Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Địa Tạng

Kinh Địa Tạng

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quang. Dịch giả: Hòa thượng Thích Trí Quang. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 278.

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện (gọi tắt là Kinh Địa Tạng) thuộc Kinh Tập Bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Đại Thừa). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Tập 13, Kinh số 412.
Kinh Địa Tạng gồm 3 quyển, chia làm 13 phẩm, do tam tạng pháp sư Thật-xoa-nan-đà (Siksananda, người xứ Vu Điền) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào thời nhà Đường.

Vị trí và Ý nghĩa cốt lõi của bộ kinh

• Bộ kinh về Đạo Hiếu của Phật giáo: Kinh Địa Tạng được xem là một bản kinh về chữ Hiếu tối thượng. Bối cảnh của kinh diễn ra tại cung trời Đao-lợi, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đăng đàn thuyết pháp trong suốt 3 tháng để hoằng pháp và độ thoát cho thân mẫu của Ngài là hoàng hậu Ma-da.
• Hạnh nguyện độ sinh của Bồ tát Địa Tạng: Kinh tôn vinh những đại nguyện vĩ đại mang tính giáo dục sâu sắc của Bồ tát Địa Tạng vương: "Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật; chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ-đề" (Địa ngục chưa trống rỗng, thề không thành Phật; chúng sinh độ hết rồi, mới chứng quả Bồ-đề).
• Nền tảng về Luật Nhân Quả: Kinh mô tả rất chi tiết, sinh động về các cảnh giới địa ngục, các loại tội khổ và danh hiệu của các tội nhân tương ứng với từng ác nghiệp (như bất hiếu, hủy báng Tam bảo, sát sinh, trộm cắp...). Từ đó, kinh răn dạy người đời bỏ ác làm lành, tích đức tu phước.
Tại Việt Nam, bản dịch nghĩa tiếng Việt phổ biến và được trì tụng nhiều nhất trong các khóa lễ cầu siêu, tuần thất hay báo hiếu thuộc về bản dịch của Cố Hòa thượng Thích Trí Tịnh.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về tác phẩm này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về 4 tiền thân tiêu biểu của Bồ tát Địa Tạng (như nàng Quang Mục hay mục nữ Bà-la-môn cứu mẹ) được kể trong kinh không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu ý nghĩa của việc trì tụng Kinh Địa Tạng cầu an hay cầu siêu trong đời sống hằng ngày?

Chương 8: Phẩm 3: Quán Sát Nghiệp Quả Chúng Sinh (Trang 89 - 98)

Phẩm 3: Quán Sát Nghiệp Quả Chúng Sinh (Trang 89 - 98)
Kinh Địa Tạng


Phẩm 3: Quán Sát Nghiệp Quả Chúng Sinh


Bấy giờ thân mẫu của đức Thế tôn là hoàng hậu Ma da, chắp tay một cách cung kính mà hỏi đức Địa tạng, bạch đại sĩ, người Diêm phù gây nghiệp dữ và chịu quả khổ như thế nào? Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, ngàn vạn thế giới hệ nơi có địa ngục nơi không, nơi có nữ nhân nơi không, nơi có Phật pháp nơi không, Thanh văn Duyên giác cũng vậy, nơi có nơi không, không phải chỉ có mỗi một việc
nghiệp quả địa ngục. Ma da hoàng hậu lại thưa, bạch đại sĩ, nhưng tôi xin nghe trước về nghiệp dữ, và đường dữ do nghiệp dữ ấy cảm ra, của người Diêm phù. Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, xin ngài nghe và tiếp nhận, tôi sẽ nói đại lược về điều ấy. Phật mẫu thưa, xin đại sĩ nói cho.
Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, tại châu Diêm phù phía nam này, nghiệp dữ gây quả khổ có những danh xưng như thế này. Kẻ nào bất hiếu đến nỗi sát hại cha mẹ thì sa vào vô gián ngục, một kiếp ngàn vạn ức năm cầu thoát mà khó mong thoát khỏi. Kẻ nào làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Tam bảo, khinh thường kinh pháp, cũng
sa vào vô gián ngục, một kiếp ngàn vạn ức năm cầu thoát mà khó mong thoát khỏi. Kẻ nào xâm phạm của tăng chúng thường trú, làm bẩn tăng ni, ngay trong chốn già lam mà mặc ý làm sự không phải phạn hạnh hay sự sát hại sinh mạng, thì sa vào vô gián ngục, một kiếp ngàn vạn ức năm cầu thoát mà khó mong thoát khỏi. Kẻ nào giả làm sa môn mà tâm hạnh không phải sa môn, lạm dụng của tăng chúng thường trú, lừa đảo thế nhân, vi phạm giới luật, tạo các nghiệp dữ, thì sa vào vô gián ngục, một kiếp ngàn vạn ức năm cầu thoát mà khó mong thoát khỏi. Kẻ nào trộm cắp tài vật, thóc gạo, đồ ăn, đồ uống và đồ mặc của tăng chúng thường trú, cho đến một vật không cho
mà lấy, thì sa vào vô gián ngục, một kiếp ngàn vạn ức năm cầu thoát mà khó mong thoát khỏi (31) . Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, những kẻ làm những nghiệp dữ trên đây thì phải sa vào vô gián ngục, nơi có năm sự không xen cách (32) , mong mỏi khổ sở tạm ngừng một lát cũng không thể có được.
Ma da hoàng hậu lại hỏi, bạch đại sĩ, vô gián ngục là gì? Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, địa ngục phần nhiều ở giữa dãy núi đại thiết vi. Loại lớn thì có mười tám sở. Loại kế đó thì có năm trăm, tên gọi khác nhau. Loại kế đó nữa thì có trăm ngàn, tên gọi cũng khác. Vô gián ngục là,
thành các địa ngục chu vi hơn tám vạn dặm, làm toàn bằng sắt; thành ấy cao một vạn dặm, trên thành lửa dồn lại, ít có chỗ trống; trong thành, ngục sở liền nhau nhưng tên gọi khác nhau, tựu trung có một ngục sở tên vô gián ngục. Ngục sở ấy chu vi một vạn tám ngàn dặm. Tường ngục cao một ngàn dặm, toàn làm bằng sắt; lửa trên suốt dưới, lửa dưới thấu trên; rắn sắt và chó sắt phun lửa mà đuổi tội nhân, lại bò và chạy qua lại trên tường ngục. Trong ngục có cái giường rộng đầy vạn dặm; một người thọ hình tự thấy thân mình nằm khắp mặt giường, mà ngàn vạn người cùng lúc thọ hình thì ai cũng tự thấy thân mình nằm khắp mặt giường. Do nghiệp dữ của những người
ấy mà cảm ra quả khổ như vậy.
Tội nhân vô gián ngục phải chịu đủ thứ cực hình. Trăm ngàn dạ xoa và quỉ dữ nanh như gươm, mắt như điện, móng như đồng, móc kéo tội nhân. Dạ xoa khác, cầm kích sắt lớn mà đâm tội nhân, vào mình, vào miệng, vào mũi, vào bụng, vào lưng, rồi dồi lên trên không mà giơ kích đỡ lấy, hoặc xóc để trên giường. Chim ưng bằng sắt ăn mắt tội nhân. Rắn sắt quấn cổ tội nhân mà xiết. Cả trăm đốt và khớp của cơ thể đều bị đóng đinh dài. Lưỡi bị lôi ra mà cày, ruột bị rút ra mà chặt, miệng bị rót nước đồng sôi, mình bị quấn giây sắt nóng. Chết đi sống lại cả ngàn vạn lần trong mỗi một ngày
đêm: nghiệp dữ cảm ra như vậy. Vậy mà phải trải qua cái kiếp có cả ức năm, cầu thoát nhưng khó mong thoát khỏi. Hễ thế giới hệ này hư rã thì chuyển qua thế giới hệ khác, thế giới hệ khác hư rã thì chuyển qua thế giới hệ khác nữa, thế giới hệ khác nữa hư rã thì chuyển qua thế giới hệ khác khác nữa. Sau khi thế giới hệ này kết thành thì lại bị chuyển về. Quả khổ vô gián ngục là như vậy.
Vì năm sự sau đây, do nghiệp dữ cảm ra, nên mệnh danh vô gián. Một là cực hình chịu suốt ngày đêm cho đến hết số lượng một kiếp, không lúc nào gián đoạn, nên mệnh danh vô gián. Hai là một tội nhân cũng tự thấy mình
đầy cả ngục, mà nhiều tội nhân thì ai cũng tự thấy mình đầy cả ngục, nên mệnh danh vô gián. Ba là hình cụ như chỉa ba, gậy, chim ưng, rắn, sói, chó, cối giã, cối xay bằng đá, cưa, đục, đồ chặt, đồ phát, vạc nấu, nước sôi, lưới sắt, giây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống để quấn đầu, sắt sôi để dội thân, viên sắt nóng để bắt nuốt khi van đói, nước sắt sôi để bắt uống khi kêu khát, từ năm này qua năm khác, trọn hết số lượng một kiếp vài trăm triệu năm, cực hình liên hợp mà lại liên tục, không có gián đoạn, nên mệnh danh vô gián. Bốn là bất kể nam nữ, mọi rợ văn minh (33) , già trẻ, sang hèn, rồng thần, trời quỉ, hễ tạo nghiệp dữ thì cảm quả khổ và đồng chịu như nhau, nên mệnh
danh vô gián. Năm là sa vào vô gián ngục thì từ khi mới vào cho đến hết số lượng một kiếp, mỗi một ngày đêm chết đi sống lại đến cả vạn lần, cầu lấy một lát tạm ngừng cũng không thể có được, trừ phi nghiệp dữ hết rồi mới được chết hẳn mà sinh làm loài khác: sống chết liền liền như vậy nên mệnh danh vô gián.
Địa tạng đại sĩ nói, kính thưa Phật mẫu, vô gián ngục nói đại lược là như vậy. Nếu nói rõ ràng về tên hình cụ và sự khổ sở trong đó, thì suốt một kiếp muốn nói cho hết vẫn không hết được. Ma da hoàng hậu nghe rồi, buồn và lo, chắp tay đảnh lễ mà lui về chỗ của mình.
/19
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »