ kinh A-hàm nền tảng chứa đựng những lời dạy nguyên sơ, chân thực nhất của Đức Phật Thích Ca và các đại đệ tử.
• Ý nghĩa tên gọi "Trung": Chữ "Trung" ở đây chỉ độ dài mang tính chất trung bình (vừa phải) của các bài kinh. Bộ kinh này tập hợp những bài giảng không quá dài (như Trường A-hàm) nhưng cũng không quá ngắn (như Tạp A-hàm hay Tăng Nhất A-hàm).
• Bản dịch đối chiếu: Bộ Kinh Trung A-hàm của Hán tạng có nội dung hoàn toàn tương đồng và đối chiếu trực tiếp với bộ Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya, gồm 152 bài kinh bản Pali) của Phật giáo Nam truyền (Nguyên thủy). Tuy nhiên, số lượng bài kinh và sự sắp xếp các phẩm giữa bản Hán dịch và bản Pali có một số điểm khác biệt do xuất phát từ các bộ phái kết tập khác nhau thời Ấn Độ cổ đại.
Tại Việt Nam, bản dịch đầy đủ, chính thức và uy tín nhất của bộ Kinh Trung A-hàm (Hán dịch) sang tiếng Việt thuộc về công trình dịch thuật vĩ đại của Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về bộ kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn đối chiếu một bài kinh cụ thể xem nó nằm ở đâu giữa Trung A-hàm (Hán tạng) và Trung Bộ (Pali) không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu về phương pháp phân loại kinh văn của hệ thống A-hàm?

Chương 4: 152. Kinh Anh Vũ (1) (Trang 17 - 32)

152. KINH ANHVŨ (1)
 
Tôi  nghe  nhưvầy.
Một thời  Phật trú thànhVương  xá, ở trongrừngTrúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy  giờ,  Ma-nạp  AnhVũ,  con  trai   ông  Đô-đề1 ,  cómột  ít  việc  phải làm nên đến trọtại  nhàmột người cưsĩ trong[667a]thànhVương  xá. Tại đây, Ma-nạp  AnhVũ con trai ông Đô-đề nói với   người cưsĩ  mà  mình  ngủ trọ:
“Có Sa-môn, Bà-la-môn nào,bậc Tông chủ,bậc Thầycủamọi   người , thống  lãnhmộtsố đông đồ chúng, rất đượcmọi   người  tôn kính, để tôi  tùy thời  đến  thăm  viếng,  kính  phụng,  hoặc  có  thể  do  khi  kính  phụng  đó  mà được hoanhỷ  chăng?”
Cưsĩ  đáp:
“Có.  Này  Thiên  ái2,  có  Sa-môn  Cù-đàm,  con  dòng họ  Thích,  lìa bỏ  Thích tộc,cạobỏ  râu  tóc,  khoác  áo  ca-sa,  chí   tín,  lìa bỏ  gia  đình,sống  không gia  đình  màhọc  đạo,  chứng  quả  Vô  thượng  Chánh  giác3.  Này  Thiên  ái , ông  có  thể  tùy  thời  đến  thăm  viếng,  kính  phụng,  hoặc  có  thể  do  khi   kính phụng đó mà được  hoanhỷ.”
Ma-nạp  AnhVũ lạihỏi :
“Sa-môn Cù-đàm  hiện nay ở chỗ nào?Tôi   muốn đếngặp.”
Cưsĩ  đáp:
“Sa-môn  Cù-đàm  hiện  ở tại rừng  Trúc,vườn  Ca-lan-đa,  trong  thành Vương xá. Ông có thể đến đó đểgặp.”
Khi ấy,  Ma-nạp  AnhVũ  liền rời khỏi  chỗ  trọ,  nhàcưsĩ ,  thẳng  đếnrừng Trúc,vườn  Ca-lan-đa.  Ma-nạp  AnhVũtừ  xa  trông  thấy  Đức  Thế  Tôn  ởgiữarừng  cây,tướngmạo  đoan  chánh,  đẹp  đẽ  khác  thường,  như  ánh trăng giữarừng  sao sáng chói , lóng  lánh  như khối  núi  vàng, đầy đủtướng tốt,  vòi vọi   oai   nghi , cáccănvắnglặng,  an  định,  không một
___________________________________________
1 AnhVũ  Ma-nạp  Đô-đềTử  鸚鸇摩納題子.Pāli.  M.  99:  Subhomāṇavo todeyyaputto. Xem  kinh 170.
2 Thiên  ái  天愛.Pāli:  Devānampiya,  người  được  Trời  thương;  thường  dùng  đểxưng hôvới  người  ngu khờ. BảnPāli: bhante: này  ôngbạn.
3 Trongbản Hán:  Vô thượng Chánhtận giác 無上正盡覺.
mảy  may ngăn  ngại ,  hoàn toàn tự chế ngự, lắng tâm tĩnh mặc.
Sau khi  thấy  như thế, Ma-nạp  liền đến trước Phật và bạch:
“Bạch Cù-đàm, con có điều  muốn hỏi , mong Ngài  nghe cho con mới  dám trình  bày.”
ĐứcThếTôn nói :
“NàyMa-nạp,  muốnhỏi , cứ tùy  ý. ”
Ma-nạp  AnhVũhỏi :
“Bạch  Cù-đàm,  như  con  được  nghe4,  ‘Nếusống tại  gia  thì  được  hiểu  biết tốt,  biết  đúng  như  pháp5.  Người   xuất  gi ahọc  đạo  thì   không  nhưvậy. ’Con xinhỏi  Cù-đàm,  việc đó như thế nào?”
ĐứcThếTôn đáp:
“NàyMa-nạp, sự kiện đó không nhất định6.”
Ma-nạp  AnhVũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, mong Ngài  phân biệtsự kiện này cho con được rõ.”
ĐứcThếTôn nói :
“Này  Ma-nạp,  hãy lắng  nghe  khéo  suy  nghĩ ,  Tasẽ  phân  biệt  đầy  đủ  cho ngươi  rõ.”
Ma-nạp AnhVũ vâng lời lắng nghe.
Đức Phật nói :
“Này  Ma-nạp,nếu cókẻtại   gia  hoặc  xuất  gia học  đạo  nào  làm  điều  tà hạnh;  Ta  không  khen  ngợi   người  đó.  Vì   saovậy?Nếu  có kẻ tại   gia  hoặc xuất  gia học đạo  làm điều  tàhạnh,kẻ  ấy  không được  hiểu  biếttốt,  không biết  đúng  như  pháp.  Do  đó,  này  Ma-nạp,nếu  những kẻtại   gia  hoặc  xuất gia học đạo làm điều tà hạnh, Ta không khen ngợi kẻ ấy.
“Này Ma-nạp, nếu  có kẻ tại   gia  hoặc  xuất  gia học  đạo nào  thực  hành  chánh hạnh,  Ta  khen  ngợi   người  đó.  Vì sao vậy? Nếu[667b] có kẻ tại 
____________________________________
4 Bản Pāli:  Brāhmaṇā  bho  Gotama  evam  āhaṃsu,  “Các  người  Bà-la-môn  nói  nhưvầy...”
5 Hán:  tiện  đắc  thiện  giải,tắc  tri  như  pháp 便得善解則知如法.Pāli  (M.ii.  197): gahaṭṭho  ārādhako  hotiñāyaṃ  dhammaṃ  kusalaṃ,  ngườitại  gia  đạt  được  pháp thiệnchánh lý.
6 BảnPāli:  vibhajjavādo  kho  aham  etthamṇavanāham  ekaṃsavādo,  Ta  thuyết  có phân tích. Ta không thuyết pháp theo một chiều.
gia  hoặc xuất gia học đạo thực  hành  chánh hạnh,kẻ  ấy  chắc  chắn  được  hiểu  biết tốt,  biết  đúng  như  pháp.  Do  đó,  này  Ma-nạp,nếukẻtại gia  hoặc  xuất  giahọc  đạo  thực  hành  chánhhạnh, Ta khen  ngợi kẻ ấy.
“Này  Ma-nạp,  Ta  nói   nhưvậy,  nói về  hai  pháp  ấy,  phân  biệt  nhưvậy, hiển  thị   nhưvậy.  Nhưng nếu  có  Sa-môn,  Bà-la-môn  nào  có năng lực, thâm  nhập  kiên cố,  chấp  chặt  theo một  chiều,vị ấy sẽ nói rằng,‘Đây  là chân thật, ngoài  ra  là hư vọng.’ ”
Ma-nạp  AnhVũ thưa:
“Bạch Cù-đàm,  như  con được  nghe,  ‘Nếu  ai sống tại   gia  thì  có lợi  ích lớn,có  công  đức lớn;  người   xuất  giahọc  đạo  thì   không  nhưvậy.’7  Con  xin hỏi  Cù-đàm, sự kiện ấy  như thế nào?”
ĐứcThếTôn nói :
“NàyMa-nạp, sự kiện ấy không nhất định.” 8
Ma-nạp  AnhVũ thưa:
“Bạch  Cù-đàm, mong  Ngài   phân  biệtsự  kiện đó  cho con được rõ.”
ĐứcThếTôn nói :
“Này Ma-nạp,  hãy lắng  nghe  khéo  suy  nghĩ , Tasẽ  phân  biệt  đầy  đủ  cho ngươi  rõ.”
Ma-nạp  AnhVũ vânglờilắng nghe.
Đức Phật nói :
“Này  Ma-nạp,nếusống tại   gia  có  tai  hoạn lớn, có đấu  tranh lớn, có oán thù lớn,  nhưng lại  làm điều sai quấy, thì sẽ  không  được  quả  báo lớn, không  được  công  đức lớn9.  Ví   như  người  làm  ruộng,  có  tai   hoạn
_______________________________________________
7Pāli:  mahaṭṭham  idaṃ  mahākiccaṃ  mahādhikaraṇam  mahāsamārambhaṃgharācāsakammaṭṭhānaṃ  mahapphalaṃ  hoti,sự  nghiệpcủa  ngườitại  giacần  nhiều kinh  doanh, nhiều  việc phải  làm, nhiều tácvụ, nhiềunỗlực, do đó, cókết quả to lớn.
8 Xem cht.6 ở trên.
9 Pāli:  atthimṇava  kammaṭṭhānaṃ  mahaṭṭhaṃ  mahākiccaṃ  mahādhikaraṇam mahāsamārambhaṃ  vipajjamānaṃ  appaphalaṃ  hoti,  cósự  nghiệpcần  nhiều  kinh doanh  nhiều  việc  phải  làm,  nhiều  tác vụ,  nhiều nỗ lực,  nhưng  không  làm tốt, cho  nên, kết  quả  nhỏ.  Có lẽ,  trong bản Pāli:  mahākicca  (nhiều  nghĩa vụ),  trong bản  Hán  đọc  là  mahākiccha  (nhiều  khó  nhọc,  đại  tai  hoạn).Pāli:  mahādhikaraṇa, có  nghĩa:sự vụ  hay  tác vụ,cũng  có  nghĩa  tranh  chấp;bản  Hán  hiểu  theo  nghĩa thứ  hai (đại  đấu  tránh).Pāli:  samārambha,  có  hai  nghĩa:nỗ lực  (do gốc  động từ rabh); hoặc gây tổn hại (do gốc động từ radh);bản Hán hiểu theo  nghĩa sau(đại tắng oán). 
lớn,  có đấu  tranh lớn,  có  oán  ghét lớn, lại   làm điều  sai quấy10, thì sẽ  không  được quả  báo lớn,  không  được  công  đức lớn.  Như vậy,  này  Ma-nạp,  người sống tại  gia cũng lại  như thế.
“Này  Ma-nạp,  người   xuất  gia học đạo  ít  có tai   hoạn,  ít  có đấu tranh,  ít  có oán  thù,  nhưng lại  làm điều sai quấy, thì sẽ  không  được  quả  báo lớn, không  được  công  đứclớn. Ví  như người  buôn  bán,  ít  có tai  hoạn,  ít có đấu  tranh,  í t  có  oán  ghét, nhưng lại  làm điều  sai quấy,  thì sẽ  không  được quả báo lớn, không được công đức lớn. Nhưvậy, này Ma-nạp, người   xuất gia học đạo cũng lại  như thế.
“NàyMa-nạp, người sống tại  gia có tai hoạn lớn, có đấu tranh lớn, có oán ghét lớn,  nhưng  l àm điều  chân  chánh,  thì sẽ  được  quả  báolớn,  được  công đức lớn. Ví   như  người  làm  ruộng  có  tai  hoạnlớn,  có  đấu  tranhlớn,  có oán  ghétl ớn,  nhưng  làm điều  chân  chánh,  thì sẽ  được  quả  báolớn,  được công đứclớn. Nhưvậy,  này Ma-nạp, ngườisốngtại  giacũnglại  như thế.
“Này  Ma-nạp,  người   xuất  gia học đạo  ít  có tai  hoạn,  ít  có đấu tranh,  ít  có oán  ghét,  nhưng  làm  điều  chân  chánh,  thì  được  quả  báol ớn,  được  công đức lớn.  Ví như người  buôn  bán,  ít có tai  hoạn,  ít  có đấu tranh, ít có oán ghét, nhưng làm  điều chân chánh, thì sẽ  được  quả báo lớn, được công đức lớn. Như vậy, này Ma-nạp, người xuất gia học đạo lại cũng[667c] như thế.
“Này Ma-nạp, Ta nói như vậy, nói về hai pháp ấy, phân biệt như vậy,hiển thị như vậy. Nhưng nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào có năng lực,thâm nhập kiên cố, chấp chặt theo một chiều, vị ấy sẽ nói rằng, ‘Đây là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’ ”
Ma-nạp Anh Vũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, các Bà-la-môn kia chủ trương có năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện.”
Đức Thế Tôn nói:
“Nếu các Bà-la-môn chủ trương có năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước được thiện; vậy nay ngươi có thể ở giữa đại chúng mà trình bày lại chăng?”
__________________________________
10Hán:  hành  tàhạnh.  Pal.:  vipajjamānaṃ:  làm  sai,  làmhỏng.Sớ  giải:  như  ngời làm  ruông  mà  phai  khôngmưa  haymưa  quá  nhiều(avuṭṭhi-ativuṭṭhi);  người  đi buôn thì thiếu tài khéo(acchekata); thẩy đều khôngcó kết quả.
Ma-nạp Anh Vũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, đối với con không có sự kiện không thể. Vì sao vậy? Vì Cù-đàm hiện đang ngồi ở giữa đại chúng này.”
Đức Thế Tôn nói:
“Vậy ngươi hãy trình bày.”
Ma-nạp Anh Vũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, mong Ngài khéo nghe cho. Bạch Cù-đàm, Bà-la-môn chủ trương thứ nhất là pháp chân đế, có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước được thiện; pháp thứ hai là tụng tập; pháp thứ ba là Nhiệt hành; pháp thứ tư là Khổ hạnh. Bạch Cù-đàm, Bà-la-môn chủ trương pháp thứ năm là Phạm hạnh11 có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện.”
Đức Thế Tôn nói:
“Nếu các Bà-la-môn chủ trương năm pháp này có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện; vậy trong số những Bà-la-môn ấy, có Bà-la-môn nào nói như thế này: ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng’?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch Cù-đàm, không có.”
Thế Tôn nói:
“Có vị Tôn sư hay Tổ sư nào, cho đến bảy đời cha mẹ nói như thế này, ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng’?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch Cù-đàm, không có.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Ma-nạp, xưa kia có những Bà-la-môn tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập kinh điển: một là Dạ-tra, hai là Bà-ma, ba là Bà-ma-đề-bà, bốn là Tỳ-xa-mật-đa-la,
__________________________________
11  Năm pháp theo Pāli:  saccam (sự thật),  tapam (khổ hành),  brahmacariyam (tiết dục hay phạm hạnh),  ajjhenam (tụng đọc),  cāga (thí xả). Bản Hán thay  cāga (thí xả) bằng nhiệt hành.
năm là Dạ-bà-đà-kiền-ni, sáu là Ứng-nghi-la-bà, bảy là Bà-tư-tra, tám là Ca-diếp,chín là Bà-la-bà, mười là Bà-hòa12 . Nay các Bà-la-môn đối với các kinh điển ấy tụng tập, thọ trì, học hỏi. Nhưng họ có nói như thế này: ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng’?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Không có. Nhưng các Bà-la-môn ấy do [668a] tin mà thọ trì.”
Đức Thế Tôn nói:
“Trong các Bà-la-môn, không có một Bà-la-môn nào nói như vầy, ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng.” Và cũng không có vị Tôn sư hay Tổ sư nào, cho đến bảy đời cha mẹ nói như thế này, ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng.’
“Xưa kia có những Bà-la-môn tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập điển kinh: một là Dạ-tra, hai là Bà-ma, ba là Bà-ma-đề-bà, bốn là Tỳ-xa-mật-đa-la, năm là Dạ-bà-đà-kiền-ni, sáu là Ứng-nghi-la-bà, bảy là Bà-tư-tra, tám là Ca-diếp, chín là Bà-la-bà, mười là Bà-hòa. Nay các Bà-la-môn đối với các kinh điển ấy, tụng tập, thọ trì, học hỏi, nhưng họ không nói như vầy, ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng,tôi nói lên kết quả của chúng.’ Thế thì, này Ma-nạp, các Bà-la-môn ấyhá không vì sự kiện này mà trong sự tin tưởng có thiếu căn bản chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch:
“Bạch Cù-đàm, thật sự không căn bản. Nhưng các Bà-la-môn nghe rồi thọ trì.”
Đức Thế Tôn nói:
“Ví như một đám người mù dắt nhau, người trước không thấy người ở sau, cũng không thấy người ở giữa; người giữa không thấy người ở trước, cũng không thấy người ở sau; người ở sau không thấy người ở giữa, cũng không thấy người ở
__________________________________
12 Danh sách mười đạo sĩ thời thượng cổ: Dạ-tra 夜吒, Bà-ma 婆摩, Bà-ma-đề-bà 婆摩提婆, Tỳ-xa-mật-đa-la 毗奢蜜哆羅, Dạ-bà-đà-kiền-ni 夜婆陀犍尼,Ứng-nghi-la-bà 應疑羅婆, Bà-tư-tra 婆私吒, Ca-diếp 迦葉, Bà-la-bà 婆羅婆,Bà-hòa 婆惒. Danh sách Pāli: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta,Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvājā, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu.
trước. Này Ma-nạp, Ta nói các Bà-la-môn cũng như vậy. Này Ma-nạp, trước ngươi nói là do tin, sau đó ngươi nói là do nghe.”
Ma-nạp Anh Vũ liền tức giận Đức Thế Tôn, hằn học, không vui, phỉ báng Thế Tôn, chỉ trích Thế Tôn, mạ lỵ Thế Tôn, và nghĩ rằng, ‘Cần phải phỉ báng Cù-đàm, cần phải chỉ trích Cù-đàm, cần phải hạ nhục Cù-đàm.’
Liền nói với Đức Thế Tôn:
“Này Cù-đàm, có một Bà-la-môn tên là Phất-ca-sa-sa-la 13 , thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn 14 , nói như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào cho rằng mình đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân 15 ; sau khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận được. Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng như pháp.Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói là được pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lý.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn liền nghĩ như thế này: “Ma-nạp Anh Vũ, con ông Đô-đề, có phẫn nộ đối với Ta, hằn học, không vui, phỉ báng Ta, chỉ trích Ta, mạ lỵ Ta, nghĩ rằng: ‘Cần phải phỉ báng Cù-đàm, cần phải chỉ trích Cù-đàm, cần phải hạ nhục [668b] Cù-đàm.’ Liền nói với Đức Thế Tôn:‘Này Cù-đàm, có một Bà-la-môn tên là Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn, nói như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào cho rằng mình đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân; sau khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận được. Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng như pháp. Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói là được pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lý.’ ”
Đức Thế Tôn biết thế nên nói:
“Này Ma-nạp, có phải Bà-la-môn tên là Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn, ông ấy biết điều mong nghĩ trong
____________________
13 Phất-ca-sa-sa-la 弗架娑娑羅; Pāli: Pokkarasāti Opamañño Subhagavaniko, (người Bà-la-môn tên là) Pokkharasāti Opamañño, sống trong rừng Subha.
14 Hán: tánh trực thanh tịnh hóa 姓直清淨化; chỉ thuộc một dòng họ Bà-la-môn thuần chủng, không lai tạp trong nhiều đời liên tục.
15 Nhân thượng pháp 人上法. Pāli: uttarimanussadhamma, pháp của con người siêu việt.
tâm của hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn rồi mới nói như thế này: ‘Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào cho rằng mình đã thấy, đã biết, đã chứng đắc pháp Thượng nhân; sau khi nghe như vậy, Ta bèn cả cười, không thể chấp nhận được. Đó là sự láo khoét, không chân thật, không đúng như pháp.
Làm sao con người sanh trong loài người mà tự nói là được pháp Thượng nhân? Nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lýchăng?’”
Ma-nạp Anh Vũ đáp:
“Bạch Cù-đàm, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn, có một nữ tỳ tên là Bất-ni 16 . Nhưng đối với tâm niệm của nữ tỳ này, ông ấy còn không thể biết, huống nữa là biết tâm tư của tất cả Sa-môn, Bà-la-môn! Nếu cho rằng ông ấy biết, thì sự kiện này không thể có.”
Thế Tôn nói:
“Cũng như người sanh ra đã mù; người ấy nói như thế này, ‘Không có màu đen, màu trắng, cũng không có sự thấy màu đen, màu trắng; không có sắc tốt, sắc xấu, cũng không có sự thấy sắc tốt, sắc xấu; không có sắc ngắn, sắc dài, cũng không có sự thấy sắc ngắn, sắc dài; không có sắc gần, sắc xa, cũng không có sự thấy sắc gần, sắc xa; không có sắc thô, sắc tế, cũng không có sự thấy sắc thô, sắc tế; vì ta không bao giờ thấy, không bao giờ biết, cho nên nói không có màu sắc.’ Người mù bẩm sinh kia nóinhư vậy là đúng sự thật chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Bạch Cù-đàm, không phải vậy. Vì sao? Vì có màu đen, màu trắng, cũng có người thấy màu đen, màu trắng; có sắc tốt, sắc xấu, cũng có người thấy sắc tốt, sắc xấu; có sắc ngắn, sắc dài, cũng có người thấy sắc ngắn, sắc dài; có sắc gần, sắc xa, cũng có người thấy sắc gần, sắc xa; có sắc thô, sắc tế, cũng có người thấy sắc thô, sắc tế. Nếunói, ‘Tôi không hề thấy, không hề biết, cho nên nóikhông có màu sắc,’ thì người mù bẩm sinh nói như vậylà không đúng sự thật.”
“Này Ma-nạp, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần khiết,không gián đoạn; lời nói của ông ấy có khác gì hạng người mù bẩm sinh,không có mắt kia chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
_________________________________
16 Bất-ni 不尼. Pāli: Puṇṇikā.
“Bạch Cù-đàm, [668c] như mù vậy.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu xưa kia 17 có những Bà-la-môn, tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập điển kinh; đó là các Bà-la-môn Thương-già, Bà-la-môn Sanh Văn, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la và Đô-đề, thân phụ ngươi ; 18  những điều mà họ nói, được chấp nhận hay không được chấp nhận? Chân thật hay không chân thật? Có cao, có thấp chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Đức Thế Tôn:
“Nếu xưa kia có những Bà-la-môn, tuổi thọ hết, mạng chung, đã tụng trì kinh thư, đã truyền bá kinh thư, đã tụng tập điển kinh, đó là các Bà-la-môn Thương gia, Bà-la-môn Sanh Văn, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la và Đô-đề, thân phụ con; những điều được nói ấy; thì theo ý con, họ mong được chấp nhận, không mong không được chấp nhận; mong là chân thật, không mong không phải là chân thật; mong là sự cao thượng, không mong là sự thấp hèn.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Ma-nạp, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn; điều mà ông ấy nói, há không phải là không được chấp nhận, không có sự được chấp nhận? Là không chân thật, không cósự chân thật? Há không phải là rất thấp hèn, không có cái gì cao?”
Ma-nạp Anh Vũ thưa Đức Thế Tôn:
“Thật vậy, bạch Cù-đàm.”
“Lại nữa, này Ma-nạp, có năm pháp gây chướng ngại, gây che lấp, làm cho mù, không có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn. Những gì là năm? Này Ma-nạp, pháp thứ nhất là dục, gây chướng ngại, gây che lấp, làm cho mù, không có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn. Này Ma-nạp, sân nhuế, thân kiến, giới thủ và thứ năm là nghi, gây chướng ngại, gây che lấp làm cho mù, không
_______________________________
17 Hán: tích, xưa kia, nhưng những người được nối đến hình như đang sống.Pāli: Kosalakā brahmaṇa-mahāsārā, các Bà-la-môn phú hào ở Kosala.
18 Các Bà-la-môn Thương-già 商伽, Sanh Văn 生聞, Phất-ca-sa-sa-la 弗袈娑娑羅 và Đô-đề 都提; Pāli: Caṅki, Jānussoṇi, Pokkharasāti, Todeyya.
có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn. 19
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ai bị năm pháp này làm chướng ngại, che lấp, quấn chặt, người ấy nếu muốn quan sát ý nghĩa lợi ích của mình, ý nghĩa lợi ích của người khác, ý nghĩa lợi ích của cả hai, và biết tất cả Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ gì trong tâm; sự kiện ấy không thể có.
“Này Ma-nạp, Bà-la-môn Phất-ca-sa-sa-la, thuộc chủng tánh thuần khiết, không gián đoạn, bị nhiễm bởi dục, bị ô uế bởi dục, nhiễm dục, xúc dục, say đắm nơi dục, vào trong dục mà không thấy tai hoạn, không biết sự xuất yếu và sống theo dục; vị ấy bị năm pháp này chướng ngại, che lấp, quấn chặt; vị ấy nếu muốn quán sát ý nghĩa lợi ích của mình, ý nghĩa lợi ích của người khác, ý nghĩa lợi ích của cả hai, và biết tất cả Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ gì trong tâm; sự kiện ấy không thể có.
“Lại nữa, này Ma-nạp, có năm công đức của dục, khả ái, khả niệm, khả ý,khả lạc, có khát ái liên hệ sắc dục, rất đáng [669a] ham muốn. Những gì là năm? Là sắc được thấy bởi mắt, tiếng được nghe bởi tai, hương được ngửi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân. Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Chúng sanh do năm công đức của dục này cho nên phát sanh lạc, phát sanh hỷ, chẳng còn có điều gì ở ngoài đây chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Thế Tôn:
“Quả như vậy, bạch Cù-đàm.”
Thế Tôn hỏi:
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Lửa do cỏ, cây được đốt cháy, và lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; thứ lửa nào có ngọn sáng tối thượng, tối diệu, tối thắng?”
Ma-nạp Anh Vũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; sự kiện này không thể có. Chỉ có thể có do sức mạnh của như ý túc. Bạch Cù-đàm, lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; lửa ấy có ngọn sáng tối
_________________________________________
19 Năm pháp chướng ngại, bản Hán: dục, nhuế, thân kiến, giới thủ kiến và nghi. Trong bản Pāli,  pañca nīvaraṇā  (năm triền cái): kāmacchanda (dục vọng), vyāpāda (sân hận),  thīnamiddha (hôn trầm),  uddhaccakukkucca (trạo cử),  vicikicchā (nghi).
thượng, tối diệu, tối thắng.”
Thế Tôn nói:
“Quả như vậy, quả như vậy! Nếu lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy sự kiện này không thể có. Chỉ có do sức mạnh của như ý túc, lửa không do cỏ cây mà được đốt cháy; thứ lửa ấy có ngọn sáng tối thượng, tối diệu, tối thắng.
“Này Ma-nạp, ở đây Ta giả thiết rằng, cũng như thứ lửa do cỏ cây mà được đốt cháy, sự phát sanh hỷ lạc của chúng sanh cũng vậy, là do dục, do pháp ác, bất thiện, không đạt được lạc do xả và tịch tĩnh. Này Ma-nạp, cũng như thứ lửa không do cỏ, cây mà được đốt cháy; sự phát sanh xả, lạc của chúng sanh cũng vậy, là do ly dục, từ các pháp thiện, không đạt được xả, lạc và tịch tĩnh.”
Thế Tôn lại nói:
“Này Ma-nạp, ở đây, một Bà-la-môn lễ trai tự, hành bố thí, nhưng có một đồng tử Sát-lị từ phương Đông đến nói như vầy, ‘Ta ở trong đây được chỗ ngồi bậc nhất, nước rửa bậc nhất, ăn uống bậc nhất.’ Nhưng vì ở đó không được chỗ ngồi bậc nhất, nước rửa bậc nhất, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Hoặc từ phương Nam có đồng tử Bà-la-môn đến, nói như vầy, ‘Ta ở trong đây được thức ăn tịnh diệu.’ Nhưng ở đó không được thức ăn tịnh diệu, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Hoặc từ phương Tây có đồng tử Cư sĩ đến nói như vầy, ‘Ta ở trong đây được thức ăn dồi dào.’ Nhưng ở đó không được thức ăn dồi dào, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Hoặc từ phương Bắc có đồng tử Công sư đến nói như vầy, ‘Ta ở trong đây ăn no đủ.’ Nhưng ở đó không được ăn no đủ, nó bèn sanh oán hận, ôm lòng ganh ghét. Này Ma-nạp, các vị Bà-la-môn ấy thực hành sự bố thí như vậy, sẽ giả thiết những báo ứng nào?”
[669b] Ma-nạp Anh Vũ thưa:
“Bạch Cù-đàm, Bà-la-môn không thực hành bố thí với tâm như vậy, khiến người khác oán hận, ôm lòng ganh ghét. Cù-đàm nên biết, Bà-la-môn hành sự bố thí vì do tâm thương xót;20 do tâm thương xót mà hành sự bố thí thì được đại phước.”
Đức Thế Tôn nói:
____________________________________
20 Mẫn thương tâm 愍傷心. Pl.:  anukampājātikaṃyeva, xem cht. tiếp dưới.
“Này Ma-nạp, các Bà-la-môn há không phải chủ trương pháp thứ sáu 21 có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ đáp:
“Quả như vậy, bạch Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Ma-nạp, nếu có Bà-la-môn chủ trương năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện; thì ngươi thấy pháp ấy phần nhiều ở tại đâu? Tại gia chăng? Xuất gia học đạo chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ đáp:
“Bạch Cù-đàm, nếu có Bà-la-môn chủ trương năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện; thì con thấy pháp ấy phần nhiều ở sự xuất gia học đạo, chứ không phải ở tại gia. Vì sao? Vì tại gia có nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm, có nhiều kết hận, có nhiều ganh ghét đấu tranh, không có thể thành tựu sự thủ hộ, sự thành thật. Bạch Cù-đàm, người xuất gia học đạo ít công việc, ít bổn phận phải làm, ít có kết hận, ít có ganh ghét, nên có thể thành tựu sự thủ hộ, sự thành thật.
“Bạch Cù-đàm, sự thành thật ấy con thấy phần nhiều ở xuất gia học đạo, chứ không phải ở tại gia. Vì sao? Vì tại gia có nhiều công việc, nhiều bổn phận phải làm, có nhiều kết hận, có nhiều ganh ghét, đấu tranh, không được hành sự bố thí, không được tụng tập, không được hành khổ hạnh, không được sống Phạm hạnh. Bạch Cù-đàm, người xuất gia học đạo ít có công việc, ít có bổn phận phải làm, ít có kết hận, ít có ganh ghét, vị ấy có thể hành sự bố thí, có thể tụng tập, có thể hành khổ hạnh, có thể sống Phạm hạnh.
“Bạch Cù-đàm, Người sống Phạm hạnh, con thấy pháp phần nhiều ở xuất gia học đạo chứ không phải ở tại gia.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Ma-nạp, nếu có Bà-la-môn chủ trương năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện, Ta nói sự kiện ấy từ tâm mà khởi. 22 Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không oán
__________________________________________________
21 Pl.:idaṃ chaṭṭhaṃ puññakiriyavatthu hoti – yadidaṃ anukampājātikan’ti , đây là phước nghiệp sự thứ sáu: phước sanh từ lòng lân mẫn.
22 Pl.: cittassāhaṃ ete parikkhāre vadāmi , “Ta nói những (năm) pháp ấy là những tư cụ của tâm.”
không sân nhuế, không tranh chấp là do tu tập những pháp ấy.
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có Tỳ-kheo thủ hộ thành thật, 23 thì vị ấy do thủ hộ thành thật cho nên được hỷ, được duyệt. 24 Này Ma-nạp, nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện, Ta nói sự kiện đó từ tâm mà khởi. 25 Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, [669c] vì để tu tập những pháp ấy, nên vị ấy mới hành sự bố thí, sự tụng tập, sự hành khổ hạnh, sống Phạm hạnh. Vị ấy do sống Phạm hạnh cho nên được hỷ, được duyệt.
“Này Ma-nạp, nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện, Ta nói sự kiện ấy từ tâm mà khởi. Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, tâm ấy đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ; cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ; cũng vậy, với bi và hỷ. Tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.
“Này Ma-nạp, cũng như có người khéo thổi tù và. Nếu có phương nào chưa nghe được, người ấy vào lúc nửa đêm, leo lên núi cao, đem hết sức thổi tù và, phát ra âm thanh vi diệu, biến mãn cả bốn phương; cũng vậy, Tỳ-kheo tâm đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ; cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cả thế gian, thành tựu an trụ; cũng vậy với bi và hỷ. Tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ở đây, có người cầu làm Trời. Vì để sanh lên trời, nên người ấy thực hành tâm tương ưng với tham lam, và
_______________________________________
23 Pl.: bhikkhu saccavādī hoti, “Tỳ kheo là người nói sự thật.”
24Pl.:  labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃpāmojjaṃ , “đạt được tín thọ nghĩa, tín thọ pháp. hỷ tương ưng với pháp.” Sớgiải (MA i. 172): đạt được tín thọ nghĩa là thành tựu bất hoại tín nơi Phật( buddhe aveccappasādena samannāgatomhī ti labhati atthavedan ti sambandho ).
25 Pl.:yaṃ taṃ kusalūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ, cittassāhaṃ etaṃ parikkāraṃ vadāmi,“những gì là hỷ tương ưng với thện, Ta nói đó là tư cụ của tâm.”
nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Trời này, hay vị Trời khác.’ Lại có người cầu làm Trời; vì để sanh lên trời, nên không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, tâm định, ý xác quyết, biến mãn, thành tựu an trụ, và nghĩ rằng. ‘Mong ta làm vị Trời này, hay vị Trời khác.’ Ngươi xem các người đó, ai được làm vị Trời này hay vị Trời khác?”
Ma-nạp Anh Vũ đáp:
“Bạch Cù-đàm, nếu có người cầu làm Trời; vì để sanh lên trời, nên không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, tâm định, ý xác quyết, biến thành tựu an trụ, con xem người ấy chắc chắn được làm vị Trời này hay vị Trời khác.”
Thế Tôn hỏi:
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có người cầu Phạm thiên. Vì để sanh lên Phạm thiên, nên thực hành tâm tương ưng với tham lam, và nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Phạm thiên này, hay vị Phạm thiên khác.’ Ở đây, lại có người cầu Phạm thiên. Vì để sanh lên Phạm thiên, nên không kết, không oán, không sân nhuế, [670a] không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, tâm định, ý xác quyết, biến mãn, thành tựu an trụ, và nghĩ rằng, ‘Mong ta làm vị Phạm thiên này hay vị Phạm thiên khác.’
Ngươi xem các người đó, ai được làm Phạm thiên này, hay Phạm thiên khác?”
Ma-nạp Anh Vũ đáp:
“Bạch Cù-đàm, nếu người này cầu Phạm thiên, vì để sanh lên Phạm thiên, nên không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, tâm định, ý xác quyết, con thấy rằng, người này chắc chắn được làm vị Phạm thiên này, hay vị Phạm thiên khác.”
Ma-nạp Anh Vũ lại hỏi:
“Cù-đàm biết con đường dẫn đến Phạm thiên26 chăng?”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Ma-nạp, nay Ta hỏi ngươi, hãy tùy theo sự hiểu biết mà trả lời.
________________________________
26  Hán: Phạm đạo tích 梵道跡. Pāli:  brahmānaṃ sahavyatāya maggaṃ , con đường dẫn đến cộng trú với Phạm thiên.
Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Thôn Na-la-ca-la 27 cách chúng hội này không xa chăng?”
Ma-nạp AnhVõ đáp:
“Không xa.”
Thế Tôn nói:
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Ngươi nói với một người trong chúng hội này rằng: ‘Ông hãy đến thôn Na-la-ca-la kia. Đến đó rồi quaỷ về.’ Người ấy vâng lời ngươi, nhanh chóng đi đến thôn Na-la-ca-la; đến đó rồi trở về. Sau khi người ấy đi và về rồi, ngươi hỏi đường đi, hỏi sự việc đi và về, ra và vào nơi thôn Na-la-ca-la, người ấy há lại đứng im, không thể trả lời chăng?”
Ma-nạp Anh Vũ trả lời Đức Thế Tôn:
“Không vậy, bạch Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn nói:
“Này Ma-nạp, người ấy đi và về nơi thôn Na-la-ca-la, khi được hỏi về đường đi, có thể đứng im, không biết trả lời. Nhưng nếu hỏi Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác về con đường dẫn đến Phạm thiên thì hoàn toàn không có sự kiện giây lát im lặng, không biết trả lời.”
Ma-nạp Anh Vũ bạch Thế Tôn:
“Sa-môn Cù-đàm không chấp trước nơi sự tế tự chư Thiên; sự kiện ấy đã trọn đủ. Bởi vì khi được hỏi về con đường dẫn đến Phạm thiên thì Ngài có thể trả lời nhanh chóng.
“Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã rõ. Nay con xin tự quy y Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm Ư-bà-tắc, kể từ hôm nay quy y cho đến lúc mạng chung.”
Đức Phật thuyết như vậy, Ma-nạp Anh Vũ sau khi nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
___________________________________
27 Na-la-ca-la thôn 那羅迦邏村. Pāli: Naḷakāra, thôn phụ cận Xá-vệ.
/81
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »