Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung A-Hàm Tập 2

Kinh Trung A-Hàm Tập 2

Tác giả: Hán Dịch: Tam Tạng Tăng-Già-Đề-Bà. Dịch giả: Việt Dịch: Tuệ Sỹ. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 652.

Kinh Trung A-Hàm (Madhyama Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 1 và Quyển thứ 2 (Kinh số 26), gồm 60 quyển chia thành 5 tập (Thiên) và 18 phẩm, chứa tổng cộng 222 bài kinh.
Bộ kinh này do hai ngài Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva) và Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào thời Đông Tấn.

Vị trí và Bản chất giáo lý

• Bản chất giáo lý Nguyên thủy: Dù được lưu giữ bằng chữ Hán trong Hán tạng, nhưng Kinh Trung A-hàm không mang tư tưởng phát triển của Đại thừa. Đây là một trong bốn bộ kinh A-hàm nền tảng chứa đựng những lời dạy nguyên sơ, chân thực nhất của Đức Phật Thích Ca và các đại đệ tử.
• Ý nghĩa tên gọi "Trung": Chữ "Trung" ở đây chỉ độ dài mang tính chất trung bình (vừa phải) của các bài kinh. Bộ kinh này tập hợp những bài giảng không quá dài (như Trường A-hàm) nhưng cũng không quá ngắn (như Tạp A-hàm hay Tăng Nhất A-hàm).
• Bản dịch đối chiếu: Bộ Kinh Trung A-hàm của Hán tạng có nội dung hoàn toàn tương đồng và đối chiếu trực tiếp với bộ Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya, gồm 152 bài kinh bản Pali) của Phật giáo Nam truyền (Nguyên thủy). Tuy nhiên, số lượng bài kinh và sự sắp xếp các phẩm giữa bản Hán dịch và bản Pali có một số điểm khác biệt do xuất phát từ các bộ phái kết tập khác nhau thời Ấn Độ cổ đại.
Tại Việt Nam, bản dịch đầy đủ, chính thức và uy tín nhất của bộ Kinh Trung A-hàm (Hán dịch) sang tiếng Việt thuộc về công trình dịch thuật vĩ đại của Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về bộ kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn đối chiếu một bài kinh cụ thể xem nó nằm ở đâu giữa Trung A-hàm (Hán tạng) và Trung Bộ (Pali) không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu về phương pháp phân loại kinh văn của hệ thống A-hàm?

Chương 73: 215. Kinh Đệ Nhất Đắc (Trang 607 - 612)

215. KINH ĐỆ NHẤT ĐẮC
 
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, [799c] vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Trong cảnh giới nào giáo lệnh của Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la có thể ban hành đến, trong đó Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la là đệ nhất. Tuy vậy, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cũng lệ thuộc sự biến dịch, thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy ắt phải sanh ra nhàm tởm cái đệ nhất ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không ham muốn, huống nữa là cái hạ tiện.
“Những cảnh giới mà ánh sáng của mặt trời, mặt trăng chiếu đến, những phương được chiếu đến, tức Thế giới Ngàn 1 . Trong Thế giới Ngàn này, cómột ngàn mặt trời, một ngàn mặt trăng, một ngàn châu Phất-vu-đãi 2 , một ngàn châu Diêm-phù  3 , một ngàn châu Câu-đà-ni 4 , một ngàn châu Uất-đơn-việt 5 , một ngàn Tu-di sơn 6 , một ngàn Tứ đại vương thiên, một ngànTứ thiên vương tử 7 , một ngàn Tam thập tam thiên 8 , một ngàn Thích Thiên Nhân-đà-la 9 , một ngàn Diệm-ma thiên 10 , một ngàn Tu-diệm-ma thiên tử 11 , một ngàn Đâu-suất-đà thiên 12 , một ngàn Đâu-suất-đà thiên tử, một ngàn Hóa lạc thiên 13 , một ngàn Thiện
________________________
1  Thiên thế giới 千世界. Pāli:  sahassadhā-loka =  sahassīlokadhātu .
2  Phất-vu-đãi 弗于逮, hay châu Đông thắng thân. Pāli: Pubbavideha.
3  Diêm-phù châu 閻浮洲. Pāli: Jambudīpa.
4  Câu-đà-ni châu 拘陀尼洲. Pāli: Godānīya. Hoặc nói: Aparagoyāna.
5  Uất-đan-việt châu 鬱單越洲. Pāli: Uttarkuru.
6  Tu di sơn 須彌山. Pāli: Sinerupabbata.
7  Tứ thiên vương tử 四天王 . Pāli: Cātummahārājikā.
8  Tam thập tam thiên 三十三天 hay Đao-lợi thiên. Pāli: Tāvatiṃsa.
9  Thích Thiên Nhân-đà-la 釋天因陀羅, tức Thiên Đế Thích. Pāli: Sakka devanam inda.
10  Diệm-ma thiên 焰摩天. Pāli: Yāma.
11  Bản Thánh không có. Bản Pāli cũng không có.
12  Đâu-suất-đa 兜率哆天. Pāli: Tusita.
13  Hóa lạc thiên 化樂天. Pāli: Nimmānaratā.
hóa lạc thiên tử 14 , một ngàn Tha hóa lạc thiên 15 , một ngàn Tự tại thiên tử 16 , một ngàn Phạm thế giới 17 , và một ngàn Biệt phạm. Trong đó có Phạm Đại Phạm, là đấng Phú hựu, là Tạo hóa tôn, là tổ phụ các loài chúng sanh, đã sanh và sẽ sanh 18 . Nhưng Đại Phạm ấy cũng là lệ thuộc biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, ắt phải nhàm tởm cái đệ nhất ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất không ham muốn huống là cái hạ tiện.
“Một thời gian sau, khi thế giới này hủy diệt. Khi thế giới này hủy diệt, chúng sanh lên cõi trời Hoảng dục 19 . Trong ấy chỉ có sắc nương theo ý mà sanh 20 , các chi thể đầy đủ không thiếu, các căn không bị hư hoại, nuôi sống bằng hỷ thực 21 , hình sắc thanh tịnh, thân chiếu sáng, phi hành trong hư không, sống ở đó một thời gian lâu dài. Nhưng cõi trời Hoảng dục cũng lệ thuộc biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, ắt phải sanh ra nhàm tởm sự ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.
“Lại nữa, có bốn sự tưởng 22 . Tỳ-kheo suy tưởng về tưởng nhỏ, tưởng lớn, về tưởng vô lượng và tưởng vô sở hữu. Chúng sanh đó thắng ý nơi lạc tưởng như vậy 23 cũng lệ thuộc vào sự biến dịch, lệ thuộc vào thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.
“Lại có tám trừ xứ 24 . Thế nào là tám? Tỳ-kheo bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc lượng nhỏ hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu, đối với các
___________________
14  Thiện hóa lạc thiên tử. Bản Pāli không kể.
15  Tha hóa lạc thiên 他化樂天. Pāli: Paranimmitavasavattī.
16  Tự tại thiên tử 自在天子. Bản Pāli không kể.
17  Phạm thế giới 梵世界. Pāli: Brahmaloka.
18  Bản Pāli chỉ nói gọn: Mahābrahmā tattha aggam akkhāyati, ở đây Đại Phạm thiên được coi là cao nhất.
19  Hoảng dục thiên hay Quang âm thiên, Cực quang thiên; xem cth.8, kinh 8 trên.
20  Ý sanh 意生. Pāli:  manomayā .
21  Hỷ thực 喜食. Pāli: pītibhakkhā .
22  Tứ tưởng 四想. Xem  Tập dị 6 . (No.1536, tr.392a-b).
23  Chỉ các chúng sanh trên cõi Vô sở hữu xứ.
24  Bát trừ xứ 八除處; nhưng thường nói Bát thắng xứ 八勝處, Pāli,aṭṭha abhibhāyatanāni (xem  Tập dị 19 , No. 1536, tr.445b và tt).
sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến 25 , tưởng như vậy được gọi là đệ nhất thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc vô lượng, hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu, đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ nhị thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong [800a] không có sắc tưởng, bên ngoài quán sắc lượng nhỏ, hoặc sắc đẹp hoặc sắc xấu. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ tam thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc vô lượng, hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ tứ thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc hoặc xanh, màu xanh, ánh sáng xanh. Cũng như hoa thanh thủy 26 xanh, màu xanh, ánh sáng xanh. Cũng như áo bằng lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, hoặc xanh, màu xanh, ánh sáng xanh. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc hoặc xanh, màu xanh, ánh sáng xanh. Vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ ngũ thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc, hoặc vàng, màu vàng, ánh sáng vàng. Cũng như hoa tần-đầu-ca-la 27 vàng, màu vàng, ánh sáng vàng. Cũng như chiếc áo bằng thứ lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mắt, vàng, màu vàng, ánh sáng vàng. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc, hoặc vàng, màu vàng, ánh sáng vàng; vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ lục thắng xứ.
_______________________
25  Nguyên Hán: trừ dĩ tri, trừ dĩ kiến 除已知除已見.  Tập dị ibid.: thắng tri thắng kiến (thấy siêu việt và biết siêu việt), và giải thích: đã đoạn trừ và siêu việt lục tham mà có thắng tri thắng kiến.
26  Thanh thủy hoa 青水華.  Tập dị : ô-mạt-ca hoa 烏莫迦花,  umāpuppha , hoa hồ tô (?).
27  Tần-đầu-ca-la 頻頭歌羅. Tập di : bà-đậu-thì-phược-ca hoa 槃豆時縛迦花.  Pāli:  bandhujīvakapuppha , loại hồng tàu. Bản Hán này có lẽ nhầm, vì loại hoa này màu đỏ,  Tập dị và bản A 10.29 (v. 62) đều nói hoa này trong thắng xứ màu đỏ.
 “Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc hoặc đỏ, màu đỏ, ánh sáng đỏ. Cũng như hoa gia-ni-ca-la 28 màu đỏ, đỏhiển, đỏ hiện, đỏ quang. Cũng như chiếc áo bằng thứ lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, đỏ, màu đỏ, ánh sáng đỏ. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc, hoặc đỏ, màu đỏ, ánh sáng đỏ, vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ thất thắng xứ.
“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc, hoặc trắng, màu trắng, ánh sáng trắng. Cũng như sao Thái bạch 29 màu trắng, màu trắng, ánh sáng trắng. Cũng như chiếc áo bằng lụa Ba-la-nại, được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, trắng, màu trắng, ánh sáng trắng. Cũng vậy Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán các sắc, trắng, màu trắng, ánh sáng trắng, vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến, tưởng như vậy được gọi là [800b] đệ bát thắng xứ.
“Chúng sanh có thắng ý nơi lạc thắng xứ như vậy, cũng lệ thuộc vào sựbiến dịch. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy ắt sanh nhàm tởm sự ấy.Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạtiện.
“Lại nữa, có Mười biến xứ 30 . Thế nào là mười? Các Tỳ-kheo tu tập nơi ưới, các phương là không hai, vô lượng. Nhưng các chúng sanh có thắng ý nơi biến xứ lạc này cũng lệ thuộc vào sự biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán tưởng như vậy ắt sanh ra nhàm tởm sự ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.
“Và đây là thuyết thanh tịnh đệ nhất, là sự thi thiết tối đệ nhất, tức là
______________________
28 Gia-ni-ca-la 加尼歌羅華. Pl.:  kaṇikārapupphaṃ .
29 Thái bạch 太白.  Tập dị : Ô-sa-tư tinh 烏沙斯星. Pl.:  osadhitārakā .
30  Thập nhất thiết xứ 十一切處 hay biến xứ. Pāli:  dasa kasiṇāyatanāni.
‘Ta không có, ta không hiện hữu 31 ’ và để chứng đắc điều này mà thiết lập nơi đạo.
“Và đây là đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ 32 , tức là vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến chứng phi hữu tưởng, phi vô tưởng, thành tựu an trụ 33 .
“Và đây là đệ nhất thú hướng, Niết-bàn ngày trong hiện tại, là thi thiết tối thượng về Niết-bàn ngay trong hiện tại 34 tức là sáu xúc xứ 35 với sự khởi tập, hoại diệt, vị ngọt, tai hoạn và xuất ly được thấy như thật bằng tuệ.
“Lại nữa, có bốn đoạn 36 . Thế nào là bốn? Có sự đoạn lạc mà chậm 37 , có sự đoạn lạc mà nhanh, có sự đoạn khổ mà chậm, có sự đoạn khổ mà nhanh. Trong đó sự đoạn lạc mà chậm là lạc đưa đến đoạn trừ chậm chạp 38 cho nên nói là lạc kém. 39 * Trong đó, sự đoạn mà lạc nhanh, là lạc đưa đến đoạn trừ một cách mau chóng. Cho nên đoạn này cũng được nói là thấp kém.
“Trong đó, sự đoạn mà khổ chậm 40 là khổ đưa đến đoạn trừ một cách
____________________
 31  Ngã vô, ngã bất hữu 我無我不有, A 10. 29, trường hợp này được gọi là:Ngoại y kiến xứ ( bāhirakānaṃ diṭṭhigātaṃ ), y xứ của kiến chấp ngoại đạo:  no cassaṃ, no ca me siyā, na bhavissāmi, na me bhavissati , “Tôi đã không hiện hữu, có thể không có cái của tôi; tôi sẽ không hiện hữu, sẽ không có cái của tôi.”
32  Đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ; tối thượng ngoại kiến xứ, hay nói rõ hơn: “Đây là tối thượng đối với quan điểm ngoại đạo” và kiến xứ cao nhất ở đây được coi như là đạt đến hữu ngã. Pl.:  etadaggaṃ bāhirakānaṃ diṭṭhigatānaṃ ; xem cht. 32 trên.
33  Trong bản Hán này, kiến xứ, hay quan điểm, cao nhất của ngoại đạo là đạt đến bốn vô sắc xứ, khác với Pāli coi bốn vô sắc xứ này là thi thiết thanh tịnh đệ nhất nghĩa.
34  Ư hiện pháp trung, tối thi thiết Niết-bàn 於現法中最施設涅槃. Pāli:  aggam paramadiṭṭhadhammanibbānam paññāpentānaṃ .
35  Nguyên Hán: lục cánh lạc xứ 六更樂處.
36  Hán: đoạn 斷: thông hành. Pāli:  catasso paṭipadā
37  Tập đị, Pháp uuẩn : lạc trì thông hành.
38  Đặc tính của bốn tĩnh lự là hiện pháp lạc trú, và do đây mà tiến đến chứng đắc bốn Thánh quả, hoặc nhanh hoặc chậm. (Xem giải thích  Pháp uẩn 3, No.1537, tr.465).
39  Từ đây trở xuống dịch theo phần hiệu đính cuối kinh (800c1-14), trong  nguyên văn để bản không có, nhưng đã có giải thích “sự đoạn mà lạc chậm” hay lạc trì thông hành, thì ba thông hành kia tất nhiên cũng được giải thích. Bản Pāli chỉ nêu danh số, không có giải thích.
40  Tức khổ trì thông hành theo Tập dị. Giải thích của  Pháp uẩn ibid.: coi ngũ uẩn như là sự lăng nhục, thương tổn, bức thiết như gánh nặng, căn cứ trên đó mà quán sát nhàm tởm. Như vậy gọi là Khổ (...) thông hành (lược trích). chậm chạp, cho nên đoạn này cũng được nói là thấp kém.
“Trong đó, sự đoạn mà khổ nhanh, là khổ đưa đến đoạn trừ một cách mau chóng. Cho nên đoạn này không phải là sự tiến triển, không được lưu bố. Cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng không tán thán và phát triển.
“Sự đoạn 41 của ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng tán thán và phát triển.
“Thế nào là sự đoạn của Ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng tán thán, lưu bố? Đó là Thánh đạo tám chi, chánh kiến cho đến chánh định là tám.
“Ta như vậy 42 . Nhưng các Sa-môn, Bà-la-môn, hư ngụy, nói láo, bất thiện, không chân thật, xuyên tạc, và hủy báng Ta rằng, ‘Quả thật có chúng sanh được tuyên bố là đoạn hoại. 43 Sa-môn Cù-đàm chủ trương hư vô 44 .’ Quả thật có chúng sanh được tuyên bố là đoạn hoại, 45 nếu không, Ta không thuyết giảng như vậy. Như Lai ngay trong đời hiện tại đã vĩnh viễn đoạn trừ tất cả mà chứng đắc Niết-bàn tịch tịnh, diệt tận 46 .”
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành. 47
_______________________
41  Đoạn, nói là thông hành, hay nói là đạo và đạo tích đều cùng một nghĩa và cùng một nguồn gốc, cùng tương đương Pāli:  paṭipadā .
42  Nên hiểu là: “Ta nói như vậy, giảng dạy như vậy”.
43 Nghĩalà, sau khi chết không còn tái sanh.
44  A 10. 29 (v. 64): “Sa-môn Cù-đàm không giảng giải sự biến tri về dục, (...) về sắc, (...) về thọ”.
45 Chỉ A-la-hán không còn tái sanh.
46  Đoạn kết luận trên đây gần với bản Pàli, với một ít khác biệt (xem cth.43 trên), nhưng hoàn toàn khác nguyên văn trong để bản. Nguyên văn đó như vầy: (xem đoạn Lạc trì thông hành, và một câu lỡ dỡ về lạc tốc thông hành, từ chỗ có dấu hoa thị): “Nếu có người đoạn lạc dục. Hoặc có người tập pháp này không bao giờ thấy chán. Hoặc có người tập uống rượu không bao giờ thấy chán. Hoặc có người tập sự ngủ nghỉ không bao giờ thấy chán. Này Tỳ-kheo, đó là nói hoặc có người tập ba pháp này không bao giờ thấy chán, và cũng không thể đi đến chỗ diệt tận. Cho nên, các Tỳ-kheo hay thường xả ly ba pháp này, không thân cận chúng. Như vậy, các Tỳ-kheo hãy học như vậy.
47 Bản Hán, hết quyển 59. Cuối quyển 59, có bài kệ, không thấy có liên hệ gì đến các Kinh trước: 供養三善根三痛三覆露相法三不覺愛敬無厭足“Cúng dương, ba thiện căn, Ba thống, ba phú lộ, Tướng pháp, ba bất giác, Ái kính, không yểm túc.”
/81
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »