186. KINH CẦU GIẢI
[731b2] Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú Câu-lâu-sấu, tại đô ấp Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu 1 .
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Duyên nơi ý của mình mà không biết như thật về tâm trí của người khác 2 không thể biết được sự Giác ngộ Chánh đẳng của Thế Tôn. Vậy làm thế nào để tìm hiểu 3 Như Lai?”
Khi ấy các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc của pháp, Thế Tôn là chủ của pháp, pháp do nơi Thế Tôn mà có. Ngưỡng mong Ngài thuyết cho, chúng con nghe được rồi sẽ thấu rõ nghĩa lý.”
Phật liền bảo rằng:
“Này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe rõ và khéo suy nghĩ! Ta sẽ phân biệt đầy đủ cho các ông nghe.”
Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời mà lắng nghe.
Thế Tôn bảo rằng:
“Duyên nơi ý của mình mà không biết như thật về tâm trí của người khác, phải do hai sự kiện để tìm hiểu Như Lai, một là sắc được biết bởi mắt và hai là tiếng được nghe bởi tai.
“Pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có hay không có nơi Tôn giả ấy 4 ? Sau khi tìm hiểu, biết rằng pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đây không có, lại phải tìm hiểu nữa.
___________________________
1 Câu-lâu-sấu, xem các kinh 177, 175.
2 M 47 (i. 317): vīmaṃsakena bhikkhunā parassa cetopariyāyam ājānantena tathāgate samannesanā kātabbā, sammāsambuddho vā no vā ti viññāṇāyā ti, “Tỳ-kheo tư sát muốn biết tâm tư người khác của người khác cần phải suy cầu nơi Như lai để biết rằng Ngài có phải là Chánh đẳng giác hay không.”
3 Cầu giải 求解: ước mong nhận thức. Pāli: samannesanā . Sớ giải: esanā pariyesanā upaparikkhā , tầm cầu, biến tầm cầu, quán sát. Đại ý đoạn văn: “làm sao biết Như Lai có phải là Chánh đẳng giác hay không?”
4 M 47: nơi Như Lai ( saṃvijjanti vā te tathāgatassa no vā ti ).
“Pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai 5 , có hay không có nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu, biết rằng những pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai không có nơi Tôn giả ấy. Nếu ở đây không có, phải tìm hiểu thêm nữa.
“Pháp bạch tịnh được biết bởi mắt và tai, có hay không có nơi Tôn giả ấy? Sau khi tìm hiểu, biết rằng pháp bạch tịnh được biết bởi mắt và tai có nói Tôn giả ấy. Nếu ở đây có, lại phải tìm nữa.
“Tôn giả ấy đã thực hành pháp ấy lâu dài hay chỉ thực hành tạm thời? Nếu khi tìm hiểu, biết rằng Tôn giả ấy thực hành pháp ấy lâu dài chứ không phải tạm thời. Nếu là thường thực hành, lại phải tìm hiểu thêm nữa.
“Tôn giả ấy nhập vào thiền này 6 vì danh dự, vì lợi nghĩa, 7 hay không vì danh dự và lợi nghĩa? Nếu khi tìm hiểu, biết rằng Tôn giả ấy nhập vào thiền này không phải vì tai hoạn.
“Nếu có người nói như vầy, ‘Tôn giả ấy hành an lạc 8 không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận 9 ’, thì nên hỏi người ấy rằng, ‘Này Hiền giả, với hành vi nào, với năng lực nào, với trí tuệ nào để Hiền giả có thể tự mình nhận xét chân chánh rằng, Tôn giả ấy hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận?’ Nếu người ấy trả lời như vầy, ‘Tôi không biết tâm trí của vị ấy, cũng không phải do sự kiện nào khác mà biết. Nhưng vị Tôn giả ấy, hoặc khi sống một mình, hoặc khi ở giữa đại chúng, [731c] hoặc ở giữa chỗ tập họp, nơi đó hoặc có Thiện thệ hay những người thọ hóa bởi Thiện thệ 10 , hoặc là bậc Tông chủ, hoặc là người được thấy bởi vật
___________________________
5 Pháp hỗn tạp, lẫn lộn cả tịnh và nhiễm. M 47: vītimissā cakkhusotaviññeyyā dhammā . Sớ giải: pháp hỗn tạp (vītimissā) là pháp đa tạp (vomissakā) lẫn lộn khi đen, khi trắng ( kāle kaṇhā kāle sukkāti ).
6 Bản Hán: bỉ Tôn giả…nhập thử thiền, 彼尊者… 入此禪. M 47: ñattajjhāpanno āyasmā bhikkhu , “Tôn giả Tỳ-kheo nổi tiếng này,” Sớ giải: ayam āyasmā amhākaṃ satthā bhikkhu (…) “Vị Trưởng lão này là Tỳ kheo Tôn sư của chúng ta.”
7 M 47: yasapatto nāssa idhekacce ādīnavā saṃvijjanti , “khi nổi tiếng, có những tai hại nào xảy ra cho vị ấy không?”
8 Hán: lạc hành 樂行; Pāli: uparata , tự kềm chế, loại trừ.
9 M 47: vitarāgattā kāme na sevati khayā rāgassā ti , không hành theo dục, vì đã ly dục, diệt tận dục.
10 Thiện thệ, vi thiện thệ sở hóa 善逝為善逝所化. M 47: ye ca tattha sugatā ye ca tattha duggatā , “những người ở nơi đó là thiện hành hay ác hành”. Sugatā, bản Hán hiểu là danh hiệu Phật. Sớ giải: thiện hành, sugatā , chỉ các Tỳ kheo hành trì chân chánh, thiện
dục 11 , này Hiền giả, tôi cũng không tự mình hiểu biết vị ấy 12 . Tôi nghe từ chính Tôn giả ấy mà trực tiếp ghi nhận như vầy, ‘Ta hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận’ Này Hiền giả, với hành vi như vậy, với năng lực như vậy, với trí tuệ như vậy, khiến tôi tự mình nhận xét chân chánh mà nói rằng, ‘Tôn giả ấy hành an lạc không phải vì sợ hãi; ly dục, không hành dục, vì dục đã diệt tận.’
“Trong đây lại cần phải hỏi thêm nữa về Như Lai, ‘Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng? Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng? Nếu có pháp bạch tịnh, có trường hợp pháp ấy bị diệt tận vô dư chăng?’ Như Lai bèn trả lời người ấy rằng, ‘Nếu có pháp ô nhiễm được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt tận vô dư. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, có trường hợp pháp này bị diệt tận vô dư.’
“Nếu có pháp ô nhiễm được nhận biết bởi mắt và tai, Như Lai diệt tận, đoạn trừ, nhổ tuyệt gốc rễ, không bao giờ sanh khởi trở lại nữa. Nếu có pháp hỗn tạp được biết bởi mắt và tai, Như Lai diệt tận, đoạn trừ, nhổ tuyệt gốc rễ, không bao giờ sanh trở lại nữa. Nếu có pháp bạch tịnh, thì Ta với pháp bạch tịnh như vậy, cảnh giới như vậy, đạo Sa-môn như vậy, Ta như vậy mà thành tựu Chánh pháp luật này.
“Có đệ tử tịnh tín đến thăm viếng Như Lai, phụng sự Như Lai, nghe pháp từ Như Lai, và được Như Lai nói pháp cho, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch. Sau khi được Như Lai nói pháp cho nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch; nghe như vậy như vậy rồi, vị ấy biết tường tận 13 pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác’ vậy.
“Ở đây, lại cần hỏi thêm vị ấy rằng, ‘Này Hiền giả, do hành vi nào, do
_____________________________
xảo ( suppaṭīpannā ). Ác hành, chỉ các Tỳ kheo hành trì không thiện xảo ( duppaṭipannā ).
11 Nhân thực khả kiến 因食可見, do ăn mà được thấy (xuất hiện). M 47: ye ca idhekacce āmisesu sandissati , một số người ở đây bị lôi cuốn theo vật dục. Bản Hán hiểu sandissati (bị lôi cuốn) là được thấy (khả kiến), do gốc động từ passati (thấy).
12 Ngã bất tự tri 我不自知. M 47: nāyasmā taṃ tena avajānāti , Tôn giả ấy không vì vậy mà khinh bỉ người đó.
13 Hán: tri đoạn 知斷; Pāli: abhiññāya , thắng tri.
năng lực nào, do trí tuệ nào để Hiền giả có thể biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác?’ Vị ấy sẽ trả lời như vầy, ‘Này Hiền giả, tôi không biết tâm của Thế Tôn, cũng không do sự kiện nào khác mà biết. Tôi do nơi Thế Tôn mà có tịnh tín như vậy. Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch. Này Hiền giả, như Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, và tôi nghe như vậy như vậy, Như Lai nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch, và tôi nghe như vậy như vậy rồi, biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, [732a] tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác.’ Này Hiền giả, tôi do hành vi như vậy, năng lực như vậy, trí tuệ như vậy, khiến tôi biết tường tận pháp một, đối với các pháp mà chứng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh Đẳng Giác.’’
“Nếu ai có hành này, lực này, trồng sâu gốc rễ tịnh tín nơi Như Lai, tín căn đã vững, thì được gọi là tín tương ưng với trí bất hoại, do thấy được gốc rễ. Sa-môn, Bà-la-môn, Chư thiên, Ma, Phạm và các hàng thế gian khác không thể tước đoạt được. Hãy như vậy mà tìm hiểu Như Lai. Hãy như vậy mà nhận biết chính đáng về Như Lai.”
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.