Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 123, Bộ Kinh Sớ IX , Số 1731 - 1733

Đại Tập 123, Bộ Kinh Sớ IX , Số 1731 - 1733

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1051.

Chương 18: Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký - Quyển 7 (Trang 885 - 965)

CHÚ ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG-GIÀ KINH

QUYỂN 2
 
1. Nói tiếp trăm câu hỏi:
“Thế nào thú voi, ngựa? Thế nào là bắt lấy? Thế nào người thấp hèn? Xin Phật nói con nghe?” Là hỏi voi ngựa các loài cầm thú, vì sao mà bị bắt, giết hại lẫn nhau, và hỏi do nghiệp gì mà bị thấp hèn như vậy.
“Thế  nào  thuộc  sáu  thời?  Thế  nào  nhất-xiển-đề?  Nam  nữ  và huỳnh môn, đây đều do đâu sinh?” Câu trên hỏi ngoại đạo có sáu tiết làm thầy. Lại nói ở Tây vực cứ hai tháng là một thời, mỗi năm chia làm sáu tiết. Câu kế hỏi nhất-xiển-đề. Như đoạn văn dưới là đáp trong phần nói về riêng nhất-xiển-đề. Câu kế hỏi nam nữ, huỳnh môn, như trong kinh Chánh pháp niệm có nói.
“Thế nào tu hành tiến? Thế nào tu hành lui?” Là hỏi người học tu hành tại sao lại có sự khác nhau giữa tiến và lui.
“Sư Du-già có mấy? Giúp người trụ trong đó?” Du-già, Hán dịch là tương ưng, nghĩa là tương ưng với tất cả thừa cảnh, hạnh quả v.v... Như trong Ngũ Phần Thập Địa thứ bảy của luận Du-già Sư Địa có nói.
“Chúng sinh sinh các đường, thân gì sắc tướng gì? Giàu có đại tự tại, do nhân gì mà được?” Là hỏi do nhân gì mà chúng sinh các đường có hình tướng, giàu sang, tự tại.
“Thế nào dòng Thích-ca? thế nào dòng Cam giá?” Là hỏi dòng họ thế tục của Đức Như lai ở trong các kinh. Sơ lược như Thích-ca gia phổ Phương chí v.v... có nói.
“Vị Tiên tu khổ hạnh là được ai dạy trao?” Là hỏi vị tiên tu khổ hạnh, cho là được sống lâu, những vị kia dùng pháp gì để dạy trao đệ tử.
“Vì sao Phật Thế Tôn, trong tất cả cõi hiện, các sắc loại khác tên! Chúng Phật tử vây quanh?” Là hỏi Đức Thế Tôn ở khắp mọi nơi ứng vật hiện hình, phàm Thánh vây quanh, do nhân duyên gì mà được như vậy?
“Tại sao không ăn thịt? Vì sao cấm ăn thịt? Ăn thịt các chúng sinh, vì nhân gì ăn thịt?” Hỏi ăn thịt do nhân duyên gì mà cấm ăn thịt. Như đoạn dưới là đáp riêng trong phần cấm ăn thịt.
“Vì sao các cõi nước, giống như hình trời, trăng, cho đến như dây đàn lưng trống”: Là hỏi hình tướng của thế giới khác nhau không đồng, nói chỉ tất cả do tâm tạo ra. Kinh Hoa Nghiêm chép: Vì hạt giống khác nhau nân quả trái sinh không đồng, hành nghiệp bao nhiêu thứ, cõi Phật nhiều thứ khác nhau, đủ như trong phẩm Thế Giới Thành Tựu có nói. Nhân-đà-la là tên khác của trời Đế-thích.
“Thế nào biến hóa Phật? Thế nào là báo Phật? Chân như trí tuệ Phật, xin đều nói con nghe?” Là hỏi nghĩa danh hiệu Phật. Tùy căn cơ mà đến, cảm ứng hóa Phật, báo đáp nhân đời trước gọi là báo Phật. Chân như Phật thể tánh không hai, trí tuệ Phật bản giác hiển chiếu.
“Tại  sao  ở  cõi  Dục,  chẳng  thành  Đẳng  chánh  giác,  cho  đến  ai người giữ chánh pháp”: Là hỏi cõi Phật Lô-xá-na thành Bồ-đề, và hỏi sau khi nhập Niết-bàn thì ai giữ gìn chánh pháp, sơ lược như trong kinh Ma-ha-ma-da v.v... và phó pháp tạng truyện có nói.
“Thế tôn trụ bao lâu? Chánh pháp trụ chừng nào?” Là hỏi Đức Như lai trụ ở đời lâu mau, và chánh pháp trụ thời gian ngắn dài.
“Tất-đàn có mấy thứ, các chấp có mấy thứ?”. Câu trên hỏi là Tất- đàn, Hán dịch nghĩa tông. Câu dưới hỏi các kiến chấp thế đế. Lại nữa, tông Thiên Thai có bốn tất-đàn:
1. Tất-đàn thế giới.
2. Tất-đàn vị nhân.
3. Tất-đàn vị nhân.
4. Tất-đàn Đệ nhất nghĩa.
Cho nên nói nếu mất ý bốn Tất-đàn thì tự tu hành, giáo hóa chúng sinh đều gọi là chấp pháp. Nếu được ý bốn Tất-đàn thì mình và người đều không chấp.
“Cớ sao lập Tỳ-ni, cùng với các Tỳ-kheo?” Tỳ-ni là giới. Tỳ-kheo ở trong giới này, được giải thoát từng phần.
“Thế nào được thế thông? Thế nào được xuất thế?” Là hỏi năm thông thế gian, và sáu thông xuất thế gian, vì sao mà được. Nói sáu thông gồm: Thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thần túc, lậu tận thông. Sáu thông này bao gồm người tu theo ba thừa. Nhưng có sâu, cạn, sáng tối khác nhau. Thế gian thông không có lậu tận, dù là phần được năm thông trước nhưng cũng chỉ thuộc về hữu lậu.
“Lại do nhân duyên gì? Tâm trụ trong Địa thứ bảy?” Là hỏi tâm
lượng địa của Địa thứ bảy, nghĩa là công dụng địa vị cùng cực, ý bao gồm trước sau.
“Tăng-già có mấy thứ? Thế nào thành phá tăng?” Là hỏi tăng có bao nhiêu hạng, ý nói chân hay ngụy, và hỏi phá hoại tăng, giúp cho tăng không hòa hợp, mắc tội báo lớn. Lại có chỗ nói hai thứ tăng là Yết-ma-tăng và Pháp-luân-tăng. Có chỗ nói ba thứ tăng: Hòa hợp tăng, Giả danh tăng và Chân thật tăng. Có chỗ nói bốn thứ tăng: Hữu- tu-tăng, Vô-tu-tăng, Á-dương-tăng và Chân-thật-tăng. Nghĩa phá hoại tăng như trong luận Tạp Tâm có nói.
“Thế  nào  là  chúng  sinh?  Rộng  nói  y  phương  luận?”  Là  hỏi  y phương luận của thế gian và xuất thế gian, đều có nhiều phương, nên gọi là nói rộng.
“Cớ gì Đại Mâu-ni? Nói lời như thế này? Ca-diếp, Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm là ta”. Các kinh có nói như vậy, cho nên Đại Tuệ hỏi, nghĩa là dấu vết ứng hóa có sự khác nhau, nhưng đức thể không khác. Như đoạn dưới đáp riêng bốn thứ bình đẳng.
“Cớ sao nói đoạn thường, và cùng ngã vô ngã, sao không thường nói thật, tất cả chỉ tâm này!” Là hỏi Đức Như lai sao không thường vì chúng nói pháp chân thật, mà lại vì chúng sinh nói đoạn, nói thường, nói ngã, vô ngã, nói pháp tâm lượng vọng tưởng là vì sao! Như đoạn dưới có đáp riêng trong phần nói về đời vị lai có các tà trí.
“Thế nào rừng nam nữ, ha-lê, am-ma-lặc?” Là hỏi trái cây ở thế gian vì sao mà khác nhau. Ha-lê là quả Kha-lê-lặc. Am-ma-la là quả a-ma-lặc.
“Kê-la và Thiết vi, cùng với núi Kim cương, cho đến xin Phật nói con nghe”. Luân vi cũng dịch là Thiết vi. Càn-thát-bà, tức là các vị trời đánh nhạc. Hai câu sau kiết thúc lời thỉnh.
“Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nghe Bồ-tát Đại Tuệ thưa hỏi, cho đến: sẽ theo thứ lớp như lời ông hỏi mà đáp”: Như lai nghe Bồ-tát Đại Tuệ hỏi tâm pháp nhiệm mầu như vậy, cho nên khen ngợi: Lành thay! Răn  bảo  lắng  nghe.  Không  dùng  tâm  hạnh  sinh  diệt  nghe  pháp  thật tướng. Dưới đây gồm ba mươi chín bài kệ đều do Đức Như lai nói cho Bồ-tát Đại Tuệ nghe.
“Hoặc sinh hoặc vô sinh, Niết-bàn không sát-na, trôi lăn không tự tánh”: Ý nói Đại Tuệ hỏi pháp hữu vi sinh, pháp vô vi bất sinh, pháp Niết-bàn hư không trôi lăn từng sát-na, đều do vọng tưởng hiển hiện, đều không có tự tánh.
“Phật tử, Ba-la-mật, Thanh văn, Bích-chi-phật, ngoại đạo vô sắc
hành”: Đoạn trên là hỏi về người và pháp mà người thực hành. Phật tử, Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo là người. Các Ba-la-mật là pháp sở hành của người tu theo ba thừa. Hành vô sắc là pháp sở hành của ngoại đạo. Ý nói người này và pháp của người thực hành, đều dùng vô tự tánh để kiết thúc. Đây là ý chỉ sâu kính do Phật lược đáp.
“Tu-di, bể cả, núi lớn, châu, đảo, cõi nước, quả đất”. Dưới đây tám hàng nửa bài kệ là Đức Như lai theo thứ lớp nhận lãnh trăm lẻ tám câu hỏi của Bồ-tát Đại Tuệ. Núi Tu-di ở giữa biển lớn, cho nên nói Tu- di, biển cả, núi lớn, ở lưng chừng núi Tu-di. Biển lớn, trên hỏi trong đây không có. Châu, đảo, cõi nước, quả đất, là lãnh nhận trên mặt đất.
“Sao, mặt trời, mặt trăng, chúng trời A-tu-la, cho đến diệt và như ý túc”. Tu-la lực, như ý túc, trên hỏi trong đây không có, nghĩa lẽ ra là có.
“Bồ-đề phần và đạo thiền định và vô lượng, cho đến tâm sinh khởi nói năng”. Các uẩn và qua lại, nhận lãnh chúng sinh sinh ra các đường. Tâm sinh khởi nói năng, nhận lãnh trên ai sinh khởi lời nói.
“Tâm ý thức vô ngã, năm pháp và tự tánh, cho đến chúng sinh có hay không”. Là Đại chủng trên không có văn. Một Đức Phật, Ca-diếp v.v... trên là ta, chúng sinh có hay không, trên nói ngã, vô ngã.
“Thú Voi ngựa vô nhân, làm sao mà bắt lấy, cho đến kỹ thuật và minh xứ”. Chỉ do tâm không có cảnh giới. Trên cho rằng tất cả đều chỉ do tâm. Các điều khác đều y theo câu hỏi trên.
“Các núi Tu-di, quả đất, biển lớn lượng mặt trăng, chúng sinh bậc thượng, trung, hạ; thân mỗi người có bao nhiêu hạt bụi ”. Tu-di các núi, quả đất trở xuống gồm chín bài kệ, nói Đại Tuệ đã hỏi danh tướng, vì sao không hỏi các núi, biển lớn, mặt trời, mặt trăng, các sao, cõi nước của chúng sinh, và do-tuần, đẩu, hộc, cân, lạng, bốn đại các căn, như vậy do trần lượng tạo thành. Đã nói ta tên là Đại Tuệ thông đạt Đại thừa, vì sao không hỏi tên hạt bụi và số lượng chứa nhóm, ý nói có hỏi mà không đến nơi đến chốn. Lại nữa, vì giúp cho chúng sanh xả bỏ tình chấp, các vật đã chứa nhóm nhiều như cát bụi mà thành, làm gì có thể tánh.
“Mỗi cõi có bao nhiêu hạt cát bụi, mỗi cung có bao nhiều khuỷu tay, cho đến rận rệp, dương mao, khoáng mạch ”: Nói nhỏ như hạt bụi gọi là thố hào trần. Bảy thố hào trần là một dương mao đầu trần. Bảy dương mao đầu trần là một hạt bụi qua kẽ hở. Bảy hạt bụi qua kẽ hở thành một con rận Bảy con rận thành một con chí. Bảy con chí thành một khoáng mạch trần. Bảy khoáng mạch trần thành một lóng tay. Một
trăm mười lóng tay thành một gang tay. Hai gang tay thành một khuỷu tay. Bốn khuỷu tay là một cung. Năm trăm cung gọi là một câu-lô-xá. Mười câu lô xá gọi là một do-tuần. Tam thiên đại thiên thế giới làm một cõi hóa Phật. Nghĩa là các pháp này đều chứa nhóm như cát bụi mà thành thể. Vì sao không hỏi đủ mỗi thứ có bao nhiêu hạt cát bụi tạo thành.
“Nửa đấu và một đấu, mỗi thứ có bao nhiêu khoáng mạch, cho đến mỗi thứ có số bao nhiêu?” Đây đều là tên gọi trong đấu và hộc dùng để chứa trong nhà Phật, hoặc gọi ngàn muôn na-do-tha, gọi tần bà la.
“Bao nhiêu hạt bụi thành hạt cải, bao nhiêu hạt cải thành một hạt cỏ, cho đến vì sao không hỏi ta”: Đoạn trên đây đều là Như lai nói. Ý nói danh tướng như vậy cũng nên hỏi.
“Vì sao được giàu có? Thế nào vua Chuyển luân? Thế nào vua thủ hộ? Vì sao được giải thoát?” Dưới đây gồm hai mươi bài kệ, lại nhận lãnh câu hỏi của Đại Tuệ. Tài phú, giống như giàu có ở trên.
“Thế nào văn xuôi, câu? Dâm dục và ăn uống, cho đến do nhân gì mà có các mùi vị”: Các thứ vị, câu hỏi trên không có.
“Thế nào là nam nữ và bắt đầu, Phật Bồ-tát trang nghiêm, cho đến thế nào hữu nhân tác”: Vô nhân tác, hữu nhân tác. Hiểu rõ hai câu đều khác nhau.
“Thế nào chuyển các kiến, thế nào khởi so chấp? Cho đến thế nào khởi tam-muội”. Dứt bỏ các tưởng, hiểu rõ trên vì sao gọi là tưởng diệt. Khởi tam-muội, hiểu rõ trên vì sao từ định giác.
“Phá ba hữu là ai? Ở đâu! Và thân gì, cho đến Và chỗ hỏi chẳng phải ngã”. Không có thân ngã, hiểu rõ đoạn trên nói không có chúng sinh. Tướng nó như thế nào, hiểu rõ đoạn trên nói vì sao lập ra tướng. Chẳng phải ngã, đoạn trên nói thành vô ngã.
“Thế nào là thai tạng và các chi phần khác, cho đến Thông minh, ma, thi thiết”: Thi thiết, là nhắc lại đoạn trên nói vì sao chỉ giả thiết. Thông minh ma, đoạn trên không hỏi.
“Thế nào là hàng cây, là điều mà ông hỏi, cho đến nay ông đều hỏi ta”: Từ Sơ địa đến Địa thứ bảy là địa hữu tâm. Quán ba cõi tâm, ý, thức lượng. Đây là tổng kiết một trăm lẻ tám câu trên. Các nghĩa khác, là số cát bụi chứa nhóm v.v… đều là tướng phân biệt trong ba cõi, là pháp sở quán của Địa thứ bảy, cho nên nói vì sao giúp cho tâm được trụ vào Địa thứ bảy. Nay ông đều hỏi ta, là tổng kiết văn nhắc lại.
2. Khuyên nên lắng nghe:
“Một trăm lẻ tám câu như các Phật trước đã nói, cho đến Phật tử nên lắng nghe”. Các Phật trước đã nói, lìa câu kiến tướng, đều trái với thật tướng, không tướng thì tự nhiên xa lìa các lỗi ác kiến, cũng xa lìa pháp do lời nói thế gian hình thành đều là không thật nghĩa. Sẽ nói cho ông nghe, là lời răn dạy giúp cho lắng nghe. Cho nên ngài Long Thắng nói: Nghe là chăm chú như khát uống. Nhất tâm nhập vào trong lời nói, nghe pháp tụng tâm hớn hở vui buồn, người được như vậy hãy nói cho họ nghe.
3. Như lai đáp trăm lẻ tám câu theo môn tâm chân như:
“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến câu thường là vô thường”. Dưới đây là Như lai y theo môn tâm như chân mà đáp. Trên nói chúng sinh đối với vô sinh chân thật, vọng khởi sinh kiến, vốn tự chẳng sinh, cho  nên  nói  câu  sinh  là  bất  sinh.  Nếu  pháp  hữu  sinh  có  thể  nói  có thường, vì không sinh cho nên nói không có thường, cho nên nói câu thường chẳng phải câu thường. Hai câu này đã như vậy thì các câu khác đại loại đều lấy câu dưới bỏ sót câu trên. Nếu vọng kiến không có thì chân thật tự hiện.
“Câu tướng chẳng phải câu tướng, câu trụ dị chẳng phải câu trụ dị”. Vì thành câu sinh từ tướng mà đến, hai câu trụ dị, đoạn trên không có hỏi. Xưa không nay có gọi là sinh, pháp chẳng phải bất động gọi là dị, pháp có tạm dụng gọi là Trụ.
“Câu sát-na chẳng phải câu sát-na, cho đến câu hằng chẳng phải câu  hằng”.  Đoạn  trên  không  có  câu  này.  Gồm  có  ba  thứ  thường:  1. Ngoại đạo chấp tánh của bốn đại là thường. 2. Nghiệp thói quen nối nhau được quả bất đoạn gọi là thường. 3. Thể của Như lai Tạng là chân thật thường trụ Thường. Ba thứ thường này đều là do kẻ ngu luống dối vọng chấp. Bản chú giải xưa gồm có ba thường khác với ở đây.
“Câu duyên phi duyên, câu Nhân chẳng phải câu nhân, cho đến câu phương tiện chẳng phải câu phương tiện”: Đại phiền não có sáu thứ. Tùy phiền não có hai mươi thứ. Văn trên không có phương tiện.
“Câu thiện xảo chẳng phải câu thiện xảo, cho đến câu ba luân phi ba luân”. Câu ba luân văn trên không có.
“Câu tiêu tướng chẳng phải câu tiêu tướng, câu hữu chẳng phải câu hữu, cho đến câu nước chẳng phải câu nước”: Như một giọt nước trong sông Hằng mà bốn cách thấy khác nhau.
“Câu cung chẳng phải câu cung, câu đại chủng chẳng phải câu đại chủng, cho đến câu quả chẳng phải câu quả”: Xét câu đại chủng ở trên như câu thật. Câu quả văn trên không có.
“Câu diệt chẳng phải câu diệt, câu khởi chẳng phải câu khởi, cho đến câu tướng chẳng phải câu tướng”: Tướng có ba thứ: Thể tướng, tiêu tướng và pháp tướng. Trước là hình sắc thể tướng, kế là tiêu tướng, đây là pháp tướng.
“Câu chi phần chẳng phải câu chi phần, câu thiền chẳng phải câu thiền, cho đến câu ký chẳng phải câu ký”: Câu nhiếp thọ, câu ký, văn trên không có.
“Câu nhất-xiển-đề chẳng phải câu nhất-xiển-đề, cho đến câu vị chẳng phải câu vị”. Câu vị văn trên không có.
“Câu tác chẳng phải câu tác, câu thân chẳng phải câu thân, cho đến câu nhân quả chẳng phải câu nhân quả”. Câu hữu vi, câu nhân quả văn trên không có.
“Câu  sắc  cứu  cánh  chẳng  phải  câu  sắc  cứu  cánh,  cho  đến  câu chủng chủng chẳng phải câu chủng chủng”. Câu chủng chủng văn trên không có.
“Câu  giảng  nói  chẳng  phải  câu  giảng  nói,  cho  đến  câu  văn  tự chẳng phải câu văn tự”. Câu Trụ trì, Cầu-na dịch là câu xứ.
Trên đây là y theo môn tâm chân như, đáp chung một trăm lẻ tám câu, đều nói là “phi”, như ngài Mã Minh nói: Phải biết chân như tự tánh chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải không hữu tướng, chẳng phải không vô tướng, chẳng phải hữu vô câu tướng, chẳng phải nhất tướng, chẳng phải dị tướng, chẳng phải không nhất tướng, chẳng phải không dị tướng, chẳng phải nhất dị câu tướng. Từ xưa đến nay tất cả pháp ô nhiễm và tất cả chúng sinh do có vọng tâm niệm niệm phân biệt đều không tương ưng, tức là chân tâm thường hằng bất biến, tịnh pháp đầy đủ, cũng không có tướng đáng chấp, vì lìa cảnh giới niệm, chỉ chứng mới tương ưng.
4. Tổng kiết lời khuyên:
Này Đại Tuệ! Đó là trăm lẻ tám câu, cho đến Ông và các đại Bồ- tát phải nên tu học”. Đây là tổng kiết lời khuyên. Các Bồ-tát... phải nên học Bồ-tát đạo, tu Bồ-tát hạnh như vậy. Trước nêu lên Phật đều là phát minh sự thành tín.
 
 
******
Phẩm 3: TẬP NHẤT THIẾT PHÁP
 
1. Giải thích về phẩm này:
Giải thích phẩm này có bốn môn: 1. Nguyên nhân có phẩm này. 2. Giải thích chướng nạn. 3. Giải thích tên gọi. 4. Giải thích văn.
1. Nguyên nhân có phẩm này: phẩm trên nói chung về hỏi đáp đã xong. Dưới đây các phẩm đều hỏi đáp riêng cho nên đặt ở kế sau.
2. Giải chướng nạn rằng: Trăm lẻ tám câu đã nói chung, vì sao các phẩm dưới mỗi thứ đều hỏi riêng, ý lời nói đều không ra ngoài phần chung, đâu thể chẳng rườm rà! Đáp: Chung riêng gồm nhiếp, chấp đoạn thường mới tiêu, chân tục viên dung, bỏ chấp tình mới bặt dứt.
3. Giải thích tên gọi: Luận rằng nương nhất tâm mà mở ra hai môn. Phẩm trên đã nói về tâm chân như môn, gồm nhiếp tất cả pháp. Phẩm này nói về tâm sinh diệt môn, gồm nhiếp tất cả pháp sinh tất cả pháp, do đó hai môn không lìa nhau. Luận rằng tâm sinh diệt, nương vào Như lai Tạng cho nên có tâm sinh diệt. Cái gọi là bất sinh bất diệt hòa hợp với sinh diệt, chẳng phải một, chẳng phải khác, gọi là thức A-lại-da. Thức này có hai nghĩa; năng gồm thâu tất cả pháp sinh tất cả pháp. Hai nghĩa: a) Nghĩa giác; b) Nghĩa bất giác. Nghĩa giác tức là tâm thể lìa niệm, tướng lìa niệm là bình đẳng với hư không giới, không chỗ nào là không trùm khắp. Pháp giới một tướng tức là pháp thân bình đẳng của Như lai, nói theo pháp thân này thì gọi là bản giác, nương vào bản giác mà có bất giác, cho đến ba tế sáu thô lên xuống trong biển khổ. Nương vào bất giác cho nên nói có Thỉ giác. Lại do nguồn tâm giác nên gọi rốt ráo giác, nguồn tâm bất giác gọi là chẳng phải rốt ráo giác. Vì vậy, cho nên trong mười pháp giới hoặc Thánh hoặc phàm, hoặc nhân hoặc quả, y báo chánh báo nhiễm tịnh đều nêu lên trong đó. Cho nên gọi là phẩm “Tập nhất thiết pháp”.
4. Kế văn kinh dưới là giải thích văn.
2. Nói riêng về hỏi đáp:
“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến các thức có mấy thứ sinh, trụ, diệt?” Từ phẩm này đến phẩm cấm ăn thịt gồm mười bốn phẩm  nói  rõ  riêng  về  hỏi  đáp,  cho  nên  mỗi  phẩm  thường  nhắc  lại. Bạch Đức Thế Tôn! Đây là chương đầu, tức hỏi đáp riêng về tâm ý thức. Nghĩa là thức sát-na ban đầu khác với gỗ đá, sinh được nhiễm tịnh, đều tự có thể làm vô lượng vô số thức gốc nhiễm tịnh. Từ sát-na đầu không thể nói là kiếp, cho đến Kim cương dụ định, trải qua một sát-na có không thể nói không thể nói thức. Sinh các hữu tình, hai pháp
sắc tâm thì có tịnh có nhiễm, có sinh có diệt. Thức này y theo sinh diệt môn. Có mấy thứ sinh, trú, diệt (nhưng từ vô thỉ kiếp lâu xa, làm sao gọi là sơ? Nghĩa là lúc này bỗng nhiên khởi lên một niệm. Vọng niệm trái với chân, gọi là thức ban đầu. Chẳng phải quá khứ có thức mới sinh khởi gọi là thức ban đầu).
3. Chân như diệu tánh chỉ có Phật mới biết:
“Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ, thức có hai thứ sinh, trụ, diệt, suy nghĩ chẳng thể biết được”. Chân như diệu tánh vốn tự vô sinh, một niệm theo duyên sự phần đều khởi, tức là chân tâm không giữ gìn tự tánh, theo vô minh duyên thành các thức sinh, trụ, dị, diệt. Trí tuệ của phàm phu, Tiểu thừa chẳng thể biết được, cho đến Bồ-tát ở giai vị rốt ráo cũng không thể biết hết, chỉ có Phật mới biết hết.
4. Sinh, trụ, diệt nối nhau:
“Cái gọi là sinh ra nối tiếp và sinh nhau nối tiếp trụ và trụ lẫn nhau, nối nhau diệt và diệt lẫn nhau”. Nối nhau tức trôi chảy. Có bản khác cũng nói trôi chảy. Nói trôi chảy, chỉ gọi thức thứ tám. Ba tướng nhớ nhiệm (tức nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng, như trong luận Khởi Tín có nói), chủng hiện không dứt, gọi là trôi chảy. Do duyên vô minh mà sơ khởi nghiệp thức, cho nên nói là sinh. Nối nhau nhiều kiếp cho nên gọi là Trụ, đến định Kim cương. Một niệm Đẳng giác nhổ gốc vô minh, gọi là trôi chảy diệt. Tướng sinh, trụ, diệt, nghĩa là bảy thức còn lại tâm cảnh thô hiển, cho nên gọi là Tướng. Tuy bảy duyên tám, nhưng mong sáu làm tế, có đủ bốn hoặc, cũng gọi là Thô. Nương vào hiện thức kia tự gieo trồng các cảnh, duyên hợp sinh ra bảy, gọi là tướng sinh. Nhiều kiếp huân tập gọi là tướng Trụ. Từ ngọn hướng đến gốc, dần dần hàng phục dứt bỏ. Đến Địa thứ bảy đầy đủ gọi là tướng diệt. Nương vào sinh diệt trước mà lập mê ngộ y, nương vào sinh diệt sau mà lập nhiễm tịnh y. Sau ngắn trước dài sự chai ra hai thứ khác nhau, tức là lưu chú sinh trụ diệt, tướng sinh trụ diệt.
5. Vì sao gọi thức là sanh diệt:
“Các thức có ba tướng, đó là nghiệp tướng, chuyển tướng và chân tướng”: Trên tuy đáp các thức có hai thứ sinh trụ diệt, nhưng chưa nói rõ vì sao thức gọi là sinh diệt. Đây lại nói ba tướng. Muốn phân biệt đối với các thức có sinh diệt, không sinh diệt. Nói chân tướng, là Như lai Tạng tâm tại triền bất nhiễm, tánh tự thần giải, gọi là tự chân tướng. Vô minh căn bản khởi tịnh khiến động, động gọi là nghiệp thức, tức là tướng lại-da rất nhỏ nhiệm, gọi là Nghiệp tướng. Chuyển tướng là nương vào nghiệp tướng trước chuyển thành năng duyên và cảnh sở
duyên, sinh bảy chuyển thức, đồng gọi là chuyển tướng. Lại, từ tịnh khởi động gọi là Nghiệp, từ nội hướng ngoại gọi là chuyển. Như lai Tạng tâm, không thể thêm bớt, gọi là chân tướng, cũng gọi là chân thức. Song, tuy ba tướng tên gọi khác nhau nhưng cũng đồng hai nghĩa nhất tâm là tùy duyên, bất biến, nghĩa là chân tâm bất biến tức tùy duyên, cho nên gọi chuyển tướng nghiệp tướng. Vì tùy duyên tức bất biến cho nên gọi chân tướng. Luận nói rằng tâm này từ xưa đến nay tự tánh thanh tịnh, do bị vô minh ô nhiễm cho nên có nhiễm tâm, đó là bất biến tức tùy duyên. Lại nói rằng tuy có nhiễm tâm mà thường hằng bất biến, đó là tùy duyên tức bất biến.
6. Tám thức và hai thức:
“Này Đại Tuệ! Thức nói rộng thì có tám thứ, nói lược thì có hai thứ, là hiện thức và thức phân biệt sự”. Đức Như lai ở trên nói các thức có ba tướng, đó là đã nói vừa chừng, nhưng ở đây lại nói các thức rộng lược, vì chúng sinh căn tánh khác nhau, sự thọ nhận hiểu biết có khác nhau. Nói rộng thì có tám: 1. Nhãn thức biết rõ đối với sắc. 2. Nhĩ thức biết rõ đối với thanh. 3. Tỷ thức biết rõ đối với hương. 4. Tỷ thức biết rõ đối với vị. 5. Thân thức biết rõ đối với xúc. 6. Ý thức nhận biết với các pháp. 7. Thức mạt-na (Hán dịch nhiễm ô ý), thường xét nét so lường, chỉ duyên kiến phần của tạng thức, cũng gọi thức truyền tống. 8. Gọi thức A-lại-da (Hán dịch là tạng thức) nghĩa là tám thức này đều là chúng sinh từ vô thỉ đến nay không rõ tự tâm, theo vọng duyên khởi, trong đó thức thứ tám là thức căn bản, lập tức biến thành hạt giống căn thân khí giới, chuyển sinh nảy thức đều có khả năng biến hiện tự phần sở duyên (sở duyên tức là cảnh. Sắc là nhãn thức tự phần sở duyên, cho đến ba cảnh là thức A-lại-da tự phần sở duyên, không bao giờ có tâm ngoài pháp, có thể làm duyên cho tâm, nhưng từ tự tâm sinh, lại làm tướng cho tâm). Ngoài tám thức này thật không có ngã pháp.
7. Nói về thức biến:
Hỏi: Biến như thế nào?
Đáp: Vì năng lực huân tập của phân biệt ngã pháp nên khi các thức sinh thì biến dường như có ngã pháp. Thức thứ sáu, thứ bảy bị vô minh che lấp, duyên chấp này làm thật ngã thật pháp, như người nằm ngủ, do năng lực của chiêm bao cho nên tâm dường như có nhiều tướng cảnh bên ngoài hiện ra, khi mộng chấp là thật có cảnh bên ngoài, khi thức mới biết chỉ do mộng biến hiện, thân tướng này của ta và các pháp sắc không ở thế giới bên ngoài, cũng giống như vậy. Chỉ do thức hiện ra, mê cho nên chấp có ngã và các pháp, khi ngộ mới biết do tâm thức
hiện, vì như thật biết không có cảnh giới trước, các thứ phương tiện sinh khởi hạnh thuận theo. Chuyển tám thức thành bốn trí Bồ-đề, an trụ bí tạng, rốt ráo Niết-bàn, cho nên ngài Tào Khê nói rằng: Trí Đại viên cảnh tánh thanh tịnh, Trí bình đẳng tánh tâm vô bệnh, Trí diệu quán sát thấy chẳng có công, Trí thành sở tác đồng viên cảnh. Thứ năm thứ tám thứ sáu thứ bảy quả nhân xoay chuyển, chỉ chuyển tên gọi mà không thật tánh. Nếu đối với chuyển xứ không dính mắc, mãi mãi ở trong na-già định, thì thức này chuyển thành trí. Lược thì chỉ có hai: Nghĩa là chuyển thức và thức phân biệt sự. Bản dịch của ngài Cầu-na nói rằng lược có ba thứ, trong hiện thức thêm một chân thức. Nếu giải thích ba thức, chân nghĩa là tánh tịnh bản giác, hiện nghĩa là lại-da hiện thức, còn bảy thức khác đều gọi là thức phân biệt sự. Tuy thức thứ bảy không duyên ngoại trần, duyên thức thích cũng gọi là thức phân biệt sự. Chân là bản giác, tức thức thật tánh. Ở đây giải thích rằng: Hiện thức thuộc lại-da, thức phân biệt sự thuộc sáu thức trước, không nói thức thứ bảy, nghĩa là thức thứ bảy mạt-na chấp bên trong làm ngã, thuộc lại-da, chấp bên ngoài làm ngã sở thuộc sáu thức trước. Chân tức là thức thật tánh, cũng thuộc lại-da tịnh phần. Vì vậy nói lược thì chỉ có hai, thường không xâm lạm với thuyết này.
