Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 137, Bộ Kinh Sớ XXIII, Số 1777 (Quyển 1-6)

Đại Tập 137, Bộ Kinh Sớ XXIII, Số 1777 (Quyển 1-6)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 875.

Chương 16: Duy - Ma Kinh Lược Sớ - Quyển 10 (Trang 593 - 642)

DUY-MA KINH LƯỢC SỚ

 
QUYỂN 10
 
GIẢI THÍCH PHẨM: HƯƠNG TÍCH
 
Hương là lìa uế trược mà nói, nhưng lại có cái dụng tỏa hương thơm ngào ngạt, cho nên có vô lượng kinh nghĩa do gió đạo hương đức thổi xông khắp tất cả, các hương giới, định, tuệ vô thượng theo lý trung sực nức mãi không dứt, nên gọi là hương.
Tích là nhóm họp. Chứa nhóm các công đức hợp thành pháp thân không chứa nhóm, bèn gọi là tạng. Nếu từ Phật thì tên phẩm gọi là Hương Tích, nếu từ nước làm tên thì gọi là Chúng Hương. Nay y chánh báo đều hơn người, nên lấy đó đặt tên là phẩm Hương Tích. Lý do có phẩm này là ở trong thất mà nói cái Trung phi chân phi hữu mà hay đạo quán song lưu, tịnh uế đều viên thông không trệ ngại, dung hội vô cùng. Nhập Bất nhị pháp môn cùng mất hai biên, chánh nhập vào Trung đạo. Phẩm này song chiếu hai đế, tịnh uế đều dung hợp. Trên văn phi chân phi giả mà rộng thành nghĩa đạo quán song lưu, hiển bày cái dụng tự tại viên thông. Nay văn khác trên về cái dụng song chiếu cả hai đế. Phẩm Thăm Bệnh trên chưa nói rõ về song dụng kết thành hạnh Bồ-tát, nêu đủ các hạnh. Tuy biết quốc độ của chư Phật luôn vắng lặng như hư không, mà hiện ra các thứ cõi Phật thanh tịnh, là hạnh Bồ-tát. Nay văn lại giải thích hai dụng trên, mà nói hai cõi Tịnh uế giao nhau. Trong văn mọi nơi đều giải thích nêu ý Tịnh độ. Cho nên biết kinh này trước sau đều giải thích thành nhân quả Phật quốc, nghĩa nó rất rõ ràng. Văn này nói hai hạnh uế tịnh của hai cõi đã thế, thì các hạnh cũng thế. Nêu đây để làm lệ chung cho các thứ khác, nên có phẩm này. Đại ý phẩm này có hai: Một là nói ngài Thân Tử nghĩ đến bữa ăn. Hai là nói Đại sĩ chê trách.
Ngài Thân Tử là người khởi giáo làm hai việc nên nghĩ đến bữa ăn.
- Thân Tử nghĩ đến bữa ăn là theo đạo pháp chư Phật không ăn
quá ngọ mà giờ ăn của các Đại nhân sắp đến nên ngài Thân Tử khởi niệm, hai là văn trên nói nên dùng pháp gì để khởi căn Bồ-tát. Từ trước đến đây là trong thất tuyên bày thắng pháp âm thanh làm Phật sự là đây, dùng âm thinh khởi căn Bồ-tát. Kế đó phải dùng hai pháp Hương vị mà khởi căn Bồ-tát. Thời chúng bèn đem hai căn mũi lưỡi để nghe thiền duyệt pháp hỷ Đại thừa. Ở cơ không nêu lên nên Thân Tử mượn cơ này mà khởi niệm. Đại sĩ chê trách, là nói hàng Nhị thừa được tám giải thoát có thuyền duyệt đã lâu sao không tự dùng nuôi mình mà lại nghĩ tìm thức ăn ngoại đạo nên chê trách.
Chê trách có năm đoạn
1) Chê trách.
2) Cho ăn.
3) Sai hóa nhân đi xin cơm.
4) Hai cõi Phật hành hóa không đồng.
5) Thời chúng được lợi ích.
Đoạn một: Chê trách, như văn.
Đoạn hai: Cho ăn. Trong văn nói hãy đợi chút, tức là cơ chưa đến. Việc chưa từng có, là nói ngài Thân Tử ở trong tám giải thoát không có pháp hỷ thiền duyệt này.
Đoạn ba: Xin cơm có bốn phần nhỏ: Một là Nhập Tam-muội. Hai là, Sai xin cơm. Ba là, đến cõi nước ấy thăm hỏi. Bốn là, Nhận cơm đem về.
Phần nhập Tam-muội có ba:
1- Nhập Tam-muội.
2- Hiện đến nước xin cơm.
3- Đại chúng đều thấy.
Nay nói nước ấy dùng hương để làm Phật sự, dùng hương để nói lý là tỷ căn thọ đạo. Cõi ấy không có Thanh văn, chỉ thuần là Bồ-tát. Lời nói này giống như Liên hoa tạng cõi Thật báo. Song cõi Đồng cư cũng có uế tịnh. Cũng có giáo hóa nhất thừa mà không có ba thừa khác nhau; là chưa biết cõi nước ấy thuộc cõi nào. Văn nói: Thiên tử đều gọi là Hương Nghiêm. Đã có Thiên tử để gọi người cao quý, lại giống như tùy duyên Tịnh độ. Nhưng tiếng Thiên là chung, hà tất là hàng trời, người ở cõi này. Hoặc có thể dùng Bồ-tát làm Thiên nhân Đệ nhất ng- hĩa. Dùng quyền gọi là Bồ-tát, còn thật là Thiên nhân. Hoặc đúng như đây nhưng chưa dám quyết chắc.
Sai xin cơm, có năm:
1- Tìm người xin cơm.
2- Văn-thù dùng thần lực, chúng không lên tiếng.
3- Ngài Tịnh Danh chê trách.
4- Ngài Văn-thù dẫn chứng mà đáp.
5- Hóa làm Bồ-tát lập môn giải thích việc xin cơm.
Ngài Văn-thù dùng thần lực tất cả đều im lặng. Có hai ý: Một là nói phép chủ khách mời ăn. Vốn là chủ nhân sao để khách phải xin ăn; Hai là muốn hiển bày thắng đức của ngài Tịnh Danh nên im lặng.
Ngài Tịnh Danh chê trách, như văn.
Ngài Văn-thù dẫn lời Phật đáp lời: Chớ khinh kẻ chưa học, nếu có người được giải thoát bất tư nghị thì đến xin cơm không khó. Người chưa được cũng có nghĩa được, nên chớ khinh, ngoài ra thì như văn.
Đến cõi nước ấy thăm hỏi nói ý. Có hai: Một là chính nói thăm hỏi xin cơm. Hai là, các Bồ-tát nước ấy khen ngợi.
Nói ý gồm có hai: Kính lễ và nói ý.
Các Bồ-tát nước ấy khen ngợi có bốn:
1- Khen chưa từng có.
2- Sinh nghi.
3- Hỏi Phật.
4- Phật đáp.
- Trong phần Phật đáp có ba:
1- Chánh đáp cõi nước xa gần và công đức hóa chủ.
2- Lại hỏi đức của Đại sĩ.
3- Phật đáp rất lớn.
- Xin cơm trở về. Phần này lại có bốn:
1- Phật khiến cho cơm.
2- Chín trăm vạn Bồ-tát đều phát tâm muốn đến.
3- Dâng cơm cho Đại sĩ.
4- Khiến các Đại Đệ tử cùng dùng cơm.
- Chín trăm vạn Bồ-tát đến có ba:
1- Trình bày việc muốn đến.
2- Phật khuyên răn.
3- Cùng hóa Bồ-tát đều đến.
- Phật khuyên răn có ba:
1- Khuyên nhiếp hương.
2- Khuyên nhiếp hình.
3- Khuyên tâm chớ khinh.
Trong phần khuyên tâm chớ khinh lại giải thích ý ra vào ở cõi uế, nói các quốc độ Phật đều như hư không, đâu có nhất định là tịnh uế mà
chấp lấy, nên đừng sinh tâm khinh. Như văn. Phần cùng đến lại có ba:
1- Cùng nhờ Phật lực mà đến.
2- Tịnh Danh hóa tòa ngồi.
3- Bồ-tát đều ngồi.
- Ở phần dâng cơm có hai:
1- Nói mùi cơm thơm xông khắp đại thiên này.
2- Nói kẻ có duyên đáng được cơm này, tức là duyên mời đến.
- Về duyên tự đến có ba:
1- Các người ở cõi nước ấy đều đến.
2- Nguyệt Cái đến.
3- Các Thần cùng đến.
- Khiến ăn cơm, có bốn:
1- Khiến ăn.
2- Khuyên bỏ tâm nhỏ.
3- Các Thanh văn khác trộm nghĩ.
4- Hóa Bồ-tát chê trách.
Kế khuyên chớ dùng tiểu ý mà ăn, sẽ không tiêu thức ăn này. Nếu không phát tâm mến mộ Đại thừa, thì thức ăn này không tự tiêu. Như trống độc Niết-bàn, dầu không tâm muốn nghe, gần xa đều chết. Các Bồ-tát ăn, tức là ngộ vô sinh. Đây là gần mà chết. Hàng Nhị thừa tuy trước chưa chết, đến thời Pháp Hoa đều bỏ tiểu phát đại nên gọi là chết. Phần hóa Bồ-tát trách có hai:
1- Khen công đức cơm.
2- Kể công đức cơm.
Đoạn bốn: Bồ-tát hai cõi cùng hỏi đáp việc hành hóa của Phật hai cõi không đồng. Đây là ý có phẩm này, vì đem điều này làm chứng để thành việc đạo quán song lưu. Bồ-tát Trung đạo đều hay giao du cả tịnh uế, thông suốt vô ngại. Song cơ ngộ không đồng. Do đó chư Phật phải phương tiện tùy căn duyên mà khởi giáo “giáo hóa”. Nếu ở cõi này nhĩ căn lanh lợi thì tất dùng tiếng để thuyết lý, mà giáo hóa hàng cang cường, gọi là cõi uế. Còn cõi kia thì dùng mũi lưỡi hai căn linh lợi nên dùng hương vị để giáo hóa, chỉ thuần một Đại thừa không có  ba thừa sai khác, gọi là Tịnh độ. Nay chỉ muốn nói tịnh uế đều có, nên cõi này thuộc uế, cõi kia thuộc tịnh. Nếu xét tìm nghĩa ấy thì chưa hoàn toàn như thế. Vì sao? Vì đến như Tây phương là Tịnh độ, cả cây báu, ao, sông đều nói tiếng Vô sinh nhẫn. Lại như Liên hoa tạng là cõi nước Biệt giáo, thuần các Bồ-tát hình sắc biên không, âm thanh biên không. Trong đó cũng có âm thinh làm Phật sự, vậy sao được phán quyết tiếng
nhất định là thuộc cõi uế. Nếu từ nhĩ căn khởi đạo, thông cả hai cõi uế tịnh, thì tỷ căn khởi đạo cũng thế. Sao biết, nếu mùi hương ở cõi nước ấy thường là hóa độ Đại thừa. Nay chợt vào cõi Ta-bà khiến cả ba thừa cùng nhận hương vị. Cả ba thừa đồng nhờ hương vị mà nhập đạo, đâu không phải là hương vị chung cả ở uế quốc ư? Như Đức Thích-ca ở đạo tràng tịch diệt thinh sắc biên không, là Phật cao quý, nên gọi Tịnh độ. Vì chúng sinh tội, nên phân ra ba thừa để giáo hóa, nên gọi là cõi uế. Nếu hương ở tịnh quốc kia đến giáo hóa cõi Ta-bà thì cũng như thế. Phàm phu mà ăn chánh vị thì mới tiêu, phát tâm mà uống chánh vị mới tiêu, phát tâm mà ăn Vô sinh nhẫn thì mới tiêu, tức là một mùi hương thuần nhất đậu ở ba cơ, đâu chẳng phải là hương chung cho cả cấu tịnh. Nay chính luận về tịnh uế đều có. Căn cứ vào lời của Biệt giáo mà định có tịnh uế.
Hỏi: Phật sai Bồ-tát khiến nhiếp thân hương, sao không nhiếp phạn hương?
Đáp: Phạn hương cũng gồm nhiếp. Vì sao? Vì cơm ở nước ấy đi khắp mười phương, được đến Ta-bà chỉ xông hương ở tam thiên giới. Giảm bỏ cơm đệ Nhất thừa hợp với ba thừa cũng là nghĩa nhiếp. Nhưng Bồ-tát từ chối dạo đến độ khác nên Phật phải khuyên răn. Cơm là Phật sai cắt bớt phần mình, không lẽ Phật sai Phật giảm bớt cơm hương. Nay theo nghĩa đó mà suy, hàng tam thừa đồng ăn chỉ thơm ở đại thiên,   thì biết đã nhiếp rồi. Nay nói khiến Bồ-tát nhiếp hương, không phải   là nhiếp trừ dứt hẳn mà nhiếp là ngăn bớt có chừng mực, là nghĩa trù liệu, khế hợp với đương cơ mà không khiến quá mức, nên gọi đây là nhiếp. Sau đó phân biệt chánh phụ, nhưng ở cõi Hương tích thì hương là chánh giáo. Như Bồ-tát ở dưới cây thơm tức nhập Đức tạng Tam-muội liền được ngộ đạo, gọi là lợi căn. Có kẻ chưa ngộ, tức cùng đại chúng mới cùng ngồi ăn, nên biết vị là phụ. Chánh và phụ hai đạo này, đậu ở hai căn lợi độn. Nay người ở cõi Ta-bà này là độn căn, thế nên hương và vị cùng đưa nhau đến, chính phụ hai môn, hóa độ người độn căn. Ví như cõi này bệnh có nặng nhẹ mà thuốc có chung riêng. Nếu mắc bệnh tầm thường thì nói là nhẹ, còn bốn đại tăng động, ngoài đến trong phát, thì gọi là nặng. Vì thân thường đói khổ, liền dùng thuốc chung đến trị cho ăn uống bổ dưỡng, ăn được thì bệnh lành, ăn không được tất chết. Đây là thuốc chung để trị bệnh nhẹ. Nếu bệnh tăng mạnh gồm cả các bệnh khác, thì nay thức ăn này không thể trị cho lành bệnh được, nên cần phải thêm các vị khác, đắng ít cay chua. Đại hoàng, bã đậu, trợ vị cho thức ăn này, để trị bệnh nặng, thì bệnh mới lành. Nên nói là thuốc
riêng để trị bệnh nặng. Nay hai đạo chính phụ cũng như thế. Nếu người lợi căn, như con ngựa lanh vừa thấy bóng roi liền chạy nhanh. Đây là chỉ dùng chánh mà không cần phụ. Ngựa ngu cần phải dùng gậy đánh đập khổ sở mới đi, thế nên cần có chánh phụ giúp nhau mà thành. Đồng là một gậy nhưng ngựa có lợi độn. Đồng là một hương, nhưng dụng có chánh phụ. Nghĩa tiếng ở cõi này cũng thế. Lợi thì một lần nghe liền ngộ. Độn thì phải nhờ các phương tiện. Hoặc mắt thấy thần thông, tâm nghĩ đến các cảnh, nhờ phương tiện mới ngộ. Trong đây Bồ-tát ở hai cõi cùng hỏi đáp nhau. Ngài Tịnh Danh hỏi, là ý muốn hiển bày ở phương khác khởi căn không đồng, tịnh uế có khác, nên cần hỏi.
- Đáp về Luật hạnh, tức Ba-la-đề-mộc-xoa Đại thừa. Như ngài Tịnh Danh vì Ưu-ba-ly dạy hai Tỳ-kheo. Phải như thế, là chân trì luật, không có lỗi hai biên, được hạnh Trung đạo gọi là luật;
Các Bồ-tát hỏi ngài Tịnh Danh, có sáu:
a) Hỏi.
b) Đáp.
c) Các Bồ-tát ấy khen ngợi.
d) Ngài Tịnh Danh kể thành.
e) Lại hỏi hạnh các Bồ-tát ở cõi này.
f) Ngài Tịnh Danh đáp. Phần (b) có hai:
Mở giáo hóa chúng sinh cang cường của năm chúng.
- Thí dụ làm sáng tỏ.
Nay nói thừa lục Độ chỉ ở trung, là nói khi xưa lúc mới khai Tam tạng giáo thì Bồ-tát chưa đoạn kiết, chỉ có đại tâm hóa độ vật, các hạnh không hạn định ở ba ứng cúng, không phải là năm thứ Phật tử. Cho nên kế đó nhân Thiên thừa thuộc phàm phu số. Ở nhân thừa thì trước nói về quả khổ, tức là nói ba ác đạo mà không luận nhân, khiến biết tội lỗi ác nghiệp, chỉ là ở nhân. Nhân tức là ba nghiệp, mở làm năm giới. Nghĩa mở thân nghiệp làm tam giới, khẩu bốn giới là một việc nói dối, tức giữ được ba lỗi của miệng. Ý là một giới uống rượu. Nên tà mạng nhiếp được ác của ý. Thế nên ý và khẩu hai nghiệp không mở, chỉ mở thân nghiệp làm ba, hợp với năm giới chế ra nhân thừa.
Hành tà, là pháp tà quái, chiêu mời được quả báo ác của ba đường tà. Người ngu, là làm ba nghiệp ác. Người trí, là làm ba nghiệp thiện, học năm giới nhân thừa. Kế là mở năm giới thành thập thiện, nói đủ nhân quả, tức là thiên thừa. Từ xan tham trở đi là sáu tế nói về sáu Độ, tức là Bồ-tát thừa. Kế từ kết giới trở đi là Thanh văn thừa. Kết giới của
Tam tạng giáo, là nói lúc đầu Như Lai chế ra giới này, nên nói là kết giới. Nếu thuận thì gọi là trì, trái thì gọi là phạm. Bất động là Tỳ-ni, nên gọi là ưng tác “nên làm”. Động không phải là Tỳ-ni, nên gọi không ưng tác “không nên làm”. Ba-dật-đề, gọi là che chướng chưng nấu, nên là chướng ngại. Sám pháp để diệt trừ, nên không phải chướng ngại hoặc nói sự ngăn cấm ấy là chướng ngại, không ngăn cấm là Không chướng ngại. Phạm bảy tụ nên là bị tội. Ba thứ Yết-ma sám nên là lìa tội. Lại tác pháp, thủ tướng, vô sinh ba thứ sám pháp nên là lìa tội. Kết giới tạng là tịnh, là cấu, bỏ các thứ ấy là định tạng. Nói giới là loạn tâm, tạp pháp, cấu pháp. Định là vắng lặng gọi là tịnh pháp. Trong cõi Dục có nhiều ác trược gọi là cấu. Trong Tứ thiền lìa năm cái... gọi là tịnh. Lại đắm trước vị các thiền, gọi là cấu, không tham không vị gọi là tịnh. Từ hữu lậu vô lậu ấy, tức là tuệ tạng. Hữu lậu là như từ phàm phu đến noãn... vô lậu, tức khổ nhẫn chân minh phát, tức là vô lậu. Từ đây pháp vô lậu liền phân làm ba thừa, tu vô lậu này, hành sáu Ba-la-mật để phá trừ sáu tế. Khi tu hành dù chưa đoạn kiết phát vô lậu, mà trông vào vô lậu tu hành, đến dưới gốc thọ vương mà phát chân, nhập đạo vô lậu, cùng hàng Nhị thừa không khác. Cho nên biết đồng ước vô lậu mà mở thừa Bồ-tát. Phá báo sáu tế, như trong giới Bồ-tát nói: Phá tế xan tham trừ nghiệp ngạ quỷ, phá tế phạm giới trừ nghiệp địa ngục, phá tế sân giận trừ nghiệp súc sinh, phá tế giải đãi trừ nghiệp tu-la, phá tế loạn tâm trừ nghiệp nhân “người”, phá tế ngu si trừ nghiệp Thiên. Dứt nhân sáu đạo, trừ khổ sáu xứ gọi là đạo. Sáu tế đoạn trừ gọi là diệt. Khi chứng hữu dư thì rốt ráo vắng lặng. Căn cứ vô lậu mà mở thừa Thanh văn, dùng tâm vô lậu, tu Tứ đế quán biết Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo. Ước vô lậu này mà mở thừa Bích-chi, dùng pháp vô lậu tu quán mười hai nhân duyên. Vô minh diệt thì lão tử diệt là thừa Bích-chi. Tuy ước vào vô lậu này mà mở ba thừa vô lậu không khác nhau, nhưng quán pháp có khác, nên thành ba thừa. Đó là chánh đạo, là Bát chánh. Về hữu vi, là trong đạo phương tiện. Vô vi là phát chân thấy Đế mà được đoạn gọi là vô vi. Lại từ Tu-đà-hoàn đến A-la-hán có được trí tuệ, gọi là hữu vi, có được đoạn, gọi là vô vi. Vô vi tức Hữu dư Niết-bàn. Niết-bàn ấy tức là Vô dư Niết-bàn.
Hỏi: Ba thừa mỗi thứ đều có quán pháp, vậy mỗi thứ cũng có giới chăng?
Đáp: Giới là để hòa hợp chúng. Nếu lại riêng lập ra giới Bích- chi-Phật tức là có hai giới, hai chúng không gọi là hòa được. Nên giới không riêng lập. Ba thừa có quán pháp rèn tập riêng không đồng, nên
phải phân biệt. Bồ-tát ở tục, không thuộc Tăng số cho nên phải riêng khai giới. Hàng Nhị thừa nếu là bạch y không nhập vào tăng số, thì gọi là Chi-Phật, một đời không hai, Phật không cho biệt chúng, đồng với chúng Thanh văn. Nếu chúng đã hòa hợp thì không mở giới...
Phần (c), Bồ-tát khen ngợi, có hai:
- Khen Phật và  khen Bồ-tát.
Phần (d), ngài Tịnh Danh kể thành việc khen ngợi, có hai: Là khen chung và khen riêng, kể mười việc. Trong đây không nói khen Phật, là nói Như Lai mặc tình tự tại nên bất khả tư nghị. Chỉ các Bồ-  tát chưa đồng với Như Lai, vì còn duyên lụy, nhưng hay được công lao như thế, nên kể ra đây. Nói một đời ở cõi nước này đã trăm ngàn kiếp số làm nhiều tịnh quốc, là chỉ có chúng sinh thiện căn thuần thục ở  tịnh quốc thì mới dễ khai hiểu, dụng công cũng dễ. Vì phiền não ở cõi này rất nhiều, việc độ thoát rất khó. Như trong Thích luận có nói: Khi Bồ-tát thành Phật muốn khiến quốc độ mình không có tên ba độc thì phải học Bát-nhã. Liền hỏi gặn: Phật là Y vương ra đời để trị bệnh cho người, nếu cõi nước không có ba độc thì ra đời hóa độ ai? Đáp: Không có tà ba độc nhưng có chánh ba độc. Tuy có chánh ba độc cũng dễ dạy răn. Trong cõi Ta-bà này có tà ba độc trần lao nặng nề, tuy nghe tướng “Không”nhưng chẳng liền ngộ được. Ở đây nêu hai thí dụ để giải thích. Như vị Đại mãnh tướng dẹp an bọn cường địch thì công trạng to lớn, nếu trấn áp đám giặc nhỏ tất công trạng không nhiều. Nếu trị bệnh khó lành, thì là thầy thuốc nổi tiếng, trị bệnh dễ lành là việc tầm thường. Nay chúng sinh ở cõi Ta-bà, phiền não oán tặc rất ương ngạnh bướng bỉnh, mà hay phương tiện khiến cho được giải thoát. So sánh với Tịnh độ, thì xét thấy cõi này là hơn, vì ở cõi này kiến tư rất dày nặng, mà luôn dùng thuốc lập phương tiện, khiến pháp thân tuệ mạng không đoạn dứt, nên có sức nhiều ít rất nhiều. Lại nữa, như người lúc hàn vi hay khép mình cởi áo đổi miếng ăn, việc quyên góp bố thí không thấm tháp chi với sự đói nghèo quá mức, nhưng vẫn cảm nhận ân sâu luôn mong đền đáp. Một ngày nào đó may mắn ở ngôi vị cao hoặc lên ngôi cửu ngũ tất nhớ ân xưa mà đáp đền trọng hậu. Nếu thí cho kẻ giàu sang tất việc trả ân sẽ kém. Cõi Ta-bà là nơi rất nghèo thiếu thiện pháp mà hay bố thí pháp tài khiến cho thoát khốn khổ, được phát chân đoạn kiết, giàu có bảy pháp tài, thì việc nghĩ nhớ ân xưa tất trọng đại. Nếu vì kẻ giàu có bảy tài phát chân mà nói pháp, thì lực dụng tất yếu kém. Dùng hai nghĩa thí dụ đó đối với việc các Bồ-tát ở cõi này hay giáo hóa là hơn, ở Tịnh độ là kém. Nếu làm truyện để so về cạn sâu từ phàm đến Thánh,
thì mọi nơi đều có nghĩa oán tặc, mọi chốn đều có nghĩa thiếu pháp. Đến như ở cõi Đồng cư tự có uế tịnh. Tịnh là ít bệnh là nhẹ hơn ở cõi uế. Đây so ra phương tiện Hữu dư còn là bệnh nghèo nặng phương tiện Hữu dư đem so với cõi Thật báo Biệt giáo thì lại là nặng, vì cõi Thật báo của Viên giáo thì thập tín và sơ trụ đến thập trụ thì chưa bằng thập hạnh, thập hạnh chưa bằng thập hồi hướng, thập hồi hướng chưa bằng Thập địa. Như thế mà truyền mãi thành nặng. Nay xem hàng phàm phu là kẻ đứng đầu cang cường bướng bỉnh nên cần phải có dũng tướng tốt dùng thuốc hay. Thế nên nói là hơn. Kế trải mười việc dùng hai nghĩa này ước mười pháp mà nói, trong mỗi mỗi pháp đều làm hai nghĩa này. Như dùng Bố thí để nhiếp phục nghèo hèn, tức là phá giặc tham để trị bệnh nghèo, thí tiền của giúp kẻ giàu sang. Như tịnh giới để nhiếp phục hủy cấm giới, tức là phá giặc phạm giới, trị bệnh trái luật mà bố thí tiền của tịnh giới. Trải mười pháp cho đến bốn giáo đều làm đầy đủ...
Phần (e), các Bồ-tát ấy hỏi thành tựu bao nhiêu pháp Không có hạnh bướu nhọt mà được sinh hạnh Tịnh độ, tức là quán giải, tâm bướu Đại thừa khởi các duyên niệm khác, liên hệ đến chánh hạnh này. Hạnh tạp nên gọi là bứu. Như trong phần chê trách A-nan, việc chê thêm và chê bớt. Chê bớt gọi là hạnh tổn. Nếu khởi các vọng kiến, tức là nghĩa chê thêm. Ước đây mà nói thừa gấp giới hoãn, giới gấp thừa hoãn, đều gấp đều hoãn nói ở hạnh bứu. Hành Đại thừa quán giải thuần thục.
Thừa gấp, là hành tịnh giới, không thường hay phạm giới, không khởi lỗi quấy thân khẩu. Đây là nói không có bứu nhọt, tức là thừa giới đều gấp, được sinh Tịnh độ vậy. Nếu là thừa gấp giới hoãn, là quán Đại thừa thường luôn chân chánh, không hay ngăn ngừa thân khẩu, hủy tổn giới cấm. Đây là có hành trì mà giới nhiễm ô, nên là có bứu nhọt. Vì có thừa nên sinh ra liền thấy Phật. Vì hạnh có bứu nhọt nên sinh tạp, tạp đồng với cõi uế. Nếu chỉ có giới gấp mà không có thừa, ấy là Thanh văn, Duyên giác, đều hoãn là phàm phu...
Phần (f) Ngài Tịnh Danh đáp. Từ trước Thập hạnh căn cứ vào quyền hóa của Đại sĩ để luận về thắng hạnh khó nghĩ bàn. Trong đây không có tám pháp ung nhọt, ước vào thật hạnh, là hạnh không tạp uế thì ắt sinh tịnh quốc. Tám pháp như văn nói.
Đoạn 5 : là thời chúng được lợi ích, như văn.
 
---------------------------------
GIẢI THÍCH PHẨM: BỒ-TÁT HẠNH
 
Trong Chánh thuyết có ba đoạn lớn là:
1. Phẩm Phật Quốc là diễn bày tông chỉ chính của Như Lai.
2. Từ phẩm Phương Tiện đến phẩm Hương Tích là Đại sĩ giúp bày Thánh hóa.
3. Từ phẩm này đến phẩm A-súc trở về lại chỗ Phật là ấn định thành kinh.
Lý do có hai phẩm này, có năm ý:
a) Đại sĩ giúp Phật diễn bày chúng có duyên các duyên phược đã hết, công giáo hóa đã xong, cần trở về chỗ Phật.
b) Phật xưa nói nhân quả Phật Quốc, Đại sĩ giúp nói nghĩa này khác với dị luận nếu không trở về để Phật xác định, thì hoặc có kẻ lưới nghi không trừ, nên cần phải trở về chỗ Phật lập tông nói nghĩa. Cho nên thầy trò đối nhau lập tông diễn bày sáng tỏ nghĩa Phật quốc.
c) Chúng đương cơ ngồi tòa riêng trong thất hoặc có người sinh nghi, để đoạn nghi này nên phải trở về chỗ Phật để đối bày.
d) Kẻ có căn cơ được ngộ ở chỗ Phật thì không thể ngộ với người khác, nên phải trở về chỗ Phật.
e) Tuy ở trong thất luận nói chỗ chí đạo, nhưng nếu không nhờ Phật ấn khả thì không thành kinh. Để được ấn khả nên phải trở về chỗ Phật. Ý có phẩm này là như thế.
Phẩm Bồ-tát Hạnh, trong đây tiếp theo phẩm Hương Tích là để phân biệt các pháp môn của Bồ-tát nói về hạnh cõi Phật thanh tịnh có cấu tịnh, Bồ-tát nương vào đây mà hành nên gọi là phẩm Bồ-tát Hạnh. Ở hai phẩm này văn có hai:
I/ Từ đầu phẩm này đến “khen chưa từng có”, là ngài Tịnh Danh tay nâng đại chúng đồng vào Am viên nên gọi trở về chỗ Phật.
II/ Từ Phật bảo: “A-nan, đúng thế, đúng thế…” trở xuống cho đến hết phẩm A Súc, gọi là lập tông lại nói nhân quả Phật quốc. Lại có khi mở đầu chia hai phẩm này làm hai: phẩm đầu nói hành Phật Quốc là lập tông lại nói nghĩa – Kế phẩm kiến A Súc Phật là chính nói hiển bày quả.
Phần đầu (I) có hai: Một là Tay nâng đại chúng cùng đến Am viên. Hai là A-nan nghe mùi hương liền phát nghi mà hỏi.
Phần một, tay nâng đại chúng, có sáu:
1/ Hiện tướng.
2/ A-nan thấy tướng bạch Phật.
3/ Phật giải thích.
4/ Ngài Tịnh Danh nói muốn trở về.
5/ Ngài Văn-thù cùng trở về.
6/ Dùng thần lực nâng đại chúng đến Am viên.
Phần đầu hiện tướng nói đồng sắc vàng, là biểu thị những người được ngài Tịnh Danh hóa độ, các duyên phược đã trừ hết, đều nhập vào cõi tánh tịnh thường tịch, nên đồng một ánh sáng vàng.
Phần sáu, trong tay nâng đại chúng có hai:
a) Đến chỗ Phật kính lễ.
b) Phật an ủi thăm hỏi.
- Ở phần kính lễ có ba:
a- Đại sĩ kính lễ.
b- Các Bồ-tát kính lễ.
c- Hàng Thích Phạm kính lễ.
- Phật an ủi có ba:
a- Thăm hỏi.
b- Khiến ngồi.
c- Vâng lệnh ngồi.
- Trong phần hai, A-nan nghi hỏi có hai:
a) Phật hỏi Xá-lợi-phất.
b) A-nan nghi mùi hương.
- Ở phần hỏi Xá-lợi-phất có bốn:
a) Ông có thấy thần lực của Đại sĩ đã làm chăng.
b) Đáp.
c) Lại hỏi: Như thế nào?
d) Đáp: Là pháp bất tư nghị, không thể dùng tâm trí tư nghị mà suy lường được.
Phật sở dĩ hỏi là cũng muốn xác định thành việc trong thất, cũng vì trong thất số người hoài nghi chưa hết. Nếu nghe Phật xác định thì hết nghi. Vì không còn ngăn ngại nên sinh lòng tin nghi, vì xác định nên được thành kinh.
Ở phần A-nan nghi mùi hương và hỏi, có hai:
a) Hỏi mùi hương.
b) Hỏi mùi hương hết.
- Phần hỏi mùi hương có năm:
a- A-nan hỏi.
b- Phật đáp.
c- Ngài Thân Tử nói thân tôi cũng có mùi hương.
d- A-nan hỏi duyên được mùi hương.
e- Ngài Thân Tử đáp do ngài Tịnh Danh được cơm.
- Trong phần hỏi hương hết có ba:
a- Ngài A-nan hỏi.
b- Ngài Tịnh Danh đáp.
c- A-nan khen ngợi.
Phần Ngài Tịnh Danh đáp lại có hai: Đáp chung và Đáp riêng.
Đáp chung : Hương này tùy cơm, cơm nếu hết thì hương cũng tùy đó mà hết. Lại hỏi bao lâu thì hết. Liền đáp riêng có hai: Đáp về sự, đáp về lý.
* Đáp về sư: bảy ngày mới hết, cũng như ở đời ăn để nuôi sống thân, chỉ làm hết đói trong một ngày. Còn thức ăn này bảy ngày mới hết. Lại ví như uống một loại thuốc để giữ thân bảy ngày mới hết, sức thuốc xông thân đến khi lành bệnh, đây là giải thích theo sự.
* Đáp về lý: không như vậy nếu xét theo tiếng nói trong việc chuyển pháp luân thì cõi này có giáo Bán, Mãn. Như Nhị thừa gọi là chữ Bán, Đại thừa gọi là chữ Mãn. Như chữ Bán có ba lần chuyển pháp luân: Một là, chỉ bày; hai là, khuyên; ba là chứng. Về chỉ bày, là chỉ bày Tứ đế, thấy Đế nên chân phát; hai là, khuyên, tức khuyên đoạn hoặc tư duy; ba là, chứng đạo Vô học, nên gọi là tam chuyển. Nay mùi hương đến nói lý Bán, cũng là nói chữ Bán ba lần chuyển pháp luân. Trong đây đều đầy đủ nghĩa. Trước dùng bảy ngày làm phương tiện ngũ đình tâm “năm cách dừng tâm”, Niệm xứ chung riêng, ước bốn pháp Noãn, Đảnh. Nay nói vị phàm phu ăn cơm có mùi hương này chuyển nhập bảy phương tiện mới hết. Ăn trong bảy phương tiện là chuyển nhập chánh vị thì mới hết, nếu không nhập thì không hết, cần phải thấy Đế phát chân, thì mới có thể hết. Đây gọi là thị chuyển. Từ chánh vị mà ăn, là Không nhập tư duy thì không tiêu hết, được nhập tư duy thì mới hết. Đây gọi là khuyến chuyển. Nếu tư duy mà ăn, là Không được Vô học thì không tiêu hết, được tâm giải thoát, thành Vô học mới tiêu. Đây gọi là chứng chuyển. Bốn chỗ luận về tiêu hết, tức là ba lần chuyển Tứ đế pháp luân, nghĩa thị, khuyến, chứng rất rõ ràng. Lại nữa, mùi hương này nói nghĩa ba lần chuyển chữ Mãn của Đại thừa, là trước trách chữ Bán chưa nhập chánh vị, ăn cơm nhập chánh vị mới tiêu. Như ngài Thân Tử đã đoạn hết tam giới, chứng tâm giải thoát được tận trí và vô sinh trí. Cơm này lại tiến đến quả nào, nếu không tiến quả thì cơm không tiêu. Nếu tiến quả tức là nghĩa Đại thừa. Phải biết A-la-hán tuy chứng bốn quả, đoạn
kết tam giới, nếu chưa phát tâm Đại thừa thì cũng còn là Đại thừa lý ngoại, chưa phải là trong vị phương tiện. Nên Pháp Hoa có nói: Chỉ hầu ở ngoài cửa, đứng trong thảo am. Nếu luôn phát tâm Đại thừa thì gọi là cơm đã tiêu, là trụ ở vị phương tiện. Nên nói bảy ngày mới tiêu. Từ vị phương tiện này mà ăn, là nhập chánh vị mới tiêu. Tức như ngài Thân Tử trong thời Pháp Hoa nhập Phật tri kiến, nhờ được thọ ký, riêng gọi là chánh vị. Ước trong Đại thừa làm ba căn là: Vị tri dục tri căn, tri căn và tri dĩ căn. Nếu nhập phát tâm tức là dục tri căn. Từ phát tâm mà ăn cơm cho đến Vô sinh nhẫn mới tiêu thì gọi là tri căn. Trong vô sinh mà ăn cơm cho đến bổ xứ mới tiêu, gọi là tri dĩ căn. Tức là hương giáo nói ba căn vô lậu. Cho nên chuyển pháp luân chữ Mãn hợp ở người Đại thừa có duyên, thí như thuốc quý bỏ đi để thí dụ mà nói các cõic của thân diệt hết, đâu chỉ diệt có độc của phần đoạn tam giới. Trên là biến dịch của Thông giáo, Biệt giáo, về độc Biệt giáo của thật báo thì các cõic vô minh từng phần bị tiêu diệt. Đây phải đem trống độc làm dụ để giải thích thành nghĩa này. Không luận xa gần nghe qua đều chết. Đầy đủ như giải thích trước...
Phần A-nan khen chưa từng có, xưa chỉ nghe nói ba lần chuyển pháp luân Bán, Mãn, mà nay trong mùi hương lại có đủ khuyến, thị, chứng..., nên khen chưa từng có. Phần hai, nhân A-nan hỏi, tức là nói lập lại tông. Ở đây có hai: Một là từ đây trở đi đến hết phẩm, là nói  cõi Phật không đồng, khởi căn mỗi khác. Đây tức ý có phẩm này là hai ý trong năm lớp. Nếu công hóa độ đã xong thì tay nâng đại chúng về Am-la viên là nghĩa này. Kế trong thất nghi tình chưa giải quyết nên cần được xác định. Do đó Phật liền bảo Xá-lợi-phất: Ông thấy việc làm thần lực tự tại của Đại sĩ chăng? Trong đó có ý xác định việc nói trong thất cũng là đoạn dứt các niềm nghi. Nếu Đại sĩ khen bày dù luận về các pháp khác nhưng cũng đều là hiển bày về tịnh quốc. Tịnh quốc đã hiển sáng thì lập lại tông phải trở về lời do Phật nói, tức ý văn trong đây. Lại chúng sinh có cơ ngộ với Phật, tức là việc khai tông ở trên do các Trưởng giả tử trước hỏi về quả, kế hỏi về nhân. Phật trước đáp về quả, sau mới đáp về nhân. Trong quả có hai: Một là nói về quả và hai là giải thích.
Trong nhân cũng có hai là: Một là, nói về nhân và hai là giải thích.
Trong đây việc lập lại tông cũng có hai ý:
                         a) Lập lại tông nói quả tức là Phật quốc, Phật sự không đồng.
                         b) Lập lại tông nói nhân tức là các hạnh Bồ-tát.
- Trong quả có hai:
a) Chánh nói quả.
b) Giải thích ý.
- Trong nhân cũng có hai:
a) Chánh nói hạnh Bồ-tát.
b) Giải thích
Trước sau đối nhau, ý nghĩa hơi ngang nhau cho nên biết là lập lại tông nói rõ nghĩa.
Trước nói nghĩa ở môn quả: Có bốn:
1. Tùy chúng sinh được hóa độ mà nhận lấy cõi Phật.
2. Vì điều phục chúng sinh mà lấy quốc độ.
3. Tùy dùng pháp nào nhập Phật tuệ mà chọn lấy quốc độ.
4. Dùng pháp nào để khởi căn mà chọn lấy quốc độ.
Nay môn quả này cũng đủ bốn nghĩa để thành việc nói về Phật quốc của đương tông rõ ràng là đồng, nhưng chỉ không thứ lớp trước sau là khác mà thôi. Do nói không lập lại nên không an tâm. Do đó cùng nói muốn khiến hành giả không chấp chặt trước sau. Giống như Pháp Hoa ba lần nói pháp tên khác mà nghĩa đồng. Lại như kinh Niết-bàn ba mươi sáu lần hỏi đáp mà nghĩa đối nhau nhưng danh tự không đồng. Về ý nghĩa nếu chánh danh dù khác cũng chẳng hiềm gì. Trong đây tuy trước sau không thứ lớp, nhưng nghĩa gần ngang nhau. Nay cái thứ nhất giải thích cái thứ tư trên, tuy tên có khác nhưng nghĩa là một. Cái thứ  tư giải thích cái thứ nhất trên thì văn nêu đầy đủ. Trong đây giải thích việc khởi căn Bồ-tát mười ba câu nói về các Phật quốc, khởi căn không đồng, cùng dùng pháp sáu trần mà khởi sáu căn. Như Tỳ-đàm nói sắc là chất ngại, không được cùng thông như các trần khác. Mắt chỉ thấy sắc không thể dùng cho các trần khác. Nghĩa của Đại thừa nói thì khác với đây. Trong căn trần có thể dùng chung nhau viên thông các pháp. Như mắt thấy sắc giấy mực, sắc này có thể dùng nói tất cả các pháp hoặc Không hoặc Giả hoặc Trung, thế, xuất thế tất cả các pháp đều đầy đủ, chỉ là một thứ mực mà thôi, mà gồm chứa các các đức viên thông vô ngại. Nên trong Đại phẩm nói: Tất cả hướng đến sự hướng đến ấy chẳng ngoài sắc cho đến tất cả hướng đến vị sự hướng đến ấy chẳng ngoài vị. Đối với ăn nếu bình đẳng thì đối với pháp cũng bình đẳng. Phải biết căn trần đủ tất cả pháp, nên dùng trần này mà khởi căn Bồ-tát vậy. Nay đem một trần để nói, thì đây là từ hơn mà làm tên. Như nếu tỷ căn nhập đạo lanh lợi nhất thì dùng hương trần mà khởi, nếu thân căn linh lợi nhất thì dùng ánh sáng mà chạm xúc. Ở cõi này nhĩ căn lanh
 
 
lợi, nên dùng thanh trần mà khởi. Chưa hẳn chỉ có thanh trần mà không dùng năm trần kia. Như ở cõi này dùng tiếng làm Phật sự, nhưng cũng có phóng ánh sáng, cũng có hương vân, hương cái, y phục... để làm Phật sự. Chỉ từ cái nào hơn là chánh còn các thứ khác là phụ. Cho nên căn cứ ở tiếng để làm Phật sự. Các cõi nước khác nếu có nói dùng một trần nào đó thì cũng y theo trên.
Ánh sáng làm Phật sự, là phóng ánh sáng chạm thân nói đủ các pháp tùy chạm xúc mà hiểu. Đâu chỉ các cõi nước khác dùng ánh sáng làm Phật sự, mà cõi này cũng dùng ánh sáng để hóa độ người. Như khi nói các kinh Đại thừa Phật đều phóng ánh sáng làm rúng động tất cả. Chỉ không phải chánh ý nhập đạo ở cõi này mà chỉ là ý chung về Phật sự thôi. Phải biết rằng trong ánh sáng có đầy đủ tất cả pháp, như kinh Tư Ích đã luận rõ. Lại như Đại phẩm phóng quang, chúng sinh nào thấy được đều phát tâm Bồ-đề. Như kinh Hoa Nghiêm nói Như có ánh sáng tên là vô tham, diệt hết các tật xấu tham dục... đều dùng ánh sáng này làm chánh, vì đầy đủ các pháp vậy. Chỉ trong Tiểu thừa hoặc nói ánh sáng đến chạm xúc, hoặc nói không đến chạm xúc. Đại thừa thì nói Bất tư nghị mà luận việc đến chạm xúc. Về việc dùng hóa nhân làm Phật sự, là như Phật Tu-phiến-đa đã để lại hóa Phật để độ chúng sinh. Hoặc có Phật làm lợi ích chúng sinh, dùng hóa nhân, hóa Bồ-tát... để khởi căn chúng sinh. Lại như nói kinh Bát-nhã có Hóa Bồ-tát nói Bát-nhã tức là ở cõi này dùng hóa để làm Phật sự. Về Bồ-tát làm Phật sự, là hoặc có cõi Phật chỉ thuần dùng Bồ-tát làm quyến thuộc để lợi tha dẫn dắt chúng sinh, Phật chỉ làm tôn chủ mà thôi. Cõi này cũng có nghĩa này. Như nói trong kinh Hoa Nghiêm có bốn Đại Bồ-tát nói công đức các Địa , Phật chỉ làm chủ. Phải biết cũng dùng Bồ-tát để làm Phật sự thì tiếng Bồ-tát này chỉ là nói chung không nhất quyết phải là hóa nhân, cho nên thuộc về căn trần. Về cây Bồ-đề làm Phật sự, là Phật ngồi dưới cây này mà được đạo trang nghiêm và phóng quang thuyết pháp điều phục chúng sinh. Nếu cây che chắn mát mẻ để làm Phật sự tức là khởi thân căn. Riêng quán cây và đi kinh hành dưới cây là khởi nhãn căn. Như ở cõi này cũng ngồi dưới cây Bồ-đề mà đắc đạo. Trong kinh nếu có chỗ phải dùng cây Bồ-đề làm Phật sự, tức là giải thích ý này... Về vườn rừng và lầu gác cũng có hai nghĩa là che mát và quán tưởng không thể nhất định. Về thuộc tướng hảo, tức là sắc trần khởi nhãn căn, chỉ thấy tướng hảo. Tướng hảo tự có giảng nói khiến người ngộ giải. Như ở cõi này khi nói Bát-nhã thì Phật hoặc hiện thân cao lớn đặc biệt hoặc hiện thân thường để đoạn nghi. Phải biết cũng là dùng tướng hảo
để làm Phật sự. Về hư không, là chỉ bày tướng Không. Tướng Không có thể giảng nói các pháp như Bất nhị môn nói: Bốn thứ không chủng là hai. Nếu thấu hiểu bốn thứ Không và không chủng chẳng khác, tức là nhập Bất nhị pháp môn. Nếu thấy hư không này là Không, mà không thì chẳng thấy, nếu thấy thì chẳng phải Không, rỗng rang không chướng ngại. Nhân đó ngộ các pháp, chỉ dùng thứ Không này làm Phật sự. Cho nên như A-nan muốn thấy bụng Phật. Phật bảo chui đầu vào liền thấy bụng trống không chẳng có gì. Như từ Hư không tạng đến cõi giới này thì tất cả các pháp đều không. Cõi này cũng dùng không làm Phật sự, tức mộng huyễn mười dụ làm Phật sự, thường nói pháp này. Pháp này giảng nói rất nhiều điều. Hoặc có người ngộ mộng huyễn là Không, cho đến ngộ mộng huyễn là chẳng phải Không, chẳng phải có, đầy đủ như ở Thông giáo. Dùng mười dụ này cho cả Đại và Tiểu thừa. Tiểu thừa thì chỉ chấp mộng huyễn là Không, còn Bồ-tát thì thấy Có. Hoặc các Địa Luận sư cho mười dụ này làm tướng giả dối. Đây bèn được không của Tiểu thừa mà mất hẳn cái có của Đại thừa. Nếu nói đã là tướng giả dối mà Bát-nhã lấy đó làm Phật mẫu; mẹ đã giả dối thì con cũng không thật. Cho nên biết mộng huyễn là nghĩa chung không thể chấp nhất định sẽ mất ý Đại thừa. Nếu nói có cõi Phật dùng mộng huyễn làm Phật sự, thì cõi Phật đó là tướng giả dối không thật. Về dùng âm thanh, thì như cõi này khởi nhĩ căn. Về tịch mịnh đây là chỉ tâm huân. Tuy không nói năng nhưng không hại gì có niềm vui tịch mịch. Nếu không phải vui thì sao được nói là làm Phật sự ư? Nếu Phật không chỉ bày tâm thì cả bậc Thập địa cũng không biết. Nếu bày tâm thì loài côn trùng cũng hiểu được. Phải biết đây là nghĩa bày tâm. Ở cõi này cũng dùng không nói năng để chỉ bày mà làm Phật sự. Như ngài Tịnh Danh ngậm miệng mà ngài Văn-thù khen ngợi. Hoặc Phật có lúc im lặng và ngài Thân Tử cũng im lặng.
Nói rộng thì vô lượng mà tóm tắt thì chỉ có mười ba cõi nước. Ngang đây là lập lại tông làm sáng nghĩa Phật quốc, giải thích phần thứ tư trên về nghĩa khởi căn Bồ-tát.
Phần thứ hai (II) từ “Đúng thế A-nan, chư Phật các oai nghi tới lui đều làm Phật sự…” trở xuống là giải thích phần thứ ba trên, nói về nghĩa nhập Phật tuệ. Phần này có hai:
1. Thiện môn.
2. Ác môn.
Từ “oai nghi tới lui” trở xuống… là nói về thiện môn, tức là nghĩa
tịnh quốc. “Bốn ma trần lao” trở xuống… là nói về ác môn, tức là nghĩa cấu quốc. Văn trên nói tùy chúng sinh dùng cõi nước nào mà nhập Phật tuệ. Phật tuệ thì Pháp Hoa gọi là Phật tri kiến. Trong đây thì nói là nhập Phật pháp môn. Nhưng chư Phật hiện ra cõi nước cấu tịnh không đồng, để khiến chúng sinh được nhập Phật tuệ. Nếu chúng sinh đáng thấy thiện pháp oai nghi tới lui tướng hảo phóng quang rực rỡ mà nhập liền hiện như thế. Nếu đáng dùng ác pháp mà nhập, thì liền hiện bốn ác phiền não mà khiến được nhập. Như kinh Hoa Nghiêm nói: Người nữ bày pháp môn tham dục, nếu người phàm phu thì đây là đọa lạc, nhưng với Thiện Tài thì một phen chạm xúc liền ngộ vô lượng trăm ngàn pháp môn. Đây là hiện bày dục ma mà nhập Phật tuệ. Như ngài Thiện Tài đầy đủ vương hạnh như huyễn pháp môn. Phẩn-đà giết vô lượng mạng người nhân đây mà được ngộ, tức là nhân khuể ma mà được nhập. Như thấy vị Bà-la-môn từ đỉnh núi cao khi gieo mình vào lửa xả thân thì thấy Phật pháp hiện tiền, tức là dùng si ma mà nhập Phật tuệ. Từ ba độc này khởi đẳng phần. Bốn phần sinh tám vạn bốn ngàn trần lao mà khiến các chúng sinh vào Phật tuệ. Vì có hai môn thiện ác không đồng, nên chư Phật hiện ra hai thứ cõi nước cấu tịnh. Tuy có cấu tịnh khác nhau, nhưng nhập môn đồng một thứ.
Phần thứ ba, nếu nhập vào môn này thì thấy tịnh không mừng thấy cấu cũng không buồn lo. Đây là giải thích phần thứ hai trên. Về điều phục chúng sinh mà chọn lấy cõi Phật, nhưng chư Phật vì thu phục tất cả hạng người cang cường và nhu nhược nên hiện ra có cấu tịnh. Sao được thấy việc tịnh uế này mà khởi tâm có cao thấp, mừng lo. Nếu tâm có mừng lo thì không gọi là điều phục. Không mừng không lo mới là tướng điều phục. Ví như thầy thuốc giỏi, vì trị bệnh nên trao cho hai thứ thuốc đắng ngọt, thuốc tuy có khác nhưng trị bệnh không khác. Như nhìn thầy thuốc với hai loại thuốc để trị lành bệnh mà không sinh tâm thương ghét thầy thuốc, thì Phật cũng thế. Chỉ vì điều phục chúng sinh đừng thấy có cấu tịnh mà sinh nghi.
Phần thứ tư, từ chư Phật bình đẳng trở xuống là giải thích phần thứ nhất trên, là chư Phật vì giáo hóa chúng sinh mà chọn lấy cõi nước. Trong đây nói mười phương Như Lai công đức đều bình đẳng, một thân một trí tuệ, lực Vô úy cũng thế. Đã là bình đẳng sao bỗng một Phật quốc là tịnh, một Phật quốc là cấu, cấu tịnh đã khác, sao gọi là bình đẳng. Chỉ vì giáo hóa chúng sinh, nên ở trong bình đẳng mà khởi từ bi làm bình đẳng và không bình đẳng. Vì giáo hóa chúng sinh đến nổi phải có cấu tịnh không đồng mà thôi. Đây là giải thích thành nghĩa bốn loại cõi
nước, hoàn toàn không trái nhau, chứng biết là lặp lại tông tuyên nói, kết tóm đầu đuôi, thành tựu trước sau việc nói nghĩa Phật quốc.
Phần thứ hai, từ “chư Phật quốc độ” trở xuống…, là giải thích thành ý bốn thứ cấu tịnh, hiển bày cõi phương tiện tùy duyên mà có cõi tánh tịnh Tịch quang. Phần này có bốn:
a) Ở hư không mà kết thành giải thích.
b) Tóm tắt về thân trí.
c) Nói rộng về thân trí.
d) Căn cứ ba hiệu.
Nay ở hư không mà kết giải thích: Đối việc Phật quốc trên, khi luận về quả có dùng thí dụ: Như có người muốn xây cất cung điện trên hư không thì chắc chắn không thành, mà phải xây dựng trên đất mới thành. Tuy xây trên mặt đất nhưng không có hư không thì cũng không thành. Đây là nói Bồ-tát ở ngay trên lý pháp tánh Chân không thì không có muôn hạnh công đức và các Ba-la-mật để trang nghiêm pháp thân. Nếu y vào tục đế thì thành tựu chúng sinh cõi Phật thanh tịnh. Tuy lại là muôn hạnh công đức, nhưng trọn ước vào pháp tánh mà không có thành tựu. Nếu không có pháp tánh không, thì phàm các việc làm đều không thành tựu. Nay kết giải thích này cùng việc lập tông trên đồng nói về cõi tùy duyên. Vì hóa độ chúng sinh muốn điều phục khiến họ nhập Phật tuệ mà khởi căn Bồ-tát, tuy là cát đá làm đất hay bảy báu làm đất, cho đến phương tiện Hữu dư, tự tánh Thật báo các loại cõi nước đều là ước vào chúng sinh mà có bao nhiêu thứ sai khác như thế. Cõi tánh tịnh là nơi ở của bậc Cực trí, không có các việc cấu, tịnh cao thấp hơn kém. Cho nên dẫn hư không không có các thứ mà làm dụ. Tuy hư không không có các thứ mà ở khắp các cõi nước có các thứ. Các cõi nước có các thứ không lìa được không không có các thứ, trọn không lìa ngoài các thứ mà riêng có một cái không không có các thứ. Nay bốn thứ cõi tùy duyên tuy lại cấu tịnh không bình đẳng, vì đều là ước cõi Thường tịch quang nên có tùy duyên hóa tha. Cõi Thường tịch quang cũng biến khắp các cõi nước phương tiện, lìa cõi nước phương tiện thì không riêng có Tịch quang. Nên kinh nói: Chỗ Phật ấy ở gọi là Thường tịch quang, biến khắp tất cả nơi, không nơi nào không có. Như bậc Cực trí quán tất cả pháp, không thứ nào không phải là pháp tánh. Cho nên biết pháp tánh gọi là thường tịch. Kinh nói vô minh mà minh, gọi là rốt ráo không. Rốt ráo không tức là tánh vô minh, mà tánh vô minh, nên gọi là Tịch quang. Thường trụ bất biến nên gọi là thường, thế nên đồng với hư không không có các thứ. Giải thích thành cõi cấu tịnh.
 
 
Lược nói thân trí Phật, giải thích thành hai thứ cõi nước. Như Đức Thích-ca có thân trượng sáu, còn Đức Di-lặc có thân ngàn thước hoặc hai vạn thước. Đây là ứng thân sai khác vì hóa vật lớn nhỏ mà thân có cao thấp. Như Đức Thích-ca là Phật theo Tam tạng giáo nói đã được trí đoạn lại được năm phần pháp thân, có tuệ vô ngại, so với Tuệ vô ngại của Đức Di-lặc có được, các chánh tập đều hết, nào có khác gì. Mười phương chư Phật một thân một trí, tuệ lực vô úy cũng đâu có khác, thường tịch pháp tánh chỗ này cũng không khác. Hoặc chỉ là Ứng thân tùy hiện có dáng cao thấp, là tùy duyên mà có hơn kém sai khác không đồng, cho nên có thân trượng sáu hay ngàn thước, cấu hay tịnh khác nhau. Nên nói đem thân và trí mà giải thích thành cõi nước cấu tịnh vậy.
Nói rộng về thân trí Phật. Nếu rộng lược mà nói nghĩa thì trước thuộc tóm, sau thuộc rộng. Nếu theo tư nghị và bất tư nghị mà nói nghĩa, thì tóm tắt là thuộc hai đế, Tam tạng giáo. Phật vô ngại tuệ tư nghị, còn nói rộng thân trí là thuộc hai đế nói vô ngại tuệ bất tư nghị. Không phải chỉ chân đế bất tư nghị là khác với chân trong tư nghị của Tam tạng giáo, mà tục đế bất tư nghị cũng khác với bao nhiêu tục của Tam tạng giáo. Thân trí sai khác cũng lại như thế. Vì sao? Vì nếu Tam tạng giáo chấp thân ứng sinh của cha mẹ mà luận ra các thứ, thì chấp chân đế gồm năm phần pháp thân cũng luận ra không có các thứ ấy. Bậc Cực trí ở cảnh pháp tánh Thường tịch, chỗ này không có các thứ. Nếu nói sắc thân trong cửa là to lớn, là thân cao quý đặc biệt trong Liên hoa tạng, là tướng lớn, tướng nhỏ hiện ra bao nhiêu thứ ở ứng thân cao quý này, chấp chỗ ở của bậc Cực trí là cảnh Thường tịch pháp thân không có các thứ, phải biết là chân tục khác hẳn nhau vậy. Nay mười tướng Phật sắc... là một, là ứng thân ở cấu quốc mà hành hóa thì cũng đều như nhau. Pháp thân diệu sắc rỗng rang an trụ ở nơi này cũng bình đẳng. Trí tuệ bình đẳng, là ứng thân Phật Tam tạng giáo, mười lực vô úy từ bi cũng bình đẳng, cho đến pháp thân, ứng thân cao quý mười lực vô úy cũng không khác. Dòng họ bình đẳng, tức là ứng thân sinh trong giòng quý tộc như Sát-lợi, Bà-la-môn, thì việc này cũng đồng nhất. Tánh pháp thân, tánh tập chủng, tánh tánh chủng, tánh đạo chủng, tánh Thánh chủng, cho đến diệu giác pháp tánh cũng đều đồng đẳng. Hóa chúng sinh bình đẳng, là ứng thân hóa độ chúng sinh cõi Hữu dư, ứng thân cao quý cũng là hóa độ chúng sinh trong cõi Thật báo. Các chỗ này đã bình đẳng, thì y báo cấu tịnh cũng lại bình đẳng, sao chỉ chư Phật riêng có tịnh quốc. Đức Thích-ca cũng có tịnh quốc gọi là Vô Thắng, mà ở phương Tây đâu chỉ
riêng có Đức Thích-ca hành hóa ở cõi Ta-bà. Kinh Niết-bàn nói: Tất cả chư Phật cũng ở trong đó mà hiện chuyển pháp luân. Cho nên biết chư Phật đều có cõi nước tùy duyên bao nhiêu thứ, đồng có bình đẳng Thường tịch vô ngại tuệ. Nên nói là rộng ước thân trí mà giải thích thành các cõi nước cấu tịnh. Nếu là vì chúng sinh mà chấp lấy cõi nước, đến nổi có tịnh uế khác nhau, thì y báo hơn kém không bình đẳng. Nếu y báo không bình đẳng, thì vì chúng sinh mà nhận chánh báo thân trí cũng không bình đẳng. Đây là đem cõi nước mà giải thích thân trí làm nghĩa này, nên tức là dùng thân trí mà giải thích cõi nước. Dựa theo đây tức là hiển bày tịnh uế...
Căn cứ ba hiệu mà giải thích hai loại cõi nước. Có hai: Một là, Chánh giải thích ba hiệu. Hai là, Luận nghĩa rộng khó nhận.
Một, Chánh giải thích: Tam-miệu Tam-Phật-đà gọi là Chánh Biến Tri. Như Tam tạng giáo nói Chánh Biến Tri, thì Chánh là đối với sáu mươi hai kiến tà lệch mà được tên. Quán Chân không quán tục   tuy gọi là Biến Tri, nhưng nếu so về Đại thừa thì trọn gọi là thiên lệch không phải là chánh rốt ráo. Tri tức là thấu suốt chân tục đều rõ ràng. Thích Luận nói: Tri là biết số pháp và phi số pháp, hoặc thường và vô thường đều biết, đều khắp biết phi số pháp tức là chân đế mà tuệ không có các thứ. Khắp biết số pháp tức là tục đế, hiểu sâu căn cơ tùy duyên phương tiện có bao nhiêu thứ. Ước đây nên gọi là Biến tri. Tự giác là giác chân; giác tha là giác tục. Vì giác tục nên tùy duyên phương tiện bao nhiêu thứ không đồng. Giác chân tức là tam tịnh vô ngại tuệ, không có các thứ. Chánh trong Bất tư nghị là quán Trung đạo gọi là chánh. Ba đế chiếu khắp gọi là Biến, biết ba đế nên gọi là Tri, chỉ trong Trung đạo không phải số không phải phi số, không phải thường không phải vô thường. Hiểu sâu lý này thì gọi là Vô ngại tuệ. Song chiếu hai đế trong tục có sai khác, biết bệnh biết thuốc, tùy duyên phương tiện mà cấu, tịnh không đồng. Vì điều phục chúng sinh, nên có bao nhiêu thứ. Chân tục tự giác giác tha căn cứ theo trước... Nên gọi là Chánh biến tri.
Đa-đà A-già-độ, gọi là như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết. Như trong Tam tạng giáo nói như pháp tướng giải, tức là khế hợp lý chân như, cũng gọi là tục lý mà biết, cũng gọi là như pháp mà hiểu, là vô ngại tuệ không có các thứ. Phải dùng pháp nào mà giáo hóa, phải dùng pháp nào mà điều phục, pháp nào mà nhập Phật tuệ, pháp nào mà khởi căn... Cơ cảm sai khác, mà nói có bao nhiêu thứ. Tuy lại nói khác, nhưng đều thật không có hư dối, nên nói như pháp tướng thuyết. Nên gọi là Như Lai. Đã giải thích thành nghĩa cấu tịnh. Trong
bất tư nghị là như thế. Phật-đà gọi là giác, cũng gọi là tri, cũng giống như giải thích trước.
Hai, Luận về ba câu rộng, có năm:
1- Nói nghĩa rộng về ba câu A-nan không thể nhớ.
2- Nói giả sử nhiều A-nan cũng khó nhớ.
3- Nói A-nan hối hận.
4- Nói Phật an ủi.
5- Giải thích nghĩa không thể nhớ như văn.
Tiếp nói Bồ-tát ấy xin làm hạnh Bồ-tát, tức là đối trên mà lập lại tông nói nhân Phật quốc. Có ba:
a) Xin pháp.
b) Phật nói pháp.
c) Khen ngợi trở về bản độ.
Trong phần a, có ba: Hối trách. Hiểu rõ. Xin pháp.
a- Về xin pháp là ở nước Hương Tích đem hai pháp hương và vị đến cõi này độ người, nay muốn đem pháp cõi này đến cõi ấy làm Phật sự, do đó mà xin. Bồ-tát cõi ấy thuộc cơ Đại thừa, được ngộ Trung đạo, mà ở song chiếu hai đế còn chưa thấu suốt xa xôi, huống là hàng Tiểu thừa đoạn phục trong tục chưa xong. Thế nên Như Lai vì nói nghĩa song chiếu khiến việc hóa đạo không ưng trệ. Ví như vua chúa có đủ các quan văn võ, gặp lúc yên, loạn mà có hưng phế, lúc không giặc giả thì lính yếu, binh khí lụt, khi nước loạn thì binh tinh nhuệ tướng mạnh. b/ Nay nói Phật pháp mười phương đủ nghĩa ba đế. Chỉ có cõi Ta-bà nhiều nạn mà quyền hóa khơi sáng. Các Bồ-tát... đã song chiếu thuần thục, thiện căn cõi ấy đã sâu dày, thì đối với thật tuệ Trung đạo mau thông suốt, nhưng ở quyền đạo còn nghi. Bồ-tát muốn dạo khắp mười phương hóa độ, cần phải hành đủ ba đế nên cần phải xin pháp.
Phật đáp nghĩa nhân, có hai: Nói ngang và nói dọc. Trong đây cũng lại có giải thích chung và riêng, tuy cùng văn trên nhưng tên khác mà nghĩa đồng. Nay ở phần Phật đáp có ba: Chung nên khuyến học. Giải thích. Kết thích.
Giải thích lại có hai: Giải thích tóm lược, giải thích rộng chi tiết.
Trong giải thích rộng chi tiết lại có ba:
1. Nói không hết hữu vi.
2. Nói không trụ vô vi.
3. Giải thích lại hai thứ.
Trong phần nói không hết hữu vi lại có ba: Nêu.Giải thích và Kết thích.
Suốt bốn mươi câu trong đó để nói chưa hết hữu vi. Nay nói hết và không hết là Không hết ở tục mà rộng tu muôn hạnh, không trụ ở vô vi, không đồng với hôi đoạn, chân tục cùng chiếu, đạo quán song lưu, tịnh uế dung thông, quyền thật tự tại. Tục đế sinh tử, hữu vi là pháp có thể hết, nên gọi là hết. Chân đế là Niết-bàn, vô vi pháp Không, nên gọi là Không thể hết. Nên nói môn tận vô tận chúng sinh nào đáng được dùng môn này đắc độ, thì liền dùng pháp này khởi căn Bồ-tát, mà khiến nhập Phật tuệ. Đây cũng là giải thích thành những điều nói trong thất, như ý nói bệnh không phải Chân không phải hữu. Như nhập vào môn này bèn có thể tịnh uế song hành, đạo quán tự tại, thì không bị ngài Tịnh Danh chê trách.
Hỏi: Nếu Bồ-tát ở cõi Hương Tích mới xin pháp này, vì sao có thể dạo đến cõi Ta-bà này?
Đáp riêng: Dùng quyền dẫn thật, nên có câu hỏi này. Đem thật tùy quyền, nên hay dạo chơi cõi Ta-bà... trong văn nói thiền định như địa ngục, sinh tử như vườn tược. Đây là mượn việc con đang bị nạn mà cha ở tại nhà, tuy có ngũ dục nhưng lòng cha luôn đau khổ, nếu cứu con thoát nạn thì dạ mới vui...
Từ không trụ vô vi, cũng có ba: Nêu.Giải thích riêng. Kết.
Ở trong phần giải thích có mười sáu câu, nói rộng về không trụ vô vi, như văn.
Giải thích lại về không hết và không trụ, tức là giải thích thành hai ý ngang dọc ở phẩm Phật Quốc trên. Ngang thì có mười bảy câu, trong các câu đều ước bốn giáo bốn môn để nói tướng ngang. Về dọc thì từ chân tâm thấu triệt đến Phật quả, có mười ba câu nói cạn sâu. Cũng có kết thích về nghĩa ngang dọc. Nay trong đây trước lần lượt qua bốn mươi câu luận về Bất tận hữu vi, kế mười sáu câu rộng luận về bất trụ vô vi. Đối với ngang dọc trên mà nói ý pháp tướng sâu rộng. Sau đó có bốn đôi giải thích lại ba thứ hai trí quyền thật. Ở tự địa thì dọc sâu, hóa tha thì tròn nguyện, giải thích thành nghĩa ngang dọc. Trong phần nói ngang dọc trước, thì phần đầu là bất tận, phần sau là bất trụ. Trong phần giải thích lại, thì bất trụ ở trước, bất tận ở sau. Trước sau cùng luận, là ý nói không trước không sau, trước sau cùng dung hợp. Nay nói bất trụ vô vi, thì đối với thật đế không trệ ngại, việc tự hành được thành. Còn bất tận hữu vi, thì đối với tục đế khắp biết, hóa tha không ủng tắt. Quyền thật cùng chiếu, tự tha gồm thông. Nếu ba đế viên minh, tự mình hay thấu suốt, ấy là vô ngại tuệ không có các thứ. Nếu dùng hóa tha không trệ ngại, cho nên hay cấu tịnh song hành, phương tiện bao nhiêu thứ. Trong
 
 
phần giải thích lại này có bốn đôi: Một là, phước đức trí tuệ làm một đôi; hai là, từ bi và thệ nguyện làm một đôi; ba là, biết thuốc trao thuốc làm một đôi; bốn là, biết bệnh diệt bệnh làm một đôi. Ước đây mà nói quyền thật hai trí, tự có tự hành quyền thật tự hành, hóa tha quyền thật hóa tha. Trong quyền thật tự tu, lý Trung đạo là thật, song chiếu hai đế là quyền. Đây là tự hành nói quyền thật. Nếu là tự quán lý hai đế là thật, vì người khác nói hai đế là quyền. Ấy gọi là tự hành hóa tha nói quyền thật. Nếu hóa tha nói quyền thật, thì đây là ước duyên vô định, hoặc nói quyền là thật, hoặc nói thật là quyền, hoặc ở trong quyền mà luận quyền thật, hoặc ở trong thật mà luận quyền thật. Tùy cơ sâu cạn, theo vật thích nghi không nhất định. Ước đây mà quyết ba thứ hai đế  tư nghị và bất tư nghị. Nếu là tự hành quyền thật, nhất định phán quyết nó thuộc hai đế bất tư nghị. Nếu tự hành hóa tha quyền thật, thì trong đó cũng thuộc bất tư nghị mà cũng thuộc tư nghị. Vì sao? Vì như Thông giáo nói về hai đế, bao hàm Trung đạo trong chân đế. Cho nên nói hàng Tam thừa đồng dùng đạo không nói năng mà đoạn phiền não, vào Niết- bàn. Nếu là hợp chân nhập tục thì kinh Niết-bàn nói: Ta và Di-lặc cùng luận thế đế, năm trăm Tỳ-kheo cho là nói chân đế, tức nghĩa này. Tuy không nêu tên Trung đạo nhưng có nghĩa đó. Nghĩa ấy thuộc cả hai nên gọi là Thông. Thông tức là thông ở Nhị thừa thấy không ở chân đế. Nếu thông cả Biệt giáo, Viên giáo thì cũng thấy không và cũng thấy chẳng không. Hay thông thấy không, tức là tư nghị, nếu thấy chẳng không  tức là bất tư nghị. Thấy không thì trí tuệ như lửa đom đóm, thấy chẳng không thì trí tuệ như mặt trời, mặt trăng. Mặt trời mặt trăng thì có dụng chiếu rộng khắp mà trị hoặc cũng lớn. Trí tuệ của hàng Tiểu thừa đã nhỏ mà chỗ đoạn cũng nhỏ. Nếu Bồ-tát tự hành thì thấy không chẳng không. Hóa tha lợi vật thì chỉ thấy không mà chẳng thấy chẳng không. Cho nên biết tự hành hóa tha quyền thật cũng thuộc tư nghị, mà cũng thuộc bất tư nghị. Nếu hóa tha quyền thật một mực là tư nghị. Vì sao hai đế lại tư nghị. Hai đế không có thể Trung đạo, cho nên khi nói chân thì vắng lặng như hư không. Khi nói có thì như trong đá có vàng. Đá và vàng khác nhau, đối với không vắng bặt, thì chân tục rất khác. Đó là dùng ý vắng lặng mà suy lường chân, như lấy tâm đá vàng mà hiểu tục. Cho nên nói hai đế ấy tư nghị. Nhưng chân tư nghị thì có nghĩa tiệm đốn. Thí như đá vàng dung hợp dần dần, tiêu mòn chút chút, cuối cùng thì đá hết vàng hiện. Chân tư nghị cũng thế. Nên có ba thứ. Như tất cả sum la đối mặt với ngàn thứ vạn hình, gốc đồng bốn đại, sẽ nói sau đây.
Như bốn Đại biến khắp thành muôn vật, nhưng đều là pháp sinh
 
 
diệt vô thường, gọi là Trung đạo. Như sinh diệt tuy lại biến mất thì đồng là Không sinh diệt, mà nhập chân đế, đây há không phải là đốn tiệm ư? Bất tư nghị thì không như thế. Vì là có gốc Trung đạo. Thể ước với thể mà nói hai đế, gọi là bất khả tư nghị. Ví như châu như ý hay mưa các thứ bảy báu. Trong châu hoàn toàn chẳng có gì, tìm không thể được, chỉ nói hoàn toàn không mà hay mưa ra các báu. Lý bất tư nghị cũng thế. Không phải Chân không phải tục, rốt ráo thanh tịnh mà hay đầy đủ chân tục, vẹn toàn tất cả. Chân tục đều không thể lượng định, nên khen là Bất khả tư nghị. Nếu ước châu này để luận về Thông giáo, như lúc châu không mưa báu, thì không có hình tướng vàng bạc, đây cùng châu thường nào có khác gì. Tức là phá tục để tìm báu rốt ráo trống không. Cái không cùng với chân đế đoạn không, chẳng có gì khác, dựa theo đây mà nói tướng tư nghị là hai đế tư nghị của Tam tạng giáo. Nếu biết công năng ấy mà phát nguyện tìm báu thì hay ở trong không trung hiện ra các vật để nuôi sống. Cái không này không đồng nhập Chân không của hàng Tiểu thừa. Các báu sinh ra khác với trân bảo của thế gian. Đây không với việc có của phàm phu thế tục. Như Bồ-tát thấy hai đế bất tư nghị cũng có khai hợp. Chân tục đều hiện ra, hai thứ đầy đủ như trước. Nay đem ba thứ quyền thật để giải thích nghĩa bất tận quyền thật song hành.
Lại nữa, trải bốn giáo mà nói bất tận và bất trụ. Tam tạng giáo nói: Nếu quán chân đoạn kết, lấy không làm chỗ chứng, thì đồng với Nhị thừa hôi đoạn mà trụ ở vô vi thì do đâu mà được thành tựu Phật pháp từ ba a-tăng-kỳ. Nên không được trụ ở vô vi. Bất tận hữu vi là từ bi lục độ vốn ước có tu hành giáo hóa chúng sinh trong tục. Nếu nhập chân thì không có việc này. Nếu đoạn hết nhân các hữu thì nhân hết quả mất. Làm sao được chỗ ở ba cõi để rộng làm Phật pháp. Nay lấy Bất tận hữu vi làm lậu kiết mà tu Phật pháp, thì mới có thể thành đạo chuyển pháp luân, mà dùng Tam tạng giáo hóa tha quyền thật đầy đủ.
Về bất tận bất trụ của Thông giáo, nếu dứt hết hữu vi thì đồng với Nhị thừa, nếu trụ vô vi thì trái đạo Bồ-tát. Thế nên phương tiện từ không xuất giả, để lợi ích chúng sinh. Như trồng cây trên không, khéo léo phương tiện nên là bất tận hữu vi, không lấy chứng không nên bất trụ vô vi.
Về Bất tận bất trụ của Biệt giáo, nếu chỉ dùng hai quán làm đạo phương tiện mà được nhập Trung đạo, ấy là trụ vô vi mà tận hữu vi. Nay tuy được nhập lý Trung đạo, nhưng trần sa Phật pháp đều chưa hiện tiền, thì đều biết đều học. Đâu được giữ Trung đạo này cần phải
chiếu tục. Thế nên từ trung trở lại chiếu hai đế gọi là bất trụ vô vi. Nếu trừ tục của hai đế thì không có tục có thể quán. Nay chiếu hai đế này, khắp làm tất cả Phật đạo. Nên nói bất tận hữu vi. Không giữ Trung đạo nên nói bất trụ vô vi. Về trung, Viên giáo trở lại ước Biệt giáo mà nói nghĩa, nếu chỉ quán trung tức là dứt hết hai đế, không chiếu hai đế tức là trụ vô vi. Nay ba đế viên quán một lúc liễu ngộ, liễu chân mà không trụ ở chân, liễu tục mà không dứt hết tục, không trụ không dứt cùng một lúc, song chiếu quyền thật đều sáng... Như ở cõi này nhiều ác nên việc luyện binh dạy võ cũng nhiều, dùng hai đế hóa tha mà đậu cơ đối với tự hành hai đế chưa xong, nên cơm thơm lại đến nơi này, tiện cho hàng Tam thừa gần xa đều như dòng Thân Tử. Ăn cơm này xong phát tâm rồi mới tiêu hết. Ở thời Pháp Hoa khai Phật tri kiến, tức là ba thứ quyền thật mà được đầy đủ. Cõi ấy không có các ác, nhưng đặt bày lễ nhạc chỉ tự hành quyền thật còn hóa tha quyền thật thì chưa liễu đạt. Thế nên ân cần xin phương tiện này, lại trở về cõi Hương Tích, bày Phật sự khiến cho họ thật hành, tức ba thứ quyền thật, thảy đều viên thông tự tại vô ngại.
Hỏi: Các Bồ-tát ở cõi ấy dưới cây thơm được công đức tạng Tam- muội, tất cả Phật pháp đều ở trong đó, vì sao lại nói đối với hóa tha quyền thật chưa rõ?
Đáp: Có hai nghĩa:
Một là, Tuy các Bồ-tát ấy có đủ ở cõi đó nhưng không hành pháp ấy, nên đối với đạo nhỏ của Nhị thừa, biết căn biết thuốc nhưng không sáng tỏ.
Hai là, Ở cõi ấy tuy tịnh mà có quyền có thật. Thật thì chỉ học một giáo Thật mà chưa học phương tiện, thế nên xin pháp.
Lại nữa, đem phước đức, thệ nguyện, biết thuốc biết bệnh bốn đôi, trải bốn giáo mỗi mỗi đều nêu tướng phân biệt thành tựu...
Nay lại ước vào Viên giáo mà nêu, thì phước đức trang nghiêm là pháp năm Độ, ắt cần khắp ước hữu tác, vô tác, hai thứ Tứ đế, trong cõi ấy tu hành các cõi, đầy đủ trần sa Phật pháp. Nếu ở phần đoạn tu phước đức đầy đủ, hay ngồi ở đạo tràng Tam tạng giáo, làm Phật giáo hóa chúng sinh, nên nói Bất tận hữu vi. Nếu phương tiện ở trong hữu dư, tu phước đức đầy đủ, liền ở cõi ấy mà ngồi đạo tràng. Cho đến Biệt giáo, Viên giáo ở cõi quả báo, phước đức đầy đủ, liền ngồi đạo tràng làm Phật. Nay vì khắp đủ các phước đức trang nghiêm này, cho nên có bất tận hữu tác, vô tác hai thứ hữu vi làm trí tuệ, nên là bất tận hữu vi, là cảnh luôn phát trí. Nếu bỏ phần đoạn hữu dư biến dịch... thì quán sát
cái gì. Đã không biết tướng mạo hằng sa cảnh giới Phần đoạn, thì trí tuệ không đầy đủ. Trí tuệ không đầy đủ, thì không thể được tùy duyên các cõi mà ngồi đạo tràng, cho nên bất tận hữu vi làm tăng trưởng trí tuệ. Đây là dùng phước đức hai nghiêm mà kết thành hạnh Bồ-tát trên.
Đôi thứ hai Bất tận hữu vi, là muốn dùng đại Từ đại bi cứu khổ ban vui. từ bi này đâu chỉ cứu khổ hữu tác của hai đế tư nghị mà còn ban vui chân đế tư nghị, cũng là cứu khổ cả Tứ đế vô tác bất tư nghị và ban vui Trung đạo rốt ráo. Nếu khổ phần đoạn dứt, thì hay ở đạo thọ mà làm Phật Tam tạng giáo, cho đến khổ biến dịch dứt, thì tức là Phật Biệt giáo. Dùng đại Từ đại bi này mà lợi ích cho tất cả, nên nói là Bất tận hữu vi.
Đầy đủ bản nguyện, tức là khi xưa khởi bốn thệ nguyện lớn, rộng duyên hữu tác và vô tác hai thứ Tứ đế, khởi thệ nguyện này. Mà nguyện chưa đầy đủ, sao được tận hữu vi.
Tập pháp dược cũng thế. Trần sa Phật pháp ước vào hữu mà luận sâu cạn, căn cơ lớn nhỏ, tánh dục thiện ác mà đối trị, hoặc sắc hoặc hương, tất cả muôn pháp thảy đều khắp biết. Nhưng chưa đủ Phật pháp thì không nên diệt thọ mà thủ chứng. Thế nên bất trụ vô vi. Trong vô vi thì không bệnh, không thuốc, không năng thọ sở thọ. Nay muốn làm Đại Y vương để độ già, bệnh, chết, trao cho chúng sinh thuốc trị phiền não, đâu được đoạn dứt hữu vi. Vì bất tận, nên có thể làm Phật Tam ta- ng giáo. Biết nhân duyên pháp dược trị bệnh phần đoạn của Tứ đế Nhị thừa, cho đến hay làm Lô-xá-na của Biệt giáo Viên giáo, ban vui pháp dược Trung đạo, nếu tận hữu vi thì không có các thứ này.
Chúng sinh là hữu vi, nay trụ vô vi thì không vào biển lớn hữu   vi sao biết được các thứ tướng mạo của các bệnh tham dục sân si. Đã không biết bệnh thì sai cơ nói pháp mà oan cho chúng sinh, dối trao lầm thuốc không phải là thầy thuốc sáng, vì biết bệnh nên bất trụ vô vi, vì diệt bệnh nên bất tận hữu vi. Nói diệt thì không phải là diệt cái diệt của không. Chư Phật, Bồ-tát tùy chỗ điều phục nơi ở của chúng sinh gọi là giải thoát. Ở trong đó mình không có phược mà hay mở các phược cho người khác, cũng không có phược, không có giải thoát mà khiến cho chúng sinh được không có phược, không có giải thoát, gọi là diệt, là điều phục. Vì bất tận hữu vi mà được giải thoát nên gọi là diệt bệnh.
Phần thứ ba là kết, như văn.
Khen ngợi trở về bản độ: Các Bồ-tát nghe được pháp phương tiện hóa tha quyền thật này thì liền giải ngộ, vui mừng kính lễ từ giả trở về bổn quốc. Văn trên nói: Khi mới xin pháp thì xấu hổ hối lỗi, là hối việc
 
 
hóa tha quyền thật chưa rõ, cho nên sám hối dẹp trừ chướng cái, xin được pháp cao quý liền được khai giải, ba thứ quyền thật đầy đủ trọn vẹn. Đây là ở cõi khác đến cõi này được lợi ích. Nếu ở cõi này hối lỗi được lợi ích, như nhóm ngài Thân Tử... ăn cơm thơm rồi ở thời Pháp Hoa xấu hổ tự trách ăn năn các lỗi xưa. Khi tự trách thì chướng cái được tiêu trừ mà khai Phật tri kiến, nhập vào Phật tuệ, được thọ ký thành đạo, tự hành hóa tha, ba thứ quyền thật đầy đủ rõ ràng. Tức là ở ba cõi này nhờ lợi ích cõi khác, hai cõi song hành, cấu tịnh không hai thành tựu đầy đủ nghĩa song quán, hoàn toàn ở tại đây...
-------------------------------------
GIẢI THÍCH PHẨM: A SÚC PHẬT
 
A là Vô, Súc là Động. Ngài Tịnh Danh dùng thần lực Bất tư nghị mà tiếp cõi Diệu Hỷ. Nay bốn chúng cõi này nhìn thấy Đức Thế Tôn Vô Động và cõi nước ngài ở, nhân đó lấy tên là phẩm Vô Động “phẩm A-súc”. Chỉ bộ kinh nay văn gồm ba nơi hiện bày nghĩa Phật quốc:
1. Như phẩm Phật Quốc đáp lời Trưởng giả xong, nhân ngài Thân Tử nghi mà hiện ra tịnh quốc.
2. Vào thất luận đạo việc sắp xong, do ngài Thân Tử nghĩ đến việc ăn, mà hiện ra cõi Hương Tích.
3. Khi ra thất trở về chỗ Phật, trở về tông luận đạo nói hạnh Bồ- tát, liền hiển hiện chỗ ở của ngài Tịnh Danh là cõi nước Diệu Hỷ. Phải biết ba nơi đều nói pháp trừ hoặc lụy cho chúng sinh, khi duyên phược đã hết, nghiệp tịnh độ thành thì hiện tướng này để biểu thị. Văn trên luận hạnh Bồ-tát nói nhân Phật quốc, phẩm này bèn hiện cõi Diệu Hỷ bày quả Phật quốc. Môn nhân quả để nói khi ra thất đề xướng trở về tông mà dẫn chứng cho biết đã thành nghĩa nhân quả Phật quốc trên. Kinh này dùng nhân quả Phật quốc làm tông. Văn ấy chỉ rõ phần này có hai:
1. Nói thể dụng của pháp thân.
2. Nói chỗ ở của tịnh quốc.
Thể dụng của pháp thân: Chư Phật đã có pháp, ứng hai thân thì cũng có tánh tịnh, tùy duyên hai cõi. Ngài Tịnh Danh là Đại sĩ cực địa cũng đồng chư Phật có hai trí không phải cấu, không phải tịnh. Do ng- hĩa này cho nên không bỏ cõi Diệu Hỷ mà hay cấu tịnh song hành. Hai thân, hai cõi lợi ích chúng sinh khiến được giải thoát. Văn sau tự nói mặt trời, mặt trăng du hành ở thế gian dẹp tan bóng tối, Bồ-tát cũng hiện ở hai cõi để dẹp trừ các nghi hoặc. Quán thân thật tướng tức đồng pháp thân Phật Vô Ngại Tuệ không có bao nhiêu thứ. Ở phương trượng giả bệnh nằm để hưng giáo, tức là đồng Phật có ứng thân phương tiện tiếp dẫn. Ở cõi Diệu Hỷ trợ giúp Đức Vô Động “A-súc”, tức là đồng chư Phật có tịnh quốc. Ở cõi Ta-bà mà giúp Đức Thích-ca hoằng hóa, tức là đồng chư Phật mà thị hiện cơ cõi uế tùy duyên lợi ích chúng sinh. Tịnh uế song hành viên thông vô ngại, là đồng chư Phật có được quyền thật. Dụ như trăng ngày mười bốn khác ngày rằm để phân biệt sự khác nhau của Phật và Bồ-tát mà thôi.
Trong phần pháp thân có hai: Một là, Phật hỏi pháp thân. Hai là, Ngài Thân Tử hỏi ứng thân.
Phật hỏi có hai: Phật hỏi và Đại sĩ đáp.
Trong phần Đại sĩ  đáp có bốn:
1- Đáp chung.
2- Đáp riêng.
3- Kết.
4- Biệt tà chánh.
Đáp chung nói: Quán thân thật tướng thì quán Phật cũng thế, tức là chỉ quán thật tướng mình cùng thật tướng Phật không khác, thật tướng Phật cùng mình không khác. Nên Đại phẩm nói: Các pháp như thật tướng, tức là thật tướng Phật không tới không lui. Đây có ba ý:
a) Tìm ngọn lấy gốc.
b) Ở ngôi vị.
c) Quán tâm.
Tìm ngọn lấy gốc, nói Đại sĩ là Kim Túc Như Lai mà được pháp thân, cùng pháp thân Đức Thích-ca ngày nay không khác. Nên văn trên nói: Chư Phật có chủng tánh sắc thân đều bình đẳng. Thế nên được biết quán thật tánh mình cùng thật tánh Phật là một thứ không khác. Nên nói quán Phật cũng thế.
Ở ngôi vị, là nói ngôi vị của Đại sĩ ở vị Thập địa bổ xứ, ở gần kế Phật sẽ tiếp nối ngôi vị Phật nhưng tướng Thập địa cùng thật tướng của diệu giác chứng được nào có khác gì?
Quán tâm. Như văn trên nói: Giải thoát của chư Phật phải tìm ở tâm hạnh của chúng sinh, tìm tướng tâm tất cả chúng sinh tức tướng Bồ-đề. Chúng sinh như Phật như, nhất như không hai. Thật tướng, tức là Phật. Nên kinh nói tâm dạo pháp giới như hư không, người ấy có thể hiểu biết cảnh giới chư Phật. Quán tâm tánh mình đã là thật tướng tức cùng tâm tướng chư Phật nghĩa đồng thí như người tạ pháp... Nếu chánh quán tướng này đầy đủ như nhập Bất nhị pháp môn, quên mất hai biên chánh hiển bày Trung đạo. Trong đây lập lại ý đó. Sở dĩ Như Lai hỏi. Vì trước luận Vô ngại tuệ không có các thứ, công đức thân trí chư Phật đều bình đẳng. Phật muốn hiển bày pháp thân của Đại sĩ cùng chư Phật không khác. Thế nên hỏi rằng: Quán pháp thân thế nào? Nếu luận pháp thân thì pháp thân ắt có chỗ chỉ, chỗ chỉ tức là Phật quốc, nên có câu hỏi này. Có người khác giải rằng ứng thân Phật mới có tên bờ cõi ranh giới, cõi nước pháp thân thì ngầm lặng sao có cõi nước? Nay giải không phải thế. Pháp thân chư Phật còn không phải cấu không phải tịnh, mà hay tùy duyên song hành cấu tịnh. Nay pháp thân Phật không phải cảnh không phải trí, mà cũng song chiếu cảnh trí, ý gì lại không được luận
chân cảnh giới cõi nước ư? Nên kinh Kim Quang Minh nói: Trí cảnh bất khả tư nghị, trí chiếu bất khả tư nghị, cảnh bất khả tư nghị này đâu không phải là nơi ở của linh trí pháp thân. Phổ Hiền Quán có nói: Tỳ-lô- giá-na là cực diệu pháp thân, mà nói có cõi nước tên Thường tịch quang biến khắp mọi nơi. Đây đâu không phải là cảnh chân quốc.
Đáp riêng: Quán trong ba đời mé trước không đến. Như thấy có pháp vị lai nhập vào hiện tại mà có thể được là sinh là đến, có thể được là có bờ cõi và không có bờ cõi. Xưa không thấy có vị lai để đến, huống là có đến nhập vào hiện tại. Thế nên mé trước không đến mé sau không đi. Nếu có pháp diệt đi vào quá khứ thì có thể được nói là diệt nói là đi. Có thể nói được rằng như đi không như đi. Nay không thấy có pháp đi vào quá khứ. Thế nên mé sau không đi. Nay thì không trụ, là nếu có pháp ở hiện tại, sao được nói là trụ, có thể nói là thường và vô thường. Nay không thấy pháp ở hiện tại, sao được nói là trụ. Cho nên ba đời tìm không thể được. Có người giải rằng từ Kim cang trở về trước là Không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, từ kim cang trở về sau là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nay giải không phải thế. kim cang trở về trước là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Vì sao? Vì pháp Phật tánh vốn có từ xưa, không phải bỗng nay mới có. Kim cang trở về sau là Không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Vì sao? Vì kinh nói Bồ-tát Thập địa ở vô lượng kiếp, đã đảo tu việc phàm phu. Nếu pháp thân khởi ứng ở lục đạo đồng với phàm phu sinh diệt, tức cũng phải có hay không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thế nên đồng với người khác mà thật không đồng. Lại có người giải: Ứng chỉ  là hóa, hóa chỉ là ứng. Nay giải không phải thế. Ứng thì hay là hóa mà hóa thì không thể là ứng được. Như các phàm phu ngoại đạo, các Tiên, ngũ thông, Thiên thần quỷ mị đều có thể biến hóa nhưng họ không thể là ứng được. Việc hóa hiện thì cũng chỉ tạm thời quyền có không thể nguyên vẹn trước sau. Nay nói ứng là đồng với ứng, đồng một pháp trước sau như nhất nên gọi là ứng. Như Lai dùng tâm không phân biệt và trí tự tại mà tùy cơ có cảm ứng, mà chỗ dùng vô ngại không nhọc sức nghĩ ngợi giữ gìn như gương sáng có hình tượng nào đều hiện rõ không chút tương tợ hay sai khác. Như các Thiện tiên hóa hiện, phải gắng sức vận niệm mới hóa được. Như phải vận niệm hết sức vào cánh tay để vẽ hình người... Nhưng chưa ắt là hoàn toàn không động niệm. Về diệu và không diệu thì ước vào hai thí dụ này có thể biết.
Không quán sắc, là tâm như nhà huyễn thuật làm các hình sắc. Nếu biết nhà huyễn thuật lừa dối thì không có được cái sắc huyễn hóa đó. Nay sắc từ tâm nhà huyễn thuật huyễn hóa ra, còn không được tâm
 
 
này thì chỗ nào mà thấy có sắc này. Nên không quán sắc.
Không quán sắc như, nếu thấy sắc cùng như khác nhau, ấy là dứt sắc nhập vào như. Nay không thấy sắc khác như, nên không quán sắc như.
Sắc tánh, hoặc nói như chỉ là tánh, tánh chỉ là như, hoặc có nghĩa này. Nay Thánh nhân không cho lập lại một pháp, hai lần nhắc lại là biểu thị điều đó. Nay đem tánh này làm Phật tánh không quán sắc là Không của tục đế, không quán sắc như là Không của chân đế. Không quán Phật tánh là Không của Trung đạo. Đem cái chấp có Phật tánh Trung đạo này mà khởi thuận đạo ái sinh, ấy là đảnh đọa. Nên văn trên nói ngã và Niết-bàn hai thứ đều không, chỉ có bệnh không, bệnh không cũng không. Nay không quán tánh là Không thuận đạo ái. Nên không quán tánh.
Không phải bốn đại khởi, là tuy quán thân ấy không ở bốn đại khởi hoặc như là phàm phu. Không ở bốn đại khởi giải như Nhị thừa, không hoặc không giải cho nên nói là Không khởi đồng với hư không. Đó gọi là thật tướng.
Lục nhập, là hay chứa nhóm sáu trần mà tạo ra sinh tử. Không đồng sáu nhập chứa nhóm của phàm phu. Cho nên nhãn nhĩ đã qua khác với cảnh giới sáu căn của phàm phu.
Không ở ba cõi, là đã ra khỏi chân tục. Ba cấu đã lìa, là Không có ba cấu quốc. Thuận ba thoát, là duyên với nhất thật tướng mà thuận ba giải thoát. Ba minh cùng vô minh bằng nhau, là nguồn gốc vô minh tức là thật tướng pháp tánh. Pháp tánh này không có gì bằng, tức là Không có trí nào có thể ngang hàng. Đây gọi là vô đẳng đẳng.
Ba minh, là Thiên nhãn minh hay chiếu thấu vị lai, Lậu tận minh thấu suốt hiện tại và Túc mạng minh biết cùng tận quá khứ, thấu suốt đầu mối của vô minh. Dù Thập trụ cũng không thấy được đầu mối, chỉ có Phật mới thấy được thỉ chung. Đã nói quán thân thật tướng, quán Phật cũng thế. Phật thấu suốt đầu mối vô minh, nay biết đầu mối ấy ngang bằng “đẳng) với vô minh. Lậu tận thì hay biết được lậu của năm trụ. Hoặc vô minh dứt hết nên nói là đẳng. Tướng “Một” là tướng của chân đế, tướng khác là tướng sai khác của tục đế. Nay thật tướng không phải Chân không phải tục, nên không phải một không phải khác. Không tự, là du hành đến nước khác gọi là tha tướng, đến gặp nhà cha gọi là tự tướng. Đây là ứng dụng chân tu và duyên tu, tự sinh tha sinh mà rộng phá, lìa hẳn các đẳng tự tha này mà nhập vào thật tướng. Không phải vô tướng, là Không phải Niết-bàn. Không phải thủ tướng, là Không phải
sinh tử. Không phải sinh tử, không phải phàm phu, không phải Niết- bàn, không phải Nhị thừa. Không phải ở bờ bên này, không phải tục đế, không phải ở bờ bên kia, không phải chân đế. Không ở giữa dòng, không phải các phiền não. Bờ bên này lìa đây lìa kia, trái với bờ bên kia không phải kia không phải đây mà giáo hóa chúng sinh. Đây là nói chung về ứng dụng pháp thân. Không đây không kia, tức là Không sinh tử không Niết-bàn. Không dùng đây không dùng kia, là quán trí hai đế, cảnh trí cùng sáng. Không thể dùng trí mà biết là phá tan các pháp tức là chân đế. Không thể dùng thức mà biết, tức nhóm họp các pháp, nên gọi là thức, tức là sinh tử tục đế. Không tối không sáng, tức là giải hoặc. Giải hoặc tức là sinh tử và Niết-bàn, gọi là tức thế gian, tương tức với xuất thế, nên chân đế gọi là thật tướng. Không mạnh không yếu tức sinh tử là pháp dữ dằn nên gọi là mạnh. Trí tuệ là lý giúp dễ ngộ nên gọi là yếu. Không phải mạnh không phải yếu nên là thật tướng. Không ở nơi nào, tức pháp tánh không ở bờ cõi sinh tử, há lại có cõi giới nên nói không ở nơi nào. Không lìa, chỉ là ở cõi Thường tịch quang, cũng  là ở tất cả chỗ, nên nói không lìa không phải hữu vi, không phải vô vi như vô tận môn vậy. Không bày không nói như ngài Duy-ma nín thinh. Không bố thí là Không phải bờ kia đàn độ, không keo kiệt, là Không đồng bờ này bí lẫn phàm phu. Cả lục độ cũng y như thế. Niết-bàn thẩm đế là thành thật. Sinh tử hư giả là dối trá, chẳng đến là thừa như thật đạo, đến là thành chánh giác. Không đi thừa ấy là từ ba cõi mà ra    đến Tát-bà-nhã. Lìa bỏ tới lui này không ra khỏi không phải Nhị thừa, không nhập vào Không phải phàm phu. Dứt đường nói năng như ngài Tịnh Danh im lặng. Không phải phước điền như trách ngài Tu-bồ-đề, không phải chẳng phước điền như ủy dụ Tu-bồ-đề. Không phải đáng nhận cúng dường như trách Tu-bồ-đề, cũng không phải Không đáng nhận cúng dường Như Lai chánh giác gọi là ứng dụng. Đồng với chân tế bình đẳng, pháp tánh ngầm hợp, chân thật không thể suy lường, tức là pháp giải thoát bất tư nghị. Cho đến động cũng như thế. Đồng chúng sinh tất cả chúng sinh cũng thế. Không phân biệt, là nhập vào nhất thật tướng không thấy cao thấp, không lỗi, không có ba thứ lậu rơi vào ba cõi không mừng, không chán... đều ước vào ba cõi phiền não để nói, không có cái đã có và sẽ có... Nên ước vào kinh Niết-bàn giải thích kệ ba đời, mà giải thích ý này.
Kết và Phân biệt tà chánh như văn.
Xá-lợi-phất hỏi: Ngài Xá-lợi là người khởi giáo. Đã biết Đại sĩ có pháp thân thật tướng đồng với chư Phật. Kế hiển bày ứng thân tùy
duyên hóa vật, có công năng đại dụng vô cùng, cho nên hỏi. Câu hỏi này cũng so ý của Tam tạng giáo. Nếu Phật Tam tạng giáo mất rồi thì không sinh, nếu Bồ-tát Tam tạng giáo còn có hoặc lụy thì còn có sinh. Nếu thế thì hỏi sao chết rồi còn sinh cõi này. Phần này có hai: Một là trách ngài Thân Tử. Hai là, Phật nói cõi nước đã ở.
Phần trách Thân Tử lại có hai: Thân Tử hỏi và Phật đáp.
Trong phần Phật đáp lại có năm:
1- Chất vấn lại.
2- Thí dụ làm sáng tỏ.
3- Hỏi.
4- Đáp.
5- Dẫn lời Phật để giải thích.
Chất vấn lại: Trong giải thoát ông còn không chết rồi sinh lại, trong pháp thân ta sao được có chết rồi sinh, ông đã không như thế sao được lấy đó mà hỏi.
Thí dụ, như nhà huyễn thuật thì chỉ là chết huyễn và sinh  huyễn.
Đây há là thật. Nếu không là thật sao được nói có chết rồi sinh lại.
Dẫn lời Phật để giải thích. Trong đó nói: Bồ-tát tuy chết rồi nhưng gốc thiện không mất, không đồng với hàng Nhị thừa hôi thân tận trí gọi là hết gốc thiện. Bồ-tát không diệt trí thì công đức ra làm cũng không thể mất. Lấy gốc thiện này mà lợi ích chúng sinh. Không nuôi lớn ác, không đồng chứa nhóm như phàm phu, cũng không dứt mất gốc thiện, không đồng diệt hết như hàng Nhị thừa. Do gốc thiện không mất, nên hay ứng hiện vào các cõi cấu tịnh, nhưng đều không nuôi lớn thiện ác hai cõi nước cấu tịnh.
Trong phần Phật đáp Tịnh Quốc có ba: Một là Phật nói chỗ của tùy duyên tịnh quốc. Hai là Thân Tử khen ngợi. Ba là Đại sĩ nêu giải thích.
Trong phần giải thích có năm:
1- Hỏi mặt trời và bóng tối có hợp nhau chăng.
2- Đáp.
3- Hỏi mặt trời từ đâu ra.
4- Đáp.
5- Nêu giải thích sự ra đều ở đây, là nói người đồng chư Phật có pháp ứng hai thân...
Phần đáp thứ hai, từ đại chúng đến khát ngưỡng muốn thấy nước Diệu Hỷ trở đi, tức là hiện tịnh quốc, là nơi Đại sĩ ở đấy. Có ba ý: Một là Thử nghiệm tịnh quốc của Đại sĩ. Hai là khiến thời chúng khởi hạnh
tịnh quốc. Ba là, khuyên phát nguyện vãng sinh. Thế nên có một đoạn văn này, có bảy phần:
1- Đại chúng khát nguỡng muốn thấy.
2- Khiến hiện cõi nước.
3- Vâng lời dời cõi nước.
4- Phật khuyên thời chúng tu hành.
5- Đại chúng phát tâm.
6- Lợi ích xong trở về bổn quốc.
7- Ngài Thân Tử khen ngợi.
Nay nói đại chúng khát ngưỡng muốn thấy. Nghe nói nước Diệu Hỷ trên là nơi ở của Đại sĩ, thế nên một lòng khát ngưỡng.
Phật khiến hiện cõi nước. Có hai:
1- Nói Phật tịch chiếu biết có ý niệm.
2- Phật khiến hiện cõi nước.
- Vâng lời hiện cõi nước. Có sáu:
1- Một lòng muốn dời núi rừng thế giới Diệu Hỷ.
2- Chánh hiện thần lực.
3- Kẻ có thần thông biết mà kinh hãi quái lạ.
4- Phật khen việc làm của ngài Tịnh Danh
5- Người không có thần thông không biết.
6- Cõi ấy vào cõi này không tổn giảm.
Phật khuyên thời chúng tu hạnh của Vô Động Như Lai. Phần này có ba:
1- Khuyên quán cõi nghiêm tịnh.
2- Thời chúng đáp là đã thấy.
3- Chánh khuyên tu hạnh Vô động như trong phẩm Phật Quốc đáp lời Trưởng giả tử đã nói. Lại như ở phần vào thất an ủi điều phục hành ở phi đạo mà thông suốt Phật đạo như môn tận vô tận tức là hạnh Tịnh độ.
Thời chúng phát tâm tu hành, có hai:
1- Phát tâm.
2- Phát nguyện.
Có mười bốn na-do-tha người ngộ, đều là từ trước đến nay các thứ nói pháp các thứ thần biến sắp xong, liền hiện tịnh quốc này, đều mong Như Lai khuyến phát. Thế nên cùng lúc có mười bốn na-do-tha người được ngộ.
Phát nguyện, là tịnh hạnh tinh tế sâu sắc khó thể hiện, liền lập thệ sinh cõi nước ấy, ở đấy mà tu hành. Trong đó Phật thọ ký cho được sinh.
Phần ký có hai: Thọ ký xa và thọ ký gần.
Nếu lập thệ thì sau này nhất định được sinh, tức là ký gần. Nếu tu nhân tịnh hạnh thì ắt là chiêu quả tịnh độ như Phật quốc ấy, tức là ký xa. Như văn.
Ngài Thân Tử khen ngợi. Có sáu:
1- Phật hỏi thấy không.
2- Đáp đúng thế.
3- Vì tất cả chúng sinh mà phát nguyện.
4- Tự mong được nhờ cậy.
5- Khen công đức nghe kinh.
6- Nêu ra phước sâu.
Trong đó có sáu phen giải thích. Như văn. Nếu căn cứ theo lời    ý này thì đây là đoạn lưu thông. Nay nói ngài Thân Tử là người Tiểu thừa không phải là người gánh vác Đại thừa nên không thuộc phần Lưu thông, chỉ là phần bắt đầu cho lưu thông thôi.
 
-------------------------------------
GIẢI THÍCH PHẨM: PHÁP CÚNG DƯỜNG
 
Phẩm này chính nói Đế Thích hoằng kinh hộ trì Đại pháp tức là đoạn Lưu thông thứ ba gồm có hai phẩm. Lưu thông từ thí dụ mà được tên, như “Kỳ nguyên nhĩ”đã giải thích là từ trên suốt dưới gọi là Lưu, không chỗ nào bị trở ngại gọi là Thông. Nay dùng kinh pháp bảo thật tướng Vô thượng này khắp đủ các đời chúng sinh khiến cho không ủng tắc cách ngăn, ở đời rốt sau những kẻ có duyên đều thắm đượm lợi ích, đây là do lòng từ bi thuần hậu vậy. Văn này có hai:
I) Từ phẩm này nói Thiên đế hộ pháp nêu việc ngài Nguyệt Cái dùng pháp cúng dường để nói sâu sắc lợi ích hộ trì hiển bày đức trọng việc hoằng kinh.
II) Từ phẩm Chúc Lụy trở đi nói Đại Thánh ân cần phó chúc, trịnh trọng khiến cho đời tượng mạt, giáo pháp vẫn được tuyên thông. Phần này có hai:
1) Thiên đế khen ngợi hoằng kinh.
2) Như Lai kể thành ý ấy.
Phần một Thiên đế khen, có ba:
a- Khen pháp.
b) Khen người.
c- Phát thệ.
- Khen pháp: Nay nói Thiên đế muốn hộ trì Đại Điển, tu tập pháp môn cao quý giữ gìn kinh này cốt ý duy trì sự hoằng hóa, tức là dùng pháp cúng dường pháp thân. Như Thích Luận nói: Ca-tỳ-la là nơi sinh sinh thân, Ma-già-đà là nơi sinh pháp thân, vì báo ân mà thường ở tại hai nước nói pháp. Trong hai nước thì báo, pháp thân thường nói pháp ở nước Ma-già-đà. Hộ trì tức là pháp cúng dường vậy. Lại nữa, Thiên đế và Phạm vương đồng thỉnh Phật nói pháp. Như Lai nhận lời quán biết cơ không kham lãnh Đại thừa, bèn khai giáo Tiểu thừa. Khi Tiểu giáo đã hưng, bèn nói Đại. Nay giải thoát Bất tư nghị này cũng là đáp lời thỉnh xưa. Thích Luận nói: Nói Bát-nhã cũng là đáp lời thỉnh của Phạm vương Thiên đế. Thiên đế đã được đáp thỉnh nên vui mừng hộ trì. Như nói Thiên chủ được quả A-na-hàm không cần lưu thông Đại giáo. Đây là trong Tam tạng giáo gọi là Na-hàm. Kinh Hoa Nghiêm nói Thiên chủ trụ ở mười pháp môn bất tư nghị, đâu lại không kham lưu thông pháp này. Lại vì Thiên chủ giáo hóa quần sinh rất là nổi tiếng. Trong phần khen pháp thì trước khen cái dụng của giải thoát bất tư nghị, kế khen pháp thật tướng. Không có pháp thì không do đâu mà thành người,
 
 
không có người thì lấy gì mà hiển bày pháp, nên phải cùng khen.
Trăm ngàn kinh, tức là các kinh dạy đầu tiên A-hàm... trong A- hàm cũng có thọ ký cho ngài Di-lặc, đâu ngại gì đối Văn-thù nói pháp. Lại nữa, Thông giáo, Biệt giáo chưa từng nghe pháp môn Viên giáo này là đạo đầy đủ, thể dụng khó lường, xưa chưa từng nghe. Khen người có hai:
a) Giải thích công đức nghe kinh.
b) Nêu hạnh Như pháp.
Đóng các nẽo dữ là chỉ thiện, mở các cửa thiện là hành thiện. Hành tức là quán, chỉ tức là định. Trong đây ước hai thứ nhân quả mà xét. Vì Phật hộ niệm, là nói người tu hai nhân chỉ và hành, khế hợp đạo lý sâu sắc, thế nên gia hộ những gì đáng gia hộ, nên nói hộ niệm. Nhưng Phật khắp hộ chúng sinh, chúng sinh không có ghẻ độc thì không được nhập. Nếu tu nhân chỉ, hành này tức là có nghĩa tín tâm bị ghẻ độc cũng được hộ niệm. Quán tâm, là dùng chỉ quán điều tâm gọi là giác. Tất cả tà niệm loạn động liền dùng hai pháp chỉ quán mà quán, không cho duyên niệm được khởi. Đó là thường hộ niệm cho giác tâm. Hàng phục ngoại đạo tức là điều phục hai hoặc kiến tư, sáu mươi hai kiến các đạo tà chấp, được đạo Bồ-tát đã hay hàng phục các ma phiền não như trước nói. Cho đến bốn ma, tám ma, mười ma... Nên văn trên nói: Đầu tiên ở cội Bồ-đề, ra sức hàng ma được cam lộ diệt, khi đã thành giác đạo, đối với các pháp Không còn quái ngại, chí hay tồi phục các ngoại đạo, tức là người phát tâm tu học viên quán. Khi nhập sơ phát tâm liền hay tám tướng thành đạo gọi là Phật. Hàng phục ma oán, độ thoát tất cả mà tu trị Phật đạo, tức là giáo hóa ngoại đạo làm tám tướng của Phật, nhưng nội tâm đối với pháp thân luôn tu trị đạo thành tựu đầy đủ Phật pháp nào thiếu sót, ở yên chốn đạo tràng, như ngài Quang Nghiêm luận tướng đạo tràng. Tiếp bdựa theo Phật làm những việc Phật làm, trụ nơi Phật trụ. Chư Phật đến như thế, ta cũng đến như thế đều là lân quả lần lượt khen ngợi.
Phát nguyện hoằng pháp “Như có người trì tụng…”
Phần hai từ ‘Phật nói lành thay…, là kể thành ba đoạn Thiên đế trên:
           - Kể việc khen pháp.
                       - Kể việc khen người.
                       - Kể việc phát thệ.
Kể việc khen pháp: Ta giúp ông vui mừng, là nói kinh này là Bồ-đề bất tư nghị của Phật ba đời tức là kể việc khen pháp. Nói Bồ-đề Bất
khả tư nghị của Phật ba đời tức là pháp thật tướng, Phật do thật tướng này mà được Bồ-đề.
- Kể việc khen người: “Nam nữ thọ trì kinh này là cúng dường Phật ở quá khứ, vị lai, hiện tại…” là kể việc khen người. Phần này có bốn:
1- Suy lường công đức.
2- Hỏi.
3- Đáp.
4- Chánh suy lường.
- Ở phần suy lường có hai:
1- Cách cúng dường Phật hiện tại.
2- Xây tháp sau khi Phật diệt độ.
Phần hỏi, như văn.
Phần đáp, có hai:
1- Đáp rất nhiều.
2- Giải thích lý do không kể hết.
Trong kinh Đại thừa nói suy lường cúng dường sinh thân không bằng pháp thân. Vì sao? Vì đây chính nói phước sinh thân không động không xuất, còn công đức của pháp thân thì hay động hay xuất. Xuất là lìa khỏi sinh tử, nên nói phước không hướng đến Bồ-đề; hai là hướng đến Bồ-đề. Đối với thật gọi là liễu nhân, đối các tên khác thì gọi là sinh nhân. Sinh nhân là duyên nhân. Phước đức không động không xuất không tiến đến Bồ-đề. Công đức thì có hết đối với thật gọi là liễu nhân. Thật tức là thật tướng, liễu nhân là chiếu liễu, cùng thật tướng tương ưng có thể tiến đến Bồ-đề. Công đức không hết đồng với hư không bình đẳng pháp giới. Đâu được cùng phước đức bất động bất xuất mà trước là pháp hữu hạn mà suy lường. Cúng dường sinh thân gọi là sinh nhân không tiến đến Bồ-đề, cúng dường pháp thân thật gọi là liễu nhân hay tiến đến Bồ-đề, thế nên không thể suy lường cùng cực được. Kim Cang Bát-nhã có nói: Trụ tướng bố thí như người vào chỗ tối không thấy gì, còn không trụ tướng bố thí như người mắt sáng ở dưới ánh mặt trời thì thấy rõ mọi vật. Hư không ở Đông phương không thể suy lường, ở Nam, Tây, Bắc phương cũng khó lượng định, pháp cúng dường là cao nhất. Lại nữa Đại phẩm có nói: Thật tướng là mẹ của chư Phật ba đời, nếu mẹ bị bệnh thì các con đều buồn lo. Nếu pháp thật tướng không rộng khắp chúng sinh ước vào chúng sinh nên nói thật tướng có bệnh. Nếu chỉ cúng dường một Phật còn đối các Phật khác thì không có công đức, nếu chê bai một Phật đối các Phật khác thì không tội, nếu cúng dường tướng thật tướng mẹ Phật thì đầy đủ công đức của chư Phật ở mười phương
ba đời, nếu hủy báng mẹ Phật thì mắc tội đối với chư Phật. Thế nên kể việc Thiên đế nói: Bồ-đề của chư Phật đều từ đó sinh ra. Tướng Bồ-đề không thể hạn lượng.
Phần Chánh suy lường, trong đó cũng khen hai hạnh tín pháp, nghe kinh bất tư nghị ấy mà tin hiểu, đó là kể thành bậc Tín hành trên. Tu hành có nhiều phước là kể thành pháp hành trên.
- Kể việc phát thệ hoằng kinh hộ trì để truyền rộng rãi “Quá khứ Dược Vương Phật…”. Văn có bốn:
1- Nói nguyên do pháp cúng dường ở quá khứ.
2- Nói về vương tử Nguyệt Cái.
3- Kết hội xưa nay.
4- Kế giải thích thành.
- Trong phần nói nguyên do pháp cúng dường ở quá khứ có ba:
1- Nói có Phật.
2- Nói có lệnh vua sai các con cúng dường.
3- Nói các con vâng lệnh vua cúng dường.
Trong phần nói về vương tử nguyện cái “Vua có một người con tên là Nguyệt Cái” trở xuống…. Văn có chín:
  1. Vương tử ngồi một mình suy nghĩ tìm pháp cúng dường cao quý.
  2. Trên không trung có tiếng cảnh giác.
  3. Nhân đó hỏi pháp cao quý.
  4. Trời khuyên hỏi Như Lai.
  5. Đến xin Phật.
  6. Phật chỉ cách.
  7. Nghe pháp được thuận nhẫn.
  8. Phật ký việc hộ pháp.
  9. Xuất gia vì đạo cúng dường pháp.
           - Ở phần sáu, Phật chỉ cách có hai:
           1- Nói pháp thắng diệu.
                       2- “Nếu nghe những kinh ấy mà tin hiểu…” là nói tâm cúng dường.
- Ở phần pháp thắng diệu, có bốn:
1- Phật nói … là nói pháp tối diệu.
2- Bồ-tát Pháp Tạng dựa pháp luận nhân.
3- Thường khiến chúng sinh ngồi đạo tràng… là dựa pháp luận quả.
4-“Phật Hiền Thánh…” là Phật khen và ấn định nhân quả.
Nay nói về người tin sâu kinh này, là về lý thật tướng thì không phải sâu không phải cạn, mà làm sâu cạn hai duyên. Trong không   phải sâu cạn mà nói hai thứ sâu cạn. Cạn là kinh thuộc Tam tạng giáo, Thông, Biệt giáo, còn sâu là giáo viên cực, gọi là kinh sâu. Hình dạng kinh sâu tức như nghĩa quán thân thật tướng mà Đại sĩ từ trước nay đã nói, tức là kinh sâu thanh tịnh. Khó tin là như trong một hạt vi trần có cả đại thiên kinh quyển. Người không tin là lý thật tướng chỉ ở trong tâm không phải nhọc tìm đâu xa, gần mà không biết, nên nói là Không tin, nên gọi là khó tin. Khó nhận là nếu có nhận thì có làm, nếu không nhận thì không làm. Tức tin nhận thật tướng thì hay tu hành, nếu không tin nhận thì không thể tu tập. Vi diệu, tức là tên khác của giải thoát bất tư nghị. Cũng là ba đức vi diệu: Ngã, pháp, diệu khó nghĩ bàn. Thanh tịnh không nhiễm, là Không bị ba thứ kiến tư dấy nhiễm, cũng như hư không không có uế tịnh. Không phải suy lường phân biệt mà hay được, là động niệm suy tưởng thì không thể khế hợp. Không nghĩ nhớ, không phân biệt, tự nhiên lưu nhập biển Tát-bà-nhã. Cũng không phải là hạng người phương tiện của Tam tạng giáo, Thông Biệt lường biết được.
Nói về nhân: Bồ-tát Pháp Tạng nhiếp bộ, là nói Bồ-tát Pháp Tạng nghe và giữ hạnh trước. Tạng ba đức bí mật là Không dọc, không ngang không chỗ chứa nhóm bèn gọi là tạng “kho) gồm nhập các pháp đều ở trong ấy. Đà-la-ni ấn, Đà-la-ni gọi là hay ngăn giữ. Giữ các thiện không mất, ngăn các ác không khởi, không khởi không mất gọi là ấn. Đến bất thoái chuyển, tức là ngăn giữ các thiện không có thoái chuyển, cũng là vị bất thoái Vô sinh pháp nhẫn mà thành tựu sáu Độ... Khéo phân biệt thuận với Bồ-đề, tức là khéo hay phân biệt tướng các pháp ở Đệ nhất nghĩa mà không động. Ở trên các kinh, là trên các kinh của Tam tạng giáo, Thông, Biệt giáo. Nhập đại từ bi, tức là khởi Vô duyên từ như ba mươi hai thứ từ đã nói trên. Lìa các ma, tức là lìa tám ma, mười ma... cũng là lìa ba thứ ái. Thiên ma thuộc sinh tử bị ái lưu chuyển, Bồ-tát lìa đây, nên gọi là lìa ma. Và tà kiến, cũng là tất cả các kiến trong ba thứ phương tiện, từ đây trở về trước đều gọi là tà kiến. Trong thật tướng đều lìa các kiến này.
Thuận nhân duyên, tánh nhân duyên tức là thật tướng, thuận thật tướng này mà quán sâu các pháp, đủ nhân duyên thứ hai sinh và pháp Không, tức là pháp Không. Duyên thật tướng tu hai không Tam-muội.
Dựa theo luận nói quả: Ngồi ở đạo tràng, là nếu hay như đây mà viên quán thật tướng nhập Niết-bàn. Bát-nhã gọi là trụ. Khi trụ ở phát tâm trụ tức hay tám tướng thành đạo, tùy duyên làm Phật. Cho nên nói:
“Khi mới phát tâm liền ngồi đạo tràng”.
Chuyển pháp luân, là viên, đốn, tiệm ba giáo, nên nói chuyển pháp luân. Thiên long cùng khen ngợi, tức là đã ngồi đạo tràng làm Phật lợi ích cho tất cả, nên nhân Thiên kính ngưỡng. Nhập Phật pháp tạng, tức đặt các con trong bí mật tạng. Viên giáo nhiếp bốn mươi hai Hiền Thánh, Thiên giáo nhiếp hai mươi bảy Hiền Thánh, đều là Phật pháp tạng “kho Phật pháp”. Tất cả trí tuệ, tức đều khiến người học Thiên, Viên được nhập Phật tuệ. Kinh Pháp Hoa nói: Người như thế   ta cũng khiến cho nhập Phật tuệ. Nói đạo ra làm của chúng Bồ-tát, là Bồ-tát lấy thật tướng làm đạo, tuy học các giáo khác, nhưng cuối cùng vẫn dẫn về thật tướng. Nương nghĩa thật tướng, là hoặc nhân hoặc quả không được lìa thật tướng, ước vào thật tướng này mà luận giáo Thiên, Viên. Nên Pháp Hoa có nói: Nếu người trí sâu vì nói pháp này, tức nói thật tướng. Lại nói: Nếu không hiểu pháp này, thì Như Lai trong các thâm pháp khác, bày giáo lợi hỷ tức nói giáo Thiên tiệm, là tuyên nói vô ngã trụ ở không tịch diệt vậy. Hay cứu việc hủy cấm là trong phương tiện giáo đều trái với viên cực gọi là hủy cấm, nếu vào viên trung thì không còn lỗi phương tiện. Cũng là trong Tiểu thừa hủy trọng cấm mà không sám hối, nếu là Đại thừa thì hay có vô sinh chánh quán mà chùi rửa, nên nói là cứu việc hủy cấm. Các ma ngoại đạo kinh sợ, tức là đoạn trừ tâm hai thứ ái kiến, nên không có năm sợ.
Chư Phật khen ngợi, tức là khế hợp với thật tướng, sơ tâm tức hay làm Phật, nên vì các Thánh mà khen ngợi. Xây lưng với sinh tử, tức xây lưng với ba thứ sinh tử. Hiện bày Niết-bàn, tức thị hiện bách cú giải thoát, mười phương Phật đã nói, tức tất cả Phật đạo đều cùng nói thật tướng này.
Từ “nếu nghe các kinh như thế” là phần nói về tâm cúng dường. Phần này có hai:
1- Nói tín hành.
2- Nói pháp hành.
Nếu nghe nói pháp thật tướng, tức từ nghe mà sinh hiểu, thấu suốt vô ngại, gọi là tâm tín hành cúng dường. Nếu nghe và không nghe mà như pháp tu hành, quán nhân duyên là Không đoạn các vọng kiến, thấy lý thật tướng, được Vô sinh nhẫn, đó gọi là tâm pháp hành cúng dường. Lại ước vào bốn y mà giải thích, là đối với pháp liễu Bất khả đắc thì gọi là y nghĩa. Giáo của chư Phật vốn đậu căn cơ vật mà tuyên nói, không cố chấp nhất định, nên nói không y ngữ. Thức là pháp có đủ phiền não nên không thể y thức. Không hiểu nghĩa kinh là ba giáo phương tiện
không phải thật, nên không thể y, hiểu là nghĩa có thể y. Người là sinh thân nên không thể y. Thấu suốt tận đáy vô minh, là biết xưa nay không sinh nên rốt ráo không diệt. Quán nhân duyên không dứt hết, tức là si cũng như hư không không thể hết.
Ở phần bảy nghe pháp được nhu thuận nhẫn, tức có hai:
a) Được thuận nhẫn.
b) Cởi bảo y cúng dường để báo ân.
Nếu theo Viên giáo mà nói nhu thuận nhẫn, thì nhu là nhu phục tức thập tín, ngôi vị thiết luân sáu căn thanh tịnh, nếu phát chân minh nhập lý tức được Vô sinh nhẫn. Cởi y cúng dường có hai: Cúng dường và phát nguyện làm pháp cúng dường.
Thỉnh oai thần Phật gia bị khiến được hàng phục ma oán, tuyên thông đại pháp.
Phần tám: Phật thọ ký, chỉ ký vào đời sau là người hoằng pháp hộ trì hay hưng lập đạo pháp cùng người có duyên, chưa thấy văn thọ ký cho làm Phật. Xa mà luận cũng nêu lên ra đây. Toàn văn chưa có.
Phần chín: Nói xuất gia tu đạo làm pháp cúng dường. Phần này có hai:
Nói xuất gia hộ pháp.
Nói hóa độ người nhiều ít.
Trăm vạn người phát Bồ-đề tâm là dùng Viên giáo mà nói, mười bốn na-do-tha người phát tâm Nhị thừa là dùng phương tiện mà dẫn dụ. Dùng hai pháp Thiên Viên này dẫn dắt chúng sinh, nên nói là pháp cúng dường.
Phần Kết hội xưa nay. Như văn.
Phần Kể thành việc phát nguyện hoằng kinh hộ trì lưu truyền rộng khắp, cũng nói là hộ trì người hành kinh đều khiến được an ổn.
 
------------------------------------
 
 
GIẢI THÍCH PHẨM: CHÚC LỤY
 
Phẩm này là đoạn văn lưu thông thứ hai. Đoạn trước nói Thiên đế phát thệ hoằng kinh, đoạn này luận việc Như Lai kim khẩu phó chúc. Chúc là nghĩa phó chúc dặn dò, đem thật pháp vô tướng mà phó chúc cho người hộ trì hoằng kinh. Lụy là nghĩa gánh vác cực nhọc. Nay đem đại pháp này làm nhiệm vụ của mình khiến người ngoài khó tiêu diệt và người trong tuân hành thông suốt, nên gọi là Chúc Lụy. Phần này có ba:
I) Phật phó chúc cho ngài Di-lặc.
II) Phó chúc cho A-nan.
III) Đại chúng nghe kinh vui mừng.
 
Phần I: Phật phó chúc cho Di-lặc có ba:
1) Chánh phó chúc kinh này.
2) Giải thích.
3) Chọn đắc thất. (được, mất)
- Chánh phó chúc có hai: Một là, Phó chúc kinh cao quý. Hai là, Khiến thần thông giữ gìn.
Đem các điều vô lượng a-tăng-kỳ đã tập họp mà giao cho ông. Nếu xét theo ngài Ca-chiên-diên đã giải thích trong Tam tạng giáo mà nói việc học tập Phật pháp trong ba a-tăng-kỳ trăm kiếp chủng tướng Phật đạo hiện tiền, thì đây là pháp Tam tạng giáo Tiểu thừa cạn cợt có tu học nghiên cứu hàng mấy kiếp cũng là ít. Nếu xét theo Thích luận chê nghĩa này thì Phật pháp có vô lượng, đâu chỉ học trong ba a-tăng-kỳ mà đủ. Phải trải qua vô lượng ức a-tăng-kỳ mà học tập trần sa Phật pháp các pháp môn thâm diệu thì mới có thể đầy đủ Đại thừa thâm diệu, thế nên học một kiếp cũng đã nhiều. Nay nói học tập vô lượng kiếp, nên biết là đem pháp thâm diệu Đại thừa mà phó chúc cho ngài Di-lặc.
Phần hai, là phải dùng thần lực mà lưu truyền rộng khắp, khiến không dứt mất, tức là khiến giữ gìn. Nhưng chỉ đem Đại pháp này mà phó chúc cho ngài Di-lặc, là chính nói ngài sẽ nối tiếp làm Phật. Trí đoạn vuông tròn cùng vật có duyên, đầy đủ thần thông mới có thể kham việc hoằng truyền, gìn giữ khiến không dứt mất. Nếu ở đời mạt pháp chúng sinh cách Phật đã lâu không phải chỉ có thần căn tăm tối mà cũng được chướng ngại nhiều cho việc truyền bá. Như chỗ nhiều báu vật ắt có nhiều giặc cướp. Đạo cao thì ma thạnh, gặp nạn liền sinh. Nếu không được Phật lực ngầm phò hộ, thì nạn ngoại đạo sẽ xâm nhập bức ngặt,
hoặc mong nhờ thần quang gia bị cũng khiến tâm giải được khai thông. Nội nhân ngoại duyên đã chỉnh tề thì pháp bảo ắt không dứt mất. Thế nên khiến dùng thần lực gia bị khiến các chúng sinh kham nghe. Trong đây nên dẫn việc Tổ Ưu-ba-cúc-đa bị ma quấy nhiễu, khiến vô số người không được ngộ đạo. Bèn làm cho người được độ. Bị ma mê hoặc, ngài dùng thần lực cột trói ma lại khiến tất cả nghe kinh được lợi ích nhiều không thể kể hết. Cũng e đây là ý dùng thần lực hoằng kinh.
 
II.  Giải thích “sở dĩ giả hà? vị lai thế…” có hai:
a) Nói đời mạt pháp cũng có cơ đắc đạo.
b) Nói người không nghe kinh này thì mất lợi hành.
Nói đời mạt pháp có cơ đắc đạo, chỉ là phàm phu duyên ngộ không đồng. Hoặc thấy Pháp vương hiện trước mặt được lợi ích, hoặc nhân Phật diệt độ sinh khát ngưỡng mà được ngộ. Nên kinh nói: Đáng dùng diệt độ mà đắc độ thì bèn hiện diệt độ. Như trị bệnh kẻ điên thật sống mà nói chết, bèn để lại các dược thảo mùi vị thơm tho khiến ham thích mà uống vào liền lành bệnh. Nếu không thấy Phật liền tự trách cứ, siêng năng, tủi hổ không được gặp Phật, nhân đó mà được vào đạo ra khỏi hoặc phiền não. Cho nên sau khi Phật diệt độ một trăm năm thì mười vạn người xuất gia có chín vạn được đạo. Phải biết căn cơ sau khi Phật diệt độ cũng có vô lượng. Đây nên dẫn việc lúc Phật còn tại thế, Cúc-đa xin xuất gia mong được có trí tuệ bằng ngài Thân Tử, Phật nói không được liền lui về theo pháp ngoại đạo. Nhân đó Phật thọ ký rằng: Người này là cơ đắc đạo sau khi Phật diệt độ. Sau ông làm đệ tử ngài A-nan độ vô lượng hằng sa người đắc đạo, người thời ấy kính gọi ngài là Phật Vô Tướng. Tức là giải thích ở đời vị lai có hàng trời, người, rồng, quỷ có duyên phát tâm ham thích pháp Đại thừa, tất được độ thoát, nên không thể hoằng truyền thắng giáo, như thế khiến đều được nghe.
“Nếu khiến không nghe kinh ấy là mất Đại thừa…”. Nếu chỉ nghe nói Tam tạng giáo phương tiện là mất lợi trống độc Đại thừa. Phổ Hiền Quán có nói: Khi pháp sắp diệt năm trăm năm mà nhất tâm tu Pháp hoa Tam-muội này thì sáu căn thanh tịnh. Cho nên biết ở đời mạt pháp cũng hay có người vào cơ Đại thừa. Nếu không nghe kinh này thì mất hẳn pháp lợi, nên cần phải lưu bố rộng khắp.
“Bồ-tát có hai tướng…” là chọn đắc thất. Phần này có hai:
a) Chọn đắc thất.
b) Rộng nêu lỗi mà giải thích.
- Phần đắc thất có ba:
a- Nêu tướng.
b- Giải thích tóm tắt.
c- Căn cứ người mà giải thích.
Nếu là Tam tạng giáo phần nhiều đều ở nhân duyên trải riêng sự tướng mà nói các pháp. Nếu nương đây mà học thì các người mới phát tâm đối các thuyết của các kinh Đại thừa Biệt viên không nhờ không cậy lìa các tâm thức. Nói thâm kinh tức là tham, dục tức là đạo. Sân si cũng thế. Như thế ba pháp đầy đủ tất cả Phật pháp. Nếu lìa ba pháp này mà cầu Bồ-đề, ví như trời và đất, chỉ ba tánh độc này mà có thể thấu suốt thật tướng ba độc là không thể được, cũng như hư không mà có thể sinh ra tất cả Phật pháp. Kinh ấy nói: Người thấu suốt pháp này cũng không phá giới, người thấu suốt pháp này cũng không vướng mắc vô ngại. Người tu phần nhiều gọi ba độc là đạo, mà đắm trước vô ngại này phá các chánh giới kiến, thì sao gọi là thấu đạt được tánh ba độc. Người đạt tánh này không hủy bỏ, không đắm trước mới xứng với ý kinh. Pháp thật tướng không phải nhân không phải quả, mà nói là tánh nhân quả. Cho nên nói nhân ấy không phải quả như Phật tánh, quả ấy không phải nhân như đại Niết-bàn. Nay tánh ba độc không phải nhân không phải quả mà nói là nhân quả. Nói là nhân, tức nói ba độc là đạo đầy đủ tất cả Phật pháp. Nói là quả, tức tất cả chúng sinh là tướng thường tịch diệt, không thể còn diệt nữa. Nếu hay nghe trong tham dục này mà luận hai đạo chân quả, không hủy bỏ không đắm trước, không sinh sợ sệt, phải biết đó là Bồ-tát tu lâu. Như thế, Bồ-tát chỉ ham mê thật tướng thâm pháp, không còn ham thích lời hoa mỹ trau chuốt giải thích pháp trong trắng. Dùng đây mà lần lượt suy biết thì đó là Bồ-tát tu lâu. Nếu ham thích lời văn biện bác mạnh mẽ hoa mỹ, có văn tự chương tiết để cốt làm vui lòng người nghe thì cuối cùng là thêm nước vào sữa. Đối với thật tướng không phải đã làm hạnh tu lâu. Lấy đây mà chọn biết đó là Bồ-tát mới phát tâm, tức như người Số luận thời ấy phân biệt hỏi đáp nói có rõ ràng cũng nghe thuyết Đại thừa không chỗ tựa, cho đó là trống trơn không đáng tin ưa. Trong đây phải dẫn việc Tu-đạt thỉnh Phật nói pháp cho mẹ già. Bà quay lưng với Phật khắp mười hướng, thì mười hướng Phật đều hiện hình ở trước mặt nhưng bà vẫn không tin nhận. Về sau A-nan hóa làm Luân vương, phương tiện dẫn dắt khiến bà tâm địa vui mừng rồi sinh tâm tin phục rồi quy y với Phật nghe pháp tu đạo. Vì sao như thế? Đây là ngày xưa Sa-di Hòa thượng nói nhiều về thật tướng lời lẽ thậm thâm, nhưng nghe không hiểu nên không tin tưởng ham thích. Xà-lê nói nhiều về sự tướng nhân duyên các pháp giáo hóa việc
xứng hội với tâm người ấy, nên sinh ham thích. Do duyên cớ ấy nên nay nghe lời ta nói rốt cuộc vẫn không để lòng. Có cơ duyên với A-nan nên hồi tâm nhập đạo. A-nan dù khiến bà ấy sinh tin tưởng nhưng cuối cùng phải quy y ta thì mới đắc đạo. Cho nên biết lời trau chuốt chỉ làm duyên vui tai mà thôi, không phải là ý chỉ rốt ráo. Phương tiện dẫn nhập để lần lần được ngộ, nên không cần luận, thật tướng thâm pháp hay làm yếu chỉ được đạo, đây là thí dụ về trống độc vậy. Ước đây mà nói hai hạng người mới phát tâm và tu lâu, chỉ xem văn từ trau chuốt hay nói thẳng là biết đắc thất.
Phần nêu rộng lỗi “lại có hai pháp khiến chưa nghe kinh…” Phần này có hai:
a) Trước nói hai pháp giải thích người mới học, hủy báng không gần gũi.
b) Sau nói hai pháp giải thích người học lâu không nên khinh mạn chấp tướng.
Trước hủy báng không gần gũi, là trong đây như ngài Hỷ Căn Bồ- tát chỉ nói pháp thật tướng, nói trong tất cả pháp có tánh an lạc. Ngài Thắng Ý học pháp Tam tạng giáo oai nghi đầy đủ, trì giới tu hạnh Đầu- đà, bỗng nghe điều Hỷ Căn nói liền thấy việc học tập trái nhau, tâm rất kinh quái rồi chê bai hủy bỏ không tin nhận. Tăng chúng liền làm phép tẩn với Hỷ Căn, khi pháp tẩn đã thành, Hỷ Căn liền đọa vào địa ngục. Đây là người mới phát tâm học phương tiện giáo hủy báng Bát-nhã, không tin thâm kinh. Người như thế cần biết sâu cạn.
Hoặc lúc đó không chê bai pháp này, song đối với người trì giới lại không kính cẩn gần gũi. Hoặc có lúc nói họ quấy ác. Đây cũng là tướng của thất. Đều không phải là hạnh tu lâu điều phục tâm.
Nêu việc khinh mạn chấp tướng. Đại phẩm có nói: Bồ-tát nếu đối với kẻ đồng trụ mới phát tâm mà khinh miệt, cho người ấy không biết gì. Khởi một niệm khinh mạn này thì phá hư công đức vô số kiếp, lại còn bị tội. Khi tội báo này hết rồi, mới có thể phát tâm. Bèn đối với việc đức hạnh ngày nay mà nói tâm khinh mạn là một lỗi rất lớn, không phải chỉ chướng ngại việc được Vô sinh nhẫn, mà lại còn bị tội họa, nên xem là quấy.
Lại nữa, có Bồ-tát tuy hiểu thâm pháp nhưng chấp tướng phân biệt thứ lớp thềm bậc. Chấp tướng phân biệt sinh tưởng quyết định, lại là pháp động niệm, không phải đạo rốt ráo. Vì sao? Vì các pháp thật tướng thanh tịnh rỗng sáng còn không có một tướng, huống là có hai thứ không nói không bày. Nói là mất lý, bày là trái tông. Lấy tâm phân
biệt suy lường này sao có thể khế hội được với pháp tịch diệt. Như ba thời, bốn thời, năm thời, Bán, Mãn bốn Tông, sáu Tông các nghĩa đều gọi là Pháp sư, thâu nhặt các ý kinh mà chế lập danh mục, phán thích nghĩa môn, muốn nói lý hiện tại đều không phải là một thuật cùng tột không lời. Nay chánh ý chúng tôi không như thế, mà viên dung pháp giới, ngầm khế hợp với chân cực, không muốn khiến tâm cùng chúng sinh trái nhau. Tuy lại lập bốn giáo này là muốn giải thích thẳng thông suốt tận nguồn cội văn các kinh, nhưng trọn không chấp chặt nghĩa bốn giáo. Hoặc có lúc dùng ba giáo, hai giáo, một giáo hoặc không dùng giáo nào, lại có lúc dùng cả tám giáo, lấy bỏ không nhất định, nhiều ít không chừng, chuyển biến tự tại, tùy người mà bài bác hoặc tán dương. Nhưng không khiến tâm này tiếp xúc với việc đó mà đắm trước tự chấp mình, đem lỗi người mà luận giải. Nếu làm như thế thì chỉ là tranh luận không phải là phương pháp nhập đạo. Ngài Nam Nhạc nói kệ:
Chó thấy bóng liền cắn
Cắn mãi chẳng chịu thôi
Bèn chịu khát mà chết...
Nay ước đây mà chọn lỗi quấy với ý xây dựng đạo. Nhưng vì đường tâm người tu không đồng, tuy mọi việc không bày hai tu, là Thánh nói pháp và Thánh im lặng. Cần biết rõ tâm mình mà tiện dụng phương tiện. Nếu có chỗ trầm tắt ở đạo lặng im mà tâm không khai phát, thì cần phải nghe pháp hoặc gần gũi các Thiện tri thức hay khai phát tâm người. Hoặc từ kinh điển nghiên tìm nghĩa lý mà hiển phát tâm này. Hoặc lúc nghe pháp thì phấn động không thể nhiếp yên. Tìm kinh khảo nghĩa đối với việc phấn kết thì biết việc bồi bổ tâm mình không có lợi ích sâu chắc. Bấy giờ phải nhắm mắt giữ thân tự tịnh tâm mình vào đạo lặng im. Nói năng hay im lặng hai hạnh, mà điều phục tâm mình. Tiện dụng thô tế thích nghi, khéo hay lấy bỏ, phân biệt chọn lựa chân ngụy. Trong lúc như thế mà gắng tu tịch tĩnh, trong lúc như thế mà gắng tu trí tuệ. Ví như trời đất hoặc mưa hoặc tạnh, âm dương điều hòa chừng mực thì muôn vật sinh sôi. Nếu thuần mưa không tạnh thì hạt giống thối rã, nếu thuần tạnh không mưa thì hạt giống khô đét cũng không thể sinh sản muôn vật. Cần phải điều hòa thích nghi sau đó mới tốt. Hành giả nếu một mực như thế mà im lặng thì chìm mê trong tối tăm ủng tắt. Nếu thuần dùng phân biệt thì các kiến bùng dậy lăng xăng. Ấy thì quyền thật không hợp, đạo lợi không sinh. Khéo léo vận hành bỗng nhiên vào đạo. Đêm thấy ánh điện sáng thì được vào Phật pháp. Đó là người học đạo khéo biết thị phi, phân biệt tà chánh. Nên Đại Luận nói:
Trời thường mưa, ngũ cốc càng sinh sôi, pháp vũ càng nhiều, pháp thiện càng phát triển. Nếu không thường thường có Phật nói, Phật im lặng thì lúa thóc thật tướng Điều Ngự không sinh. Nếu riêng đắm trước tri kiến, thì trọn không được vào lý. Cho nên có câu rằng:
Dầu đọc trăm ngàn kinh
Tà kiến nuôi các quấy
Độc tôi ta càng mạnh
Tuy có thai con thường
Gái đá đâu sinh đẻ.
Nếu nghe lời Phật nói pháp liền ngộ. Thấu suốt các pháp tự tại rõ ràng đó tức là tín hành. Nghe mà không ngộ, tâm niệm tư duy, càng thấu cùng chiếu đạt đến nguồn cội, đó gọi là pháp hành. Trong chỗ Phật im lặng cũng có tín hành và pháp hành. Khi thiền quán như thế, thì tùy quán một cảnh mà khắp thông các cảnh. Tâm địa mở sáng không chút nghi ngại, như gió ở không trung gọi là pháp hành. Nếu khi đòi quán không thể được ngộ càng cố gắng gia công lại càng không hiểu. Nếu từ Thiện tri thức mà nghe giảng giải trong kinh quyển thấy được thì như bỗng giữa hư không không mây, trong ngoài đều rỗng suốt, đây gọi là người tín hành.
Lại từ nghe mà được độ, nói đúng như nghe mà làm là Phật im lặng, đúng như làm mà nghe là Phật nói pháp.
Phần trước, Di-lặc bạch Phật, chính nói vâng lệnh nhận ý chỉ.
Phần này có ba:
a) Di-lặc nhận ý chỉ.
b) Các Bồ-tát nhận ý chỉ.
c) Bốn vua nhận ý chỉ.
Di Lặc nhận ý chỉ, có hai: Nhận ý và kể thành.
Trong phần nhận ý lại có hai: Nhận ý răn và nhận ý khuyên.
“Phụng trì Như Lai vô số kiếp…” là nhận ý khuyên. Phần này lại có hai đối với hai thứ nói trước:
- Tuân ý lưu thông kinh.
- Tuân ý dùng thần lực hộ trì kinh. Trong đó tự nói rằng: Cùng niệm lực đó mà lập nên. Nếu dựa vào An lạc hạnh trì có pháp thuyết về “Không” mờ mịt, lợi ích cho niệm lực, cũng như người khi nói pháp thì suy lường đến điều một, điều hai. Người này đến khi nói thì thấy có ba, có năm tiết. Hoặc có thể là tâm nhập nghĩa môn mà hay biết rõ, hoặc mịt mờ trống không, liền trợ niệm gia bị cho người ấy.
Phật kể thành.
Các Bồ-tát nhận ý chỉ phát thệ.
Bốn vua nhận ý chỉ phát thệ.
Phần II là khiến A-nan tuyên nói kinh, A-nan tích ở đạo Tiểu thừa lại được thân La-hán. Khi nhập Vô dư thì sinh phần dứt hẳn, sao được vâng lệnh tuyên nói Đại kinh. Đây chỉ là ý khiến truyền trì “giữ gìn và truyền bá) đừng nhầm lẫn với việc kiết tập pháp tạng, nên sai tuyên đọc kinh. Nếu ở Bổn là nói hay truyền trì tất cả Phật pháp mười phương, đâu nên vì Hôi diệt mà không thể tuyên bố kinh này. Ở phần này có ba:
- Phật mệnh lệnh.
- Hỏi tên kinh.
- Phật đáp có hai tên.
Yếu chỉ, tức là thật tướng. Thật tướng gồm nhiếp các pháp, khi được yếu chỉ tức là được các pháp.
Phần III, là đại chúng nghe kinh đều rất vui mừng..
 
 
 

 
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »