Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 123, Bộ Kinh Sớ IX , Số 1731 - 1733

Đại Tập 123, Bộ Kinh Sớ IX , Số 1731 - 1733

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1051.

Chương 4: Đại Phương Quãng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sư Huyền Phân Tề Thông Trí Phương Quỹ - Quyển 2 (Phần 1) (Trang 123 - 157)

ĐẠI PHƯƠNG QUÃNG PHẬT

HOA NGHIÊM KINH SƯU HUYỀN PHÂN TỀ THÔNG TRÍ
PHƯƠNG QUỸ

 
QUYỂN 3
(Phần 1)

Phẩm 9: PHẬT THĂNG TU DI ĐẢNH (Hội thứ ba)

 
Bốn môn giống như trước.
1) Giải thích tên gọi, Phật là Hóa chủ, Thăng là tiến lên phía trên, Tu-di là núi Diệu Cao, Đảnh là ở trên cao nhất.
Hỏi: Vì sao từ đây về sau bốn Hội lại thuyết ở cõi trời?
Đáp: Đức hạnh và phần vị thành tựu, trừ chướng được thanh tịnh thù thắng, cho nên thuyết ở cõi trời. Đây là trả lời câu hỏi về phần vị Thập Trú trước đây.
2) Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì tin cho nên hiểu. Đây là bắt đầu phân rõ về ý đưa ra của Hội. Nhưng vì sao đưa ra Hội, Thể của Báo thân đã thành tựu rồi, tiếp theo cần phải phát khởi Hóa thân đến với căn cơ cho nên đưa ra. Vì vậy sơ lược phân tích do giáo phát khởi mà biểu hiện. Nhưng các Hội này không rời xa bổn xứ, tức là biểu hiện từ hạnh thành Thể của Báo thân kiên cố không thay đổi, mà đến các Hội tức là biểu hiện tùy cơ khởi dụng, đây là giải thích dựa theo Thể của tu hành. Nếu hướng về phần sinh ra hiểu biết phát khởi niềm tin, thì hiển bày về hành vị thêm sâu xa mà thôi. Vả lại, trong văn giải thích dựa theo Phật khởi dụng đến với căn cơ để giải thích tức là năng lực của thiện tri thức, nếu dựa theo phần vị… để giải thích thì tức là giải thích dựa theo sự tu hành của mình, có thể suy nghĩ chính xác. Vả lại, Hội này trở xuống bốn Hội sau đều tăng về tướng của phần vị, có phần khác biệt so với Tín hành trước đây, đối với nghĩa của pháp ba Thừa và Nhất thừa cũng cần đan xen qua lại, suy nghĩ chính xác điều này, những Hội còn lại đều chung ý này. Phẩm đưa ra là trước nói về pháp của Tín rồi, tiếp theo

phân rõ hướng đến, sau là nói về nơi dựa vào mà thôi.
3) Tông. Dựa theo Hội phân biệt có hai: Một là dựa theo người, hai là dựa theo pháp. Dựa theo người thì có Hóa chủ và trợ giúp giáo hóa, đều có Thể-Đức-Dụng, chỉ giới hạn ở Hội này. Dựa theo pháp, đó là pháp Thập Giải, về sau sẽ phân rõ. Dựa theo Tông của phẩm, nếu dựa vào lúc Lợi tha hiện rõ nơi chốn và cúng dường, thì chính là hiển bày về duyên của pháp; nếu dựa theo lúc Tự lợi thì đây chính là cơ cảm tương ưng, duyên với cơ thành tựu Thể-Dụng.
4) Phân rõ văn. Hội này có sáu phẩm, phân ba: Hai phẩm đầu trình bày về phương tiện phát khởi, tiếp theo hai phẩm trình bày về tướng của Chánh vị, tiếp theo hai phẩm trình bày về hành tướng sau khi thành tựu đầy đủ. Hai phẩm đầu phân hai: Một là khởi dụng tùy vật, hai từ “Đế Thích dao kiến…” trở xuống phân rõ cơ cảm tương ưng. Văn trước có hai: Một là phân rõ về sự dung thông của y báo-chánh báo, tức là hiển bày Thể thanh tịnh trước đây; hai là tiếp tục hiển bày Dụng thanh tịnh sau này, vốn là tự tại vô ngại thành tựu mọi việc. Các Hội có văn, đều chung cách giải thích này mà thôi, chỉ khác nhau về thắng tiến.
Hỏi: Văn này vì sao không ở sau Hội trước, mà ở trước Hội sau?
Đáp: Nếu ở sau Hội trước thì chỉ hiển bày rõ ràng về nghĩa lợi ích của nói pháp, không hiển bày đối với nghĩa về Thể của dụng giáo hóa sau này, cho nên phân rõ ở trước Hội sau mà thôi. Hội còn lại cũng giống như vậy, vì sao không phân tích ở sau Hội thứ nhất? Bởi vì Hội trước gồm đủ ý nghĩa khác giải thích ở Hội ấy, Hội thứ sáu-bảy-tám sau này cũng hiển bày có riêng ý nghĩa khác mà thôi. Trong Thể có thân- khẩu-ý là ba. Hai từ “Nhĩ thời Thế Tôn…” là làm sáng tỏ về công dụng ứng vật, tức là Dụng thanh tịnh, tướng còn lại có thể biết.
Văn tương ưng thứ hai có năm Tựa:
  1. Tựa về trú xứ, bởi vì động tịnh vô ngại không nơi nào không đến, là đức của thuyết pháp này.
  2. Tựa về thỉnh Phật.
  3. Tựa về quy tụ chúng.
  4. Tựa về phát ra ánh sáng.
  5. Tựa về ca ngợi.
Nếu gồm chung phẩm Thập Trú sau thì có tám Tựa, đó là nhập định-gia hộ-khuyến khích và xuất định. Vả lại, dựa theo phẩm phân văn cũng được.
Tựa về trú xứ và Tựa về thỉnh Phật có sáu:
1. Thấy Phật đến, là dụng từ thật phát khởi, tức là duyên phát
tâm.
2. Từ “Tức ư Diệu Thắng điện…” trở xuống trình bày Thiên chủ chuẩn bị trang nghiêm cúng dường cho nên thỉnh Phật, hiển bày đầy đủ từ hiểu biết thành tựu hạnh cúng dường pháp, tức là thành tựu căn.
3. Thế Tôn liền nhận lời đi đến cảm cơ giáo hóa.
4. Âm thanh giải thích vắng lặng biểu thị ngừng loạn hợp chân.
5. Từ “Thuyết kệ…” trở xuống biểu thị từ Định phát Tuệ; 6-Từ “Phật thăng tòa…” trở xuống chính thức trình bày về tướng thành tựu của sự giáo hóa.
Văn chuẩn bị trang nghiêm cúng dường phân hai: Một, chuẩn bị trang nghiêm tức là thành tựu căn; hai, thỉnh Phật tức là thành tựu ý muốn. Trong phần chuẩn bị trang nghiêm có ba: Một là tổng quát, hai là chỗ ngồi nghiêm trang, ba là kết luận.
Hai, từ “Nhĩ thời Đế Thích…” trở xuống trình bày về Thiên chủ thỉnh Phật, tức là biểu thị mong muốn.
Năm là văn kệ có ba: Một, nhớ lại Bổn hạnh; hai, kệ ca ngợi; ba, kết luận gồm chung mười phương.
Sáu là trong phần thành tựu giáo hóa có ba: Một là chỗ ngồi, hai là phân rõ về tướng của Dụng, ba là nối thông với phương khác.
 
 
------------------------------
Phẩm 10: BỒ TÁT VÂN TẬP
 
Bốn môn giống như trước.
1. Giải thích tên gọi, Bồ-tát là người, Vân vốn là lợi ích tưới nhuần, Tập là tụ tập. Diệu Thắng… là nơi khác.
2. Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì phân rõ về nơi chốn rồi, tiếp đến trình bày về quy tụ chúng.
3. Quy tụ chúng ca ngợi đức thuận theo pháp làm Tông.
4.  Phân rõ văn. Văn này có ba Tựa: Một, quy tụ chúng; hai, phóng ánh sáng, ba, ca ngợi Phật.
Hỏi: Nay từ Hội này về sau ba Hội quy tụ chúng vì sao không ở đầu phẩm, lại vì sao mỗi một phương đều có mười, lại sau khi phóng ánh sáng vì sao không từ từ quy tụ chúng?
Đáp: Bởi vì tướng phần vị của Hội trước chưa thành, chỉ hiển bày về hành viên mãn cho nên nói ở đầu phẩm, nay Hội này hành vị đều thành tựu, cùng làm sáng tỏ lợi ích tưới nhuần của hành vị cho nên cùng ở phẩm này. Sở dĩ mỗi một phương có đủ mười, là muốn hiển bày về tướng hiểu biết rõ ràng viên dung như nhau, một phương tức là tất cả các phương. Sở dĩ Hội này sau khi phóng ánh sáng không từ từ quy tụ chúng, là bởi vì muốn hiển bày về hành vị thành tựu đầy đủ không có tướng thêm bớt. Trong đó có nghĩa thêm bớt riêng, Dụng theo trên thành tựu tức là đạt được, trên dưới thích ứng có thể dựa theo để suy nghĩ. Hội thứ nhất trước đây giải thích về phóng ánh sáng quy tụ chúng cũng dựa theo nghĩa này, đầu làm quy phạm cho sau mà thôi.
Một, trong Tựa về quy tụ chúng có hai:
1)  Chỉ ra phương hướng phân rõ về số. Trong này mỗi một phương, hoặc là gồm chung Hội trước, hoặc là không gồm chung Hội trước, Tín hành lại không thành tướng của phần vị, vì vậy không gồm chung, phần vị hiển bày ở ba Hội sau, vốn là nghĩa gồm chung.
2) Từ “Kỳ thế…” trở xuống nêu ra tên gọi mà thôi. Tên gọi có ba: Một là trình bày về Bồ-tát ở cõi Phật mười phương, ba loại thế gian tức là hai; hai từ “Thử chư Phật thần lực…” trở xuống trình bày quy tụ các Bồ-tát có ba là tịnh hạnh-vân tập-y theo phương mà ngồi có thể biết; ba từ “Như thử thế giới…” trở xuống là kết luận tương tự mười phương thành Hội pháp giới. Chư Phật cùng tên gọi là Nguyệt, bởi vì dựa vào mặt trăng tỏa ra ánh sáng, bởi vì trong lành cho nên hiểu về pháp chính xác. Bồ-tát cùng tên gọi là Tuệ, bởi vì bắt đầu của hiểu biết. Ngón chân phóng ánh sáng là bởi vì biểu thị đứng vững ở phần vị Giải không lui
 
sụt, có hai có thể biết. Ba, Tựa về ca ngợi, văn có mười Bồ-tát, cùng sinh khởi theo thứ tự ca ngợi, tướng giải thích rõ ràng có thể biết.
 1) Kệ của Pháp Tuệ có hai: Một, trường hàng sinh khởi; hai, chính thức kệ tụng về sau đều dựa theo đó. Văn này có hai: Một, bảy kệ đầu nhắc lại chúng sáng tỏ là do Phật lực mà thành tựu, tức là kết luận về nghĩa của sáu đoạn trong phẩm trước; hai, tiếp theo ba kệ trình bày về người có thắng hạnh thì được gặp Phật, còn lại người không biết gì, tức là ca ngợi chung về khó suy nghĩ trước đây. Kệ của các vị sau đều dựa theo lý thành tựu.
2) Kệ của Nhất Thiết Tuệ có sáu: Một, ba kệ đầu trình bày nói là thấy đồ chúng không thấy Chân Phật; hai, tiếp theo ba kệ hiển bày hiểu về Pháp thân Vô sinh thường thị hiện; ba, tiếp theo một kệ trình bày về chấp trước là sai lầm; bốn, tiếp theo một kệ trình bày về tuệ giải là lợi ích; năm, tiếp theo một kệ trình bày về hiểu rõ nhân duyên thành tựu của Phật tức là lìa hết ngu si mê hoặc; sáu, tiếp theo một kệ suy ra công thuộc về Bổn.
3) Kệ của Thắng Tuệ có sáu: Một, ba kệ đầu trình bày về vọng chấp là sai lầm; hai, tiếp theo một kệ trình bày về có hiểu biết là đức; ba, tiếp theo một kệ dựa theo pháp phân rõ về lợi ích quán sát; bốn, tiếp theo ba kệ suy ra công đức thuộc về Phật; năm, tiếp theo một kệ về tuệ có thể thanh tịnh thì thấy Pháp thân; sáu, tiếp theo một kệ suy ra công thuộc về Bổn.
4) Kệ của Công Đức Tuệ có năm: Một, bốn kệ đầu trình bày về mê muội là sai lầm; hai, tiếp theo một kệ nêu rõ phương tiện thù thắng; ba, tiếp theo ba kệ trình bày về đạt được lợi ích của pháp tánh; bốn, tiếp theo một kệ ca ngợi phương tiện lợi ích chúng sinh của Phật; năm, tiếp theo một kệ suy ra công thuộc về Bổn.
5) Kệ của Tinh Tiến Tuệ có ba: Một, một kệ đầu làm sáng tỏ về lỗi lầm; hai, tiếp theo một kệ phân rõ về đức; ba, tiếp theo tám kệ mở rộng phân rõ về tướng đạt được lợi ích từ phương pháp quán sát. Trong văn tám kệ, bốn kệ trước là Vô tướng sinh khởi, bốn kệ sau là tánh chân thật.
6) Kệ của Thiện Tuệ có bốn: Một, hai kệ đầu trình bày có hiểu biết thì có thể độ mình và độ người; hai, tiếp theo năm kệ trình bày về Vô sinh cho nên hợp với Chân tánh; ba, tiếp theo một kệ rưỡi ca ngợi công năng thù thắng của vị hiểu biết; bốn, tiếp theo một kệ rưỡi suy ra công thuộc về Bổn.
7) Kệ của Trí Tuệ có ba: Một, một kệ đầu trình bày nhờ vào giáo
thành tựu hiểu biết chính xác; hai, tiếp theo sáu kệ trình bày về mê mờ giáo lý là sai lầm; ba, tiếp theo ba kệ trở lại thành tựu đức của hiểu biết.
8) Kệ của Chân Thật Tuệ có năm: Một, hai kệ đầu so sánh về hơn-kém được-mất; hai, tiếp theo hai kệ phân rõ về cảnh đã quán sát; ba, tiếp theo một kệ nêu ra lợi ích về học hỏi pháp quán; bốn, tiếp theo một kệ giải thích về biết là tên gọi; năm, tiếp theo bốn kệ nêu rõ nghi thức của pháp quán ấy.
9) Kệ của Vô Thượng Tuệ có bốn: Một, một kệ đầu giải thích về tên gọi của người; hai, tiếp theo sáu kệ ca ngợi về Tự lợi; ba, tiếp theo hai kệ ca ngợi về đức Lợi tha; bốn, tiếp theo một kệ suy ra công thuộc về Bổn.
10) Kệ của Kiên Cố Tuệ có bốn: Một, bốn kệ đầu ca ngợi Phật  là thật sự quay về; hai, tiếp theo hai kệ nêu ra đức khuyến khích nương tựa; ba, tiếp theo hai kệ dẫn dắt tự quán sát vật để tiến vào; bốn, tiếp theo hai kệ nêu ra người thù thắng hiển bày đức vô tận để khuyến khích nương tựa.
 
 
--------------------------------
Phẩm 11: THẬP TRÚ
 
Phân biệt có năm:
1) Giải thích tên gọi Thập Trú, tức là phân rõ ý đưa ra. Thập là số đếm, Trú là phần vị không lui sụt. Vì sao đưa ra? Bởi vì chính thức nói đến.
2) Trình bày về đối trị, là trăm chướng trước đây thuận theo phần vị mà đoạn, nếu là ba Thừa thì do thuần thục giáo pháp mà đoạn chấp ngã của ngoại đạo.
3) Đã đạt được ánh sáng tăng thêm Định và căn thiện thuộc về Đảnh.
4) Đã thành tựu chính là thành tựu mười hiểu biết(Giải), tức là nói thuần thục giáo pháp của ba Thừa, chính là Tông của phẩm này.
5) Giải thích văn. Từ sau phẩm thứ ba phân làm Chánh Tông. Hai phẩm trong này tức là hai: Một, phẩm đầu gồm chung đạo-tục; hai, phẩm Phạm Hạnh là pháp hành riêng biệt của xuất gia. Phẩm đầu như nghĩa phân văn.
Phẩm đầu này có ba Tựa, Pháp sư Quang nói có tám Tựa làm thành ba, phẩm đầu có hai Tựa hợp lại gọi là Tựa về Trú xứ, phẩm tiếp theo có ba Tựa hợp lại gọi là Tựa về Tập chúng, phẩm này có ba Tựa hợp lại gọi là Tựa về Khởi thuyết.
Lại dựa vào phẩm Thập Địa sau ba Hội này đều có sáu phần:
  1. Gọi là phần Tam-muội.
  2. Phần gia hộ.
  3. Phần khởi định.
  4. Phần căn bản.
  5. Phần tuyên thuyết.
  6. Phần lợi ích.
Phạm vi đến văn nên biết. Nhưng văn này có hai: Một, trình bày Tựa về Tam-muội; hai, từ “Cáo chúng Bồ-tát ngôn…” trở xuống là Chánh Tông.
Tựa về Tam-muội đặc biệt chú ý đã phân rõ trước đây. Định gọi là Vô lượng phương tiện Định, phương tiện là Trí, bởi vì Định thành tựu Trí thù thắng nhận biết về pháp. Nguyên cớ Bồ-tát Pháp Tuệ nhập định và thuyết giảng thì như phần luận sau nên biết.
Hai, Tựa về gia hộ có ba: Một, phân rõ về cùng gia hộ, phần này có ba, một là trình bày về hiện thân và hiển bày cùng tên gọi tức là hai, hai là cùng ca ngợi cũng có hai có thể biết, ba là giải thích về nguyên
cớ đạt được có bốn có thể biết. Hai, từ “Dục linh nhữ quảng thuyết…” trở xuống trình bày gia hộ bằng việc làm có mười một câu, một câu là tổng quát, chín câu là riêng biệt, cuối cùng một câu là kết luận thành tựu phần vị. Thứ hai trong chín câu, năm câu đầu là phần mình, bốn câu tiếp theo là thắng tiến mà thôi. Ba, từ “Thiện nam tử…” trở xuống phân rõ về tướng gia hộ, đó là ba nghiệp. Văn về tướng gia hộ có ba: Một  từ “Thiện nam tử…” trở xuống phân rõ về khẩu gia hộ; hai từ “Như Lai tức dữ…” trở xuống trình bày về ý gia hộ; ba từ “Các thân…” trở xuống là thân nghiệp gia hộ. Thế nào là ý gia hộ? Bởi vì trao cho pháp cùng duyên giúp đỡ. Văn về ý gia hộ có hai: Một là nêu ra mười Trí; hai là từ “Hà dĩ cố…”trở xuống giải thích về nguyên cớ.
Hỏi: Vì sao trao cho Trí?
Đáp: Bởi vì Trí hiểu pháp.
Khởi định có bốn ý:
  1. Sự nhập định kết thúc.
  2. Đạt được lực thù thắng.
  3. Thời gian thuyết đã đến.
  4. Bởi vì Định không có ngôn thuyết.
Thứ hai là văn chính thức tuyên thuyết có bốn: Một, ca ngợi chủng tánh sâu xa thù thắng, đồng thời nêu ra mười tên gọi, tức là phần căn bản; hai, từ “Hà giả…” trở xuống mở rộng giải thích về tướng của Trú; ba, từ “Nhĩ thời Phật thần lực cố…” trở xuống trình bày về mặt đất chấn động, hiển bày thành tựu Thật chứng; bốn, dùng kệ để tụng lại.
Văn thứ nhất có hai: Một, tổng quát về nghĩa ca ngợi chủng tánh, tức là Thể về tánh của hai loại Tánh-Tập; hai, từ “Bồ-tát Thập Trú…” trở xuống nêu ra tướng của mười Giải, trình bày về Phật cùng thuyết, tức là tướng về tánh của hai loại Tánh-Tập. Đây là dựa theo Khắc tánh mà nói.
Nếu dựa vào phần vị thì tức là có sáu loại tánh:
  1. Tập chủng tánh là phần vị Thập Giải.
  2. Tánh chủng tánh là Thập Hạnh.
  3. Đạo chủng tánh là Thập Hồi Hướng.
  4. Thánh chủng tánh là Thập Địa.
  5. Đẳng giác tánh là tâm cuối cùng của Thập Địa.
  6. Diệu giác tánh là Phật Địa.
Lại gọi là sáu Kiên, đó là Kiên Tín, Kiên Pháp, Kiên Tu, Kiên Đức, Kiên Đảnh, Kiên Giác; cũng gọi là sáu Nhẫn, đó là Tín Nhẫn, Pháp Nhẫn, Tu Nhẫn, Chánh Nhẫn, Vô cấu Nhẫn, Nhất thiết trí Nhẫn.
Lại gọi là sáu Tuệ, đó là Văn Tuệ, Tư Tuệ, Tu Tuệ, Vô tướng Tuệ, Chiếu Tuệ, Tịch chiếu Tuệ; cũng gọi là sáu Quán: Trú Quán, Hạnh Quán, Hướng Quán, Địa Quán, Vô tướng Quán, Nhất thiết chủng trí Quán. Đây là căn cứ theo ba Thừa dựa vào phần vị mà nói. Trong này, trong Thập Giải-Thập Hạnh, trong sáu quyết định chỉ không có Đại thiện quyết định; Thập Hồi Hướng chỉ có Quán tướng thiện-Đại thiện và không khiếp nhược, ba loại còn lại đều không có. Sở dĩ có Đại thiện và không có ba loại còn lại, bởi vì Hồi Hướng là hiển bày thành tựu trong sự phương tiện cho nên Đại thiện hiển bày; ba loại còn lại không có là bởi vì nghĩa ẩn kín cho nên không nói, Quán tướng… có thể biết. Thập Giải-Thập Hạnh… vì sao không có Đại thiện? Vì Giải-Hạnh là hiển bày về nghĩa của Tự hành cho nên không có, còn lại suy nghĩ có thể biết.
Văn phần một về Thể có hai: Một là nói tổng quát cho biết, hai là trình bày riêng biệt về sáu quyết định.
Văn phần hai về Tướng của Giải có ba: Một là nêu ra số để dẫn chứng về lập Tông, hai là riêng biệt nêu ra có hai có thể biết, ba là dẫn chứng kết luận.
Tên gọi về Thập Giải:
  1. Kỳ hạn trước phát tâm.
  2. Sửa trị phần vị (địa), diệt trừ phiền não, phát sinh tự lợi-lợi tha.
  3. Tu tập thực hành Định, thành tựu hai loại trước mà thôi.
  4. Sinh khởi hạnh thù thắng thành tựu, sinh vào nhà Phật.
  5. Phương tiện đầy đủ, trọn vẹn hạnh tự-tha.
  6. Trú trong Chánh tâm, đạt được Chánh giải về duyên khởi.
  7. Không thối chuyển, Lý-Lượng Chỉ-Quán cùng thực hành.
  8. Đồng chân Vô sinh, dùng diệu giải để lập thân, như trẻ thơ không nhiễm ô.
  9. Vốn là con của đấng Pháp Vương cho nên khéo léo thực hành giáo pháp của Phật.
  10. Phần vị Quán Đảnh đầy đủ cho nên tiếp nhận chức vụ tương ưng. Đây chính là hành tướng của các phần vị sau.
Văn thứ hai là mở rộng phân rõ, mỗi một Trú đều có bốn đoạn: Một, hỏi về nêu ra tên gọi; hai, phân rõ về tướng của Giải có ba, đầu là tổng quát, hai là giải thích, ba là kết luận; ba, trình bày trợ hạnh thắng tiến dựa vào tu cũng có ba là thiết lập-giải thích-kết luận, về sau đều giống như vậy, cũng có thể ngay phần vị mà tu tập; bốn, từ “Hà dĩ cố…”
trở xuống giải thích về ý của Học.
Chỉ riêng Trú thứ nhất và Trú thứ mười có sáu câu:
  1. Nhắc lại dựa vào câu hỏi.
  2. Phân rõ về duyên phát tâm có sáu câu.
  3. Phân rõ về Thể của hạnh, phần này có ba câu: Một là Thể của phát tâm có bốn Duyên, bốn Nhân, bốn Lực. Bốn Duyên: Một là thấy nghe Đại sự về thần thông của Bồ-tát và Phật, hai là nghe pháp, ba là hộ pháp ở thời gian cuối cùng, bốn là thấy chúng sanh khổ cho nên phát tâm. Bốn Nhân: Một là chủng tánh nhân duyên, hai là Phật Bồ-tát đều làm thiện hữu, ba là khởi tâm Đại Bi, bốn là không sợ mọi khó khăn. Bốn Lực là Tự lực, Tha lực, Nhân lực, Phương tiện lực, như luận Địa Trì nói. Hai là đã phát khởi. Ba là không thối chuyển, phần này có hai nghĩa: Một, nếu dựa theo Nhất thừa Thông giáo, tiến vào phần vị Thập Trú thì bốn thối chuyển…đều không có; hai, nếu dựa vào ba Thừa, thì từ Thập Địa trở về sau có Niệm thối chuyển, Địa tiền có Hạnh thối chuyển-Vị thối chuyển, không tiến lên-lùi lại cũng thối chuyển, Thập Tín trở về trước có thật sự thối chuyển, về sau mười tín có thị hiện thối chuyển. Đây là dựa theo phần vị mà nói.
  4. Trình bày về sự chứng đắc.
  5. Trình bày về Học.
  6. Phân rõ về ý của Học trước đây.
Vả lại, các văn sau này đều có ba: Một là hỏi, hai là đáp, ba là phân rõ về công năng thành tựu hạnh thù thắng. Văn này có ba: Một, vặn hỏi; hai, phân rõ ý; ba, trình bày về đức đã thành tựu. Các phần vị đều giống như vậy, cũng có thể gồm chung giải thích mà thôi. Tức là tự giải thích gồm chung nhân quả, nghĩa ấy có ba: Một là không nhờ vào những giáo Tiểu thừa khác mà hiểu, hai là không nhờ vào cảnh của giáo khác mà thành tựu, ba là không nhờ vào tánh khác mà Tập riêng biệt. Văn sau giải thích đều có giống và khác, suy nghĩ thì có thể biết mà thôi.
Trong phần hai: Sửa trị phần vị (địa), mười câu đầu giống như mười loại Tập của Địa thứ hai, mười câu sau giống như Tập trong quả làm cho các chúng sinh rời bỏ điên đảo trú vào Chánh kiến…
Trong phần ba: Tu tập thực hành, mười câu trước giống như thực hành bảo vệ phiền não của Địa thứ ba, mười câu sau giống như bảo vệ Tiểu thừa.
Trong phần bốn: Sinh khởi hạnh thù thắng, mười câu đầu giống như mười loại Pháp trí của Địa thứ tư, mười câu sau giống như phẩm Tu
đạo….
Trong phần năm: Phương tiện đầy đủ, mười câu đầu giống như quán Đại Từ… của Địa thứ năm, mười câu sau giống như quán Đại Bi vì khổ sâu nặng.
Trong phần sáu: Trú trong Chánh tâm, mười câu đầu giống như câu thứ mười trong mười bình đẳng của Địa thứ sáu, mười câu sau giống như chín bình đẳng trước.
Trong phần bảy: Không thối chuyển, mười câu đầu giống như mười loại đối trị về Lạc-Vô tác của Địa thứ bảy, mười câu sau giống như đối trị về chướng ấy, cũng giống như phần thực hành song song. Thối chuyển có bốn loại: Một là Vị, hai là Hạnh, ba là Niệm, bốn là thuận theo đạt được không đạt được, trong này không có bốn thối chuyển…
Trong phần tám: Đồng chân Vô sinh, mười câu đầu giống như từ thế nào là thân cho đến cúng dường Phật… trong phần thắng hạnh của Địa thứ tám, mười câu sau giống như tự tại trong ba thế gian của Địa ấy.
Trong phần chín: Vốn là con của đấng Pháp Vương, mười câu đầu giống như trí thành tựu tiến vào hạnh… của Địa thứ chín, mười câu sau giống như văn về Pháp sư thành tựu khẩu nghiệp… của Địa ấy.
Trong phần mười: Phần vị Quán Đảnh có năm: Một, nêu ra tên gọi; hai, mở rộng giải thích; ba, hiển bày thù thắng; bốn, tiến lên học hỏi; năm, loại trừ nghi ngờ. Mười câu thứ nhất giống như phần Tam- muội của Địa thứ mười, mười câu thứ hai giống như phần tiếp nhận phần vị của Địa ấy, mười câu thứ ba giống như phần không còn Đại của Địa ấy, tức là tiến vào an trú và rời ra.
Trên đây là dựa vào Nhất thừa phát sinh niềm tin mà nói; nếu căn cứ theo ba Thừa thì dựa vào phần vị quán sát riêng biệt, như trải qua lâu dài trong Trú thứ nhất, tập hợp tất cả căn thiện trở thành bốn thệ nguyện rộng lớn, chúng sinh chưa thoát khỏi Khổ thì giúp cho thoát khỏi, chưa hiểu rõ Tập thì giúp cho hiểu rõ, chưa an ổn trong Đạo thì giúp cho an ổn, chưa đạt được Diệt thì giúp cho đạt được Diệt.
Trong Trú thứ hai, tu tập vô lượng hành thiện, đó là bốn Niệm quán Thân-Thọ-Tâm-Pháp, bốn pháp này đều là Không.
Trong Trú thứ ba, khéo léo tập hợp về đạo pháp của Phật, đó là quán về mười Nhất thiết nhập, bốn Đại, bốn Sắc, Không xứ, Thức xứ đều như thật tướng.
Trong Trú thứ tư, trước tất cả chư Phật thọ pháp mà thực hành quán sát về tám Thắng xứ, hai Thắng xứ về tướng mở rộng-tướng tóm
lược trong năm Ấm chân thật bên trong, hai Thắng xứ về tướng mở rộng-tướng tóm lược trong chúng sinh pháp giả tạm bên ngoài, bốn Thắng xứ về mở rộng-tóm lược pháp của bốn Đại, như vậy quán sát tất cả các pháp là Không-Vô tướng.
Trong Trú thứ năm, tu tập các pháp thanh tịnh, đó là tám điều giác ngộ của bậc Đại Nhân, ít muốn, biết đủ, vắng lặng, tinh tiến, chánh niệm, chánh định, chánh tuệ, không tranh luận, thuận theo tất cả các pháp.
Trong Trú thứ sáu, được chư Phật gia hộ, quán sát tám Giải thoát đạt được Văn tuệ, hai tướng giả tạm bên trong-giả tạm bên ngoài không thể đạt được; một Giải thoát về Tư tuệ, năm pháp bên trong-tất cả các pháp bên ngoài không thể đạt được; hai Giải thoát về Tu tuệ, sáu quán đầy đủ, năm Ấm của cõi Sắc là Không; ba Giải thoát về bốn Không- năm Ấm và Diệt định quán đều không thể đạt được; năm Giải thoát như tướng.
Trong Trú thứ bảy mở rộng về pháp chính, đó là sáu hòa kính, ba nghiệp, đồng giới, đồng kiến, đồng hạnh, tiến vào pháp hòa này hoàn toàn là Không, trú trong phần vị không thối chuyển.
Trong Trú thứ tám, tin tưởng vui với Đại pháp, đó là ba xứ, tất cả các nhân vốn là Vô tác, tất cả các quả vốn là Vô tướng, nhân Không và quả Không, Không cũng Không cho nên là Không Không, như vậy các pháp như hư không.
Trong Trú thứ chín, trú vào bốn pháp bình đẳng, đó là hóa độ chúng sinh theo giáo pháp bốn Đế, ba cõi không vui là Khổ, Vô minh là nhân của Tập thọ sinh vô cùng, ba Không là phẩm loại của Đạo, tự nhiên vắng lặng là Diệt, bốn Đế không hai, vốn là một tướng hòa hợp, tức là chúng sanh duyên-pháp duyên và vô duyên.
Trong Trú thứ mười, mong cầu công đức của Phật, đó là sáu niệm về Phật-Pháp-Tăng- Giới-Xả-Thiên, có thể từng niệm từng niệm tiến vào tất cả công đức của Phật, không dựa theo Tam-muội, bởi vì thường xuyên tu tập. Đây là căn cứ theo ba Thừa dựa vào phần vị mà quán sát.
Văn thứ ba là hiển bày thành tựu Thật chứng có hai: Một, mặt đất chấn động hiển bày về Thật; hai, từ “Phật thần lực…” trở xuống là Bồ- tát thành tựu Thật chứng. Văn trước có ba:
  1. Mặt đất chấn động.
  2. Mưa hoa.
  3. Chẳng khác gì các thế giới ở mười phương.
Văn phần hai Bồ-tát Thật chứng có hai: Một là Bồ-tát thành tựu Thật chứng, hai là kết luận về pháp giới bình đẳng rộng khắp. Văn phần trước có bốn câu có thể biết, trong phần hai là kết luận có hai có thể biết.
Văn thứ tư là trùng tụng có hai trăm lẻ ba kệ, có hai: Một, một trăm tám mươi lăm kệ đầu tụng về tướng của Thập Giải; hai, từ “Như thị Thập Trú chư Bồ-tát…” trở xuống có mười tám kệ, tổng quát tụng về Thập Trú, kết luận ca ngợi khuyến khích tu tập.
Phần một là văn chính tụng có mười:
1) Chín mươi kệ đầu tụng về Trú thứ nhất.
2) Tiếp theo sửa trị phần vị(địa) thứ hai trở xuống tụng về Trú thứ hai, còn lại đều có thể biết.
Văn phần một có ba: Một, đối với ba mươi lăm sự việc mở rộng thành tựu Thể của phát tâm; hai, từ “Bồ-tát như thị pháp tâm dĩ…” trở xuống phân rõ về Dụng của Trú thứ nhất; ba, từ “Thị thuyết Bồ-tát…” trở xuống là kết luận.
Trong sửa trị phần vị, bốn kệ đầu tụng về Giải, tám kệ sau tụng về công hạnh đã học. Tu tập thực hành, bốn tụng trước là Giải, sáu tụng sau là công hạnh đã học. Sinh khởi hạnh thù thắng, sáu tụng trước là Giải, sáu tụng sau là công hạnh. Phương tiện đầy đủ, sáu tụng trước là Giải, ba tụng sau là công hạnh. Trú trong Chánh tâm, tám tụng trước là Giải, hai tụng sau là công hạnh. Không thối chuyển, bốn tụng trước là Giải, bốn tụng sau là công hạnh. Đồng chân Vô sinh, sáu tụng trước là Giải, bốn tụng sau là công hạnh. Vốn là con của đấng Pháp Vương, bốn tụng trước là Giải, hai tụng sau là công hạnh. Phần vị Quán Đảnh, mười tụng trước là Thể của đức, hai tụng sau là tướng của phần vị Trú, bốn tụng sau cùng là thực hành phương tiện.
Văn phần hai là kết luận ca ngợi có hai: Mười bốn kệ đầu là tổng quát tụng về Thập Trú khó biết, bốn kệ tiếp theo là kết luận không thể nào nói hết.
 
 
-----------------------------
Phẩm 12: PHẠM HẠNH
 
Bốn môn giống như trước:
1) Giải thích tên gọi. Rất thanh tịnh trong hạnh cho nên gọi là Phạm hạnh. Chủ yếu luận về Phạm có hai, đó là Báo và phương tiện. Bắt đầu tu tập là Tịnh, thành tựu là Phạm. Nếu dựa vào Báo, thì cõi Dục là Tịnh, cõi Sắc là Phạm. Nếu dựa theo Tự lợi-lợi tha, thì Tự lợi là Tịnh, Lợi tha là Phạm. Vì vậy kinh Niết-bàn nói: Ba Học là Thánh hạnh thù thắng, bốn Vô lượng là Phạm.
2) Trình bày về ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Tiến đạo có nhiều phương pháp, thuận theo tướng phân hai, đó là Tăng và Tục. Tục bởi vì thuận theo Lợi tha không có phương pháp lợi ích cho chúng sinh, cho nên không trú trong phạm vi của hạnh. Tăng bởi vì thuận theo Tự lợi, không thể tùy tiện hủy hoại hình dáng oai nghi xuất thế, cho nên chỉ thành tựu về nội quán. Vì thế trong phẩm loại phần vị phân rõ người xuất gia chỉ thành tựu Tam-muội.
Hỏi: Các Hội trước đây vì sao không nói đến phẩm này?
Đáp: Có hai ý, một là hạnh trong này yếu kém, hai là bởi vì trước nối thông sau.
Hỏi: Trong Thập Tín vì sao không trình bày về phẩm này?
Đáp: Phần Chánh Tông này là làm sáng tỏ lấy pháp thành tựu người, không lấy người thành tựu pháp. Sao gọi là người thành tựu pháp? Bởi vì pháp không có cao thấp, tùy theo căn tánh của con người, hiển bày về pháp có tinh-thô. Thập Tín hiểu về pháp chưa rõ ràng, cho nên không thể dùng pháp thành tựu người. Thập Tín hiểu biết kém cỏi, cho nên chỉ tùy theo Tín căn mà xác định về pháp. Nếu nói về hình thức hạn chế, thì các kiến chấp lại tăng lên mà không thành tựu Chánh Tín.
Hỏi: Phạm hạnh phát tâm sáng tỏ về pháp, vì sao không nối thông với ba Hội sau?
Đáp: Về lý thì có, bởi vì phẩm này tương tự với phẩm kia mà thôi.
3) Phân rõ về Tông. Quán sát về lý Vô niệm là hành Niết-bàn hoàn toàn vắng lặng, là quả của Tự Thể, tức là Tông của phẩm này.
Lại hỏi: Trong này bắt đầu trình bày về nhân Sơ phát tâm của Thập Trú, vì sao lại nói là hành của quả?
Đáp: Bởi vì đây là trình bày về tự Thể chân thật của phát tâm, Thể hợp với thời gian sau bao gồm không ngoài, lại là quả trong tự Thể của phát tâm, không có hành hý luận mà thôi. Vì thế cuối phẩm kết
luận rằng: Lúc mới phát tâm đã thành Chánh giác, đầy đủ thân Tuệ không do người khác mà giác ngộ.
4) Giải thích văn. Văn này có hai: Đầu là hỏi, sau là đáp. Nguyên cớ Thiên tử Chánh Niệm hỏi là biểu thị từ Định mà hiển bày lý. Vả lại, Chánh Niệm không hư vọng, Báo thanh tịnh có thể tiếp nhận.
Văn hỏi có bốn: Một, hỏi tổng quát; hai, nhắc lại sự việc; ba, phần mình thành tựu hạnh xuất gia; bốn, từ “Tốc thành…” trở xuống là thắng tiến trình bày về phần khác, và cảnh giới Phật.
Lại hỏi: Phẩm Tịnh Hạnh trước đây vì sao cùng trình bày về tại gia và xuất gia, phẩm này thì không như vậy? Đáp: Trước đây vì Tín căn yếu kém, mới cùng trình bày dựa theo duyên tu tướng thay đổi   nơi chốn, trong phẩm này trở đi hiểu pháp trình bày về tướng xuất gia, muốn trình bày về tự Thể lìa tánh duyên khởi chứ không phải là đoạn cho nên lìa, điều này như kinh Duy-ma nói.
Văn trả lời có ba: Một, trả lời về phần mình trước đây; hai, từ “Hựu phục tu tập tăng thượng thập pháp…” trở xuống là trả lời câu hỏi về phần khác trước đây; ba, từ “Bồ-tát như thị quán giả…” trở xuống là kết luận về Phạm hạnh thành tựu lợi ích mà thôi.
Văn phần một có ba: Một phân rõ về Tầm Tư, hai từ “Chánh Niệm…” trở xuống là phân rõ về Chánh quán, ba từ “Thị danh…” trở xuống là kết luận.
Văn về Tầm Tư có hai: Một, phân rõ về Tầm Tư; hai, từ “Hựu tri quá khứ…” trở xuống trình bày về như thật. Một về Tầm Tư lại phân ba:
1) Nêu ra mười pháp trình bày về sở quán, phần này có hai, một là tổng quát, hai là riêng biệt.
2) Từ “Ưng như thị…” trở xuống chính thức trình bày về quán.
3) Từ “Đương như thị…” trở xuống là kết luận. Thế nào là Thể của Phạm hạnh? Chính là Chánh trí phát ra từ trong tự Thể của lý chân thật. Vì sao Bồ-tát Pháp Tuệ nói ra? Bởi vì tánh đức viên thông nếu không phải là tuệ thuận theo pháp thì không sáng tỏ.
Trong Thập Trú thì sáu Trú trước là hành và duyên của hành, bốn Trú là cảnh của Tín cho nên chỉ nói đến loại ấy, tướng còn lại có thể biết. Văn về như thật có hai:
1) Phân rõ về Quán hành.
2) Từ “Thử Phạm hạnh pháp…” trở xuống là trở lại nghiệm xét.
Thứ hai là Bồ-tát Chánh niệm không chướng ngại là phân rõ về Chánh quán, văn có ba:
Một, phân rõ về Vô tướng; hai, từ “Như thị quán giả…” trở xuống là phân rõ về Y tha Vô sinh; ba, từ “Nhất thiết Phật…” trở xuống là phân rõ về pháp chân thật vô tánh, ví dụ có thể biết.
Thứ hai về Thắng tiến, văn có ba: 1-Tự lợi có bốn câu, đó là thiết lập-hỏi-đáp-kết luận có thể biết; 2-Từ “Như thị quán sát…” trở xuống là trình bày về Lợi tha; 3-Từ “Như huyễn…” trở xuống là nói về dụ. Hai loại trước không có Thể như huyễn, hiện rõ thật sự như mộng, khởi dụng như điện chớp, duyên tụ hội như tiếng vang, thành tựu sự việc như biến hóa.
Thứ ba là văn kết luận về Tự lợi-lợi tha, cũng có thể là trả lời về câu hỏi nhanh chóng thành tựu trước đây, cũng có hai:
  1. Nhắc lại.
  2. Kết luận về lợi ích.
Văn về lợi ích có hai: Một, kết luận về ít hành-nhiều công năng trước đây, có hai có thể biết; hai, từ “Sơ phát tâm thời…” trở xuống là thành tựu nhanh chóng, nguyên cớ có hai có thể biết. Nói đến tức là Bồ-đề thì có hai:
  1. Dựa theo phần vị tức là Bồ-đề của Thập Giải;
  2. Dựa theo Giải sáng tỏ về Chánh lý.
Còn lại Tín-Hạnh-Chứng… theo đây mà biết. Vả lại, ngay Phổ Hiền chứng được tự Thể viên minh, cứu cánh nhân quả, đây là Giải dựa theo Nhất thừa mà thôi.
 
 
-----------------------
Phẩm13: PHÁT TÂM CÔNG ĐỨC
 
Dưới đây là phân rõ về đức thắng tiến của phần vị này. Bốn môn giống như trước.
1) Giải thích tên gọi, Phát tâm là nhắc lại Thể của hành, Công đức là do thực hành mà thành tựu Công đức, dựa vào hai nghĩa có được tên gọi.
2) Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì công hạnh trước đây đã thành tựu, cho nên nay phân rõ ca ngợi về tướng của đức.
3) Phần lượng công đức là Tông của phẩm này.
4) Phân rõ văn. Văn này có bốn:
a) Hỏi.
b) Đáp.
c) Chứng thành.
d) Kệ tụng.
a) Nguyên cớ Đế hỏi: là bởi vì ở cõi trời, cũng chính là Công đức tự tại, nhưng hiểu biết thanh tịnh tự tại mới có thể có được công đức mà thôi. Sở dĩ Bồ-tát Pháp Tuệ nói, là bởi vì tuệ phù hợp với pháp mới cùng tận được công đức.
b) Văn đáp có hai: Một, tóm lược, trong phần này có ba, một là tổng quát, hai là riêng biệt, ba là thừa nhận phạm vi. Phần lượng của giáo khó biết, nghĩa sâu xa khó tin, tư duy khó hiểu được, thuận theo giáo khó nói ra, muốn chứng được khó thông, bởi vì tính ra thì cao nhất cho nên khó phân biệt. Hai, từ “Giả sử…” trở xuống là mở rộng trả lời, văn mở rộng có hai: Một, phân rõ về mười hai dụ; hai, từ “Phát thị tâm dĩ…” trở xuống là hợp dụ. Văn phân rõ mười hai dụ có bốn: 1) Dụ; 2) Nêu ra; 3) Đáp; 4) So sánh. Văn còn lại thì không nhất định.
Trong mười hai dụ có năm: Một là năm giới, hai là mười thiện…, hai loại này chọn lấy lợi ích để làm ví dụ; ba là thân thông tức là nơi sinh có được lợi ích; bốn là biết thành hoại, biết thời gian của pháp; năm là hy vọng của căn bậc Hạ, dụ thứ bảy trình bày về căn khí dày mỏng được lợi ích, một dụ sau trình bày mở rộng về đức của các hành tiến vào phần vị thù thắng.
Thứ hai là Hợp dụ, văn trường hàng phân làm bảy: Một, tổng quát phân rõ về công năng của đức; hai, từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là vặn hỏi về nghĩa ban đầu không phải yếu kém thành tựu thù thắng như nhau; ba, trả lời về nguyên do; bốn, từ “Hà cố…” trở xuống lại vặn hỏi về trước giống như sau; năm, từ “Thử sơ phát tâm…” trở xuống lấy sau thâu
nhiếp trước; sáu, từ “Tất dữ tam thế chư Như Lai đẳng…” trở xuống là mở rộng phân rõ; bảy, từ “Bỉ sơ phát tâm…” trở xuống là kết luận nhờ vào nhân duyên thù thắng mà thôi. Vả lại, Đắc chứng là chứng được do thực hành, Thân chứng là chứng được do phần vị; Đắc chứng là tương ưng với Trí, Thân chứng là tương ưng với Thân. Trong này đều là đức chân thật của Phổ Hiền.
Lại hỏi: Vì sao các thế giới đều dễ dàng thuận theo tâm của Bồ- tát mà chuyển là thế nào? Đáp: Bởi vì Bồ-tát đạt được tâm tự tại hòa hợp với các nhân duyên, là nhân duyên của các pháp cho nên chuyển theo, điều này nên suy nghĩ chính xác. Vả lại, mười Dục… ở văn trước, hễ có một Dục thiện thì có đủ mười đức trên, còn lại nên theo đúng như vậy. Nhưng sở dĩ Thân chứng nối thông ba đời, là bởi vì văn sau nói Bồ- tát thường không rời xa trước chư Phật ba đời.
c) Văn về mặt đất chấn động thành tựu chứng đắc… có năm: Một, mặt đất chấn động, mưa hoa…; hai, chư Phật cùng chứng có hai có thể biết; ba, lợi ích cho chúng sinh, đạt được lợi ích có ba mà thôi; bốn, Phật khác cùng nói chứng minh thành tựu nghĩa trước, có hai có thể biết; năm, phân rõ về nguyên do thành tựu có mười mà thôi.
Hỏi: Vì sao Phật chứng? Đáp: Vì thắng tiến cho nên nêu ra quả thâu nhiếp thành tựu, nhưng sợ rằng không tin, vì vậy lại biểu thị nhân và quả cùng chung một tánh, việc khác có thể biết.
d) Trùng tụng có hai: Một, trường hàng sinh khởi; hai, kệ tụng. Văn phần một có tám có thể biết. Văn kệ có hai trăm bốn mươi mốt kệ rưỡi, phân làm bốn: Một, mở rộng ca ngợi phát tâm hiện tại thành tựu công đức; hai, từ “Thập phương thế giới trung…” trở xuống lại nêu ra mười hai dụ trước để thuật rõ công đức khó suy nghĩ được; ba, từ “Tam thế nhân trung tôn…” trở xuống là phân rõ về công năng thành tựu quả này; bốn, từ “Bồ-tát sơ phát tâm…” trở xuống là kết luận. Trong này không thể nào xét định cặn kẽ, nếu cặn kẽ thì lạc mất tôn chỉ. Vả lại, từ phần vị Trú trở đi, tất cả pháp môn như Giải-Hạnh-Lý-Sự-Giáo-Nghĩa… đều thường xuyên thực hành không gián đoạn, nên biết. Lại từ phần vị Tín thành tựu trở đi là hạnh Phổ Hiền, chính là tám tướng cùng với Phật xưa nay hoàn toàn không có sai biệt, điều này nên suy nghĩ, còn lại ng- hĩa-hành… của ba Thừa đều khác biệt không nghi ngờ gì.
 
 
------------------------
Phẩm 14: MINH PHÁP
 
Bốn môn giống như trên.
1) Giải thích tên gọi. Nói đến Minh Pháp thì có hai: Một là dựa theo giáo, pháp A-hàm soi chiếu lý hiện rõ cho nên gọi là Minh, Pháp tức là nghĩa; hai, dựa theo hành, là bởi vì hành thêm thù thắng hiện bày tướng của phần vị sau. Tức là dùng nghĩa của pháp ở phần vị trước để hiểu rõ công hạnh… làm Minh, dùng nghĩa của giáo ở phần vị sau… làm Pháp.
2) Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì dùng đức của hành trước trải qua tu, làm phương tiện cho phần vị sau.
3) Chính là nghĩa về thực hành giáo pháp… là Tông của phẩm này.
4) Phân rõ văn. Sở dĩ Tinh Tiến hỏi là nếu không có hạnh tinh tiến thì không có thể tiếp nhận pháp thắng tiến này. Vì lẽ đó Bồ-tát Pháp Tuệ đáp là Tuệ phù hợp với pháp cho nên có thể nói rõ về giáo này. Văn có ba: Một là hỏi, hai là đáp, ba là cuối cùng một phần trường hàng tóm lược kết luận về lưu thông.
Văn hỏi có hai: Đầu là hỏi, tiếp là trùng tụng. Văn phần đầu có ba: Một, trước là nhắc lại hành đức trong phần vị Trú trước đây làm thứ tự sinh khởi phần vị sau; hai, từ “Bỉ Bồ-tát vân hà tu tập…” trở xuống  là chính thức hỏi về hành đức của thời gian trước trong phần vị thắng tiến. Văn phần một nhắc lại có sáu câu có thể biết. Tiếp theo văn hỏi về thắng tiến trong thời gian trước có mười một câu phân làm bốn: Sáu câu đầu là Tự lợi, tiếp theo từ “Tùy kỳ…” trở xuống là ba câu về hạnh Lợi tha, tiếp theo từ “Hưng long…” trở xuống là một câu về trú trì kiến lập, tiếp theo một câu là thành tựu sự việc không hư dối. Ba, pháp thuộc phần Lợi tha ở thời gian sau trong phần vị thắng tiến, có hai: Đầu là tổng quát, sau là riêng biệt. Văn về riêng biệt có ba: Một, trình bày về đức thành thục, văn này có hai: Một là hành đức thành thục về Tự lợi, hai từ “Cụ túc Phật sát…” trở xuống là hành pháp chúng sanh thành thục về Lợi tha.
Phần một là Tự lợi có bốn câu:
  1. Lìa chướng.
  2. Thành tựu Thể.
  3. Thành tựu Đức.
  4. Thành tựu Dụng.
Phần hai trong Lợi tha có ba, đó là Thể-Đức-Dụng. Thể có  mười
hai sự việc, theo đây có thể hiểu mà thôi. Hai, từ “Thiên Vương…” trở xuống trình bày về hành pháp quyến thuộc, có bốn có thể biết; ba, từ “Đắc thiện căn lực…” trở xuống phân rõ về nghĩa đầy đủ đức Tự-tha thành tựu không hư dối, có bốn câu.
Thứ hai là văn trùng tụng có hai: Một là sinh khởi, hai là kệ tụng. Kệ có hai mươi hai kệ: Bốn tụng đầu nhắc lại văn về đức thắng tiến trong phần vị Trú, trước Bồ-tát sơ phát tâm trước đây; tiếp theo từ “Vân hà…” trở xuống có bảy tụng, phần thứ hai “Bỉ Bồ-tát…” trở xuống là chính thức hỏi về Chánh hạnh ở thời gian trước trong phần vị thắng tiến; tiếp theo từ “Nhân hùng…” trở xuống có mười một tụng, từ “Thiện tai…” trở xuống là văn về quả đức Lợi tha ở thời gian sau. Ngay phần thứ hai từ “Vân hà…” trở xuống trong phần mình ở thời gian trước, đầu có ba kệ tụng về sáu câu Tự lợi trước đây, tiếp theo hai tụng về ba câu trong hạnh Lợi tha, tiếp theo một tụng về văn kiến lập, tiếp theo một tụng về quả hành thành tựu không hư dối.
Thứ hai trong phần đáp có hai: Trước là trường hàng, sau là kệ tụng. Văn trước có ba: Một, ca ngợi đã hỏi lợi ích nhiều cho lúc này,  có ba có thể biết; hai, khuyên nhủ lắng nghe đồng ý tuyên thuyết; ba, từ “Phật tử thử Bồ-tát…” trở xuống là chính thức trả lời. Văn trả lời có hai: 1-Trả lời về Chánh hạnh phần mình ở thời gian trước trong phần vị thắng tiến; 2-Từ “Bồ-tát Ma-ha-tát nhược đắc thành tựu…”trở xuống trả lời về quả hành ở thời gian sau trong phần vị thắng tiến trước đây.
Văn phần 1 có một trăm bảy mươi câu, cũng có thể là một trăm tám mươi câu, có bốn: Một trăm mười câu đầu trả lời sáu câu đầu về hạnh Tự lợi trong mười một câu trước đây; tiếp theo bốn mươi câu trả lời ba câu về hạnh Lợi tha; tiếp theo mười câu trả lời về trú trì kiến lập, tiếp theo mười câu trả lời về thành tựu sự việc không hư dối.
Trong văn trả lời về Tự lợi, một trăm câu đầu trả lời về năm hạnh trước, mười câu sau trả lời về hạnh thứ sáu. Trong văn trả lời về năm hạnh trước, mỗi một hạnh đều trả lời có hai mươi câu. Trong hai mươi câu, mười câu trước là pháp tương ưng với tự hành, mười câu sau là pháp tu hành thắng tiến. Nói đầy đủ trí tuệ thanh tịnh…, là nhắc lại hạnh Tự lợi trước đây để sinh khởi về hạnh Lợi tha sau này, khiến cho thế lục nối liền nhau. Các văn mười câu đều có bốn:
  1. Sinh khởi.
  2. Hỏi.
  3. Đáp.
  4. Kết luận.
Cũng có lúc không nhất định, có thể dựa theo suy nghĩ. Lợi tha trước đây hỏi có ba câu, trong phần trả lời này có bốn mươi, cũng có thể là năm mươi câu. Phần này hai mươi câu đầu trả lời câu thứ nhất trong ba câu hỏi, tiếp theo mười câu không xả các Ba-la-mật trả lời về câu thứ hai trước đây, tiếp theo từ “Phật tử...” trở xuống là mười câu trả lời về câu thứ ba trước đây. Hai mươi câu trước cũng có thể là ba mươi câu: Năm câu đầu là biết căn khí thích hợp, tiếp theo mười câu là thuận theo các bệnh trao cho thuốc, tiếp theo mười lăm câu là thuận theo căn cơ trao cho pháp.
Nói về người thực hành có thể như vậy thì làm hưng thịnh Tam Bảo, có mười câu trả lời về trú trì kiến lập trong câu thứ mười. Trong này có hai: Đầu là tổng quát, sau là riêng biệt. Trong văn riêng biệt này phân bốn: Ba phần trước là riêng biệt, phần thứ tư là tổng quát. Văn  ba phần trước, đầu là dựa vào giáo đạo, tiếp theo dựa vào chứng đạo, sau là dựa vào đạo không trú. Sáu hòa kính là thân-khẩu-ý nghiệp và kiến-giới-thí giống nhau. Từ “Bồ-tát như thị bất đoạn Tam Bảo…” trở xuống có mười câu, trả lời về hạnh thành tựu sự việc không hư dối trong câu thứ mười một về hạnh của phần mình trước đây, có ba: Một, mười câu phân rõ về hạnh thành tựu sự việc không hư dối, theo thứ tự trả lời năm câu trước; hai, có mười câu dùng đức để tự trang nghiêm, tức là trả lời câu không hư dối trước đây; ba, có mười câu bởi vì tự trang nghiêm cho nên co thể nhiếp hóa không hư dối, cũng cùng trả lời về một câu, ở trong pháp dụ gồm có ba văn.
Tiếp theo từ “Nhược đắc thành tựu…” trở xuống trong phần thứ 2 trả lời về hành của quả đức ở thời gian sau, có ba: Một, từ “Bồ-tát Ma- ha-tát…” trở xuống trả lời về pháp thực hành diệt trừ si ám thành thục quả đức trước đây, văn này có hai: Một là phân rõ về hạnh Tự thành thục, hai từ “Thứ đệ phương tiện…” trở xuống trình bày về hạnh Lợi sinh mà thôi; hai, từ “Ư đại chúng trung…” trở xuống là phân rõ về hạnh quyến thuộc; ba, từ “Thành tựu như thị thắng diệu pháp…” trở xuống là phân rõ về hạnh thành tựu không hư dối. Chỉ trừ ra Như Lai là lấy dưới vượt lên trên. Văn thứ ba là hạnh không hư dối, có ba: Một là thiết lập, hai là vặn hỏi, ba là trả lời. Trong phần trả lời có mười một câu, sáu câu trước là nhân, năm câu sau là quả hành.
Thứ hai là trùng tụng, có hai: Một, trường hàng sinh khởi; hai, chính thức kệ tụng. Trong phần thắng tiến có hai mươi kệ, có hai: Mười ba tụng đầu là Duyên khởi của thời gian trước; bảy tụng sau là pháp hành của phần mình, quả đức thù thắng trong trả lời trước đây. Trong
mười ba tụng trước, sáu tụng rưỡi đầu là hạnh Tự lợi, ba tụng rưỡi tiếp theo là hạnh Lợi tha, một tụng tiếp theo là trú trì kiến lập, hai tụng cuối là thành tựu sự việc không hư dối. Trong bảy tụng sau, một tụng rưỡi đầu là quả Tự lợi và quả Lợi tha, ba tụng rưỡi tiếp theo là hạnh quyến thuộc, hai tụng cuối là hạnh thành tựu không hư dối.
 
 
-----------------------------
Phẩm 15: PHẬT THĂNG DẠ MA THIÊN TỰ TẠI (Hội thứ tư)
 
Bốn môn giống như trước.
1) Giải thích tên gọi. Phật là Hóa chủ; Thăng là tiến lên phía trên; Dạ-ma là Thời Thiên, cũng nói là Hý Lạc; Thiên là Minh; Tự tại là đi lại giữa bầu trời không ngăn ngại. Dựa theo hành chuẩn mực có thể biết, tức là trả lời câu hỏi về Thập Hạnh trước đây.
2) Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì dựa vào hiểu biết phát khởi thực hành, có hai ý, một là ý đưa ra thuộc về Hội, hai là ý đưa ra thuộc về Phẩm, đều nói như Hội thứ ba.
3) Tông thì có hai, dựa theo người-dựa theo pháp giống như trên, dựa theo suy nghĩ có thể biết. Tông của phẩm này là trình bày về nơi chốn và phát khởi cúng dường.
4) Phân rõ văn. Văn này gồm có bốn phẩm phân làm ba: Đầu là hai phẩm phân rõ về Tựa, tiếp theo một phẩm trình bày về Thể của hành, tiếp theo một phẩm trình bày về phương tiện thắng tiến. Văn phần đầu về Tựa này cùng giống như Hội trước, chỉ tăng thêm thù thắng chuyển lên cao nhờ vào pháp không giống nhau mà thôi. Từ câu “Lúc bấy giờ vốn có sức mạnh oai thần của Như Lai, cho nên thế giới của tất cả chư Phật ở mười phương, các thế giới hệ (tứ thiên hạ) giống như một cõi Diêm-phù-đề, cho đến không có nơi nào không hiện bày rõ ràng…” Nếu lúc dựa theo giáo của ba Thừa để phân rõ, thì bởi vì cõi Diêm-phù là nơi khổ đau-trống rỗng-dơ bẩn xấu xa, tình thức nhanh nhạy chán ngán khổ đau, ý chí mạnh mẽ vui mừng hướng lên, cho nên thân Phật thành đạo ở cõi Diêm-phù chứ không phải là xuất thế. Nếu lúc dựa theo cọng giáo của Nhất thừa-Tam thừa, thì muốn hiển bày cõi Diêm-phù  là Thật tức Không, là Tựa thành Giả, là sự việc mãi không thoát được làm cho bậc Thánh luôn luôn thương xót, Phật dùng sức mạnh của Bổn nguyện thương xót chúng sinh, thuận theo thân Phật thành đạo ở thế gian này, thị hiện thân Phật cho nên thân Phật tức là xuất thế. Nếu lúc dựa theo Nhất thừa, thì cõi Diêm-phù này tức là cảnh giới của Nhất tâm pháp giới, hoặc là Phật-hoặc là nơi chốn đều hiển bày Phật ở nơi nhiễm ô nhất mà không uế tạp, cho nên hiển bày thành đạo ở cõi này. Nhưng nghĩa về các sự việc ứng hóa đều dựa theo đây mà khác biệt.
Thứ hai trong phần thành tựu căn cơ cúng dường có bốn, văn phần đầu có hai: Một, trình bày về phát khởi cúng dường tức là căn; hai, từ “Hiệp chưởng…” trở xuống trình bày về thỉnh Phật tức là mong muốn. Trong phần một là hạnh cúng dường có hai: Một là trang nghiêm, hai là
kết luận. Phần trang nghiêm có hai mươi ba sự việc: Đầu là phân rõ về Sự trang nghiêm, hai từ “Thiện căn…” trở xuống là Hạnh trang nghiêm, ba từ “Như Lai…” trở xuống là công đức của Phật gia hộ cúng dường trang nghiêm, hiển bày về nhân giống như quả, còn lại có thể biết.
Hỏi: Vì sao phần kệ ca ngợi của Thập Giải riêng biệt nêu ra danh hiệu Phật, ở đây thì không như vậy?
Đáp: Bởi vì Giải biết về tướng riêng biệt, Hạnh thì gồm chung thành tựu.
 
 
---------------------------
Phẩm 16: BỒ TÁT THUYẾT KỆ
 
Bốn môn giống như trước.
1) Giải thích tên gọi. Nhân kỳ diệu của tự Thể, thực hành tập hợp theo văn, giáo thì biểu hiện rõ ràng, cho nên nói là Bồ-tát thuyết kệ. Nghĩa còn lại có thể biết.
2,3) là Ý đưa ra và Tông đều dựa theo như trên. Lại hỏi: Nếu nghĩa theo thứ tự sinh khởi lẫn nhau, ý giống nhau nhưng do hiển bày riêng biệt, thì vì sao tên gọi không giống với trước?
Đáp: Bởi vì ý ở đây chỉ muốn hiển bày về nghĩa đan xen qua lại cho nên như vậy, nhưng tăng thêm thù thắng và dựa vào pháp là khác biệt thì có thể biết.
4) Giải thích văn. Trong này, thứ nhất là trong Tựa về quy tụ chúng, thế giới cùng tên gọi là Tuệ, bởi vì Tuệ của Giải trước đây tức là quy phạm của Hạnh. Phật cùng danh hiệu là Nhãn, bởi vì tâm hành thấy pháp rõ ràng. Bồ-tát cùng tên gọi là Lâm, bởi vì chỉ dùng hạnh này làm lợi ích cho chúng sinh, rừng rực cùng phát khởi, hiển bày về tướng tập hợp đầy đủ.
Hỏi: Trong đoạn thứ hai ngón chân phóng ánh sáng cùng với Hội trước có gì khác nhau?
Đáp: Ví như ngón chân có hai năng lực là đi và đứng, trước đây làm sáng tỏ về đứng (trú), ở đây hiển bày về đi (hành), cho nên ví dụ khác nhau.
Thứ ba là trong Tựa về nói kệ thì mười vị đều dùng Chân như duyên khởi mà mình đã đạt được, dựa vào pháp để ca ngợi Phật, trức là quy về hành tướng.
1) Kệ của Bồ-tát Công Đức Lâm có hai: Một, trường hàng sinh khởi; hai, từ “Thuyết kệ…” trở xuống đều dựa theo. Văn này ca ngợi  về công đức tự tại của Pháp thân, có mười một kệ, sáu kệ đầu nhắc lại tướng tự tại vân tập lên cõi trời trước đây, tiếp theo năm kệ về Pháp thân tự tại vô cùng sâu xa.
2) Kệ của Bồ-tát Tuệ Lâm có hai: Một, hai kệ đầu phân rõ về Phật có đủ công đức khó gặp, hai, tiếp theo tám kệ giải thích về có đủ công đức khó gặp trước đây. Trong tám kệ phân ba: Một là hai kệ đầu trình bày về phần có đủ công đức trên đây; hai là tiếp theo từ “Như Lai vô dữ đẳng…” trở xuống bốn kệ giải thích về khó gặp trên đây; ba là tiếp theo từ “Bất khả tư nghị kiếp…” trở xuống hai kệ so sánh khuyến khích tu tập.
3) Kệ của Bồ-tát Thắng Lâm có bốn: Một, hai kệ đầu nói ví dụ về sâu xa vi tế; hai, tiếp theo một kệ hợp cùng với pháp; ba, tiếp theo hai kệ phân rõ về nguyên cớ sâu xa; bốn, tiếp theo năm kệ ca ngợi về công dụng thù thắng.
4) Kệ của Bồ-tát Vô Úy Lâm có ba: Một, hai kệ đầu nêu ra Thể thù thắng; hai, tiếp theo năm kệ nêu ra Dụng thù thắng; ba, tiếp theo ba kệ khuyến khích học hỏi. Hai văn về Thể-Dụng đều có hai: Một là nêu ra pháp sâu xa, hai là ca ngợi đức thù thắng.
5) Kệ của Bồ-tát Tàm Quý Lâm có năm: Một, một kệ đầu tổng quát ca ngợi về lợi ích thù thắng của pháp Phật; hai, tiếp theo một kệ ca ngợi về tướng Dụng thù thắng; ba, tiếp theo sáu kệ trở lại nguyên cớ thành tựu Dụng thù thắng, trong này một kệ đầu là tổng quát, tiếp theo năm kệ là riêng biệt; bốn, tiếp theo một kệ thuận theo thành tựu đức Dụng của người; năm, kết luận về người khó gặp. Trong văn trở lại thành tựu: Một, một kệ là dụ về tánh ngu trí khác biệt; hai, một kệ là dụ về cùng trở thành hư vọng; ba, một kệ dụ về hai tánh trái ngược nhau; bốn, một kệ dụ về duyên của ngu-trí cách biệt; năm, một kệ dụ về Dụng không có cảm đến lẫn nhau.
6) Kệ của Bồ-tát Tinh Tiến Lâm có ba: Một, một kệ đầu tổng quát ca ngợi về người thù thắng; hai, tiếp theo tám kệ mở rộng nêu ra pháp thành tựu người; ba, tiếp theo một kệ trình bày về người và pháp sâu xa cho nên khó gặp. Trong tám kệ: Một là dụ về Thể của pháp không có gì khác, hai là dụ về Thể của pháp rỗng rang không có, ba là dụ về Thể của pháp không có thật, bốn là dụ về Thể của pháp lìa xa tướng, năm là dụ về Thể của pháp thành tựu chân thật, sáu là dụ về một thành tựu nhiều dụng, bảy là dụ về khởi dụng dựa vào duyên, tám là dụ về Thể kiên cố khó hủy hoại.
7) Kệ của Bồ-tát Lực Thành Tựu Lâm có ba: Một, bốn kệ đầu quán về duyên khởi dựa vào nơi khác; hai, tiếp theo năm kệ phân biệt về Vô tướng; ba, tiếp theo một kệ dựa theo tâm ca ngợi về Dụng. Văn phần một phân hai: Hai kệ đầu là Pháp, hai kệ sau là Quán.
8) Kệ của Bồ-tát Kiên Cố Lâm có hai: Một, bảy kệ đầu phân rõ về hai thân tánh-tướng của Phật khó bàn luận; hai, tiếp theo ba kệ phân rõ về thù thắng. Trong bảy kệ trước có hai: Một, hai kệ đầu là dụ phân rõ về Tánh thân; hai, tiếp theo có năm kệ là ví dụ-kết hợp đồng thời ca ngợi về Ứng Hóa.
9) Kệ của Như Lai Lâm được có hai: Một, chín kệ đầu dụ-pháp cùng hiển bày; hai, tiếp theo một kệ khuyến khích học hỏi. Văn phần
một có hai: Một là năm kệ đầu ví dụ lần lượt chuyển tiếp trả lời về năm nghi ngờ sâu xa:
  1. Nghi ngờ về pháp là thật, trả lời bắt đầu thực hành;
  2. Kiến chấp sinh ra hiểu biết khác nhau, nghi ngờ về pháp lìa  xa nhân;
  3. Nghi ngờ về pháp chân thật phân biệt lìa tâm mà có;
  4. Nghi ngờ đã là tâm tạo tác thì vì sao không phải là có;
  5. Cho rằng tâm tạo tác là pháp có nhận biết.
Điều này nên suy nghĩ chính xác. Hai là tiếp theo bốn kệ về pháp hợp. Tạo ra Như Lai ấy nghĩa là Vô tác Phật. Nguyên cớ thế nào? Bởi vì dựa theo ý đưa ra trước đây không có thể là Hữu tác Phật.
10) Kệ của Bồ-tát Trí Lâm có hai: Một, tám kệ đầu ca ngợi Pháp thân vô cùng sâu xa; hai, tiếp theo hai kệ kết thúc ca ngợi khuyến khích học hỏi. Văn phần một có hai: Ba kệ đầu ca ngợi về Thể, tiếp theo năm kệ ca ngợi về Dụng.
 
 
--------------------------
Phẩm 17: CÔNG ĐỨC HOA TỤ BỒ TÁT THẬP HẠNH
 
Phân biệt có năm môn:
1) Giải thích tên gọi Thập Hạnh và ý đưa ra.
2) Pháp đối trị. Dựa theo Nhất thừa thì như phần vị Giải trước đây, dựa theo Chung giáo ba Thừa thì Thanh văn sợ hãi chướng ngại do khổ.
3) Pháp đạt được gồm chung hành về Định và căn thiện về Nhẫn.
4) Đã thành tựu tức là phần vị Thập Hạnh, chính là Tông của phẩm này.
5) Giải thích văn.
Giải thích tên gọi: Công đức là Thể của hạnh. Hoa Tụ là tên gọi theo ví dụ, ca ngợi về hạnh thù thắng vi diệu có thể mang lại quả làm nơi nương tựa cho các hạnh quy tụ, các đức tụ tập có thể trang nghiêm cho quả Vô thượng Bồ-đề, là nhân cho nên lấy làm tên gọi của Bồ-tát. Thập Hạnh là tướng căn bản của các hạnh, văn nói ví như các pháp từ mười tăng lên, một đến vô lượng đều lấy mười làm số căn bản, bởi vì trí tuệ cho nên sai biệt, thuận theo năm nghĩa mà có được tên gọi. Bởi vì chúng trước đây đã quy tụ, tiếp đến cần phải nói rõ ràng cho nên tiếp tục đưa ra. Phẩm này lấy Thể của sự tu hành và phần vị làm Tông.
Phân rõ về văn. Văn này có bảy phần: Một là phần Tam-muội, hai là phần gia hộ, ba là phần sinh khởi, bốn là phần căn bản, năm là phần tuyên thuyết, sáu là phần lợi ích, bảy là phần kệ tụng.
Một là phần Tam-muội, khéo léo điều phục Định là lực của hạnh.
Hai là phần gia hộ, Tựa về gia hộ khuyến khích, là trình bày về pháp hành này có ý nghĩa vô cùng sâu xa, phạm vi không phải thuộc về mình, tự nhiên không phải là đạo lực gia trì của chư Phật tuyên thuyết thì không có cách nào biết được, cho nên tiếp theo phải trình bày. Trong phần này có hai: Một, tổng quát phân rõ về gia hộ bằng việc làm; hai, từ “Phật tử đương thừa Phật…” trở xuống trình bày về tướng gia hộ sai biệt.
Văn tổng quát về gia hộ có ba: Đầu là trình bày về Phật gia hộ khen ngợi, hai từ “Thập phương…” trở xuống trình bày về nguyên cớ gia hộ, ba từ “Dục linh nhữ quảng…” trở xuống phân rõ về gia hộ bằng việc làm. Văn phần đầu có ba, giống như Hội trước. Trong nguyên cớ có bốn câu có thể biết. Trong gia hộ bằng việc làm có mười câu: Một câu đầu “Dục linh…” là tổng quát, tiếp theo tám câu là mở rộng, tiếp theo một
câu là kết luận về sai biệt. Hai là tướng gia hộ sai biệt qua ba nghiệp có thể biết.
Hỏi: Vì sao ý gia hộ trao cho pháp?
Đáp: Pháp là căn bản của Chánh hạnh, vì vậy trao cho pháp.
Lại hỏi: Hội trước vì sao không trao cho pháp mà lại trao cho trí? Đáp: Bởi vì pháp từ trí phát sinh cho nên đích thân có thể trở thành hạnh, trí cảnh tức là thông suốt cho nên Hội trước chỉ trao cho trí. Đây là dựa theo Địa tiền, không phải là phần vị Chứng cho nên đưa ra cách
giải thích này mà thôi. Trong phần gia hộ bằng ý có ba có thể biết.
Bốn là phần căn bản, từ “Cáo chư Bồ-tát ngôn…” trở xuống, văn có hai: Một, ca ngợi Tông bổn rộng lớn của Thập Hạnh tức là Thể; hai, nêu ra mười tên gọi tức là Tướng. Sáu quyết định giải thích giống như trước, nhưng hành khác nhau mà thôi.
Hỏi: Vì sao trước đây quán về tướng dựa theo tánh, nay ở đây lại dựa theo hành nghiệp?
Đáp: Vì tướng của phần vị Giải trước đây không phải là thù thắng cho nên dựa theo tánh, hành tướng này thì thù thắng cho nên dựa theo tướng, điều này nên suy nghĩ chính xác. Sở dĩ cùng với nhân quả vô thường là vì hiển bày ở phần vị của nhân có lưu chuyển mà thôi.
Thứ hai là trong tướng của phần căn bản có năm:
  1. Hỏi.
  2. Đáp tóm lược.
  3. Trở lại hỏi.
  4. Đáp.
  5. Kết luận.
Thứ tư trong phần đáp: Một, giải thích về Hoan hỷ là Bố thí trở thành niềm vui cho mình và người; hai, nhiêu ích là Trì giới thâu nhiếp lợi ích; ba, không sân hận là Nhẫn nhục chấm dứt nỗi oán hận của mình và người; bốn, vô tận là Tinh tiến đạt được công đức vô cùng tận; năm, lìa si loạn là đạt được Định; sáu, khéo léo hiện rõ là Trí hiện rõ về pháp duyên khởi; bảy, không vướng mắc tức là phương tiện hóa độ; tám, tôn trọng tức là thành tựu ý nguyện; chín, pháp thiện là năng lực trí tuệ khéo léo nói pháp; mười, chân thật là đạt được Trí thuận theo lý khéo léo nói pháp.
Năm là trong phần tuyên thuyết có mười có thể biết.
Trong đoạn Phật tử như thế nào…, đây là văn phần đầu có ba: Một, nhắc lại câu hỏi; hai, giải thích; ba, kết luận. Văn giải thích có ba: Một là phân rõ về hành tướng bố thí có hai: Đầu là giải thích, sau là kết lu-
ận. Hành tướng có mười bảy câu có thể biết. Hai từ “Bồ-tát tu hoan hỷ hạnh thời…” trở xuống trình bày về hạnh thuần thục mở rộng thâu nhiếp khiến cho người khác hoan hỷ, văn này có bốn:
1)Tu oai nghi Bố thí.
2)Lìa xa lỗi lầm.
3)Thiết lập phương tiện.
4)Trình bày về việc làm.
Văn phần này có ba câu, đó là nhân quả của mình và vì chúng sinh, câu thứ ba có hai có thể biết. Ba từ “Ly chư ngã tướng…” trở xuống trình bày về lìa ba Luân thành tựu Thí độ (đàn độ), phần này có hai câu, đó là Tự lợi và Lợi tha.
Văn về tướng Nhiêu ích có ba: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn phần hai là đáp có ba: Một, trình bày về Tánh thành tựu, hai Thể của giới có tám câu. Hai, từ “Bồ-tát như thị trì giới thời…” trở xuống đối với duyên phân rõ về tướng Trì, phần này có bốn: Một là nghi thức trì giới; hai là phân rõ phương tiện; ba là lìa xa lỗi lầm, phần này có năm câu, câu đầu phân hai có thể biết; bốn là trình bày về sự thành tựu, phần này có hai câu có thể biết. Ba, từ “Hà dĩ cố thị ngã nghiệp…” trở xuống là nêu ra hành lìa tướng thành tựu Giới độ. Trong này có hai: Đầu là hỏi, sau là đáp. Văn đáp có ba: Một là trình bày về Quán có năm câu, hai từ “Vị độ giả…” trở xuống trình bày về ý, ba từ “Ngã đương…” trở xuống trình bày về sinh khởi.
Văn về không sân hận có ba: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn đáp có hai: Một, phân rõ về Thể của Nhẫn hạnh có tám câu; hai, từ “Bồ-tát thành tựu như thị tịnh tuệ nhẫn…” trở xuống là đối với duyên phân rõ về tướng Nhẫn. Văn về tướng có ba: Một, nhẫn nhịn người khác không lợi ích, phần này năng-sở phân hai, trong năng thì khẩu-thân phân hai. Hai, từ “Bồ-tát tác thị tư duy…” trở xuống là yên tâm nhẫn nhịn có ba, đó là thiết lập-vặn hỏi-trả lời có thể biết. Ba, từ “Phục cánh tư duy…” trở xuống phân rõ về pháp của nhẫn nhịn, trong này đầu là pháp, tiếp từ “Thị cố…” trở xuống là việc làm có ba câu, ba từ “Phật sở hành pháp…” trở xuống phân rõ về nghi ngờ.
Văn về tướng vô cùng tận có ba, đó là hỏi-đáp và kết luận. Văn đáp có ba: Một, phân rõ về Thể của tinh tiến, tức là Cần-Dũng-Tiến có mười một câu; hai, từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là gia hạnh về Tiến có hai, một là trình bày về sự lìa xa, hai là phân rõ về nơi hướng đến; ba, từ “Bồ-tát thành tựu như thị…” trở xuống phân rõ về khó hoại không đầy đủ như nhau, phần này có hai: Một là có hai hỏi-đáp phân rõ
về khó hoại, hai là giải thích về phạm vi có thể biết.
Văn về tướng lìa si loạn có ba: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn đáp có ba: Một, phân rõ về tiến vào lý an lạc trú trong Định; hai, Bồ-tát này thành tựu tịch tịnh dẫn dắt thông suốt trong Định; ba,  từ “Bồ-tát văn thử năng hoại…” trở xuống là tùy theo Định để Lợi tha. Trong này phần một có ba: Một, phân rõ Thể của Định không mất. Hai, từ “Bồ-tát thành tựu như thị đẳng…” trở xuống là phân rõ về nghiệp dụng của Định, trong phần này có bốn:
1)Tổng quát phân rõ.
2)Từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích về nguyên cớ.
3)Từ “Thử Bồ-tát…” trở xuống là riêng biệt phân rõ có hai, đầu là phân rõ, tiếp là đối với nhân để trình bày.
4)Từ “Như thị đẳng…” trở xuống là lấy mở rộng để hiển bày tóm lược. Ba, từ “Bồ-tát ư Tam-muội trung…” trở xuống phân rõ quán hạnh thành tựu tự tại trước đây mà thôi, trong này tướng tánh thành tựu đối trị phân ba, văn còn lại có thể biết.
Văn về khéo léo hiện rõ có ba: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn đáp có ba: Một, phân rõ về Bát-nhã gia hạnh; hai, từ “Vô sở y-vô sở trú…” trở xuống là chính thức chứng được trí; ba, từ “Phân biệt nhất thiết thế gian pháp…” trở xuống là Hậu trí Bát-nhã. Văn phần một có hai: Một là trình bày về Thể của trí, hai từ “Vô sở hữu…” trở xuống là giải thích về nghĩa thành tựu trước đây. Văn về chính thức chứng được trí có mười tám câu, có bốn:
1)Bảy câu phân rõ về Lý tương ưng với Trí.
2)Từ “Ly nghiệp báo…” trở xuống có sáu câu phân rõ chính thức chứng được lìa các tướng.
3)Từ “Vô sở y trú…” trở xuống có hai câu phân rõ về phần lượng đã an trú.
4)Từ “Nhập ly hư vọng…” trở xuống có ba câu trình bày quán thành tựu phần hỏi về tiến vào Vô tánh. Văn về Hậu trí có ba: Một, phân rõ về Như lý trong trí Như lượng tức là hiển bày về pháp đã nhận biết; hai, từ “An trú tam thế bình đẳng…” trở xuống phân rõ về Như lượng trong trí Như lượng tức là đối với chúng sinh đã hóa độ; ba, từ “Thị Bồ-tát trú thử hạnh thời…” trở xuống là đức dụng tự tại. Văn còn lại suy nghĩ có thể biết.
Văn về không vướng mắc có ba: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn đáp có ba: Một, phân rõ về phương tiện Tự lợi; hai, từ “Sơ đắc thọ ký…” trở xuống phân rõ về phương tiện Lợi tha; ba, từ  “Bồ-tát
như thị quán sát…” trở xuống là khéo léo đầy đủ Tự lợi và Lợi tha có hai: Một là phân rõ hai hạnh, hai từ “Sở dĩ giả hà…” trở xuống phân rõ nguyên cớ có thể biết.
Văn về Tự lợi có hai: Một là Tu trong phần vị của mình, hai từ “Bất xả Bồ-tát tâm…” trở xuống phân rõ về Tu trong phần vị thù thắng, có hai có thể biết. Phần vị của mình có ba: Một, ở trong pháp thanh tịnh tu về hạnh không vướng mắc, có hai có thể biết; hai, từ “Kiến bất tịnh sát…” trở xuống là ở trong hành nhiễm thấy tu về bất tịnh; ba, từ “Hà dĩ cố…” trở xuống phân rõ nguyên cớ không vướng mắc trước đây, có ba: Một là hỏi đáp tổng quát phân rõ, hai là mở rộng phân rõ, ba là đối với sinh khởi trình bày về lìa xa lỗi lầm.
Văn về Lợi tha có ba: Một là phân rõ về quán phương tiện Đại Bi; hai từ “Bất trước thân đẳng…” trở xuống chính thức trình bày về hạnh không vướng mắc, trong phần này có mười câu; ba từ “Hà dĩ cố…” trở xuống trình bày về nguyên cớ không vướng mắc. Phần một là quán Đại Bi có ba: Một, phân rõ về Đại Bi sâu nặng; hai, từ “Nhĩ thời Bồ-tát kiến bỉ sinh…” trở xuống trình bày về tăng thượng; ba, từ “Nhĩ thời Bồ-tát tác như thị niệm…” trở xuống trình bày Đại Bi là đầu tiên mà thôi.
Văn về Tôn trọng có ba: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận. Văn đáp có sáu: Một, phân rõ về pháp được tôn trọng. Hai, từ “Thử Bồ-tát hành thời…” trở xuống phân rõ về nơi hướng đến, phần này có hai, một là hướng đến, hai là lợi ích; phần lợi ích có ba lợi ích:
1)Thành tựu ý nguyện.
2)Thành tựu chúng sinh.
3)Hiển bày về lý.
Trong phần Lý có hai: Đầu là pháp-dụ-hợp tức là lập Tông, hai là có hai vặn hỏi có thể biết. Ba, từ “Bồ-tát như thị…” trở xuống phân rõ về Dụng đã thành tựu, có ba văn về pháp-dụ-hợp, trong văn đầu về pháp:
1- Từng hạnh một lìa xa lỗi lầm.
2- Đạt được pháp là con người.
3- Thành công hòa nhập pháp giới. Bốn, từ “Nhi Bồ-tát Ma-ha- tát…” trở xuống trình bày về hạnh tự tại. Năm, từ “Như thị Bồ-tát thành tựu…” trở xuống phân rõ về Dụng không có hai, văn phần này có bốn nghĩa, nghĩa thứ tư trong phần đáp có ba văn về pháp-dụ-hợp có thể biết. Sáu, từ “Thử Bồ-tát…” trở xuống trình bày về hạnh thành tựu có hai: Một là Tự lợi, hai là Lợi tha. Văn về Lợi tha có hai: Một là Giáo, hai là nói rõ ý mình để trừ bỏ nghi ngờ có hai: Đầu là nói rõ ý, sau có hai vặn hỏi có thể biết.
Văn về Pháp thiện có bốn: Đầu là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là lợi ích. Văn đáp có ba: Một, nêu ra pháp thiện để làm chủng tử Phật; hai, từ “Thanh tịnh Đà-la-ni…” trở xuống là giải thích về thành tựu Thể của hạnh; ba, từ “Bồ-tát Ma-ha-tát an trú thiện pháp hành…” trở xuống dựa theo tu phân rõ về thành tựu. Văn thứ hai giải thích về thành tựu Thể của hạnh có hai: Một, phân rõ về Thể của hạnh có hai có thể biết; hai, từ “Nhĩ thời Bồ-tát…” trở xuống trình bày về tác dụng của hạnh, tác dụng có hai có thể biết. Văn thứ ba dựa theo tu phân rõ về thành tựu có hai: Một là tổng quát, hai là riêng biệt. Văn riêng biệt có ba: 1- Tổng quát, 2- Từ “Phật tử…” trở xuống là riêng biệt có hai có thể biết, 3- Từ “Thành tựu như thị thập loại thân…” trở xuống là kết luận thành tựu tác dụng của hạnh.
Văn về Chân thật có hai: Đầu là hỏi, sau là đáp. Văn đáp có bảy: Một, lời nói và việc làm tương ưng cho nên chân thật. Hai, từ “Thử Bồ-tát…” trở xuống là hạnh tương ưng, đây chính là giải thích tên gọi. Ba, từ “Bồ-tát thành tựu chúng sinh…” trở xuống phân rõ về Thể của hạnh, phần này có hai: Đầu là thiết lập, tiếp từ “Thị cố…” trở xuống là kết luận về thù thắng. Văn về thiết lập có hai, đều có thiết lập-vặn hỏi và đáp. Bốn, từ “Bất xả…” trở xuống phân rõ về tác dụng của hạnh, đó là thân-khẩu-ý tức là ba. Năm, từ “Bồ-tát Ma-ha-tát trú Đại Bi…” trở xuống phân rõ ngay phần vị lấy nhân để thành tựu quả. Sáu, từ “Thị danh…” trở xuống là kết luận. Bảy, từ “Thử Bồ-tát an trú…” trở xuống là thành tựu lợi ích.
Trên đây là dựa theo tướng Tín-Hạnh của Nhất thừa. Nếu lúc dựa theo ba Thừa nhờ vào phần vị quán sát riêng biệt thì như kinh.
Trong Hạnh thứ nhất bởi vì tự đạt được Nhất thiết chủng trí cho nên khởi lên bốn Tinh tiến, thường xuyên tu hai pháp thiện, thường xuyên đoạn hai pháp ác, vốn là để cầu quả Phật.
Trong Hạnh thứ hai bởi vì đạt được tự thân có Đại lực vốn là bốn Như ý túc: Niệm giữ gìn cảnh, Tinh tiến tìm cầu, Định-Xả thâu nhiếp, Tuệ soi chiếu cảnh, cho nên tự tại đạt được pháp Vô sinh.
Trong Hạnh thứ ba bởi vì nguyện đầy đủ Vô úy, đó là năm căn Tín-Tiến-Niệm-Định-Tuệ đều vốn là Vô tướng.
Trong Hạnh thứ tư bởi vì cầu đầy đủ Tam Bảo, đó là năm phần pháp: Thân giới trừ bỏ sai lầm của thân, Định không có tâm tán loạn, Tuệ tỏ ngộ tướng hư giả, Giải thoát không có ràng buộc, Giải thoát tri kiến cho nên thấy biết tất cả chúng sinh không có ràng buộc, bởi vì các pháp như hư không cho nên không có hai.
Trong Hạnh thứ năm bởi vì hóa độ tất cả chúng sinh, đó là tám Chánh đạo: Từ thầy phát sinh Tuệ gọi là Chánh tri kiến, đạt được pháp phát sinh suy nghĩ gọi là Chánh tư duy, xuất gia học đạo đạt được ba phần đạo gọi là Chánh ngữ-Chánh nghiệp-Chánh mạng, tiến vào tánh Không của pháp gọi là Chánh định-Chánh giác, đối với Vô sinh không hai cho nên quán sát về một hợp tướng.
Trong Hạnh thứ sáu bởi vì Đại Bi cho nên khởi lên bảy quán, Trạch pháp-Niệm pháp-Tinh tiến pháp-Quán pháp-Hỷ pháp-Định pháp-Tuệ pháp, vốn là hòa vào một tướng.
Trong Hạnh thứ bảy bởi vì đạt được bốn Vô ngại, đó là năm căn thiện, Chánh quán-Noãn quán-Đảnh quán-Nhẫn quán, ba cõi Không, Đệ nhất quán có thể sinh khởi Đại minh tuệ Vô tướng của Thập Địa, cho nên Đệ nhất Không bình đẳng chưa thay đổi thai của Thánh nhân.
Trong Hạnh thứ tám bởi vì từng hạnh từng hạnh trong tất cả các cõi Phật, đó là bốn Hóa pháp, Pháp biện-Nghĩa biện-Ngữ biện-Nhạo thuyết biện, bốn loại này gọi là Tuệ, tánh soi chiếu tất cả các pháp Vô sinh, vốn là hạnh trong Đệ nhất nghĩa đế.
Trong Hạnh thứ chín bởi vì ở trong một niệm soi chiếu tất cả các pháp, đó là ba đời-mười hai nhân duyên đều là giả hợp hội tụ thành tánh, cho nên thật sự không thể đạt được.
Trong Hạnh thứ mười bởi vì tự tại chuyển Đại pháp luân, đó là Tam Bảo của Bồ-tát, Trí hiểu rõ Trung đạo tất cả các pháp không sinh là Phật bảo, phép tắc sử dụng là Pháp bảo, thường xuyên đi vào sáu nẽo cùng với chúng sinh tương ưng gọi là Tăng bảo, cho nên chuyển tất cả dòng chảy của chúng sinh hòa vào biển Phật. Đây là dựa theo ba Thừa nhờ vào phần vị mà nói.
Sáu là phần lợi ích, từ “Nhĩ thời Phật thần lực cố…” trở xuống là chứng minh thành tựu về pháp đã nói, văn này có bốn: Một, mặt đất chấn động-mưa hoa…. Hai, từ “Như thị Tứ Thiên…” trở xuống là kết luận quy về bình đẳng. Ba, từ “Nhĩ thời các quá…” trở xuống trình bày về Bồ- tát mười phương chứng minh thành tựu. Dùng văn Bồ-tát mười phương chứng minh thành tựu này thì biết, các Hội sau chỉ là Phật Bồ-tát cùng tên gọi ở cõi này đều bởi vì chứng minh nghĩa lý cho nên đến tụ hội. Hội đầu tiên mười phương cùng tên gọi là Tập, chỉ là ảnh hưởng nêu lên phạm vi của phần vị chưa phải là chứng pháp, còn lại có thể dựa theo đó. Bốn, kết luận thông suốt mười phương.
Bảy là văn trùng tụng có hai: Một, trường hàng phân rõ về ý thuyết kệ.
Hỏi: Trong này chủng tánh Phật và chủng tánh Bồ-tát khác nhau thế nào?
Đáp: Nhân vị của Bồ-tát do Phật mà thành tựu tức là tánh Phật, do Bồ-tát tự thành tựu tức là tánh Bồ-tát, như vậy có thể suy nghĩ chính xác mà thôi. Hai, phần thuyết kệ có một trăm hai mươi kệ, trong phần này có ba:
1)Đầu là kệ bảy chữ ca ngợi tổng quát;
2)Ca ngợi riêng biệt;
3)Sau có bốn hàng tổng quát kết luận về tâm tình rộng lớn, điều đó có thể suy nghĩ. Vả lại, những phẩm đức này trong mỗi một phần vị Thập Hạnh trên đây đều có đủ.
/20
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »