cũng như hư không. Năm ấm không đáy, không biên tế; các pháp không đáy, bốn đại không đáy nên Bát-nhã ba-la-mật cũng không đáy. Không, là không có ngằn mé. Biển lớn không có ngằn mé, các pháp không có ngằn mé, nên Bát-nhã ba-la-mật cũng không ngằn mé. Ví như núi Tu-di, tất cả trang nghiêm tốt đẹp, Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy.
Các pháp không bị phá hoại, các pháp không thể thấy được, các pháp không chỗ nhận lấy, các pháp không có sở hữu, các pháp không thể nghĩ bàn, nên biết Bát-nhã ba-la-mật không bị phá hoại, cũng không thể có, không có chỗ nhận, cũng không có sở hữu không thể nghĩ bàn cũng như vậy.
Ngay khi ấy, tại chỗ ngồi Tát-đà-ba-luân đắc các pháp Tam-muội Bình đẳng; Tam-muội Các pháp vắng lặng; Tam-muội Bất động, Tam-muội Vô ỷ; Tam-muội Vô úy; Tam-muội Nhất vị, Tam-muội Vô sinh; Tam-muội Vô diệt; Tam-muội Hư không; Tam-muội năm ấm vô để; Tam-muội Các pháp vô để; Tam-muội Tứ đại vô biên; Tam-muội Hư không tánh; Tam-muội Như hải; Tam-muội Như Tu-di sơn; Tam-muội Kim cang, Tam-muội Vô sở phá hoại, Tam-muội Vô sở đắc, Tam-muội Vô sở thọ; Tam-muội Vô sở hữu; Tam-muội Chẳng thể nghĩ bàn; Tam-muội Như thị đẳng; được sáu vạn môn Tam-muội như vậy.
Phẩm 90: CHÚC LỤY
Phật bảo Tu-bồ-đề:
–Lúc đó, Bồ-tát Tát-đà-ba-luân đắc sáu vạn Tam-muội rồi, thấy hằng hà sa số mười phương tam thiên đại thiên quốc độ, thấy các Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác và Tỳ-kheo Tăng đại chúng vây quanh thuyết Ba-la-mật, cũng như ta ngày nay, vì các ông thuyết Bát-nhã ba-la-mật. Mười phương chư Phật cũng như vậy, tên là Thích-ca Văn.
Bồ-tát Tát-đà-ba-luân học hỏi đầy đủ nên trí tuệ như biển, luôn
luôn sinh vào chỗ có Phật, gần gũi Đức Phật, ở trong chiêm bao cũng nhớ đến Phật, vượt qua các nạn đã được tự tại.
Cho nên, Tu-bồ-đề, phải biết Bát-nhã ba-la-mật làm cho các Đại Bồ-tát đạt đến Nhất thiết trí. Nếu Bồ-tát muốn học sáu pháp Ba-la-mật, muốn đạt Nhất thiết trí, cảnh giới chư Phật, thì nên học hành Bát-nhã ba-la-mật nên thọ trì giữ gìn đọc tụng, giảng nói ý nghĩa rộng rãi bên trong cho mọi người. Đem hoa đẹp, hương thơm, tràng phan, lọng báu của mình bằng nhiều phương tiện đem cúng dường cho ngài. Vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật là chỗ tôn trọng của chư Phật, là pháp đứng đầu các pháp.
Phật bảo A-nan:
–Ý ông thế nào? Ông có tôn trọng kính mến Như Lai không?
A-nan đáp:
–Dạ vâng thưa Thế Tôn, con kính mến Như Lai, điều ấy Như Lai tự biết.
Phật nói:
–Ông thật kính mến Như Lai. Này A-nan, ông theo ta từ trước đến nay, thân, khẩu, ý ông thường từ hòa tốt đẹp. Nay ta đã già, ông đã làm hoàn tất công việc cúng dường của người đệ tử. Ông từ nay trở đi cung kính vâng thờ Bát-nhã ba-la-mật.
Thế Tôn đã chúc lụy ba lần như vậy.
Vì sao Ngài ân cần tôn trọng như thế? Là vì Ngài muốn làm cho Bát-nhã ba-la-mật không đoạn diệt. Nếu bị đoạn diệt thì tất cả chúng sinh chịu cảnh mù tối. Ở đời, nếu Bát-nhã ba-la-mật không bị đoạn tuyệt thì chư Phật Như Lai cũng không đoạn tuyệt. Nếu Bát-nhã ba-la-mật bị đoạn tuyệt thì chư Phật Như Lai sẽ đoạn tuyệt.
Này A-nan! Nếu Bát-nhã ba-la-mật còn ở đời thì phải biết Như Lai thường trụ thuyết pháp. Tất cả chúng sinh không rời Phật, không rời việc thuyết pháp.
Này A-nan! Nếu có người biên chép, phúng tụng, nhớ nghĩ, tu hành giải nói nghĩa kinh và cúng dường quuyển kinh Bát-nhã ba-la-mật, lại dạy người khác biên chép phúng tụng, rộng nói cho người
hiểu thì phải biết người này thường gặp chư Phật, không lìa chư Phật.
Khi Phật nói như vậy, Bồ-tát Di-lặc, Trưởng lão Tu-bồ-đề, Tôn giả Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Phân-nậu-văn-đà-ni-tử, Ma-ha Câu-hy-la, Ma-ha Ca-chiên-diên, Hiền giả A-nan. Tất cả hội chúng, chư Thiên, A-tu-la, nghe Phật thuyết rồi, đều vui mừng đến trước Phật đảnh lễ.