ĐẠI PHƯƠNG QUÃNG PHẬT
HOA NGHIÊM KINH SƯU HUYỀN PHÂN TỀ THÔNG TRÍ
PHƯƠNG QUỸ
QUYỂN 2
(Phần 2)
Phẩm 18: BỒ TÁT THẬP VÔ TẬN TẠNG
Bốn môn giống như trước.
1) Giải thích tên gọi. Bồ-tát là người, Thập là số căn bản, Vô Tận là phạm vi, Tạng là tích chứa. Bởi vì Thể không phải là phạm vi của số đếm, Hạnh không có cùng tận, mà sinh diệt vốn không thay đổi, cho nên nói là Vô Tận; một thâu nhiếp tất cả, hàm chứa tất cả không có gì ngoài, cho nên nói là Tạng. Còn lại có thể dựa theo biết rõ.
2) Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì phần vị chính thức của phần mình đã thành tựu, tiếp đến trình bày về thắng tiến đi vào phần vị sau cho nên đưa ra. Sở dĩ trước đây hỏi ở sau Hồi Hướng, nay trả lời ở trước là bởi vì muốn hiển bày về hạnh nối thông, cũng có thể Hồi Hướng là phương tiện trợ giúp, Tạng vốn từ nguồn gốc của hạnh cho nên thuộc về đầu tiên.
3) Phẩm này lấy các nghĩa về tích chứa công đức, năng sở vô cùng sâu xa làm Tông.
4) Phân rõ văn. Văn này có ba: Một, nêu ra số để dẫn chứng, sơ lược ca ngợi nêu ra tên gọi; hai, từ “Hà đẳng vi Bồ-tát…” trở xuống là phân rõ về tướng; ba, từ “Thử Tạng hữu thập…” trở xuống là kết luận.
Văn phần một có hai có thể biết. Mười tên gọi:
1. Tín tức là đầu tiên của Thập Địa, và giữ gìn thư từ(thư trì) trong Nhiếp Luận.
2. Giới tức là Từ Bi trong Địa, và thứ sáu là dạy người khác đạt được trong Luận.
3, 4. Tàm và Quý tức là Hạnh trong Địa, và thứ chín là một mình
ở nơi trống trải vắng lặng trong Luận.
5. Văn tức là biết các kinh luận trong Địa, và thứ tư là cung kính nghe nhận trong Luận.
6. Thí tức là tên gọi về Xả trong Địa, và tên gọi về Bố thí trong Luận.
7. Tuệ tức là thứ mười Tu tập như pháp trong Địa, tức là thứ mười Tu tướng nhập ý trong Luận.
8. Chánh niệm tức là không mệt mỏi trong Địa, và tự đọc tụng trong Luận.
9. Trì tức là lực kiên cố trong Địa, tức thứ bảy là như pháp đã nói nhất tâm luyên tập trong Luận.
10. Biện tức thứ sáu là khéo léo hiểu rõ pháp thế gian-tức là bốn biện tài trong Địa, tức là thứ tám như lý giải thích rộng ra cho người khác trong Luận.
Địa Luận và Nhiếp Luận đều có phần cúng dường, trong này vì sao không có? Bởi vì trong này phân Tàm-Quý làm hai, cũng có thể là Tạng trong này cùng với Luận ấy luôn luôn khác biệt về nghĩa.
Phần hai là văn mở rộng phân rõ có hai: Một, giải thích về tướng; hai, từ “Thị vi…” trở xuống là kết luận ca ngợi về dụng của hành có thể thành tựu Đại quả.
Văn phần đầu về Tín Tạng có bốn:
1. Nêu ra tên gọi,
2. Phân rõ về tướng,
3. Kết luận,
4. Trở lại ca ngợi về dụng của hạnh.
- Phân rõ về tướng có ba: Một là Tự tánh trú trong Phật tánh; hai từ “Phật như thị tri…” trở xuống là dựa theo tánh đến đạt được quả; ba từ “Thử Bồ-tát thành tựu như thị…” trở xuống là dựa theo tánh dẫn ra. Văn phần một về Tự tánh có ba: Một, tiến vào lý; hai, phân rõ về Tín kiên cố; ba, từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là quyết định về nghi ngờ. Văn phần hai là dựa theo tánh đến đạt được quả có hai: Một, phân rõ về cảnh của Tín; hai, từ “Bồ-tát thành tựu…” trở xuống trình bày về tin hiểu thành tướng. Văn phần ba là dựa theo tánh dẫn ra có ba: Một, nhắc lại trước đây; hai, từ “Bất thối…” trở xuống tức là trình bày về phạm vi cảnh giới của Tín; ba, từ “Hộ trì…” trở xuống phân rõ về Tín hạnh thành tựu.
Giới Tạng có ba:
1. Nêu ra tên gọi.
2. Giải thích riêng biệt.
3. Từ “Thị vi…” trở xuống là kết luận.
Về sau các văn có ba đoạn, dựa theo đây có thể biết.
Văn giải thích riêng biệt có ba: Một, nhắc lại mười tên gọi; hai, từ “Hà đẳng…” trở xuống là phân rõ về tướng; ba, từ “Thử Bồ-tát trì như thị đẳng…” trở xuống là công dụng của Đại Bi lợi ích cho chúng sinh. Trong đó Giới không tranh cải không thể không phải là chế định trước, không trải qua tạo lập là tùy thuận thật tế, Thể không phải là Tập khởi. Tâm thường tùy thuận hướng đến Niết-bàn, là tất cả các sự việc tức là tướng Niết-bàn không còn trải qua diệt.
Văn về Tàm có ba giống như trước. Thứ hai trong phân rõ về tướng có bốn: Một, biết lỗi của mình; hai, từ “Nhất thiết…” trở xuống là biết chúng sinh có lỗi lầm; ba, từ “Tự duy…” trở xuống là sự thấy biết của Thánh Hiền; bốn, Từ “Thị cố…” trở xuống là lìa xa lỗi lầm biểu hiện về tâm Tàm.
Văn về Quý có ba giống như trước. Thứ hai trong phân rõ về tướng có bốn: Một, biết lỗi của mình; hai, từ “Phục tác…” trở xuống là biết chúng sinh có lỗi lầm; ba, sự thấy biết của Thánh Hiền; bốn, từ “Ngã đương…” trở xuống là lìa xa lỗi lầm biểu hiện về tâm Quý.
Đa văn. Thứ hai trong phân rõ về tướng có ba: Một, nêu ra mười loại sự việc đã nghe; hai, phân rõ về mười tướng; ba, từ “Bồ-tát tác như thị niệm…” trở xuống là Lợi tha. Mười hai nhân duyên là Vô vi, thì một Luận sư thuộc Bà-sa luận nói: “Hữu vi không tự lập mà nhờ vào Vô vi.” Văn trong này có sáu Vô vi, nhưng giải thích:
-
Không là dựa theo tướng của Sự mà phân rõ;
-
Niết-bàn là dựa theo phần vị mà luận;
-
Số diệt là dựa theo Tánh phân tán;
-
Phi số diệt là dựa vào Sự phân tán;
-
Duyên sinh là dựa theo Lý thuận theo Sự;
-
Lý pháp giới không đối với Sự.
Đối với tình tức là nguyên cớ của hữu vi, và ý còn lại suy nghĩ có thể hiểu. Những nghĩa này đều là tự Thể của duyên khởi, đan xen mà không lẫn tạp, không thể nào dùng tướng của Sự mà luận bàn. Đây là giáo tướng của Đại thừa. Nếu luận về phương tiện hiểu biết tiến vào, thì tất cả giáo tướng cần phải so sánh chọn lấy trong giải thích. Nếu luận về hiểu biết chính xác, thì phải là giải thích về giáo bí mật, mới có thể hiển bày tướng nghĩa của Đại thừa. Rất cần phải đạt được ý, đừng mê hoặc vì âm thanh ấy, Vô ký có sáu mươi.
Thí. Thứ hai phân rõ về tướng: Nói đến Thí là lấy sự lợi ích của
bố thí cứu giúp làm nghĩa, vì vậy văn nói cho đến tự thọ nhận đồ vật sử dụng không có gì không phải là Thí. Nếu ngay trong sự tướng để trình bày, thì như văn đã nêu ra. Nếu dựa vào giải thích rõ ràng để trình bày, thì chỉ khiến cho hiểu xa đến cùng tận Tông chỉ, đừng hỏi về ý tưởng sâu xa mà cho là Chánh trí. Một khi mở thông tâm tình rồi cho đến ba nghiệp khởi động tiến vào tùy duyên mà thực hiện, không có gì không tùy thuận như thật tương ưng với Vô Tận Tạng, do đó có thể kiến lập chủng tử căn bản của Vô thượng Bồ-đề. Văn có hai: Một, nêu ra tên gọi; hai, mở rộng phân rõ. Trong pháp Thí trước đây có ba loại pháp Thí, dựa theo có thể biết. Văn còn lại hiển bày lẫn nhau có thể biết.
Tuệ. Thứ hai trong phân rõ về tướng có năm: Một, bảy câu đầu là cảnh đã biết, bốn câu trước mỗi câu đều có hai nghĩa: Thứ nhất-Sắc Khổ là Sắc của Báo, hai-Sắc Tập là Sắc của Nghiệp, ba-Sắc Diệt là Sắc của tánh phân biệt, bốn-Sắc Đạo là Sắc của đạo và thiện; thứ hai-Sắc Khổ là Sắc vô thường, hai-Sắc Tập là đời sau, ba-Sắc Diệt tức là Chân như, bốn-Sắc Đạo là đồ dùng để thành đạo, còn lại dựa theo đó. Thanh văn và Bồ-tát… thì một là biết về con người; hai là biết về quy phạm của pháp; ba là biết về nhân của Đạo, bởi vì nhiều phiền não huân tập cho nên được tên gọi là Tập; bốn là biết về quả của Diệt. Thể tướng nói như sau. Hai, từ “Vân hà tri…” trở xuống phân rõ về các pháp quán gia hạnh, tức là Tự lợi có hai văn hỏi-đáp, trong đáp có sáu câu có thể biết. Ba, từ “Quảng vi thuyết…” trở xuống là Lợi tha có năm câu:
-
Tổng quát.
-
Hỏi đáp trình bày về phạm vi của nghĩa.
-
Hỏi đáp hiển bày về nghi thức tuyên thuyết.
-
Vặn hỏi.
-
Đáp về nguyên nhân có bốn câu mà thôi.
Bốn, từ “Bồ-tát thành tựu…” trở xuống phân rõ về hạnh Tự lợi-lợi tha thành tựu tướng, có hai có thể biết. Năm, từ “Thử trí tuệ Tạng hữu thập chủng…” trở xuống phân rõ về Tuệ thâu nhiếp Vô tận, có bốn có thể biết.
Niệm Tạng. Thứ hai văn phân rõ về tướng có ba: Một, phân rõ về pháp thanh tịnh đã nghĩ nhớ, nói Niệm Phật là tùy thuận giác ngộ chân thật; nói Thọ ký là quy phạm kỳ diệu của sự giác ngộ chân thật hiển bày lòng dạ này; nói Niệm trì Tu-đa-la là tướng giác ngộ trọn vẹn đầy đủ như nhau rõ ràng ở bên ngoài, bởi vì lúc đầy đủ quy phạm kỳ diệu thì lấy làm phép tắc cho thế gian. Hai, từ “Bồ-tát tác như thị niệm…” trở xuống phân rõ về Thể của Thập Niệm. Ba, từ “Thử Bồ-tát trú thị…” trở
xuống trình bày về Niệm mạnh mẽ bền vững. Nói đến Diệu là kỳ diệu hơn người khác. Tịnh niệm là ghi nhớ rõ ràng. Bất trược là không lẫn tạp tối tăm chướng ngại. Biến tịnh niệm là đối với pháp đều sáng tỏ. Ly trần niệm là đối với sự việc đã nghĩ nhớ không sinh tham nhiễm. Ly chủng chủng trần niệm là không sinh kết buộc gì khác. Ly cấu niệm là không chấp vào năng lực của mình. Quang diệu niệm là chiếu soi rộng rãi khắp nơi. Nói về Lạc niệm là vui với tu tập không thôi. Vô chướng ngại là gọi ý liền biết, không cần phải suy nghĩ….
Văn về Trì có bốn: Một, hỏi; hai, phân rõ về tướng; ba, kết luận; bốn, ca ngợi đức. Văn phân rõ về tướng có ba:
-
Phân rõ về người Trì,
-
Phật là trình bày về điều đã nghe thuận theo nơi chốn,
-
Từ “Văn trì nhất phẩm…” trở xuống phân rõ về pháp đã nghe.
Biện. Thứ hai phân rõ về tướng có bốn: Một, nhắc lại; hai, phân rõ; ba, kết luận; bốn, ca ngợi về đức. Thứ hai là văn mở rộng phân rõ có năm:
-
Trình bày về Hậu trí phân rõ về Thể.
-
Từ “Quảng vi…” trở xuống trình bày về công năng của Biện.
-
Từ “Hà cố…” trở xuống là giải thích về thành tựu.
-
Từ “Thành tựu thử Tạng cố…” trở xuống mở rộng trình bày về sự việc thành tự do đức của Biện.
5) Từ “Thử Bồ-tát thành tựu bách vạn…” trở xuống là sự thành tựu do tác dụng của Biện vô tận. Văn này có hai: Một là giải thích, hai là hỏi đáp trừ hết nghi ngờ. Từ “Phật tử thị vi…” trở xuống là phần thứ hai kết luận về tác dụng của đức có thể thành tựu Đại quả Vô tận; tiếp theo từ “Thử Tạng hữu thập loại…” trở xuống là phần thứ ba kết luận ca ngợi Biện Tạng sâu sắc phát sinh công đức vô tận, có bốn có thể biết.
----------------------------
Phẩm 19: PHẬT THĂNG ĐÂU SUẤT THIÊN CUNG NHẤT THIẾT BẢO ĐIỆN
(Hội thứ năm)
Phẩm này tức là trả lời về phần Hồi Hướng trên. Bốn môn giống như trên.
1. Giải thích tên gọi. Tri Túc Thiên là dựa theo hạnh làm chuẩn. Vả lại, Hội thứ ba trước đây chỉ nói về cung điện ở đó, Hội thứ tư chỉ nói về sự trang nghiêm, Hội thứ năm nói đến Nhất thiết bảo trang nghiêm, Hội thứ sáu nói đến Ma-ni bảo… là bởi vì muốn hiển bày về đức tướng Từ Bi tùy theo chúng sinh mà tăng lên.
2. Ý đưa ra. Vì sao đưa ra? Bởi vì nếu không Hồi Hướng thì không biết từ đâu tiến lên. Có hai ý, một là ý đưa ra thuộc về Hội, hai là ý đưa ra thuộc về Phẩm, giống như trước theo đó có thể biết.
3. Tông của Hội thứ ba phân biệt có hai, dựa theo người và pháp, cùng có Thể-Tướng-Dụng, theo trước có thể biết. Nhưng bởi vì Thể của Tông trong Hội này lại đưa ra khác với các Hội trước sau, cho nên Tông có hai nghĩa:
1) Nêu ra tánh Phổ Hiền phát khởi thật đức tùy theo duyên sai biệt mà nói để phát khởi Tín tâm, tức là Hội thứ nhất trình bày về thế giới hải, Hội thứ hai trình bày về Thập Tín, Hội thứ ba trình bày về Thập Giải, Hội thứ tư trình bày về Thập Hạnh, Hội thứ năm trình bày về phương tiện Hồi Hướng, Hội thứ sáu trình bày về tu thành tựu pháp của hai hành nhân quả vô lậu vốn có…, Hội thứ bảy dựa vào pháp thành tựu đức của hành nhân quả, Hội thứ tám dựa vào con người thành tựu đức sai biệt của phần vị. Đây đều là pháp cùng học của Nhất thừa và Tam thừa.
2) Thâu nhiếp duyên sai biệt mà thuận theo thật pháp vốn có, tức là Hội thứ nhất quán sát về năm Hải-mười Trí viên minh để bắt đầu tuyên thuyết, Hội thứ hai là phần vị Tín thành tựu phần lượng công đức về nhân quả chân thật vốn có của phần vị, Hội thứ ba là phần vị Giải hiển bày chứng được nhân quả Phổ Hiền thuộc về tánh đức, Hội thứ tư là phần vị Hạnh hiển bày chứng được nhân quả Phổ Hiền thuộc về bổn tánh, Hội thứ năm là phần vị phương tiện Hồi Hướng hiển bày chứng được nhân quả Phổ Hiền như tướng của pháp giới, Hội thứ sáu là phần vị Chứng hiển bày nhân quả Phổ Hiền thuộc về chứng tánh, Hội thứ bảy là dựa vào pháp để hiển bày phạm vi hành đức của nhân quả Phổ Hiền thuộc về Thông giáo, Hội thứ tám dựa vào con người để hiển bày chứng
được công đức thuộc về lý sự duyên khởi của nhân quả Phổ Hiền. Đây là nghĩa sai biệt về phần lượng của phần vị.
4. Giải thích văn. Văn này có ba phẩm phân ra hai: Hai phẩm đầu là Tựa về Phương tiện, một phẩm sau là Chánh Tông. Phẩm đầu này có hai: Một là dụng của Thể, hai là Thể dung hòa. Trong phần Thể dung hòa có ba, đó là thân-khẩu-ý, nhưng nhân quả tương ưng làm phương tiện sau, trên đây đều giống như vậy mà thôi.
Thứ hai từ “Thời bỉ Thiên Vương…” trở xuống là tùy duyên nhiếp hóa, văn này có sáu: Một, từ “Thời bỉ Thiên Vương…” trở xuống từ Thể khởi Dụng là duyên nhiếp hóa; hai, từ “Tức ư…” trở xuống phân rõ vua chuẩn bị đồ vật cúng dường tức là thành tựu căn; ba, từ “Nhĩ thời Thế Tôn, dĩ Phật trang nghiêm…” trở xuống trình bày về Phật nhận lời thưa thỉnh, thăng tòa là trình bày về tướng cơ cảm; bốn, từ “Nhĩ thời Phật thần lực vi Thiên Vương cố…” trở xuống trình bày về oai lực thù thắng gia hộ chấm dứt loạn động trú trong vắng lặng; năm, từ “Nhĩ thời Thiên Vương…” trở xuống trình bày từ Định vắng lặng phát Trí nói kệ ca ngợi; sáu, từ “Nhĩ thời Thế Tôn thăng Nhất thiết bảo điện…” trở xuống phân rõ Pháp thân Phật bình đẳng thâu nhiếp lợi ích thành tựu sự việc không hư giả.
Văn thứ hai có hai: Một là thành tựu căn; hai từ “Nhĩ thời Thiên Vương vi Như Lai phu tọa cánh…” trở xuống là Thiên Vương ra ngoài đón tiếp Đức Thế Tôn, phân rõ về nghi thức cung kính, tức là căn chín muồi thành tựu mong muốn. Phần đầu trang nghiêm đồ vật cúng dường, văn có ba: Một, tổng quát trang nghiêm để thiết lập Tông; hai, từ “Sở vị…” trở xuống riêng biệt mở rộng phân rõ về phương pháp nghi thức tu tập tiến vào; ba, từ “Như thị Tứ Thiên…” trở xuống là kết luận ca ngợi như nhau hiển bày về cơ ứng với pháp.
Văn phần một có hai: Một là tổng quát trình bày về chỗ ngồi trang nghiêm, hai từ “Quá khứ tu tập…” trở xuống phân rõ về nhân duyên. Nhân duyên có mười ba câu, một câu đầu là tổng quát, còn lại là riêng biệt, theo thứ tự loại trừ nghi ngờ có thể biết. Ngay phần thứ hai từ “Sở vị…” trở xuống mở rộng nói về ở trong cung điện tu hạnh cúng dường trở thành phương pháp nghi thức, toàn văn có ba:
1) Phân rõ về hạnh trang nghiêm tự tại về Khí thế gian.
2) Từ “Bách vạn ức chư Thiên thần vương…” trở xuống trình bày về hạnh trang nghiêm tự tại về Chúng sinh thế gian, đây là người chủ động cúng dường.
3) Từ “Bách vạn ức chư Đại Bồ-tát…” trở xuống là hạnh trang
nghiêm tự tại về Trí chánh giác, bởi vì phần này là chứng lý.
Có cách giải thích khác: Trong này có năm mươi tám chúng có thể biết. Phần một là Khí thế gian, văn có hai:
1) Đồ vật trang nghiêm ngoại trần;
2) Từ “Bách vạn ức thần lực tự tại…” trở xuống trình bày về trang nghiêm nội pháp. Trong phần Trí chánh giác, mười ba câu đầu phân rõ về con người, tiếp theo hai mươi câu là đức của hạnh. Các Đại Bồ-tát là người đi vào đạo tràng tụ hội, Hoa Thủ… là phần vị Tín giải.
Văn thứ hai là đón tiếp Phật có ba: Một, ra ngoài đón tiếp là phân rõ về nghi thức cung kính có hai, một là kết luận phần trước, hai là sinh khởi phần sau. Hai, thiết lễ cúng dường. Ba, chính thức thưa thỉnh. Phần hai là thiết lễ cúng dường, văn có ba: Một, trình bày về phần mình thực hành cúng dường có hai, một là bên ngoài, hai là bên trong có thể biết. Hai, từ “Phật thần lực cố…” trở xuống trình bày về phần thắng tiến thực hành cúng dường. Ba, từ “Nhĩ thời nhất thiết chư Thiên chúng…” trở xuống phân rõ hai hành tiến vào cảnh giới Phật. Hai là trong đức của phần thắng tiến có ba: Một là tổng quát, hai là riêng biệt trang nghiêm hư không, ba là tung hoa cúng dường Như Lai. Ba, từ “Nhĩ thời nhất thiết chư Thiên chúng…” trở xuống trong phần trình bày tiến vào cảnh giới Phật có ba: Một là phân rõ về Lợi tha; hai từ “Thời chư Thiên kiến Như Lại thân nhất nhất mao khổng…” trở xuống là đức về Tự lợi; ba từ “Nhĩ thời Như Lai…” trở xuống phân rõ tự tha bình đẳng vô cùng tự tại. Ngay trong đoạn trước, một là biết về đức Lợi tha, hai từ “Như thị chánh niệm…” trở xuống có mười câu là kết luận về lợi ích của quán sát
hiểu biết. Trong phần một là biết đức có hai:
1) Người mạnh mẽ… là đức của Báo thân,
2) Từ “Thuận chúng sinh căn vi hiện Phật thân…” trở xuống là đức của Hóa thân. Trong phần Báo thân, một là đức của thân nghiệp, hai từ “Trú Nhất thiết trí…” trở xuống phân rõ về đức của khẩu nghiệp, ba từ “Phật trí tuệ nguyệt…” trở xuống trình bày về ý nghiệp. Trong phần Hóa Phật, một là thân nghiệp, hai từ “Thường dĩ pháp thí…” trở xuống trình bày về khẩu nghiệp, ba từ “Giai do tùng tâm khởi…” trở xuống phân rõ về ý nghiệp. Những cảnh giới Phật cách xa trên đây, tức là sự tác dụng của con người đối với nhân hồi hướng.
Hai là trong đức Tự lợi có sáu câu: Một, câu đầu phân rõ về phóng ánh sáng; hai, từ “Tự nhiên…” trở xuống phân rõ trong ánh sáng nói kệ; ba, từ “Hiển hiện A-tăng-kỳ…” trở xuống trình bày về tướng trang nghiêm; bốn, từ “Hiển hiện bất khả tư…” trở xuống là hiện ra Hóa thân
thuyết pháp; năm, từ “Hựu Phật thân trung…” trở xuống hiện ra ánh sáng quý báu hiển bày về nhân hạnh; sáu, từ “Hựu đổ tự tại thần lực…” trở xuống trình bày về thuyết pháp giáo hóa.
Ba là phần Tự tha bình đẳng vô cùng tự tại, văn có bốn: Một, nhắc lại đức Từ Bi trước đây; hai, từ “Dục linh vô lượng…” trở xuống là tùy cơ nhiếp hóa lợi ích; ba, từ “Thành tựu Như Lai…” trở xuống là thành tựu đức tiến vào cõi Phật; bốn, từ “Như Lai hiển hiện…” trở xuống là kết luận ca ngợi về vô tận.
Thứ ba là văn về tùy duyên nhiếp hóa có ba: Một, chính thức đi đến; hai, giống như phương khác; ba, phân rõ về lợi ích có thể biết.
Thứ năm là văn về trí có ba: Một, trường hàng về nhớ lại, tức là Thể của trí. Hai, thuyết kệ trình bày về Tướng của trí. Vì sao ca ngợi đức của một vị Phật? Bởi vì làm sáng tỏ nhiều phương tiện hồi hướng quy về một tâm Từ Bi khéo léo. Ba, giống như tất cả các phương.
Thứ sáu là văn về nhiếp hóa thành tựu sự việc có bốn: Một, phân rõ về ứng cơ. Hai, chính thức nhiếp hóa. Ba, thành tựu lợi ích, văn có hai: Đầu là hai câu thuận theo Lý, tiếp đến là thuận theo Sự. Sở dĩ chỉ phân rõ về đầy đủ đức mà không mở rộng về cung điện là trú xứ của Như Lai, là bởi vì hiển bày phương tiện trang nghiêm riêng biệt. Bốn, giống như tất cả mười phương.
-------------------------
Phẩm 20: ĐÂU SUẤT THIÊN CUNG BỒ TÁT VÂN TẬP TÁN PHẬT
Bốn môn giống như trước.
1. Giải thích tên gọi, có bốn nghĩa: Một là Xứ, hai là người, ba là oai nghi của thân, bốn là khẩu nghiệp. Hoặc là sáu câu có thể biết.
2. Ý đưa ra giống như trước, chỉ có việc làm khác biệt mà thôi.
3. Tông cũng giống như trước, nhưng trở lại đưa vào phẩm này ca ngợi thực hành phương tiện của Phật là khác nhau mà thôi.
4. Giải thích văn. Phẩm này có ba Tựa: Một, văn trong Tựa về quy tụ chúng, trước là nêu ra thần lực của Phật để hiển bày về phạm vi; hai, phân rõ về chúng đã quy tụ; ba, từ “ Như thử…” trở xuống là kết luận về chúng đã quy tụ. Trong phần thứ hai là ba thế gian có thể biết. Trong chúng sinh thế gian có năm câu: Một là nêu ra tên gọi, hai là dựa vào căn bản tu hành, ba là cùng đến, bốn là y theo phương mà ngồi, năm là ca ngợi đức. Ca ngợi đức có ba: Một, trình bày về hạnh Tự lợi; hai, từ “Nhất thiết chúng sinh quán vô yếm túc…” trở xuống là hạnh Lợi tha; ba, từ “Thử chư Bồ-tát…” trở xuống phân rõ về đức dụng tự tại của Tự-Tha.
Trong Tựa thứ hai về phóng ánh sáng có ba: Một, phân rõ về nơi ánh sáng xuất hiện; hai, trình bày về nơi đã soi chiếu; ba, từ “Bỉ chư Bồ-tát…” trở xuống là ánh sáng đã thâu nhiếp lợi ích, tức là ca ngợi về đức. Hai đầu gối phóng ánh sáng thù thắng, là tướng thù thắng vi diệu tăng trưởng tiến vào cảnh giới Phật trong hạnh của Pháp thân. Đầu gối là biểu thị cho tướng phương tiện tiến lên. Trong phần ca ngợi đức có ba: Một là tổng quát, hai là riêng biệt, ba là kết luận. Trong phần riêng biệt có ba: Một là Tự lợi, hai từ “Giáo hóa thành tựu…” trở xuống có một câu là Lợi tha; ba là thắng tiến có thể biết mà thôi.
Trong Tựa ca ngợi Phật, Kim Cang là nhân hạnh kiên cố, Tràng là hạnh thành tựu cao vượt ra ngoài, cũng có nghĩa về nhiếp phục. Vả lại trong mười Bồ-tát, vị thứ nhất tên gọi Kim Cang Tràng là trình bày về tự Thể chân thật có năng lực tiêu diệt phiền não, Đạo vượt lên trên thế gian nêu rõ hơn kém khác nhau, cho nên gọi là Kim Cang Tràng, tướng còn lại có thể biết. Trong này, các kệ đều dựa theo phương tiện hồi hướng để hiển bày về đức của Phật, tức là lấy giáo này làm tướng khéo léo giải thích, còn lại dựa theo đó suy nghĩ. Văn về các kệ có hai: Một là trường hàng sinh khởi, hai là chính thức nói kệ.
Kệ thứ nhất có ba: Năm kệ đầu là đức Tự lợi, tiếp theo ba kệ là
Lợi tha, tiếp theo hai kệ là khuyến tu.
Kệ về Kiên Cố có ba: Ba kệ đầu ca ngợi về Tự lợi kiên cố của Phật, tiếp theo bốn kệ ca ngợi về Lợi tha kiên cố, tiếp theo ba kệ là khuyến tu.
Kệ về Dũng Mãnh có ba: Hai kệ đầu phân rõ Pháp giới hải sâu xa, tiếp theo năm kệ phân rõ về tác dụng lợi ích rộng lớn, tiếp theo ba kệ là kết luận về Thể-Dụng viên mãn.
Kệ về Dạ Quang có hai: Bốn kệ đầu ca ngợi về Pháp thân tự tại, tiếp theo sáu kệ ca ngợi về Hóa dụng tự tại.
Kệ về Trí có hai: Một kệ đầu ca ngợi đức của phần vị, tiếp theo chín kệ phân rõ về pháp đã thấy. Văn về pháp đã thấy có hai: Một kệ đầu là tổng quát, tiếp theo tám kệ là riêng biệt. Văn về riêng biệt có ba: Hai kệ đầu ca ngợi đức của Phật, tiếp theo bốn kệ trình bày về lìa tướng kể ra của Phật, tiếp theo hai kệ phân rõ về lìa tướng thế gian mà thôi.
Kệ về Bảo có ba: Một kệ đầu về Hóa thân, tiếp theo hai kệ về Pháp thân, tiếp theo bảy kệ về Báo thân. Lại hỏi: Vì sao xét định về văn của kinh này, phần lớn dựa vào ba Thừa là thế nào? Đáp: Bởi vì người ba Thừa là phần nhiều cho nên như vậy, nghĩa về Nhất thừa dựa theo văn có thể biết.
Kệ về Tinh Tiến có hai: Sáu kệ đầu gồm chung ba thân tự tại, tiếp theo bốn kệ dựa theo bốn dụ phân rõ về thành tựu.
Kệ về Ly Cấu có ba: Bảy kệ đầu ca ngợi về Trí thân, tiếp theo hai kệ ca ngợi về Pháp thân, tiếp theo một kệ tổng quát giải thích.
Kệ về Chân Thật có năm: Hai kệ đầu ca ngợi về Hóa thân tự tại, tiếp theo hai kệ về Pháp tánh thân tự tại, tiếp theo bốn kệ trở lại thành tựu về hóa độ trước đây, tiếp theo một kệ phân rõ về phương pháp nghi thức hướng tới, tiếp theo một kệ kết luận về thành tựu thân lìa tướng.
Kệ về Pháp có bốn: Hai kệ đầu phân rõ trình bày về ý khích lệ tu tập, tiếp theo ba kệ tổng quát nêu ra lợi hại để giải thích về thành tựu, tiếp theo bốn kệ mở rộng phân rõ về tướng của lợi hại để ca ngợi đức, tiếp theo một kệ hiển bày về tướng của đức.
Vả lại, cũng có thể không cần xét định riêng biệt ca ngợi về đức của mười Bồ-tát này, nghĩa của mỗi một câu tức là pháp của một phương tiện. Đây là dựa theo văn chọn lấy ý của Nhất thừa.
----------------------------
Phẩm 21: KIM CANG TRÀNG BỒ TÁT HỒI HƯỚNG
Phân biệt có năm môn:
1. Giải thích tên gọi Thập Hồi Hướng và ý đưa ra.
2. Phân rõ về pháp đối trị. Nhất thừa dựa theo như trước, ba Thừa trừ chướng rời bỏ Đại Bi của Độc giác.
3. Đã đạt được Định vô gián và căn thiện bậc nhất của thế gian.
4. Đã thành tựu hạnh vị của Thập Hồi Hướng tức là Thể của Tông.
5. Giải thích văn.
1. Giải thích tên gọi: Hồi Hướng là xoay chuyển hạnh trước hướng đến Bồ-đề, cũng có thể gồm chung chúng sinh và pháp tánh, Kim Cang… là người, Hồi Hướng… là pháp, dựa vào hai nghĩa mà được tên gọi. Ý đưa ra giống như trước, nhưng Thể của pháp khác với trước mà thôi.
2,3. Nay trong luận này, pháp đối trị-đạt được và thành tựu đều dựa theo ba Thừa mà nói. Nếu dựa theo Biệt giáo Nhất thừa để phân rõ, thì hoặc là đối trị, hoặc là không đối trị... có thể dựa theo tư duy thâu nhiếp.
4. Tông là tướng tổng quát có thể biết, mở rộng ở văn sau.
5. Giải thích văn. Văn này có bảy phần: Một là phần Nhập định Tam-muội, hai là phần gia hộ, ba là phần xuất định, bốn là phần căn bản, năm là phần tuyên thuyết, sáu là phần lợi ích, bảy là phần kệ tụng.
Đầu tiên nói Nhập định, là hiển bày Thể của pháp không phải cảnh giới của tư duy. Minh trí định, là hiển bày về hạnh không gì mê hoặc cho nên soi chiếu rõ ràng, cũng có thể là Tịnh trí phương tiện nương tựa có thể thành tựu Tịnh trí.
Tựa về Gia hộ có ba: Một là tổng quát trình bày về tướng nhân duyên ca ngợi gia hộ. Văn này có ba: Một, tổng quát về chư Phật hiện thân và cùng tên gọi Chứng Pháp, có hai có thể biết; hai, từ “Thời bỉ…” trở xuống là chính thức ca ngợi kể ra; ba, từ “Thiện nam tử…” trở xuống là được tiến vào Định hiện tại. Nguyên cớ về gia hộ nhập định có năm nhân duyên: Một, lực của chư Phật gia hộ; hai, lực Bổn nguyện của Đức Lô-xá-na; ba, thần lực hiện tại của Đức Lô-xá-na; bốn, lực từ Tịnh trí của Kim Cang Tràng; năm, lực từ căn thiện của những Bồ-tát khác.
Hai từ “Dục linh…” trở xuống phân rõ trong gia hộ bằng việc làm có hai mươi hai câu, mười hai câu đầu là đức thuộc phần mình, tiếp theo mười câu là thắng tiến. Nay trong hai mươi hai câu này vốn có các
văn, và trong ý gia hộ trên dưới vốn có văn tướng, không thể nào giải thích đầy đủ từng văn một, mà chỉ dựa theo sự phân định của Luận chủ trong phần gia hộ đầu phẩm Thập Địa sau này, dựa theo phần ý của văn này thì có thể biết. Nhưng văn tướng trong này có lúc gồm chung quả và nhân, có lúc trước tổng quát-sau riêng biệt, có lúc Tự lợi khác với Lợi tha, có lúc giống-khác và thành-hoại. Như vậy tất cả và các văn của Hội trước, đều dựa theo chọn lấy sáu tướng đầu trong Địa Luận thì không có gì không rõ ràng, tướng còn lại có thể biết.
Ba từ “Thiện nam tử nhữ đương…” trở xuống phân rõ về tướng gia hộ qua ba nghiệp sai biệt. Trong đó, đầu tiên trong khẩu nghiệp có mười câu có thể biết. Gia hộ qua ý nghiệp cũng có mười câu, một câu đầu là tổng quát, tiếp theo là riêng biệt.
Hỏi: Vì sao ý gia hộ này cùng với pháp lẫn tạp?
Đáp: Bởi vì sự phương tiện không nhất định, tâm-cảnh và lý-sự không phải là một pháp, dựa theo đó có thể biết.
Phần căn bản chính thức tuyên thuyết, văn có hai: Một, tổng quát phân rõ về Thể; hai, nêu ra tên gọi phân rõ về Tướng.
Văn phần một về Thể có hai: Một là tổng quát ca ngợi; hai là phân rõ về Thể của phương tiện, tức là sáu quyết định, trong đó chỉ có quán tướng Đại thiện và không khiếp nhược, nguyên cớ trước đây đã phân rõ.
Văn phần hai về Tướng có năm: Một là hỏi, hai là nêu ra số và dẫn chứng, ba là trở lại hỏi, bốn là nêu ra tên gọi, năm là kết luận và chứng thành. Đại Nguyện bất tư nghị là nhân nguyện của Địa thượng, cũng tức là nguyện của Thập Hồi Hướng.
Bốn là nêu ra mười tên gọi:
1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh, là lìa tướng chúng sinh, hồi hướng sự việc hóa độ, lìa xa hai ngã. Hồi hướng có ba: Một là hồi hướng chúng sinh và vật cùng thành tựu, hai là hồi hướng Bồ-đề rời bỏ các quả báo của thế gian, ba là hồi hướng thật tế Dụng quy về Thể cao nhất. Ba tướng này thành tựu, cho nên biết là có ba tướng này, về sau Di-lặc khiến Thiện Tài gặp Bồ-tát tu ba loại hồi hướng. Trong kinh Bát-nhã cũng nói về điều này. Về sau đều gồm chung ý này.
2. Bất hoại, là tự hành kiên cố.
3. Đẳng nhất thiết Phật, là Tự tha cùng tiến vào cảnh giới Phật, cũng có thể là phần lượng ngang nhau.
4. Chí nhất thiết xứ, là bởi vì đạt được một phần Phật lực.
5. Vô tận công đức tạng, là bởi vì tu tập tác dụng phát sinh không
cùng tận.
6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn, cũng gọi là đức dụng kiên cố vô tận, đạt được ba loại kiên cố tùy thuận Niết-bàn.
7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh, là bởi vì đạt được Đại Niết-bàn mà không rời bỏ thế gian.
8. Như tướng, là bởi vì hành hoàn toàn giống như tu.
9. Vô trước giải thoát, là Lý bình đẳng lìa tướng ràng buộc-cởi bỏ cho nên không có tướng giải thoát.
10. Pháp giới vô lượng, là Dụng hợp với tánh.
Mười tướng này thành tựu cùng có hai: Một, dùng mười môn thâu nhiếp các hạnh Hồi Hướng, dựa theo môn này tức là Hạnh; hai, dùng Hạnh dựa vào mười môn trình bày về Hồi Hướng. Hồi Hướng có ba, đó là Thật tế, Bồ-đề và chúng sinh hồi hướng. Thật tế có hai loại: Một, hiện tại tu tập các hạnh tức là chân như; hai, vì hiển bày chân như cho nên tu tập các hạnh. Chúng sinh cũng có hai loại: Một, vì độ sinh cho nên tu hạnh Bồ-tát, tức là có đủ chúng sinh và đạo; hai, Bồ-tát đã thành tựu tức là chúng sinh đã trao cho. Bồ-đề cũng có hai: Một, đã tu các hạnh là vì thành tựu Đại quả; hai, các hạnh Bồ-tát chúng sinh tức là mầm của quả Bồ-đề. Mỗi một Hồi Hướng đều có môn này, nói ra đầy đủ ý tổng quát, dựa theo để suy nghĩ.
Cứu hộ nhất thiết chúng sinh có bốn: Một, hỏi về nêu ra tên gọi; hai, phân rõ về tướng; ba, từ “Thị vi…” trở xuống là kết luận; bốn, dùng kệ trùng tụng.
Trong phần hai phân rõ về Tướng có bốn: Một là trình bày về Thể của hạnh; hai từ “Ma-ha-tát phục tác thị niệm phát Bồ-đề tâm bảo…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề; ba từ “Bồ-tát phục tác thị niệm như Nhật Thiên tử…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn từ “Dĩ như thị đẳng thiện căn hồi hướng…” trở xuống là kết luận ca ngợi về đức dụng tự tại thù thắng vi diệu.
Trong phần một phân rõ về Thể có ba: Một, dùng sáu Độ-bốn Nhiếp… làm pháp cứu giúp chúng sinh; hai, từ “Tu thiện căn…” trở xuống trình bày về cứu hộ chúng sinh; ba, từ “Thử Bồ-tát vi oán thân cố…” trở xuống trình bày về nương nhờ khởi hạnh. Trong này có hai ý: Một là vì lìa tướng chúng sinh cho nên có thể thành tựu ba Hồi Hướng, hai là bởi vì lìa chúng sinh vốn là ba Hồi Hướng, điều này nên suy nghĩ. Hai là văn chính thức cứu hộ chúng sinh có hai: Một, khiến cho chúng sinh không rơi vào địa ngục…; hai, từ “Phục tác thị niệm…” trở xuống là đạt được niềm vui của Pháp thân, trong đó nhân quả phân làm hai.
Ba là văn nương nhờ khởi hạnh có hai: Một, dùng điều thiện hồi hướng chúng sinh không lựa chọn oán thân có ba: 1-Thiết lập; 2-Hỏi đáp giải thích nghi ngờ; 3-Từ “Thường dĩ ái nhãn…” trở xuống là đối với duyên thành hạnh. Lần lượt chuyển tiếp có bốn đoạn phân rõ về nghi, văn về nghi thứ tư có ba: 1-Thiết lập, 2-Vặn hỏi, 3-Đáp có thể biết. Hai từ “Bồ-tát bất vi nhất chúng sinh…” trở xuống hiển bày về ý rộng lớn, có hai có thể biết.
Phần thứ hai là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề có năm: Một, thực hành như chư Phật và khởi tâm cứu cánh tức là hai, trong hai đoạn này lại đều phân làm hai có thể biết. Hai, từ “Bồ-tát dĩ chư thiện căn hồi hướng thời…” trở xuống là khiến cho chúng sinh đạt được nơi thanh tịnh. Ba, từ “Phục tác thị niệm dĩ thử thiện căn…” trở xuống là làm cho chúng sinh có thể thấy Phật đạt được lợi ích, đầy đủ bảy tài sản thanh thịnh, đó là Tín-Giới-Văn-Thí- Trí tuệ-Tàm-Quý. Bốn, từ “Thử Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là nhận chịu thay tất cả các khổ, văn này có bốn:
1. Đối với vật sinh tâm;
2. Từ “Thị cố…” trở xuống là loại trừ nghi ngờ;
3. Từ “Dĩ Đại…” trở xuống trình bày về thiện xảo có hai có thể biết;
4. Từ “Phục tác thị niệm ngã tất đương vi…” trở xuống là chính
thức trình bày thọ khổ vì chúng sinh, trong phần này có ba: Một là thay thế nhận chịu khổ, hai là loại trừ nghi ngờ văn này có ba, trong văn thứ hai có bốn, văn thứ ba có ba có thể biết, ba từ “Thị cố bất dĩ…” trở xuống là kết luận có thể biết; ba từ “Phục tác thị niệm ngã đương dĩ…” trở xuống phân rõ về sự thành tựu, có hai có thể biết. Năm, từ “Bồ-tát dĩ thị vô lượng…” trở xuống là khiến cho chúng sinh được đầy đủ nhân duyên trợ đạo có ba: 1) Khởi ý; 2)Ví dụ; 3) Hợp có thể biết.
Phần thứ ba là hồi hướng Thật tế, văn có hai: Một, lựa chọn hai hồi hướng trước đây; hai, từ “Linh nhất thiết bất trước…” trở xuống là chính thức hồi hướng Thật tế. Văn này có ba:
1. Phân rõ về Vô tướng phân biệt.
2. Từ “Bất khởi hư vọng nhân duyên…” trở xuống là Y tha không sinh.
3. Từ “Quán sát nhất thiết chúng sinh bình đẳng…” trở xuống Vô tánh chân thật.
Không sinh các pháp-không diệt các pháp ấy, dùng những thiện căn như vậy để hồi hướng, tức là phần thứ tư tổng quát kết luận, văn có
ba: Một, tổng quát; hai, từ “Tu hành…” trở xuống là riêng biệt; ba, từ “Bồ-tát…” trở xuống là kết luận ca ngợi. Trong phần riêng biệt:
1. Tu hành các pháp đối trị là kết luận về Thể của hạnh thứ nhất;
2. Quán sát tất cả là kết luận về hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề;
3. Từ “Ư bỉ thiện căn bất tác nhị tướng…” trở xuống là kết luận về Thật tế, tướng còn lại có thể biết.
Phần bốn là trùng tụng có hai: Một, trường hàng phân rõ về ý; hai, kệ tụng. Có năm mươi sáu kệ, có ba:
1) Mười hai kệ đầu là tổng quát kết luận.
2) Tiếp theo là riêng biệt.
Phần riêng biệt này có ba: Mười một kệ đầu là kết luận về Thể của hạnh, tiếp theo mười ba kệ là văn kết luận về hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề, tiếp theo mười lăm kệ là kết luận về Thật tế.
Sáu kệ cuối là tổng quát kết luận, có thể dựa theo chọn lấy cách giải thích.
Bất hoại có năm, trong này một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi đức, năm là kệ tụng.
Trong văn đáp có năm: Một, phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Dục linh nhất thiết chúng…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh; ba, từ “Chư Phật thành tựu vô lượng đức…” trở xuống là hồi hướng Bồ-đề; bốn, từ “Bồ-tát như thị xả ly si…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; năm, từ “Như thị Bồ-tát thành thiện căn…” trở xuống là kết luận ca ngợi về đức dụng.
Văn về Thể có năm:
1) Đối với duyên thành Tín có hai, một là thiết lập Tông, hai từ “Hà cố…” trở xuống là loại trừ nghi ngờ.
2) Từ “Như thị an trú…” trở xuống là dựa vào Tín thành nhân của hạnh.
3) Từ “Bồ-tát như thị đẳng thiện…” trở xuống là phân rõ về hạnh đã thành tựu quả.
4) Từ “Bồ-tát như thị tinh cần…” trở xuống là kết luận về lợi ích phát khởi thực hành.
5) Từ “Bồ-tát thiện căn hồi hướng…” trở xuống là phân rõ dựa vào hạnh thành tựu sự việc như nguyện, phần này có hai ý: Một là bởi vì Bất hoại cho nên được thành tựu ba hồi hướng; hai là bởi vì Bất hoại vốn là ba hồi hướng, điều này có thể suy nghĩ chính xác. Hai là văn về hồi hướng chúng sinh có thể biết.
Bốn là văn về Thật tế có ba:
1. Lựa chọn hai hồi hướng trước đây.
2. Từ “Quán sát bình đẳng…” trở xuống là chính thức hồi hướng Thật tế.
3. Từ “Thường vi chư Phật…” trở xuống là công phu cảm được Thánh niệm.
Bốn là trong phần kết luận ca ngợi có năm: Một, kết luận về Thể của hạnh; hai, từ “Ma-ha-tát như thị…” trở xuống là kết luận về chúng sinh; ba, từ “Cứu cánh thanh tịnh…” trở xuống là kết luận về hồi hướng Bồ-đề; bốn, từ “Thị bình đẳng…” trở xuống là văn kết luận về Thật tế; năm, từ “Bồ-tát hành như thị…” trở xuống là kết luận gồm chung về sự vi diệu thù thắng.
Năm là văn kệ có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Có năm mươi kệ, có năm: Hai mươi mốt tụng đầu về Thể của hạnh, tiếp đến hai tụng về chúng sinh, tiếp đến hai tụng về Bồ-đề, tiếp đến mười tụng là văn về Thật tế, tiếp đến mười bốn tụng là các văn về kết luận ca ngợi…
Đẳng nhất thiết Phật, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi đức, năm là kệ tụng.
Văn đáp có năm: Một, phân rõ về Thể của hạnh có hai có thể biết. Hồi hướng này có hai ý: Một là bởi vì bình đẳng cho nên thành tựu ba loại hồi hướng; hai là bởi vì hợp với ba hồi hướng trước cho nên được bình đẳng, có thể dựa theo đó. Hai, từ “Thử Bồ-tát đắc như thị lạc thời…” trở xuống là hồi hướng Phật Bồ-tát và chúng sinh, văn này có bốn:
1. Hồi hướng Phật.
2. Hồi hướng Bồ-tát.
3. Hồi hướng chúng sinh.
4. Từ “Bồ-tát nhiếp thủ hạnh đẳng hành…” trở xuống trình bày về nghi thức. Văn về Bồ-tát có hai có thể biết.
Trong văn thứ ba là hồi hướng chúng sinh có ba: Một là nghi thức hồi hướng, phần này có hai có thể biết; hai là diệt ác; ba là sinh thiện. Ba, từ “Bồ-tát nhược tại gia thời…” trở xuống là phân rõ về phạm vi khởi tâm, văn này có hai: Một là giải thích; hai từ “Như thị Bồ-tát kim tập…” trở xuống là kết luận. Văn phần một là giải thích có hai:
1. Tại gia thâu nhiếp chúng sinh hồi hướng.
2. Từ “Bồ-tát tác thị niệm nãi chí tiểu đại…” trở xuống là Đại Bi sâu nặng. Văn phần một có bốn: Một, khởi tâm; hai, đối với duyên phân rõ về nhiếp hóa có hai có thể biết; ba, trình bày về thành tựu hạnh không gián đoạn tức là hiển bày về trí kiên cố; bốn, kết luận. Văn thứ
hai là Đại Bi sâu nặng có hai: Một là lìa khổ đau, hai là được niềm vui có thể biết. Bốn, từ “Phục tác thị niệm như bỉ…” trở xuống là hồi hướng Thật tế, văn có ba: Một, nhắc lại hai hồi hướng trước đây; hai, từ “Nhi vô sở trước…” trở xuống là chính thức hồi hướng Thật tế; ba, từ “Ma-ha- tát…” trở xuống là kết luận như hồi hướng Phật. Chính thức hồi hướng Thật tế có hai:
1) Hồi hướng dựa theo trí tiến vào quán.
2) Từ “Thường lạc tập hành Phổ Môn…” trở xuống là dùng trí ra khỏi quán để hồi hướng. Năm, trong tổng quát kết luận, một là nhắc lại Thể của hạnh trước đây, hai là từ Hồi hướng thứ nhất trở xuống là gồm chung kết luận.
Phần kệ có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Có bốn mươi tám kệ: Hai tụng đầu về Thể, tiếp theo ba mươi bốn tụng về các văn hồi hướng Phật-chúng sinh…, tiếp theo bốn tụng về Thật tế, tiếp theo tám tụng là kết luận ca ngợi.
Chí nhất thiết xứ, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi đức, năm là kệ tụng.
Văn đáp có bốn: Một, phân rõ về Thể; hai, từ “Như thị trang ng- hiêm…” trở xuống là hồi hướng Bồ-đề và chúng sinh; ba, từ “Bồ-tát như thị thiện căn hồi hướng liễu vô sở…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát như thị thiện căn hồi hướng…” trở xuống là kết luận ca ngợi về đức dụng.
Một trong Thể phân hai: Một là trình bày về Thể của hạnh có bốn:
-
Pháp.
-
Dụ.
-
Hợp.
-
Phân rõ về thành tựu.
Phần này có ba câu: Pháp-dụ và hợp, dụ như chư Thiên là Đệ nhất
nghĩa Thiên, tướng còn lại có thể biết. Hồi hướng này có hai ý: Một là bởi vì thuận với tất cả cho nên được ba hồi hướng, hai là bởi vì thuận với ba hồi hướng cho nên có thể đến tất cả mọi nơi. Hai là từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là mở rộng trình bày về Tướng của hạnh, văn này có hai: Một, trình bày về nơi chốn nương tựa và Phật; hai, từ “Bồ-tát ư chư Như Lai…” trở xuống là mở rộng trình bày về Tướng của hạnh. Trong phần này có hai: 1-Đối với cảnh khởi tâm tức là hai, trước là đối với cảnh trình bày về tâm, tiếp theo phân rõ về đức của tâm; 2- Từ “Phục tác thị niệm…” trở xuống là đối với cảnh thành tựu hạnh,thì
lại là hai mà thôi.
Hai, từ “Như thị trang nghiêm…” trở xuống là văn hồi hướng chúng sinh có hai: Một là tách ra hai môn Lý-Sự để lập Tông; hai từ “Linh nhất thiết…” trở xuống là riêng biệt phân rõ về nguyên cớ có thể thành tựu Chí nhất thiết xứ, có pháp-dụ và hợp, ba văn có thể biết.
Ba, văn về Thật tế có ba: Một, nhắc lại Thể của hạnh trước đây và hai hồi hướng; hai, từ “Liễu vô sở hữu…” trở xuống là chính thức hồi hướng; ba, từ “Như thị Bồ-tát lạc quán…” trở xuống là kết luận về hồi hướng đạt được lợi ích. Chính thức hồi hướng có hai:
1) Dựa theo trí tiến vào quán.
2) Từ “Như thị Bồ-tát viên mãn…” trở xuống là biện tài của trí ra khỏi quán.
Tất cả các pháp là nơi chốn của mọi nhân duyên, bởi vì dựa vào hiểu rõ về nhân duyên cho nên chứng được tất cả các pháp.
Bốn, trong phần tổng quát kết luận ca ngợi: Đầu là kết luận về Thể của hạnh, từ “Đắc Phật tự tại…” trở xuống là kết luận về Bồ-đề, tiếp theo từ “Giáo hóa chúng sinh…” trở xuống kết luận về chúng sinh, tiếp theo từ “Bồ-tát như thị…” trở xuống kết luận về Thật tế.
Văn kệ có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Văn có hai mươi hai kệ: Tám tụng đầu về Thể của hạnh, tiếp theo sáu tụng về Bồ-đề và chúng sinh, tiếp theo sáu tụng về Thật tế, tiếp theo hai tụng là văn kết luận ca ngợi.
Vô tận công đức tạng, ở đây có ba nghĩa:
1) Phát sinh vô tận,
2) Thành tựu,
3) Tự Thể, dùng ba nghĩa này để dựa theo. Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là phân rõ về đức, năm là kệ tụng.
Văn đáp có bốn: Một, phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Bồ-tát chư thiện căn giai tất…” trở xuống là hồi hướng Bồ-đề và chúng sinh; ba, từ “Bồ-tát dĩ như thị đẳng…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát như thị thiện căn…” trở xuống là kết luận ca ngợi về Dụng thù thắng.
Văn phần một về Thể của hạnh, văn có hai: Một là phân rõ về Thể của hạnh, có bốn:
1) Sám hối,
2) Khuyến thỉnh,
3) Tùy hỷ,
4) Hồi hướng.
Tùy hỷ có bốn:
1) Thành Phật,
2) Thuyết pháp,
3) Niết-bàn,
4) Văn về Lưu thông… có hai: Một là hối lỗi, hai là khuyến thỉnh- tùy hỷ và hồi hướng. Ba nghĩa này bởi vì là phần nghĩa về đức hữu vi đan xen lẫn nhau, cho nên kết hợp cùng nói ở một nơi. Văn này có hai: Một là tổng quát nêu ra, hai là riêng biệt phân rõ. Trong phần riêng biệt dựa vào bốn nghĩa Tùy hỷ tức là có bốn đoạn mà thôi.
Phần này có hai ý: Một là bởi vì hạnh thuận với ba hồi hướng cho nên có thể thành tựu Vô tận tạng, hai là bởi vì thành tựu Vô tận tạng cho nên thuộc về ba hồi hướng, điều này có thể dựa theo. Hai, từ “Bồ-tát tác như thị niệm…” trở xuống là phân rõ về Tướng của hạnh có hai:
1) Trang nghiêm quốc độ,
2) Trang nghiêm người thành tựu.
Trang nghiêm quốc độ có bốn: Một, thành tựu thế giới độ; hai, từ “Bồ-tát tu thắng thiện căn…” trở xuống là trang nghiêm Phật quốc độ; ba, từ “Bỉ chư thế giới trung…” trở xuống là trang nghiêm ba đời; bốn, từ “Như nhất thế giới…” trở xuống là kết luận thành tựu cứu cánh. Hai từ “Bồ-tát phục như thị…” trở xuống là trang nghiêm về người có hai: Đầu là phân rõ, sau là kết luận.
Trong phân rõ có bốn:
1) Người.
2) Từ “Thử chư Bồ-tát…” trở xuống là tóm lược đầy đủ hiển bày về đức.
3) Từ “Thành tựu…” trở xuống là riêng biệt hiển bày về đức, có hai có thể biết.
4) Từ “Thành tựu đẳng…” trở xuống là kết luận có ba có thể biết. Hai từ “Như nhất Phật sát…” trở xuống là dùng kết luận tóm lược để hiển bày mở rộng có thể biết.
Hai, hồi hướng Bồ-đề và chúng sinh, văn có hai: Một là dùng phương tiện pháp giới để hồi hướng hai nơi; hai từ “Như thị Bồ-tát thiện…” trở xuống là phân rõ về phạm vi của phương tiện.
Ba, văn về Thật tế có hai: Một, nhắc lại tổng quát về nơi hồi hướng để hướng đến phạm vi của Tát-bà-nhã; hai, từ “Bồ-tát hành như thị…” trở xuống là riêng biệt hồi hướng Thật tế. Văn này có hai: Một là dùng trí tiến vào quán để hồi hướng, phần này có hai có thể biết; hai từ “Bồ-tát như thị khởi…” trở xuống là dùng trí ra khỏi quán để hồi
hướng.
Sinh tử không phải là tạp loạn, Niết-bàn không phải là tịch tĩnh, điều này có hai cách giải thích:
1) Dựa vào phá tướng, Thể của sinh tử là Không cho nên không phải là tạp loạn, Thể của Niết-bàn là Như cho nên không phải là tịch tĩnh.
2) Hiểu rõ Dụng vắng lặng, Thể của sinh tử vắng lặng cho nên không phải là tạp loạn. Thế nào là Thể? Nói gần chính là Không, sâu thì chính là Như Lai Tạng Bất Không. Đại Niết-bàn có thể kiến lập về nghĩa của Đại, Diệu Dụng phát khởi đầy đủ không có gì không làm, cho nên không phải là tịch tĩnh. Nay dựa vào cách giải thích sau, hai loại này là cảnh giới Phật và đạo sở hành của Phật gọi là đạo của cảnh giới, bởi vì không khác biệt sinh tử cho nên không phải là nơi khác làm ra, Thể của sinh tử và Niết-bàn không có tướng nhất định, cho nên nói là không có pháp. Các bậc Thánh cùng dựa vào gọi là cùng nương tựa, nghĩa về Như giống với cách giải thích trước.
Bốn, văn về kết luận ca ngợi có hai: Một, nhắc lại văn kết luận trước đây; hai, từ “Bồ-tát sơ phát…” trở xuống là tổng quát kết luận. Văn phần một có bốn:
1) Nhắc lại Thể của hạnh trước đây kết luận thành tựu hồi hướng Bồ-đề và chúng sinh.
2) Từ “Dĩ như thị đẳng…” trở xuống là nhắc lại hồi hướng chúng sinh trước đây kết luận thành tựu hồi hướng Thật tế.
3) Từ “Bồ-tát như thị hồi hướng nhãn chung…” trở xuống là kết luận đã đạt được lợi ích.
4) Từ “Bồ-tát như thị hồi hướng thời…” trở xuống là hành đức thù thắng vi diệu.
Thứ tư là ca ngợi về đức dụng, văn có ba: Một là nêu ra số, hai là giải thích, ba là kết luận có thể biết.
Trong phần kệ có hai: Một, trường hàng sinh khởi; hai, kệ tụng. Có năm mươi kệ, mười tám tụng đầu về Thể của hạnh, tiếp theo sáu tụng về hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề, tiếp theo mười bốn tụng về Thật tế, tiếp theo mười hai tụng là văn kết luận ca ngợi.
Tùy thuận nhất thiết kiên cố thiện căn hồi hướng, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi về đức dụng, năm là kệ tụng.
Phần hai là đáp có bốn: Một, trong Thí môn phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Bồ-tát thiện căn hồi hướng linh nhất thiết chúng sinh…”
trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề; ba, từ “Bồ-tát Ma-ha-tát dĩ thử thiện căn hồi hướng thời…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát dĩ nhất thiết thiện căn như thị hồi hướng…” trở xuống là kết luận ca ngợi về đức dụng.
Văn phần một về Thể hạnh có hai: Một là nêu ra rời bỏ ngôi vị Luân Vương, ca ngợi thành tựu Thể của hành đức, có hai có thể biết; hai từ “Nhược thí ẩm thực…” trở xuống phân rõ về Tướng của hạnh. Văn này có bốn:
1) Tóm lược nêu ra tên gọi các vật đã thí.
2) Từ “Tác như thị niệm…” trở xuống phân rõ về ý tu hạnh.
3) Từ “Nhược thí ẩm thời…” trở xuống là mở rộng phân rõ về nghi thức bố thí. Trong đó hoặc là bốn-năm-sáu không nhất định, bốn thì một là người, hai là sự việc vốn có, ba là hồi hướng, bốn là kết luận về phần trước; năm thì thứ ba thêm ruộng phước; sáu thì thứ ba thêm ca ngợi về đức của sự việc, lại có thành tựu tâm thí.
4) Từ “Thử Bồ-tát dĩ như thị đẳng vô lượng…” trở xuống là kết luận về lợi ích.
Thứ một là nêu ra tên vật đã thí, văn có ba: Một, nêu ra tài sản đã thí trong sáu mươi chương môn; hai, từ “Tâm bất tham trước…” trở xuống là phân rõ về tâm thí không nhiễm trước; ba, từ “Nhược chư chúng sinh…” trở xuống là phân rõ về ruộng phước đã thí.
Thứ hai về ý tu hạnh, văn có hai: Một, phân rõ về ý hồi hướng của thí; hai, từ “Bồ-tát như thị hồi hướng dĩ…” trở xuống là trình bày về hồi hướng đã thành tựu.
Thứ ba là mở rộng, văn tuy có một trăm hai mươi việc nhưng tất cả đều thâu nhiếp ở trong sáu mươi môn. Phần này có hai ý: Một là bởi vì thuận với ba hồi hướng cho nên nhất định thuận với kiên cố, hai là bởi vì thuận với kiên cố cho nên đạt được ba hồi hướng, điều này có thể dựa theo. Vả lại, nay vật đã xả thí này đều gồm chung ba nghĩa, một là Phần đoạn y chánh, hai là Biến hóa y chánh, ba là Biến dịch y chánh, có thể dựa theo suy nghĩ chọn lấy. Địa tiền có đủ năm Sinh thân, cho nên nương theo bốn Luân vận dụng vượt qua tám nạn. Một là ở Chánh quốc, từ đây vượt qua ba đường ác, châu Bắc Câu-lô và cõi trời Trường Thọ; hai là Chánh sĩ vượt qua thời gian trước và sau Phật xuất thế, ba là Bổn công đức vượt qua các căn không đầy đủ, bốn là Bình đẳng nguyện vượt qua Thế trí biện thông. Vả lại, Chánh quốc luân là cõi Pháp tánh Chân như, dựa vào Chánh sĩ luân là Chánh quán Bát-nhã, Bổn công đức luân là năm Ba-la-mật như Thí…, Bình đẳng nguyện luân là mười loại
Đại nguyện vô tận của Bồ-tát, hạnh thanh tịnh của Bồ-tát đầy đủ nhờ vào đây.
Thứ tư trong phần kết luận ca ngợi có hai: Một là ca ngợi về lợi ích; hai từ “Bồ-tát nhĩ thời…” trở xuống là vui mừng được thành tựu lợi ích. Hai văn này đều có hai: 1-Giải thích, 2-Kết luận thành tựu cứu cánh.
Hai là văn về Thật tế, có hai: Một là nhắc lại Thể của hạnh trước đây; hai từ “Ư thân khẩu ý nghiệp vô phược trước…” trở xuống là chính thức hồi hướng Thật tế. Ở trong phần chính thức hồi hướng này có năm:
1) Dựa theo trí tiến vào quán để phân rõ về thành tựu hạnh.
2) Từ “Bồ-tát như thị hồi hướng thời bất trước nội…” trở xuống là trình bày về sự lìa xa.
3) Từ “Bồ-tát nhược ư thử pháp trung…” trở xuống là phân rõ về lợi ích.
4) Từ “Hà dĩ cố…” trở xuống là giải thích về thành tựu.
5) Từ “Bồ-tát như thị kiến pháp…” trở xuống là kết luận nói về đúng sai. Văn này có chín câu sinh khởi lẫn nhau có thể biết. Văn trước nói Thiền đầu, là chúng sinh có hình-có Thể gọi là Thiền đầu, nay không có tưởng ấy.
Trong phần bốn là kết luận ca ngợi có bốn: Một, Bồ-tát… là tổng quát giải thích về Thể dụng; hai, từ “Hồi hướng giả hà nghĩa…” trở xuống là kết luận về tên gọi và ý nghĩa của hồi hướng; ba, từ “Bồ-tát nhược năng dĩ thử…” trở xuống là ca ngợi về đức của hạnh hồi hướng; bốn, từ “Bồ-tát như thị hồi hướng dĩ…” trở xuống là kết luận về lợi ích.
Phần kệ có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Có tám mươi hai kệ, bốn mươi tám tụng đầu về Thể của hạnh và hai loại hồi hướng, tiếp theo từ “Bồ-tát quán…” trở xuống có ba mươi hai tụng là văn về Thật tế, sau cuối hai tụng là văn kết luận ca ngợi. Hiểu rõ ràng Bồ-đề từ duyên khởi đối với tánh chân thật của pháp không có gì hư hoại, là Dụng không trái ngược với Thể.
Đẳng tâm tùy thuận nhất thiết chúng sanh, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi về đức dụng, năm là kệ tụng.
Phần hai là đáp có bốn: Một, phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Bồ-tát ly cấu thanh tịnh…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ- đề; ba, từ “Bồ-tát tu hành như thị thiện căn…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát hành như thị…” trở xuống là kết luận ca ngợi về dụng thù thắng.
Văn phần một về Thể có ba: Một, phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Bồ-tát hành như thị…” trở xuống là phân rõ về Dụng của hạnh có hai, một là lìa ác, hai là sinh đức; ba, từ “Bất cầu sinh Thiên…” trở xuống là phân rõ về ý tu. Phần này có hai ý: Một là tùy theo căn thiện của chúng sinh khác đã làm, bởi vì không trái ngược với thiện mà khiến cho tiến lên; hai là từ căn thiện của Bồ-tát tùy theo ba phẩm căn tánh của chúng sinh mà trao cho, điều này có thể dựa theo để suy nghĩ.
Văn phần hai về chúng sinh và Bồ-đề có hai: Một là phân rõ về tu hạnh; hai từ “Bồ-tát dĩ thử thiện căn…” trở xuống là chính thức trình bày về hồi hướng. Văn phần một là tu hạnh có hai: Một, phần mình; hai, từ “Tu tập bình đẳng…” trở xuống là tăng thượng về tu. Văn phần một là phần mình có năm:
1) Phân rõ về duyên của sở y, đó là căn thiện;
2) Từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống trình bày về dựa vào duyên mà khởi tâm, trong đó phân làm ba có thể biết;
3) Từ “Bồ-tát như thị…” trở xuống là hiển bày về tâm có đủ đức;
4) Phân rõ về thời gian;
5) Từ “Phục thứ Bồ-tát…” trở xuống là mở rộng phân rõ về vật đã thí.
Trong phần hai là tăng thượng về Thí có hai:
1) Phân rõ về tâm Thí;
2) Từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là trình bày về tâm có đủ đức.
Trong phần hai chính thức hồi hướng có hai: Một, chính thức hồi hướng; hai, từ “Như thị Bồ-tát…” trở xuống là kết luận về đức tự tại. Phần này có hai:
1) Phần mình.
2) Từ “Dĩ như thị đẳng…” trở xuống là thắng tiến có thể biết. Văn về Thật tế có hai: Một, nhắc lại lợi ích trước đây; hai, từ “Bồ-
tát như thị đẳng…” trở xuống là chính thức trình bày về Thật tế. Văn phần một có năm:
1) Lìa cấu nhiễm.
2) Trình bày về pháp đạt được.
3) Trình bày về không gì sánh bằng.
4) Hướng về quả so sánh, phần này có hai, một là tổng quát, hai là riêng biệt.
5) Kết luận thành tựu đầy đủ đức. Phần hai là chính thức hồi hướng pháp giới, văn tướng rõ ràng có thể biết.
Văn phần bốn là kết luận ca ngợi có thể biết.
Phần kệ có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Có bốn mươi hai kệ, hai tụng đầu về Thể, tiếp theo mười bảy tụng về chúng sinh và Bồ- đề, tiếp theo bảy tụng về Thật tế, tiếp theo mười sáu tụng là văn kết luận ca ngợi.
Như tướng, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là phân rõ về lợi ích, năm là kệ tụng.
Phần hai là đáp có bốn: Một, Thể của hạnh; hai, từ “Bồ-tát dĩ thử…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề; ba, từ “Bồ-tát thiện căn như thị…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát như thị hồi hướng thời…” trở xuống là kết luận ca ngợi về Dụng thù thắng.
Văn phần một về Thể có ba: Một là quy tụ Thể của căn thiện; hai từ “Bồ-tát như thị…” trở xuống là thâu nhiếp giúp đỡ thành tựu Chánh hạnh, cũng có thể thâu nhiếp nhân giúp cho quả, trong này có hai, một là thâu nhiếp, hai là phân rõ tướng của quán; ba, từ “Bồ-tát dĩ như thị đẳng…” trở xuống là thành tựu Đại dụng tự tại của ba nghiệp. Trong phần Đại dụng này có hai: Một là trình bày về nơi hướng đến của tâm tức là tóm lược, ba nghiệp tức là ba, một câu đầu là thân, tiếp theo một câu là khẩu, tiếp theo về sau đều là ý mà thôi; hai từ “Nhất Phật thế giới…” trở xuống là kết luận tóm lược hiển bày mở rộng. Phần này có hai ý: Một, căn thiện này là như tướng của ngôi nhà cho nên hồi hướng ba nơi; hai, bởi vì Thể như nhau không ngăn ngại cho nên hồi hướng ba nơi.
Văn phần hai là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề có năm: Một, tổng quát trình bày về hồi hướng; hai, từ “Bồ-tát như thị hồi hướng tu…” trở xuống phân rõ về hạnh rộng lớn cứu cánh; ba, từ “Phục thứ Bồ-tát…” trở xuống đối với sự phân rõ về nghi thức thành tựu hạnh, phần này có hai có thể biết; bốn, từ “Bồ-tát thiện căn như thị…” trở xuống phân rõ về ý tu; năm, từ “Như thị Bồ-tát trưởng dưỡng…” trở xuống là hồi hướng công sức đã thành tựu.
Văn phần ba là Thật tế. Hồi Hướng trong phần này cùng với trên dưới có gì khác nhau? Các Hồi Hướng thâu nhiếp Tướng thuận theo Thể, trong này thì thâu nhiếp Tướng thuận theo Tướng, điều này có thể suy nghĩ chính xác. Có ba: Một, trình bày về Thể dụng hồi hướng; hai, từ “Thiện giải hồi hướng…” trở xuống là nguyên cớ thành tựu thù thắng; ba, từ “Như như…” trở xuống là dựa theo pháp mở rộng phân rõ. Phần một về Thể dụng có ba:
1. Phân rõ về Thể.
2. Từ “Thuận Như Lai đạo…” trở xuống là trình bày về Dụng.
3. Từ “Quán sát tịch diệt…” trở xuống là kết luận về hai phần trước. Trong phần thứ hai là nguyên cớ về Dụng thù thắng: Đầu là nêu ra ý, tiếp từ “Như thị Bồ-tát…” trở xuống là giải thích, ba từ “Như pháp môn…” trở xuống là dựa theo pháp phân rõ về thành tựu. Trong phần thứ ba là mở rộng phân rõ có một trăm câu, một câu đầu làm quy phạm, những câu sau là dựa vào hồi hướng mà thôi. Vả lại, trong văn mở rộng phân rõ có ba loại Ngôn thuyết: Thứ nhất chọn lấy không chấp trước, thứ hai chọn lấy pháp thi thiết, thứ ba chính thức chọn lấy sự việc giảng giải về giáo pháp. Trong văn có ba loại Thời, một là chỉ có pháp, hai là chọn thời để luận về pháp, ba là thời và pháp cùng luận. Như vậy dựa vào văn lần lượt mà lược bỏ, thì biết về nguyên cớ.
Quá khứ không phải là giống nhau, bởi vì không phải là cùng một pháp diệt. Vị lai không phải là vốn có, bởi vì không phải là sau hiện tại. Hiện tại không phải là khác nhau, bởi vì không phải là hai đời trước- sau và pháp cùng loại của mình khác nhau. Điều này cũng trái với cách nhìn của người ngoài, suy nghĩ có thể biết.
Trong phần bốn là kết luận ca ngợi: Ba câu đầu kết luận ca ngợi về hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề, tiếp từ “Đẳng quán chư Phật vô hữu nhị…” trở xuống là kết luận ca ngợi về đức dụng Thật tế.
Thứ tư là văn về thành tựu lợi ích phân hai: Một là phân rõ về đức, hai là kết luận có thể biết.
Thứ năm là trùng tụng có hai: Một, trường hàng; hai, kệ tụng. Có hai mươi chín kệ, hai tụng đầu về Thể hạnh, tiếp theo bốn tụng về chúng sinh và Bồ-đề, tiếp theo chín tụng về Thật tế, tiếp theo mười bốn tụng kết luận ca ngợi về đức dụng.
Vô phược vô trước giải thoát tâm, có năm: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là phân rõ về đức, năm là kệ tụng.
Phần hai là đáp có bốn: Một, phân rõ về Thể của hạnh; hai, từ “Ma-ha-tát dĩ vô phược trước…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề; ba, từ “Ma-ha-tát dĩ như thử vô phược…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Ma-ha-tát như thị hồi hướng thời…” trở xuống là kết luận ca ngợi về dụng thù thắng.
Văn phần một về Thể có hai: Một là tổng quát phân rõ không kh- inh thường những pháp thiện, hai từ “Bồ-tát thường lạc nhiếp thọ…” trở xuống là bởi vì không khinh thường rời bỏ, cho nên đối với hành thâu nhiếp đạt được tự tại. Phần này có hai ý: Một là bởi vì căn thiện không ràng buộc vướng mắc cho nên hồi hướng ba nơi, hai là bởi vì căn thiện
thuận với ba nơi cho nên không có gì vướng mắc.
Hai, trong phần hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề có hai: Một, phân rõ về ba nghiệp Phổ Hiền; hai, từ “Tùng thử sinh tận vị lai tế sinh…” trở xuống là mở rộng dựa theo sự việc riêng biệt để hiển bày về đạt được tự tại. Văn phần một có bốn:
-
Tổng quát.
-
Thân.
-
Khẩu.
-
Ý có thể biết.
Trong phần hai mở rộng hiển bày có ba mươi hai:
-
Đạt được phần vị nhân quả.
-
Đạt được phương tiện.
-
Đạt được thân nghiệp.
-
Đạt được khẩu nghiệp.
-
Đạt được ý nghiệp.
-
Thành tựu căn.
-
Đạt được thần lực.
-
Tự tại đối với cõi Phật.
-
Có được nhà.
-
Đạt được trí Nhân-đà-la.
-
Đạt được thời gian tự tại.
-
Thân dung nạp.
-
Tự tại tiến vào quả vị.
-
Tự tại tiến vào thế giới.
-
Biết về tưởng.
-
Biết về tâm. Trong những loại này đều có hai văn, một là nhận biết, hai là ca ngợi về đức nhận biết.
-
Biết xứ.
-
Biết nghiệp.
-
Biết pháp.
-
Biết thanh.
-
Thuyết giảng tự tại.
-
Biết căn tánh tự tại.
-
Trí phương tiện nhận biết vi tế. Văn này đều có hai, như trước có thể biết.
-
Hành phương tiện nhận biết vi tế.
-
Biết sự vi tế của Bồ-tát tiến vào phần vị Giải.
-
Biết sự vi tế của Sơ Địa.
27) Biết sự vi tế của tánh chúng sinh.
28) Biết sự vi tế của thế giới.
29) Biết sự vi tế của trí pháp giới.
30) Biết sự vi tế của trí về kiếp.
31) Biết sự vi tế của trí về pháp.
32) Biết sự vi tế của pháp xen tạp sinh ra.
Trong sự nhận biết vi tế trên, vì sao nhận biết về trí mà không nhận biết về pháp, là bởi vì trí có thể hiển bày về pháp thành tựu.
Ba, văn về Thật tế có hai: Một là tiến vào quán, hai là dựa theo ra khỏi quán có thể biết mà thôi.
Bốn, văn về kết luận ca ngợi công dụng thù thắng. Đầy đủ… là đầy đủ hành của nhân quả. Dựa theo phần vị là như vậy, nếu dựa theo hành thì gồm chung tất cả mà thôi.
Văn kệ có hai: Một là trường hàng sinh khởi, hai là chính thức tụng kệ. Có một trăm lẻ hai kệ, sáu tụng đầu về Thể hạnh, tiếp theo bảy mươi tụng về chúng sinh và Bồ-đề, tiếp theo từ “Như thị nhất thiết chư Pháp Vương…” trở xuống là mười tám tụng về Thật tế, tiếp theo tám tụng là văn kết luận ca ngợi.
Pháp giới vô lượng, văn này có sáu: Một là hỏi, hai là đáp, ba là kết luận, bốn là ca ngợi về dụng thù thắng, năm là chứng thành, sáu là kệ tụng. Cũng có thể hai đoạn này bắt đầu xét định thuận theo Hội.
Phần hai là đáp có bốn: Một, đã thành tựu Thể hạnh; hai, từ “Phục thứ Bồ-tát dĩ pháp thí…” trở xuống là hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề; ba, từ “Phục thứ Bồ-tát an trú pháp giới…” trở xuống là hồi hướng Thật tế; bốn, từ “Bồ-tát như thị hồi hướng thời…” trở xuống là kết luận ca ngợi về lợi ích thù thắng.
Hỏi: Hồi hướng thứ 10 này cùng với hồi hướng thứ 8-9 trước đây có gì khác nhau?
Đáp: Hồi hướng thứ tám là hướng về Lý, hồi hướng thứ chín là dựa theo tu mà thành tựu, hồi hướng thứ mười gồm chung cả hai loại và sự việc đã làm.
Phần một về Thể có ba: Một, tổng quát về loại trừ chướng hiển bày đức, văn này có hai:
1) Thọ ký phân rõ về phần vị.
2) Trình bày về lợi ích của Dụng; hai, từ “Bồ-tát hành pháp thí…” trở xuống là tu hành đã hướng đến; ba, từ “Bồ-tát ư bỉ thiện căn…” trở xuống phân rõ về hạnh rộng lớn, phước trí trang nghiêm đã thành tựu tự tại. Phần này có hai ý: Một là dùng Thể của hạnh hồi hướng dựa vào
pháp giới đến với ba nơi, hai là Thể của hạnh vốn có chính là pháp giới cho nên có thể hồi hướng đến ba nơi. Văn về hạnh rộng lớn này có bốn: Một là tổng quát trình bày hạnh trang nghiêm trí; hai từ “Chư Phật Bồ- tát sở tán…” trở xuống là riêng biệt phân rõ về hạnh trang nghiêm; ba từ “Hà dĩ cố…” trở xuống phân rõ về nguyên cớ thành tựu hạnh của mình; bốn từ “Phục hà dĩ cố…” trở xuống giải thích về nguyên cớ tự mình thành tựu có thể làm lợi ích cho chúng sinh.
Phần hai về hồi hướng chúng sinh và Bồ-đề, trong văn có hai: Một, trình bày về không ngừng cung kính, bởi vì ba nghiệp luôn luôn thực hành; hai, từ “Bồ-tát dĩ thử pháp thí…” trở xuống là ba nghiệp khởi dụng không uổng công.
Văn phần một có ba: Một là ý nghiệp thuận theo trí tuệ thực hành; hai từ “Linh nhất thiết chúng sinh giai tất cụ túc…” trở xuống là khẩu nghiệp không trống rỗng; ba từ “Linh nhất thiết chúng sinh đắc tịnh Pháp thân…” trở xuống là thân nghiệp không trống rỗng.
Trong phần một là ý nghiệp có mười môn, như biết pháp… có thể
biết.
Một, khiến cho mình và người đạt được pháp môn vô tận của
Phật, văn này có năm: Một, lập Tông; hai, từ “Dĩ thử…” trở xuống là tổng quát phân rõ về đức dụng ấy; ba, từ “Tất đắc…” trở xuống là đạt được pháp Phật; bốn, từ “Ư nhất nhất…” trở xuống là thuật về công năng của mình. Trong đó có hai: Một là tổng quát đưa ra mười môn, ở trong văn này thì mười Hải ấy là:
-
Tên gọi sinh pháp là tướng lập nghĩa,
-
Tướng dẫn chứng,
-
Phép tắc của ngôn ngữ phương hướng,
-
Thi thiết tên gọi đối với nghĩa,
-
Văn giáo thành quy phạm,
-
Phép tắc tuyên thuyết,
-
Sở y môn,
-
Trí năng nhập,
-
Cảnh và trí giúp đỡ thành tướng,
-
Nghĩa tồn tại không thay đổi.
Năm, từ “Bồ-tát thiện căn như thị…” trở xuống là trình bày về thành tựu. Hai là văn mở rộng phân rõ có thể biết mà thôi.
Hai, từ “Phục thứ Bồ-tát…” trở xuống trình bày về thành tựu đức do tự mình hồi hướng. Ba, từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là khiến cho cùng đạt được giống như mình. Bốn, từ “Phục thứ Bồ-tát dĩ
thử đẳng…” trở xuống là duyên thành tựu tánh đức. Năm, từ “Phục thứ Bồ-tát dĩ thử thiện căn…” trở xuống là hạnh thành tựu được Phật tùy hỷ. Sáu, từ “Bồ-tát dĩ thử thiện căn như thị…” trở xuống là phân rõ về nơi nương tựa của hồi hướng, văn này có hai, đó là Phật và pháp giới có thể biết. Bảy, từ “Phục thứ Bồ-tát…” trở xuống là phân rõ về ý hướng đến. Tám, từ “Bồ-tát Ma-ha-tát…” trở xuống là đạt được Dụng tự tại. Chín, từ “Bồ-tát dĩ thử thiện căn như thị hồi hướng…” trở xuống là dùng hạnh thành tựu phần vị có hai, một là trình bày về pháp lìa xa, hai là phân rõ về pháp đạt được có thể biết. Mười, từ “Bồ-tát như thị bình đẳng tâm…” trở xuống là phần vị nương tựa thành tựu Dụng của hạnh thù thắng, văn này có bốn:
1) Phân rõ về Thể của hạnh hồi hướng.
2) Từ “Linh nhất thiết chúng sinh…” trở xuống là trình bày về ý hồi hướng, phần này có hai, một là phần mình, hai là thắng tiến có thể biết.
3) Từ “Bồ-tát thiện căn như thị…” trở xuống là trình bày về pháp lìa xa, văn này có ba, một là thiết lập, hai là vặn hỏi, ba là đáp có thể biết.
4) Từ “Bồ-tát như thị hồi hướng thời…” trở xuống là trình bày về lợi ích khởi hạnh.
Phần thứ hai là khẩu nghiệp có thể biết. Phần thứ ba là văn về thân nghiệp phân ba: Một là phân rõ về Thể của thân; hai là trình bày về Đức của thân; ba là phân rõ về Dụng của thân, phần này có ba:
1) Tổng quát.
2) Riêng biệt.
3) Kết luận.
Phần hai là ba nghiệp khởi dụng không uổng công, văn có hai: Một, từ “Phục thứ Bồ-tát tu thiện…” trở xuống là phân rõ đầy đủ về ba nghiệp; hai, từ “Như thị Bồ-tát…” trở xuống là thành tựu hạnh không uổng công. Một là trình bày đầy đủ về ba nghiệp, văn có hai: Một, phân rõ về vật báu trang nghiêm; hai, từ “Quảng thuyết hương hoa đẳng…” trở xuống tương tự phân rõ về mười môn trang nghiêm.
Văn phần một có bốn: Một là phân rõ về cảnh đã cúng dường, đó là Phật…; hai từ “Bỉ nhất nhất sát…” trở xuống là đồ vật cúng dường; ba từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là lấy tóm lược để nêu rõ mở rộng; bốn từ “Thị vi Bồ-tát đẳng…” trở xuống là kết luận. Một là trong cảnh cúng dường, đầu là tổng quát, sau là riêng biệt. Trong phần riêng biệt, y chánh phân hai. Hai là đồ vật cúng dường có bốn: Một, trình bày
về cúng dường vật báu riêng biệt có một trăm câu; hai, từ “Bảo thân trang nghiêm…” trở xuống có tám câu trình bày về hạnh của ba nghiệp; ba, từ “Bảo nhãn…” trở xuống là diệu dụng của sáu căn; bốn, từ “Bảo thân nghiệp…” trở xuống cuối cùng dùng ba câu thành tựu về trí dụng của ba nghiệp. Trong phần hai là thành tựu hạnh không uổng công của ba nghiệp có hai: Một, khiến cho chúng sinh thành tựu hạnh của phần mình; hai, từ “Bồ-tát phục tác thị niệm…” trở xuống là khiến cho thành tựu hạnh thuộc phần thù thắng. Hai phần trên đây đều có hai đoạn nên biết.
Ba từ “Phục thứ Bồ-tát an trú pháp giới…” trở xuống là hồi hướng Thật tế có thể biết.
Bốn là văn về lợi ích của Dụng có hai: Một, nhắc lại các hạnh trước; hai, từ “An trú pháp giới đẳng vô lượng tịnh thân…” trở xuống là dựa vào hạnh thành tựu ba nghiệp thù thắng. Đoạn lớn thứ ba từ “Thị vi…” trở xuống là văn kết luận có thể biết. Bốn là ca ngợi về đức có hai: Một, trình bày đã thành tựu các đức rộng lớn của Phổ Hiền; hai, từ “Ư niệm niệm trung…” trở xuống là trình bày về tất cả việc làm, riêng biệt ca ngợi phần mình thành tựu tác dụng thù thắng của tự-tha.
Trên đây dựa vào kinh, là pháp Nhất thừa thông suốt mà không phải là giới hạn. Tiếp theo trình bày về pháp của ba Thừa dựa vào phần vị như kinh:
Một Đế-hai Đế thẳng thắn trong tâm của Hướng thứ nhất, đó gọi là học tập Đệ nhất nghĩa đế, bởi vì quán sát tướng Như của tất cả các pháp không thể đạt được, dùng Từ-Bi-Hỷ-Xả giảng dạy cho người và sáu cõi trời, cạo tóc khoác ca-sa Tam Bảo, Bồ-tát xuất gia cùng với tất cả Tăng, Phật pháp không hai, vốn là thanh tịnh bậc nhất.
Đệ nhất nghĩa trí trong Hướng thứ hai, năm thần thông là dụng sai biệt của tánh Tuệ, tức là dùng sáu Thông làm cảnh của Quán.
Trong Hướng thứ ba, ở trong Tuệ vô sinh là bốn thanh tịnh bất hoại, ở trong giới của Phật-Pháp-Tăng là Tín không thể hủy hoại.
Phần lượng giống như Phật lực trong Hướng thứ tư, đó gọi là ba tướng, là các pháp vốn không, cho nên mượn gọi là Sinh; đã có rồi trở lại không, mượn gọi là Diệt; không phải trống rỗng mà có pháp, mượn gọi là Trú. Vì vậy tất cả thông suốt Không mà không hai, gọi là tướng Thế đế, Không Không là tướng một Đế.
Khéo léo lường tính năng lực của chúng sinh trong Hướng thứ năm, đó gọi là năm Ấm, Sắc là khác Không, Sắc tụ tập trở thành phần Sắc của Đại, cho nên tướng của Sắc là Không; từng sát-na nối tiếp nhau
trở thành Tâm, cho nên tướng của Tâm là Không; Thọ-Tưởng-Hành không có tụ tập-không có phân tán, vốn là một tướng Vô tướng.
Lực giáo hóa của Phật trong Hướng thứ sáu, đó gọi là mười hai Nhập, sáu cảnh bên ngoài-sáu căn bên trong làm nơi tiến vào của Thức, cho nên gọi là Nhập. Tuệ ấy quán sát, không ở bên ngoài, không ở bên trong, không ở khoảng giữa, bởi vì tất cả các pháp không có tự tha.
Trí hướng đến vô ngại trong Hướng thứ bảy, là mười tám pháp bất cọng, sáu cảnh-sáu căn-sáu thức là một hợp tướng, tất cả các pháp cũng như vậy.
Trí tùy thuận tự nhiên trong Hướng thứ tám, đó gọi là nhân quả, thiện-ác gọi là nhân, khổ-vui gọi là quả. Đã dựa vào là nhân, đã phát khởi là quả, nhân Không-quả Không, không có sinh-không có diệt, đều là một hợp tướng.
Thọ Phật-Pháp-Tăng trong Hướng thứ chín, gọi là hai đế Không; nhân duyên tụ tập, gọi đó là có, không phải nói có là có; nhân duyên phân tán, gọi đó là không có, không phải nói không có là không có, do đó có và không cả hai tướng đều không có.
Trong Hướng thứ mười dùng Tuệ tự tại giáo hóa tất cả chúng sinh, đó gọi là Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế, Bát-nhã ở giữa(xử trung) mà thông hiểu tất cả các pháp nhưng không có hai tướng, chuyển sang tăng lên tiến vào Thánh địa, gọi là quán Tương tự Đệ nhất nghĩa đế, không phải là quán Chân thật, Sơ Địa trở lên là quán Chân thật.
Đây là ba Thừa dựa vào phần vị mà nói. Sở dĩ biết như vậy là vì trong kinh trình bày từ ba mươi tâm trở về trước đều là pháp của phàm phu chứ không phải là Thánh vị. Sơ Địa trở lên trong kinh vốn không gồm chung ba Thừa, bởi vì thiết lập về giáo nghĩa ấy văn tướng phần nhiều giống nhau, cho nên không cần phải phân tích.
Từ “Nhĩ thời Phật thần lực cố động địa…” trở xuống là phần thứ năm trình bày về chứng minh thật sự hiển bày thành tựu, văn này có hai: Một, mặt đất chấn động, mưa hoa… là chứng minh thành tựu; hai, nói là Bồ-tát mười phương đều tụ hội, là phần thứ hai trình bày về các Thánh chứng minh thành tựu khuyến khích tin tưởng lưu thông. Ở trong hai văn đều có hai, đó là phân rõ về tướng và kết luận nối thông với phương khác.
Trong phần kệ thì đầu là ý, sau là tụng. Văn tụng có chín mươi bốn tụng, mười bốn tụng đầu về Thể của hạnh, nói rằng Diệu trí Vô tướng quán sát về tướng chân thật của pháp là Dụng cuối cùng dựa vào Thể, tận cùng hành của thế gian cho nên kỳ diệu nhất; tiếp theo từ “Bồ-
tát pháp thí…” trở xuống là sáu mươi tám tụng về chúng sinh và Bồ-đề; tiếp theo từ “Thí như như…” trở xuống là hai tụng về Thật tế; tiếp theo từ “Như thị thù diệu…” trở xuống là mười tụng kết luận ca ngợi. Ngay trong phần chúng sinh và Bồ-đề, tám tụng đầu về thực hành ba nghiệp thuận theo trí, tiếp theo từ “Thập phương nhất thiết…” trở xuống là hai mươi tụng về thân nghiệp không trống rỗng, tiếp theo từ “Cung kính…” trở xuống là hai mươi hai tụng về khẩu nghiệp, tiếp theo từ “Chúng sinh số đẳng…” trở xuống là mười tám tụng về ý nghiệp... Hội này trả lời câu hỏi về Hồi Hướng trước đây mà thôi.