8. Nói về hiện thức:
“Này Đại Tuệ! Thí như gương sáng hiện các sắc tượng, hiện thức cũng giống như vậy”: Đây là nêu ví dụ hợp để nói rõ hiện thức. Nói hiện thức như gương, cảnh giới sở hiện như tượng, nên luận Khởi Tín chép: Ba cõi luống dối do tâm tạo ra, lìa tâm thì không có cảnh giới sáu trần. Lại nói rằng tạng thức thứ tám làm nơi nương tựa, chuyển sinh thức thứ bảy, trong đó, thức thứ sáu tạo ra nghiệp dẫn mãn, chiêu cảm quả báo chung riêng như gương hiện hình tượng, mảy may không sai. Nói quả báo chung riêng: 1. Quả báo chung, thuộc thức thứ tám. 2. Quả báo riêng, ở trong sáu thức trước. Vả lại, nói theo nghiệp lành hữu lậu thì như giữ gìn năm giới chiêu cảm được làm thân người, đó là nghiệp báo chung. Do trong nhân có sân nhẫn v.v... nên ở trong nghiệp báo chung của loài người mà có tốt, có xấu v.v... gọi là nghiệp báo riêng, cũng gọi là dẫn mãn nghiệp, tức có công năng chiêu cảm thức thứ tám dẫn dị thục quả, gọi là dẫn nghiệp. Năng chiêu cảm quả mãn dị thục của thức thứ sáu gọi là mãn nghiệp. Nhưng suy nghĩ về dẫn nghiệp năng tạo kia, phải là ý thức thứ sáu dẫn khởi, hoặc mãn nghiệp kia, suy tư năng tạo từ năm thức dẫn khởi. Tuy tạo mãn nghiệp cũng chẳng phải tự có khả năng, do ý thức dẫn mới có thể tạo tác. Thức thứ bảy kia chỉ có hai
chướng câu sinh hoặc trí: Nghiệp chướng báo chướng. Bảy thức kia đều không, tuy có bốn hoặc, chỉ duyên bên trong nên thuộc về tánh hữu phú vô ký, thì không thể gây ra hai nghiệp thiện ác, chỉ có sáu thức trước khởi hoặc tạo nghiệp. Nghiệp thành khó tránh chiêu cảm các dị báo, như gương hiện bóng, không sót mảy may. Cho nên Kinh Lăng-nghiêm chép: Sáu thức tạo nghiệp chiêu cảm báo ác từ sáu căn ra, hoặc chú giải kinh này chỉ ra thức thứ bảy có khả năng gây ra nghiệp thiện ác, giáo không có văn nói rõ. (Chỉ bộ Tông cảnh lục, bảy mươi ba quyển đầu, nhờ nương vào phần chú giải xưa, mà nói thức thứ bảy tạo nghiệp. Lại cùng với Lục này tiết mục dẫn kinh luận nghĩa rõ ràng các thức xứ đều trái nhau, suy đoán sẽ thấy).
9. Hiện thức và thức phân biệt sự không khác nhau:
“Này Đại Tuệ! Hiện thức và thức phân biệt sự, hai thức này không khác nhau làm nhân cho nhau”. Nói lại-da hiện thức và thức phân biệt sự không có tướng khác, đều do một niệm đầu tiên làm duyên. Nay tâm chân như không giữ tự tánh, tùy duyên mà thành có, các thức huân tập lại làm nhân lẫn nhau, trôi lăn không dứt. Cho nên kinh Hoa Nghiêm chép: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, ý các tình căn, do sự thường trôi lăn này mà không thể chuyển. Sớ kia giải thích rằng: Nói lấy đây, nghĩa là dùng tám thức trên tự làm năng huân, sở huân, xoay vần làm nhân, cho nên mà thường trôi lăn không phân biệt ngã nhân, cho nên nói vô năng chuyển. Lại nói rằng ngoài thức chẳng có pháp cũng là không, cho nên nói hai thức này không có tướng khác, làm nhân lẫn nhau.
10. Nói rộng nguyên nhân sinh trụ của các thức:
“Này Đại Tuệ! Hiện thức lấy bất tư nghị huân và bất tư nghị biến làm nhân, cho đến thói quen hý luận làm nhân”. Ở đây lại nói rộng nguyên nhân sinh trụ của các thức. Nói chung thì hai thức thô tế đều nương vào Vô minh trụ địa mà khởi. Vì vô minh căn bản, làm động tâm thanh tịnh kia mà khởi thức nhỏ nhiệm, nương vào thức nhỏ nhiệm này chuyển khởi tâm thô, cho nên dùng vô minh thông làm gốc. Nếu nói riêng thì nương vô minh làm nhân, sinh ba tâm bất tương ưng nhỏ nhiệm. Nương cảnh giới làm duyên, sinh ra ba tâm tương ưng thô, cho nên nói hai thức thô tế, mỗi thức đều có đủ hai nhân, mới được sinh trụ.
Nói bất tư nghị huân, nghĩa là vô minh năng huân chân như, vì chỗ không thể huân mà huân được nêu, gọi là bất tư nghị huân. Lại, huân thì không huân; luận chủ không huân gọi là bất tư nghị huân.
Nói  bất  tư  nghị  biến,  nghĩa  là  tâm  chân  như  bị  vô  minh  huân, không thể biến dị mà biến dị, cho nên gọi bất tư nghị biến. Lại, biến tức
bất biến; biến của bất biến gọi là bất tư nghị biến.
11. Dẫn kinh luận làm sáng tỏ:
Kinh Thắng-man chép: Bất nhiễm mà nhiễm, khó rất dễ hiểu rõ, nghĩa là bất tư nghị này. Nhưng sự huân biến này rất nhỏ nhiệm lại ẩn kín, cho nên hành tướng của hiện thức sinh khởi rất nhỏ nhiệm, ở trong đó cũng có chuyển thức, nghiệp thức. Nêu thô để bày tế, cho nên chỉ nói hiện thức, tức luận Khởi Tín nói bất tương ưng tâm. Nói phân biệt cảnh giới, tức là hiện thức sở hiện các thứ cảnh giới, trở lại làm động biển tâm kia, khởi các sóng sự thức. Nói thói quen hý luận từ vô thỉ, tức hòa hợp trong biển tâm kia, vọng niệm thói quen hý luận, từ vô thỉ đến nay thói quen không dứt, không hề lìa niệm, cho nên cảnh giới này và vọng niệm hý luận huân động biển tâm sinh ra các thức. Do vọng niệm và cảnh giới, thô nên hiển hiện, vì thế sinh khởi thức phân biệt sự hành tướng thô hiển, tức luận Khởi Tín gọi là tương ưng tâm. Ở đây nghĩa là hiện thức nương bất tư nghị huân cho nên được sinh, nương bất tư nghị biến cho nên được trụ. Thức phân biệt sự nương cảnh giới cho nên được sinh, nương biển tâm cho nên được trú. Đoạn trên Phật nói các thức có hai thứ sinh trụ diệt đến đây đã xong. Nghĩa là do vô minh huân tập chân như thành nhiễm duyên khởi. Cho nên luận nói: Phải biết vô minh có công năng sinh ra tất cả pháp nhiễm, tất cả pháp nhiễm đều là tướng bất giác.
12. Nói về thức A-lại-da:
“Này Đại Tuệ! Thức A-lại-da luống dối phân biệt, cho đến đó gọi là danh tướng diệt”. Dưới đây là nói, nếu hiểu được nguồn gốc của vọng thì  duyên  tịnh  khởi.  Nói  thức  A-lại-da  hòa  hợp  trong  biển  tâm.  Nếu vọng niệm phân biệt các thứ thói quen diệt, thì tất cả căn thân diệt. Nói tất cả căn, nghĩa là ý căn khởi thức mà phân biệt được tất cả các pháp, thì gọi là Nhất thiết căn thức, tức là tướng ý thức thứ sáu, và sở y thứ bảy mạt-na hiện hành thức diệt, gọi là tướng sinh trụ diệt thức diệt. Có chỗ nói các thứ thói quen ấy, là y theo tông Duy thức, nói các thói quen gồm có ba thứ: 1. Thói quen danh ngôn: Nghĩa là pháp hữu vi mỗi pháp đều có thân chủng. Danh ngôn có hai: a. Nêu nghĩa danh ngôn, tức có khả năng giải thích nghĩa, âm thanh khác nhau; b. Hiển cảnh danh ngôn, tức có khả năng hiểu rõ cảnh tâm tâm sở pháp, tùy hai thức danh ngôn sở huân thành hạt giống, tạo ra pháp hữu vi, đều có nhân duyên riêng. 2. Thói quen Ngã chấp: nghĩa là luống dối chấp ngã và ngã sở. Ngã chấp có hai: a. Câu sinh ngã chấp, tức chấp ngã, ngã sở do tu mà dứt; b. Phân biệt ngã chấp, tức chấp ngã, ngã sở do thấy đạo mà diệt, tùy hai
thứ ngã chấp huân thành hạt giống, giúp cho loài hữu tình v.v... mình và người khác nhau. 3. Thói quen hữu chi: Nghĩa là chiêu cảm quả dị thục trong ba cõi. Hữu chi có hai: a. Thiện hữu lậu, có công năng chiêu cảm nghiệp quả đáng ưa; b. Các bất thiện, có công năng chiêu cảm nghiệp quả chẳng đáng ưa, tùy theo hai hữu chi huân tập mà thành hạt giống, giúp cho quả dị thục chia đường thiện ác khác nhau. Các thuyết về thói quen, đều y theo đây nên biết.
13. Nói nhân sở y và sở duyên diệt:
“Này Đại Tuệ! Nối nhau diệt, cho đến tự tâm sở kiến phân biệt ảnh giới”: Nói nhân sở y và sở duyên diệt, tức nối nhau diệt, nghĩa là chỗ nương thói quen căn bản vô minh từ vô thỉ diệt, và cảnh giới sở duyên  pháp  duyên  nhiễm  diệt,  tức  là  thức  lưu  chú  sinh  trụ  diệt  nhỏ nhiệm thức diệt. Nói nhân sở y, là thói quen hý luận từ vô thỉ. Sở duyên, nghĩa là tự tâm cảnh giới phân biệt sở kiến. Kinh có nhắc lại giải thích vô minh bị diệt, và ý nghĩa cảnh giới vọng làm nghĩa nhân duyên, cho nên luận chép: Do vô minh diệt cho nên tâm không sinh khởi, do tâm không khởi nên cảnh giới theo đó mà diệt. Vì nhân, duyên đều diệt nên tâm tướng đều hết, gọi là chứng đắc Niết-bàn thành nghiệp tự nhiên.
14. Nêu hai ví dụ:
“Này Đại Tuệ! Thí như nắm đất và hạt bụi, cho đến vàng và các thứ trang sức cũng giống như vậy”. Đây là dẫn hai ví dụ, ví dụ trên là hai duyên nhiễm và tịnh khởi: 1. Thể của chân vọng chẳng phải một, chẳng phải khác. 2. Chỉ có vọng diệt chứ chân không mất, nghĩa lời văn tiếp theo sẽ giải thích.
“Này Đại Tuệ! Nếu khối đất và hạt bụi khác, cho đến khối đất và hạt bụi lẽ ra không khác nhau”. Nếu nói khối đất và hạt bụi thật có khác nhau thì khối đất lẽ ra chẳng phải do hạt bụi tạo thành, mà thật do hạt bụi tạo thành, cho nên không thể nói khác. Nếu thật không khác thì khối đất và hạt bụi lẽ ra không khác nhau. Đã là nhân quả thô, tế có khác nhau, cũng chẳng thể nói đồng nhất.
15. Nói về chuyển thức và tàng thức:
“Này Đại Tuệ! Chuyển thức và tàng thức nếu khác nhau, cho đến nhưng chân tướng kia chẳng diệt”. Dùng pháp hợp để ví dụ, nói chẳng phải một, chẳng phải khác. Nói các thức chuyển và tàng thức khác nhau khi gió vô minh huân động, thể của tàng thức lẽ ra không tùy duyên, rơi vào lỗi thường. Nhưng Như lai Tạng tàng thức ấy là nhân lành hay không lành đều tùy duyên. Nếu không khác thì khi chuyển thức diệt thì tàng thức lẽ ra cũng phải diệt, thì rơi vào lỗi đoạn. Nhưng chân tướng
của tàng thức rốt ráo không diệt. Cho nên luận Khởi Tín chép: Vì tướng của tất cả tâm thức đều là vô minh; tướng vô minh không lìa giác tánh, không  thể  hoại,  chẳng  phải  không  thể  hoại,  như  nước  của  biển  lớn, do gió mà sóng động, tướng nước tướng gió không xa lìa nhau, nhưng nước chẳng phải tánh động. Nếu gió dừng diệt tướng động thì tánh ướt không hoại. Như vậy tâm chúng sinh tự tánh thanh tịnh, bị gió vô minh làm động, tâm và vô minh đều không có hình tướng, không lìa bỏ nhau. Nhưng tâm chẳng phải tánh động, nếu vô minh diệt thì thức nối nhau diệt, trí tánh không hoại.
16. Như lai tạng bị ác tập luống dối từ vô thỉ huân tập:
“Này Đại Tuệ! Chân tướng của thức chẳng diệt, cho đến thì chẳng khác đoạn diệt hý luận của ngoại đạo”. Như đoạn kinh ở dưới nói: Như lai Tạng bị ác tập luống dối từ vô thỉ huân tập, gọi là tàng thức. Cho nên luận nói không sinh không diệt hòa hợp với sinh diệt, chẳng phải một, chẳng phải khác gọi là cụ phần A-lại-da thức, vì vậy trong tàng thức này không sinh không diệt, tịnh phần chân tướng không bao giờ diệt, nhưng nghiệp tướng nhiễm phần sinh diệt bị diệt, nếu chân tướng diệt thì thật tánh của tàng thức lẽ ra cũng diệt, nếu thật tánh của tàng thức diệt, thì giống với chấp đoạn của ngoại đạo, cho nên luận rằng: Nói diệt, là chỉ cho tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt. Lại nói rằng chỉ vì si diệt nên tâm tướng diệt theo, chẳng phải tâm trí diệt.
17. Vọng chấp của ngoại đạo:
“Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia nói như vầy, cho đến thì thức nối nhau từ vô thỉ cũng diệt” nghĩa các ngoại đạo thấy khi chết thân tan rã, sáu thức không thể chấp cảnh, một đời thức nối tiếp nhau sinh thì tùy theo lúc bốn đại duyên chia lìa, tức chấp đắm nối nhau từ vô thỉ diệt hẳn, không còn có nghiệp báo thọ sinh nối nhau, nên gọi là rơi vào chấp đoạn. Vì vậy nên bài kệ dưới nói, sắc thức dù chuyển diệt, nhưng nghiệp không hoại mất, khiến đối với các hữu, sắc thức lại nối nhau, nếu sắc thức chuyển diệt, các nghiệp hoại mất, thì không còn sinh tử, cũng không có thường, vô thường, tức hai kiến chấp đoạn, thường cũng đều lìa. Đâu có đồng với vọng chấp đoạn diệt của ngoại đạo!
18. Ngoại đạo chấp thắng tánh:
“Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia nói thức nối nhau, cho đến chỉ nói tác giả làm nhân sinh”: Các ngoại đạo nói, sáu căn chấp lấy cảnh giới sáu thức, chấp từ thần ngã tà nhân v.v... sinh, không nói các thức như nhãn thức v.v… Từ các nhân duyên như sắc v.v… sinh ra, chỉ vì chấp tác giả làm nhân sinh cho nên gọi là ngoại đạo. “Tác giả là gì? Kia chấp
thắng tánh, hoặc trượng phu, hoặc tự tại, hoặc thời và hạt bụi làm người năng tác”. Thắng tánh cũng dịch là thắng diệu, là vị thiên chủ sống ở tầng trời phạm thiên. Trượng phu là tên khác của ngã. Tự tại là trời Đại Tự Tại, cho đến chấp thời tiết, hạt bụi v.v… làm người năng tác. Lại còn chấp các thứ khác như đoạn dưới nói rộng.
19. Tự tánh có bảy thứ:
“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có bảy thứ tự tánh, cho đến Duyên tự tánh thành tự tánh”. Từ đoạn dưới lại nói về hai duyên nhiễm tịnh chân vọng thức thể. Bảy tự tánh này thành thân vọng thức sinh diệt trên, nghĩa là thể tánh phiền não có công năng chứa nhóm các nghiệp thiện ác, cho nên gọi phiền não là Tập tự tánh. Đã có tập nhân thì sẽ có tánh quả khổ ở vị lai, cho nên nói tánh tự tánh. Đã có quả khổ, thì sẽ có hình tướng, cho nên nói tướng tự tánh. Đã có hình tướng, thì là từ bốn đại chủng sinh, cho nên nói đại chủng tự tánh. Đã có bốn đại, thì từ nhân duyên  tạo  thành,  cho  nên  nói  nhân  tự  tánh,  duyên  tự  tánh,  thành  tự tánh. Nhưng vọng không có thể tánh riêng, tùy theo sự chấp đắm mà đặt tên.
20. Nghĩa bậc nhất có bảy thứ:
“Lại nữa, Này Đại Tuệ! Có bảy thứ Đệ nhất nghĩa, cho đến Như lai tự chứng trí sở hành”: Đệ nhất nghĩa đế đạo lý không hai, vì người chứng khác nhau mà có hơn kém. Bảy thứ này thành pháp thân chân thức bất sinh bất diệt ở trên. Sở hành, bản dịch khác gọi là cảnh giới, tức cảnh giới sở hành, nghĩa là phát tâm Bồ-đề, duyên Đệ nhất nghĩa pháp tánh Như lai Tạng tâm, cho nên gọi là tâm sở hành thắng giải hạnh địa Bồ-tát v.v... Mỗi thứ đều sinh khởi mười trí tuệ, duyên theo chân như, nên gọi trí sở hành sơ địa Bồ-tát, chánh chứng chân như, thấy hai thứ vô ngã, nên gọi là hai chấp sở hành. Bồ-tát Địa thứ tám khởi Hai thừa, vượt Địa thứ bảy, cho nên gọi siêu hai kiến chấp sở hành. Địa thứ mười vượt qua địa thứ chín, cửu địa gọi là nhất tử địa. Hai sở hành sau tức là Phật địa.
“Này Đại Tuệ! Đây là quá khứ, vị lai, hiện tại cho đến pháp tự tánh Đệ nhất nghĩa tâm”. Bảy thứ Đệ nhất nghĩa này, là pháp tánh Đệ nhất nghĩa mà các Đức Phật ba đời đã chứng. Như lai tạng tâm, chẳng phải duyên lự vọng thức.
21. Nói về đức dụng của chân tâm:
“Do pháp tự tánh Đệ nhất nghĩa tâm này mà thành tựu pháp thế gian, xuất thế gian tối thượng của Như lai”. Từ đoạn này trở xuống là nói về đức dụng của chân tâm. Vì có Đệ nhất nghĩa tâm, cho nên có
công năng thành tựu pháp thân Như lai và tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian, tối thượng Bồ-đề, Niết-bàn tịnh diệu v.v… Nếu không có tâm này thì không thể thành tựu.
“Vì  Thánh  mắt  tuệ  nhập  tự  tướng,  cộng  tướng  an  thứ  các  lập, không đồng với ác kiến của ngoại đạo”: Ý nói Thánh mắt tuệ nhập tất cả pháp tự tướng, cộng tướng các thứ an lập. Chỉ là nhất tâm, chỗ an lập kia đều giúp cho ngộ nhập tri kiến Phật, không đồng với ác kiến của ngoại đạo. Lại nói rằng bảy thứ Đệ nhất nghĩa tâm này là trí tuệ sở kiến của bậc Thánh, lập ra bảy thứ khác nhau làm tự tướng, cùng thành pháp thân làm cộng tướng, các nghĩa khác như trên nói.
22. Nêu lên giải thích ác kiến:
“Này Đại Tuệ! Thế nào là đồng với ác kiến của ngoại đạo nói, cho đến thấy có thấy không mà khởi bàn luận hai kiến chấp”: Đây là nêu giải thích ác kiến, nghĩa là các hàng ngoại đạo kia không biết tất cả pháp trong cảnh giới đều do tự tâm phân biệt hiện ra, đối với tự tánh Đệ nhất nghĩa nói là hữu vô.
23. Lìa vọng niệm chỉ có chân tâm:
“Này Đại Tuệ! Nay ta sẽ nói nếu hiểu rõ cảnh như huyễn, cho đến và không biết ái, nghiệp duyên, Phật dạy nếu hiểu rõ cảnh giới do tự tâm hiển hiện”. Như huyễn không thật, thì tất cả vọng tưởng v.v... đều diệt. Nói khổ ba cõi là quả. Vô tri, là vô minh, ái là phiền não, nghiệp là các nghiệp hữu lậu thiện ác, ba thứ này đều là nhân. Cho nên luận nói nếu lìa vọng niệm thì không có tướng tất cả cảnh giới, chỉ có một chân tâm.
24. Người khởi tà kiến là hai thừa và ngoại đạo:
“Này  Đại  Tuệ!  Nếu  có  các  Sa-môn,  Bà-la-môn  v.v…  cho  đến nương vào duyên sinh trụ hữu rồi liền diệt”. Nói người khởi tà kiến, không ngoài hai chúng xuất gia và tại gia, cũng là hai chúng hai thừa và ngoại đạo. Phi hữu, nghĩa là chấp hư không tự nhiên là nhân. Và hữu nghĩa là chấp cát bụi thế tánh tự tại thiên v.v... là nhân. Tức là chấp vô nhân, tà nhân là nhân năng sinh. Chính là ở ngoài nhân quả chấp các vật hiển hiện, nương thời gian mà trụ đều là sở chấp của ngoại đạo, hoặc chấp năm uẩn, mười tám giới, mười hai xứ, nương nhân duyên sinh trụ, vô thường thay đổi. Sinh rồi liền diệt, không rõ chân tâm thường trụ, là sở chấp của Hai thừa, đều mê chấp tự tâm hiện.
25. Nhắc lại chấp để bác bỏ:
“Này Đại Tuệ! Kia hoặc chấp nối nhau, hoặc chấp tác dụng, cho đến không thể thấy được nguồn gốc”. Ở đây nhắc lại để bác bỏ. Nói
hoặc nối nhau, tức nói chung nhân quả kia không dứt. Hoặc chấp tác dụng, tức nhắc lại trong sự sinh diệt kia tạm thời hữu dụng. Hoặc các hữu, hoặc ấm, giới, nhập diệt gọi là Niết-bàn, hoặc hướng về Niết-bàn gọi là đạo; hoặc các nghiệp hữu lậu, hoặc tu đạo chứng đắc gọi là quả, hoặc hai mươi lăm đế như minh sơ, v.v… Trên đây đều là nhắc lại chấp. Nói là phá hoại đoạn diệt. Phá chấp nghĩa là nói ngoại đạo từ vô chủng mà sinh, tức là phá hoại nhân quả. Lại nói từ hữu chủng sinh, sinh rồi diệt, là nói về luận thuyết đoạn diệt. Nói vì cớ sao? Tức là nêu lời tổng kiết, nghĩa là vọng chấp ở trên tức thể phi hữu, cho nên nói không được hiện pháp. Vì sao chỉ hiện chấp vốn không, cùng cực nhân ban đầu cũng không thật có. Cho nên nói không thể thấy được cội gốc.
26. Nêu thí dụ để làm sáng tỏ:
“Này  Đại  Tuệ!  Thí  như  cái  bình  bể  không  thể  làm  được  việc của cái bình, cũng như hạt giống bị cháy không thể làm được việc nẩy mầm”. Kế là dẫn thí dụ để làm sáng tỏ. Nói như cái bình đã bể, không có tác dụng làm được việc, dùng để thí dụ vô chủng thì vô pháp. Không thể làm nhân cho ấm, giới, nhập. Lại như tuy có hạt giống cũng bị cháy không thể nảy mầm được. Lấy thí dụ tuy có trời Tự tại v.v... làm hạt giống, không thể làm nhân cho ấm, giới, nhập nối nhau sinh.
27. Hợp với pháp:
“Ở đây cũng vậy, nếu tánh của ấm, giới, nhập, diệt, cho đến chỉ là tự tâm, tâm luống dối mà thấy”. Sau là nói pháp hợp. Vì hai nhân trên không thành, tức không có tánh ấm, giới, nhập để diệt. Nay ngoại đạo nói có tánh ấm, giới, nhập. Nói trong ba đời diệt được chứng Niết-bàn, là tự tâm vọng tưởng. Ấm, giới, nhập kia không nối nhau sinh, vì hữu chủng, vô chủng không thành nhân cho nên nói chỉ là tự tánh luống dối mà thấy.
28. Lặp lại câu lại nữa ở văn trước:
Lại nữa, Này Đại Tuệ! Nếu vốn không có thức, cho đến nếu có tạo sự nghiệp thảy đều luống uổng, vô ích: Lặp lại câu lại nữa ở văn trước, bác bỏ chuyển chấp nghĩa là phá chuyển chấp sở sinh, cùng với vô chủng, hữu chủng, ba duyên hòa hợp mà sinh. Rùa lẽ ra sinh lông, cát lẽ ra ép ra dầu; nhưng rùa vốn không có lông, cát vốn không có dầu. Hợp cũng không sinh, thể của ba duyên vốn không thì làm sao sinh quả. Tông của ông đã hoại, trái với nghĩa quyết định. Dụ bác bỏ không thành, cho nên nói tông hoại. Vì trái với nghĩa quyết định năng sinh của ông, lại, đối với nhất tướng vọng chấp. Ba duyên trái với nghĩa Đại thừa quyết định của ta. Sự nghiệp làm ra đều luống uổng, vô ích, vì sự tức là
quả, nghiệp chính là nhân. Nói nhân quả sự nghiệp, đều chỉ là nói dối, đều không có nghĩa thật.
29. Nhắc lại lỗi ấy:
“Này Đại Tuệ! Ba thứ hợp lại làm duyên, là  tánh nhân quả, cho đến huân tập khí còn lại mà nói như thế”: Đây là nhắc lại lỗi kia, nghĩa là hàng ngoại đạo kia dùng ba thứ hợp lại làm duyên, đó là tánh nhân quả, có thể nói là thành pháp ba đời. Đây là điều lầm lẫn truyền thừa nhau và tự ác kiến nói như thế.
30. Phàm phu ngoại đạo bị ác kiến làm hại:
“Này Đại Tuệ! Phàm phu ngu si bị ác kiến nuốt sống, cho đến lối xưng là do bậc Nhất thiết trí nói”: Ý nói phàm phu, ngoại đạo bị ác kiến say mê loạn nuốt sống, không thể tự biết mình là ngu si vô trí, nói dối là do bậc Nhất thiết trí nói. Ngoại đạo là chỉ cho sáu vị giáo chủ ngoại đạo và tất cả người trí. Hai thừa chấp quyền trí là thật trí.
31. Chánh quán là gì?
“Này Đại Tuệ! Lại có Sa-môn, Bà-la-môn, cho đến suy tư như vậy thường hằng không bỏ”. Từ đoạn dưới đây là nói người chánh kiến, quán tất cả pháp đều vô tự tánh, như huyễn mộng, v.v... không lìa tự tâm, vô năng thủ sở thủ và sinh trụ diệt, quán sát như thế không xen hở. Đây gọi là chánh quán.
32. Nói về sự tu hành của các Bồ-tát Đăng địa:
“Này Đại Tuệ! Vị Đại Bồ-tát này, cho đến chuyển nương thứ lớp thành  thân  Như  lai”.  Đại  Bồ-tát  này,  tức  các  vị  Sa-môn,  Bà-la-môn chánh kiến ở trên. Thực hành đạo vô tướng, nghĩa là muôn hạnh đều tu, ba luân thể vắng lặng. Dần dần tiến lên các địa, đầu tiên trước lên Hoan hỷ địa thứ bảy, cho đến địa Viễn hành thứ bảy. Chứng pháp vô sinh, nghĩa là chứng đắc vô công dụng đạo, dưới lên địa Bất động thứ tám.
Nhập Kim cương dụ tam-muội, nghĩa là Bồ-tát Sơ địa mới chứng được trí vô phân biệt, dứt chướng dị sinh tánh. Bồ-tát từ địa thứ hai đến địa thứ mười như thật tu hành, dần dần dứt bỏ các chướng, thêm lớn công đức cao quý. Đến địa thứ mười một tức là Bồ-tát Đẳng giác dùng trí phương tiện của Kim cương dụ định chóng dứt bỏ hạt giống câu sinh hai chướng, chuyển nương thứ lớp thành thân Như lai, tức sau Đẳng giác nhớ nghĩ đạo giải thoát, dứt bỏ thói quen hai chướng, liền chứng được Vô thượng Bồ-đề và Đại Niết-bàn của Như lai. Quả hai chuyển y: 1. Chuyển nhiễm thành tịnh; 2. Chuyển mê thành ngộ. Lại nữa, Bồ-đề gọi là sinh đắc. Hai chướng không sinh, nay dứt chướng được sinh. Niết- bàn gọi là hiển đắc. Bản tánh thanh tịnh, bị khách trần che lấp nên nay
dứt mà kia hiển. Giai vị chuyển y chung riêng có sáu thứ, cho nên nói chuyển y thứ lớp mà thành thân Như lai. Các nghĩa khác như đoạn văn dưới có thể lấy ý mà hiểu.
33. Muốn chứng đắc thân Phật thì phải xa lìa hai quả, ba khoa:
“Bồ-tát Này Đại Tuệ! Cho đến Tự tất-đàn phải khéo tu học”. Ý nói chỉ trụ tâm lượng quán sát ba cõi. Lại nói rằng giúp cho thông đạt duy tâm, dần dần nhập vào các địa, nghĩa là pháp môn nhất tâm này, là điều căn bản của phàm lẫn Thánh, nếu mê thì bị rơi vào vòng sinh tử của thế gian, nếu ngộ thì chứng Bồ-đề xuất thế gian. Cho nên các bậc tiên Thánh nói: Thế gian không vượt ngoài ba khoa, xuất thế gian không vượt ngoài hai quả. Hai quả: tức như trên giải thích thành thân Như lai quả hai chuyển y. Ba khoa: tức các pháp vọng tâm như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới này. Cho nên nói muốn chứng đắc thân Phật, thì phải xa lìa, cho đến quán sát giúp cho thông đạt duy tâm, đối với tự tâm tông khuyên khéo nên tu học.
34. Nói về sóng biểu tàng thức, cảnh giới pháp thân:
“Lúc ấy, Đại Bồ-tát Đại Tuệ, cho đến biển sóng tàng thức cảnh giới pháp thân”. Đại Tuệ ở trong đó. Tuy thỉnh chung nói về tâm, ý, ý thức, năm pháp, tự tánh, ý muốn Như lai đáp lời hỏi trước, cho nên tổng kiết thưa thỉnh chỉ nói: Thuận theo các Đức Phật nói sóng biển tàng thức cảnh giới pháp thân. Nói các Đức Phật dạy tâm xứng với nghĩa chân thật, để phân biệt với tâm thức chẳng luống dối. Nói tâm, là tóm lược nêu bày danh thể chung có bốn thứ, tiếng Phạm đều có khác nhau phiên dịch cũng khác nhau: 1. Hột-lỵ-đà-da, Hán dịch là Nhục đoàn tâm, là trái tim trong sắc thân. Như trong Ngũ tạng luận của Huỳnh Đình Kinh ở Trung Quốc nói. 2. Tâm duyên lự, đây thức thứ tám cùng năng duyên lự tự phần cảnh, thức thứ tám này đều có tâm số cũng gọi là tâm sở, trong đó hoặc vô ký, hoặc chung cho thiện nhiễm khác nhau, là tự tâm sở trong các kinh luận, pháp gọi chung là tâm, gồm tâm thiện, tâm ác v.v... 3. Chất-đa-la, Hán dịch tập khởi tâm, là chỉ cho thức thứ tám căn bản, chứa nhóm hạt giống các pháp mà sinh khởi hiện hạnh. 4. Càn-lật- đà-da, Hán dịch là Trinh thật tâm, cũng gọi là Kiên thật tâm, đây là tâm chân thật. Nhưng  thức thứ tám không có tự thể riêng, chỉ là chân tâm, vì bất giác và các vọng tưởng mà có nghĩa hòa hợp, không hòa hợp. Nghĩa hòa hợp, có khả năng bao gồm pháp tịnh và nhiễm, gọi là tàng thức. Nghĩa bất hòa hợp là thể thường bất biến, gọi là chân như. Đây tức là giáo tâm của các Đức Phật, xứng với nghĩa chân thật, lìa tướng sở hành. Tuy bốn thứ này thể đồng, nhưng mê ngộ chân vọng nghĩa có khác. Như
chấp vàng thật, phải biết rõ ngói gạch và vàng giả nên bỏ hết, dù không biết vàng, nhưng thể của vàng cũng tự hiện.
35. Do bốn nhân nên nhãn thức chuyển:
“Khi ấy, Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại Tuệ rằng, cho đến Muốn thấy các thứ sắc tướng”. Phật dạy có bốn nhân duyên nên nhãn thức chuyển, chuyển sinh. 1. Là do bất giác trần bên ngoài nên tự tâm hiện mà chấp đắm. 2. Từ vô thỉ đến nay huân tập vọng tưởng chấp sắc không dứt. 3. Bản tánh của thức là như vậy, có công năng biết rõ tự tánh. 4. Muốn thấy các sắc tướng.
“Này Đại Tuệ! Do bốn duyên này, cho đến giống như gió mạnh thổi nước biển cả”. Ý nói đây là bốn duyên này, giúp cho dòng nước tàng thức và sóng chuyển thức sinh. Nếu nhãn thức đã như vậy thì các thức khác cũng như vậy. Đối với tất cả các căn, lỗ chân lông, hạt bụi, các chuyển thức như nhãn thức v.v... hoặc liền sinh ra, thí như gương sáng hiện các sắc tượng, không có trước sau hoặc dần dần sinh như gió mạnh thổi nước biển cả.
“Sóng trước dậy, sóng sau dậy theo”. Là nói hạt bụi, lỗ chân lông, tức là thân căn sắc trần.
“Gió cảnh giới bên ngoài trôi giạt biển tâm cũng như vậy, khởi các sóng thức nối nhau không dứt”. Ý nói bên ngoài vì gió cảnh giới làm kích động biển tâm Như lai Tạng, các sóng thức nổi dậy, tạo nghiệp cảm quả báo sinh tử không dừng cũng giống như vậy.
36. Các thức xoay vần làm nhân lẫn nhau:
“Này Đại Tuệ! tướng sở tác của Nhân   chẳng phải một, chẳng phải khác, cho đến cảnh tướng khác nhau mà có ý thức sinh”. Đây là nói các thức xoay vần làm nhân lẫn nhau. Nói tướng sở tác của nhân chẳng phải một, chẳng phải khác, nhân tức là Như lai Tạng thức thứ tám, tướng sở tác, nghĩa là bảy chuyển thức từ thức thứ tám sinh. Chẳng phải một, là hành tướng của các thức khác nhau. Chẳng phải khác là đều do duyên khởi vô tự tánh. Nói nghiệp và tướng sinh trói buộc nhau càng  chặt,  nghĩa  là  thức  thứ  tám  biến  khởi  căn  thân,  khí  giới  gọi  là tướng sinh. Hai thức thứ sáu thức thứ bảy bị vô minh che lấp, do đây chấp làm thật ngã, thật pháp, ý thức thứ sáu dẫn khởi thức trước tạo dẫn mãn nghiệp, chiêu cảm quả báo sinh tử không dừng, cho nên nói nghiệp và tướng sinh. Trói buộc nhau càng chặt, đều do không biết rõ các trần như sắc, v.v... từ tâm vọng hiện, nên năm thức thân chuyển.
Này Đại Tuệ! Năm thức như nhãn... khởi chung năm trần, hoặc do hiểu rõ riêng sắc... các cảnh tướng khác nhau mà ý thức sinh, cho nên
phải biết căn thân, trần cảnh tất cả các pháp đều do tự tâm vọng thức của chúng sinh làm nhân quả lẫn nhau mà hiện ra. Cho nên kệ nói: Các pháp đối tàng thức, thức đối pháp cũng thế, làm nhân tướng lẫn nhau, cũng làm quả tướng nhau.
37. Thức thứ tám lìa Như lai tạng thì không có tự thể riêng:
“Nhưng  các thức kia chẳng nghĩ rằng, cho đến Tướng không  khác nhau, đều có tự cảnh”. Các thức kia đều hiểu rõ tự cảnh, đây là nói rõ thức thứ tám đều có khả năng hiểu rõ cảnh tự phần, không biết chỉ do tự tâm vọng hiện, nghĩa là sắc là cảnh của nhãn thức, cho đến A-lại-da kiến phần là cảnh của thức thứ bảy. Hạt giống căn thân khí giới là cảnh của tàng thức. Nhưng nếu thức thứ tám này lìa Như lai Tạng thì không có tự thể riêng, vì chúng sinh không biết chấp là thức thứ tám. Các Đức Phật đã chứng đắc, nêu thành dụng bốn trí. Nếu mê muội thì thức thứ tám khởi chấp danh hiệu của tàng. Thức thứ bảy được gọi là nhiễm ô. Thức thứ sáu khởi tâm chấp khắp. Năm thức theo tướng căn trần. Nếu hiểu biết thức lại-da thành thể viên cảnh, giữ cửa công đức. Mạt-na là nguồn bình đẳng, một tánh tự tha, ý thức thứ sáu khởi nhiệm mầu quán sát, xoay bánh xe chánh pháp. Năm thức trước khởi công tạo tác, để lại dấu vết ứng hóa, đây là nhất tâm bất động, thức trí tự phân, không chuyển thể kia chỉ chuyển tên kia, không phân biệt lý mà phân biệt sự kia.
38. Các thức xoay vần làm nhân cho nhau:
“Này Đại Tuệ! Người tu hành nhập tam-muội, cho đến gọi là thức diệt”. Đoạn trên nói các thức xoay vần làm nhân cho nhau, đều biết rõ tự cảnh, vọng tưởng nối nhau. Muốn chuyển các thức thành trí dụng, nhưng vì tạng thức căn bản nhỏ nhiệm khó biết, cho nên nêu hai thừa tu tam-muội yếu kém, không biết hạt giống thói quen của các thức nương tạng thức bất diệt, tự cho rằng ta diệt các thức nhập vào tam-muội, mà thật ra thì chưa được. Chỉ hàng phục thức thứ sáu, không chấp trần cảnh kia sẽ bị diệt.
39. Chỉ có Phật biết, người khác không biết:
“Này Đại Tuệ! Hành tướng của tàng thức nhỏ nhiệm như thế, cho đến năng lực của định trí tuệ đều không thể biết”: Ở đây là nói người có khả năngbiết, nghĩa là các thức nương vào hành tướng nhỏ nhiệm của tàng thức, chỉ có Đức Phật mới hiểu rốt ráo bờ mé và Bồ-tát trụ địa mới biết được, còn ngoài ra các Thanh văn, Độc giác và ngoại đạo tu hành dù được trí tuệ tam-muội nhưng đều không thể biết được.
“Chỉ có các hành giả tu hành như thật, cho đến tự tâm thấy được rất dễ hiểu”. Nói biết được, khó biết, cho nên, dùng năng lực trí tuệ
hiểu rõ tướng các địa, khéo thông đạt câu nghĩa, là nhân hữu liễu. Đức Phật rộng huân tập gốc lành vô biên, là nhân hữu duyên. Vốn có chánh nhân do đó hiện tiền, tự nhiên thấy rõ vọng tưởng trôi chảy, cho nên nói năng tri.
40. Có chánh nhân nhưng phải nhờ phương tiện nơi hiển lộ:
“Này Đại Tuệ! Những người tu hành ngồi yên nơi núi rừng, cho đến Đại thiện tri thức như thật tu hành”: Nói các bậc tu hành Thượng trung hạ tùy phần lượng của mỗi vị. Phân biệt lưu chú tức là hai thứ sinh trụ diệt ở trên. Các nghĩa khác lời văn có nói, đều nên gần gũi thiện tri thức, như ngài Mã Minh nói: Pháp của các Đức Phật có nhân có duyên, nhân duyên đầy đủ mới được thành tựu. Như tánh lửa trong gỗ, lửa ấy là chánh nhân, nếu không nhờ phương tiện mà tự cháy gỗ thì không có việc đó. Chúng sinh cũng vậy, tuy có năng lực của chánh nhân huân tập, nhưng không gặp các Đức Phật, Bồ-tát, tri thức chỉ dạy lợi ích, từ bi nhiếp hộ làm dyên, mà tự dứt bỏ được phiền não, nhập Niết-bàn thì không có việc đó.
41. Có bốn thứ kệ tụng khác nhau:
“Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng”: Nói chung kệ tụng có bốn thứ khác nhau, âm Phạm cũng khác, vẫn có tám ý, không dẫn lại đầy đủ nữa, nay ở đây chỉ nói đại lược: 1. Chỉ đủ ba mươi hai chữ thì thành một bài tụng. 2. Phúng tụng; hoặc gọi là trực tụng, nghĩa là dùng kệ nói pháp, không tụng văn xuôi. 3. Ứng tụng: Tụng lại văn văn xuôi, hoặc vì người độn căn mà nói lại, hoặc vì kẻ học đời sau, hoặc vì muốn cho rõ ràng lời nói ở trước. 4. Tập thi tụng: Nghĩa là dùng ít lời mà thâu tóm nhiều nghĩa, giúp người khác tụng trì. Nay trong kinh này, trong bốn thứ trước, phần thứ hai thứ ba gồm thâu toàn bộ. Nhưng văn văn xuôi và kệ tụng dựa vào nhau, nêu ra có năm cặp: Hữu vô, quảng lược, ly hợp, tiên hậu, ẩn hiển, trong văn sẽ nói rõ.
42. Nói về biển tàng thức:
“Ví như sóng biển cả, là do gió mạnh thổi, cho đến đối hiện cảnh nói năm”: Bài tụng này nói biển hiện thức trước tánh tự thường trụ, bị gió của cảnh giới sáu trần kia thổi làm lay động. Thể của bảy thức hiện thức lấy làm nhân bên ngoài, cảnh giới sáu trần lấy làm ngoại duyên, làm hưng khởi sáu tướng thô nặng, cho nên nói thí như sóng biển cả, đây do gió mạnh thổi, sóng lớn xao động cả biển lớn, không lúc nào dừng, biển tạng thức thường trụ, gió cảnh giới thổi động các sóng thức vọt lên cao mà chuyển sinh. Thế nào gọi là gió cảnh giới? Gió kia tướng
trạng như thế nào? Đó là xanh, đỏ, v.v... các thứ hiển sắc, có công năng sanh khởi nhãn thức. Các thứ ngọc quý như kha bối v.v… phát ra các âm thanh hay ho, có công năng sanh khởi nhĩ thức. Các thứ mùi thơm lan tỏa khắp nơi có công năng sanh  khởi tỷ thức. Các thứ gỗ thơm, lụa là, thạch mật xúc chạm bao nhiêu tốt đẹp đầy đủ an vui, có công năng sanh khởi thân thức. Các hương vị mặn lạt tùy theo sở thích mà phát ra bao nhiều mùi vị, có công năng sanh khởi hoa thiệt thức hiện tại. Quả vị lai, các thứ pháp trần, tùy theo cảnh giới mà thức kia duyên, có công năng sanh khởi ý thức. Nay trong văn này nêu trần chấp thức phải quán xét kỹ. Thức Mạt-na kia tức là phần vị nhỏ nhiệm của ý thức, không có tự thể riêng. Như vậy sáu trần năng động tâm thể giúp cho tán loạn. Thí như gió mạnh, nên gọi là phong, vì thế nói các màu sắc xanh, đỏ, v.v... Các thứ ngọc quý, sữa đường, muối các mùi vị hoa quả. Bảy thức như vậy cùng với tàng thức là đồng hay khác ư! Chẳng phải đồng chẳng phải khác, lìa hai bên, thí như mặt trời và ánh sáng, nước và sóng, chẳng phải đồng chẳng phải khác. Bảy thức tàng thức nghĩa chẳng phải đồng chẳng phải khác, cũng giống như vậy, cho nên nói mặt trăng mặt trời và ánh sáng, chẳng phải khác, chẳng phải không khác. Bảy thức như ý, v.v… nên biết cũng giống như vậy. Như biển và sóng, tâm cùng hòa hợp sinh. Như vậy bảy thức từ chỗ nào đến nhập vào tạng thức làm số thứ bảy, trôi lăn khởi động không lúc nào dừng. Như vậy, bảy chuyển thức không từ trong đến, không từ ngoài đến, không từ ở giữa đến, chỉ do tàng thức thể biến thành bảy thức, thí như nước biển chuyển động thành sóng, cho nên nói thí như nước biển động, các sóng nổi dậy, tạng thức cũng giống như vậy. Các thứ thức sinh, tâm, ý và ý thức, vì các tướng nên nói. Hiện thức như vậy và bảy chuyển thức, tám thứ tâm thức, chỉ có tướng sinh diệt vô thường hay sao! Cũng có tướng thật tướng thường trụ ư! Tám thức như vậy từ vô thỉ đến nay ba đời bất động, bốn tướng không dời đổi, chân thật thường trú, tự tánh thanh tịnh, công đức đầy đủ, không có hai tướng, cho nên nói tám thức có tướng riêng, không có năng tướng, sở tướng. Thí như sóng biển, cho nên không khác nhau. Các thức tâm như vậy, khác cũng không thể được.
Các thức vốn vắng lặng, vọng trần không tự thể, do bất giác cho nên năm thức trước chuyển khởi, hiện ra trần cảnh. Thức thứ sáu phân biệt khởi hoặc tạo nghiệp thức truyền tống thứ bảy chấp ngã, ngã sở, có công năng chứa nhóm, đồng năng huân tàng thức thứ tám, thọ trì huân tập hạt giống, chứa nhóm không mất, xoay vần làm nhân, trôi lăn không ngừng, cho nên nói tâm có công năng chứa nhóm các nghiệp, ý có công
năng rộng chứa nhóm rõ biết, cho nên gọi là Thức, đối hiện cảnh nói có năm, vậy nên biết cảnh lìa tâm, văn lý đều không, tức thức trần giải thích so lường có y theo cuồng tâm không dứt, dứt tức Bồ-đề, các cấu thanh tịnh thì tâm sáng, xưa nay là Phật.
43. Nhắc lại lời hỏi đáp bằng mười tám bài kệ:
“Lúc bấy giờ, Đại Bồ-tát Đại Tuệ dùng kệ hỏi Phật”: Dưới đây là ba phen nhắc lại lời hỏi đáp theo trước mà phát khởi. Gồm mười tám bài kệ, đều có kinh gia sinh khởi. Đây trước xét hỏi về sinh khởi. Đoạn dưới y theo đây.
“Xanh, đỏ, các sắc tượng, chúng sinh hiện các thức, các thứ pháp như sóng, thế nào xin Phật nói”. Đoạn trên nói các trần xanh, đỏ phát sinh, các thức như sóng biển đều chẳng phải một khác. Lại nói tâm chứa nhóm v.v... hành tướng có khác nhau, cho nên có câu hỏi này.
“Lúc ấy, Đức Thế tôn đáp bằng bài kệ: Các sắc tượng xanh, đỏ, sóng mòi đều không có, nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu”. Ba câu đầu nói sắc tức là không, cho nên không thật có. Câu tiếp nói không tức là sắc, cho nên khởi các tướng. Một câu cuối giải thích câu thứ ba.
“Tướng kia vốn không khởi, tự tâm chấp đắm, lìa năng thủ và sở thủ, đồng với sóng mòi kia”. Bài kệ này hợp pháp nói về các sắc tượng xanh, đỏ, và câu thứ hai nói sóng mòi không thật có.
“Thân tư tài an trụ, do thức chúng sinh hiện, cho nên thấy đây khởi không khác gì với sóng” sắc thân chánh báo. Tư sinh tài vật và nơi chốn an trụ. Bài kệ này nói lại về pháp hiện nói tâm khởi các tướng, tạo nghiệp chiêu cảm quả báo, y báo chánh báo khác nhau, đều do tự tâm chúng sinh vọng hiện.
“Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại nói kệ hỏi: Tánh biển cả sóng mòi, nổi dậy phân biệt được, tạng thức cũng khởi như thế, vì sao chẳng giác biết”. Đây là y theo pháp dụ mà vặn hỏi.
“Lúc ấy, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp: Tàng thức như biển cả, chuyển thức vì sóng mòi. Phàm phu không trí tuệ, thí dụ rộng khai diễn”. Người vào thí dụ biển cả kia nói rộng, giúp kẻ ngu thông hiểu.
“Bấy giờ, Bồ-tát Đại Tuệ lại nói kệ rằng: Thí như mặt trời lên, trên dưới đều được chiếu đèn, thế gian đăng cũng thế, vì ngu nói chân thật”. Đại Tuệ do ở trên nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu. Tức là Như lai phương tiện không nói thật pháp cho nên hỏi: Như khi mặt trời mọc, bình đẳng soi chiếu muôn vật. Như lai đã xuất thế, vì chúng sinh ngu muội mà nói, bình đẳng nói chân thật.
“Đã mở bày các pháp, sao chẳng nói chân thật?” Như lai đã vì chúng sinh mà mở bày các pháp, vì sao không vì những kẻ ngu muội mà nói pháp chân thật!
44. Phật đáp bằng bài kệ:
“Bấy giờ, Đức Thế Tôn đáp rằng bài kệ: Nếu nói chân thật ấy, tâm kia không chân thật, cho đến tâm cảnh giới cũng thế”. Bài kệ này hai câu đầu nói về pháp, nghĩa là không có căn khí thì không thể nghe hiểu thật ra chẳng phải không bình đẳng, kế ba câu nêu ba ví dụ, so sáng với tâm kia không thật. Một câu thứ ba lấy pháp hợp ví dụ, cho nên nói cũng vậy.
“Vì cảnh giới chẳng có, thứ lớp mà chuyển sinh, cho đến không thứ lớp chắc chắn”. Kế một bài kệ rưỡi nói về duyên cảnh bên ngoài nếu không đầy đủ nội thức tức thứ lớp chuyển sinh. Cho nên Thành Duy Thức chép: Nương vào thức căn bản, các thức tùy duyên hiện, hoặc câu hoặc bất câu, như sóng mòi nương nước. Nghĩa là duyên hoặc đồng thời đầy đủ thì đều hiện, như gương hiện hình bóng không có trước sau. Bài kệ này nói về duyên khác nhau, tức thứ lớp chuyển sinh. Do ý thức thứ sáu phân biệt các pháp trần, cho nên nói thức có khả năng hiểu biết. Ý duyên A-lại-da khởi chấp ngã, ngã sở, cho nên nói ý lại ý như thế. Năm thức tùy theo thứ lớp mà hiện trần cảnh, đâu có định thứ lớp.
“Thí như người thợ vẽ, và học trò thợ vẽ, cho đến hòa lẫn thành các hình”. Bài kệ thứ hai nói vẽ sắc vốn không hình, tùy hình tức vẽ tượng, để so sánh đức Như lai vốn không pháp, tùy căn cơ liền nói pháp, đâu được chỉ nói một thứ pháp.
“Nói năng thì biến đổi, chân thật lìa văn tự, cho đến đó là chẳng phải nói”. Ba bài kệ rưỡi này nói về. Như lai ứng theo  căn cơ nói có khác nhau. Hai câu trên nêu chung về thuyết ý, năm câu kế là cho rằng đối với hạng lợi căn nói pháp Nhất thừa chân thật. Năm câu kế là đối với các hạng độn căn còn lại nói các pháp như huyễn. Mỗi pháp  đều lời văn. Hai câu cuối cho rằng pháp được nói không ứng hợp căn cơ gọi là nói dối, cho nên gọi là phi thuyết.
“Thí như những người bệnh, thầy thuốc tùy bệnh cho thuốc, Như lai vì chúng sinh, tùy tâm ứng lượng nói”. Một bài tụng này lại nói thầy thuốc tùy bệnh mà cho thuốc khác nhau. Để so sánh Như lai ứng lượng nói pháp có khác, cho nên không được như mặt trời soi chiếu muôn vật, để tổng kiết câu hỏi trước.
“Y hỗ giả của đời, chỗ chứng trí thực hành, ngoại đạo chẳng cảnh giới, Thanh văn cũng như vậy”. Y Hổ giả là Như lai.
/20
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »